1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Nục Thuôn (Decapterrus Lajang) Và Cá Nục Sò (Decapterrus Maruadsi) Phân Bố

91 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây chính là điều kiện thuận lợi để có được số lượng mẫu cá đa dạng và chất lượng để phục vụ công tác nghiên cứu, giúp cho kết quả đảm bảo Chính vì những điều kiện tự nhiên và điều kiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

CHÂU TRƯỜNG GIANG

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NỤC THUÔN

(Decapterrus lajang) VÀ CÁ NỤC SÒ (Decapterrus maruadsi)

PHÂN BỐ Ở VÙNG BIỂN SÓC TRĂNG - BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN

CHÂU TRƯỜNG GIANG

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ NỤC THUÔN

(Decapterrus lajang) VÀ CÁ NỤC SÒ (Decapterrus maruadsi)

PHÂN BỐ Ở VÙNG BIỂN SÓC TRĂNG – BẠC LIÊU

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

Cán bộ hướng dẫn:

TS Trần Đắc Định ThS Mai Viết Văn

Trang 3

đề tài này

Và cuối cùng xin cảm ơn một số bạn trong tập thể lớp Quản Lý Nghề Cá K32 và Nuôi Trồng Thủy Sản K32 đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên em thực hiện tốt đề tài này

Châu Trường Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng iv

Danh mục hình vi

Danh mục từ ngữ viết tắt ix

Phần 1: Đặt vấn đề 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

Phần 2: Lược khảo tài liệu 3

2.1 Tình hình nguồn lợi thủy sản 3

2.2 Giới thiệu, vị trí phân loại 7

2.3 Đặc điểm phân loại 8

2.3.1 Cá Nục Thuôn 8

2.3.2 Cá Nục Sò 9

2.4 Đá tai cá 10

Phần 3: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18

3.1 Địa điểm nghiên cứu 18

3.2 Thời gian nghiên cứu 18

3.3 Vật liệu nghiên cứu 18

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

3.4.1 Phương pháp thu và cố định mẫu cá 19

3.4.2 Phương pháp thu và xử lý mẫu đá tai 19

3.4.3 Phương pháp phân tích mẫu 19

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 23

Phần 4: Kết quả và thảo luận 24

4.1 Tình hình khai thác cá Nục Thuôn và cá Nục Sò 24

4.2 Mùa vụ khai thác 24

Trang 5

4.3 Những nhận định của ngư dân về ngành nghề 26

4.4 Thành phần loài 28

4.5 Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân cá 31

4.6 So sánh kết quả tìm được với các nghiên cứu trước đây ở nhiều khu vực khác nhau 34

4.7 Hệ số CF 35

4.8 Đặc điểm sinh học sinh sản 37

4.9 Chỉ số tuyến sinh dục GSI 42

4.10 Mối tương quan 43

4.11 Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục & đường kính trứng 48

4.12 Mô tả đặc điểm đá tai 49

4.13 Quan hệ tương quan giữa chiều dài, chiều rộng và trọng lượng đá tai với chiều dài và trọng lượng thân cá 61

Phần 5 : Kết luận và đề xuất 73

5.1 Kết luận 73

5.2 Đề xuất 74

Tài liệu tham khảo 75

Phụ lục 1: Phiếu phỏng vấn hộ khai thác 77

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1.1:Tổng hợp đánh giá trữ lượng và khai thác cá biển VN 4

Bảng 2.1.2: Sản lượng thuỷ sản Đổng Bằng Sông Cửu long 7

Bảng 2.5: Bậc thang thành thục sinh dục Nikolsky 14

Bảng 4.1.1: Sản lượng của các loài cá trong một chuyến đi 23

Bảng 4.4.1: So sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Nục Thuôn 29

Bảng 4.4.2: So sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Nục Sò 30

Bảng 4.5.1: Phương trình tương quan chiều dài-trọng lượng thân 33

Bảng 4.6.1: So sánh các kết quả nghiên cứu 34

Bảng 4.6.2: So sánh các kết quả nghiên cứu 35

Bảng 4.7.1: Hệ số CF của 2 loài cá trong 12 tháng nghiên cứu 35

Bảng 4.8.1: Tần số xuất hiện của các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục qua các tháng ở cá cái (%) của loài Cá Nục Thuôn 37

Bảng 4.8.2: Tần số xuất hiện của các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục qua các tháng ở cá đực (%) của loài Cá Nục Thuôn 38

Bảng 4.8.3: Tần số xuất hiện của các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục qua các tháng ở cá cái (%) của loài Cá Nục Sò 39

Bảng 4.8.4: Tần số xuất hiện của các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục qua các tháng ở cá đực (%) của loài Cá Nục Sò 39

Bảng 4.8.5: Sức sinh sản tuyệt đối của cá Nục Thuôn 40

Bảng 4.8.6 : Sức sinh sản tuyệt đối của cá Nục Sò 40

Bảng 4.8.7 : Sức sinh sản tương đối của cá Nục Thuôn 41

Bảng 4.8.8: Sức sinh sản tương đối của Cá Nục Sò 41

Bảng 4.10.1: Các mối tương quan giữa (F), (TL), (FW) và (GW) của loài cá Nục Thuôn 45

Bảng 4.10.2: Các mối tương quan giữa (F), (TL), (FW) và (GW) của loài cá Nục Sò 47

Bảng 4.11.1: Đặc điểm hình thái tuyến sinh dục 48

Bảng 4.11.2: Đường kính 4 giai đoạn của trứng ở hai loài cá quan sát 49

Bảng 4.12.1: Nhóm tầng suất chiều dài ứng với các giai đoạn phát triển của đá tai 49

Trang 7

Bảng 4.12.2: So sánh đặc điểm đá tai hai loài cá Nục Thuôn và Nục Sò 61 Bảng 4.13.1: Mối tương quan các chỉ tiêu hình thái giữa đá tai và thân cá của loài Cá Nục Thuôn 66 Bảng 4.13.2: Mối tương quan các chỉ tiêu hình thái giữa đá tai và thân cá của loài Cá Nục Sò 71

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Cá Nục Thuôn Decapterus lajang 8

Hình 2.2: Bản đồ phân bố cá Nục Thuôn Decapterus lajang 8

Hình 2.3: Cá Nục Sò Decapterus maruadsi 9

Hình 2.4: Bản đồ phân bố cá Nục Sò Decapterus maruadsi 9

Hình 2.5: Cấu trúc viên đá tai của loài cá Epigonus denticulatus (Neogene Marine, 2008) 10

Hình 2.6: Đá tai của loài cá Protosciaena bathytatos (Neogene Marine, 2008) 13

Hình 3.1: Vùng biển Sóc Trăng - Bạc Liêu (www.earth.google.com, 2009) .18

Hình 4.1.1: Trình độ học vấn của ngư dân vùng biển nghiên cứu 24

Hình 4.3.1: Nhận định nguồn lợi thủy sản tại vùng nghiên cứu 26

Hình 4.3.2: Nhận định nguyên nhân làm giảm nguồn lợi thủy sản 27

Hình 4.3.3: Mùa vụ khai thác hai loài 28

Hình 4.4.1: Cá Nục Thuôn Decapterus lajang 29

Hình 4.4.2: Cá Nục Sò Decapterus maruadsi 30

Hình 4.5.1: Tương quan chiều dài và trọng lượng của Cá Nục Thuôn 31

Hình 4.5.2: Tương quan chiều dài và trọng lượng của Cá Nục Sò 33

Hình 4.7.1: Hệ số CF của loài Cá Nục Thuôn 36

Hình 4.7.2: Hệ số CF của loài Cá Nục Sò 36

Hình 4.9.1: Chỉ số tuyến sinh dục (GSI) của Cá Nục Thuôn 42

Hình 4.9.2: Chỉ số tuyến sinh dục (GSI) của Cá Nục Sò 43

Hình 4.10.1: Tương quan giữa (F) và (TL) của cá Nục Thuôn 44

Hình 4.10.2: Tương quan giữa (F) và (FW) của cá Nục Thuôn 44

Hình 4.10.3: Tương quan giữa (F) và (GW) của cá Nục Thuôn 45

Hình 4.10.4: Tương quan giữa (F) và (TL) của cá Nục Sò 46

Hình 4.10.5: Tương quan giữa (F) và (FW) của cá Nục Sò 46

Hình 4.10.6: Tương quan giữa (F) và (GW) của cá Nục Sò 47

Hình 4.12.1: Mô tả cấu trúc đá tai của loài Cá Nục Thuôn 50

Trang 9

Hình 4.12.2b: Đá tai cá Nục Thuôn dài tổng nhỏ hơn 16cm 51

Hình 4.12.2c: Đá tai cá Nục Thuôn dài tổng nhỏ hơn 16cm 52

Hình 4.12.2d: Đá tai cá Nục Thuôn dài tổng nhỏ hơn 16cm 52

Hình 4.12.3a: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 19- 24,5 cm 53

Hình 4.12.3b: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 19- 24,5 cm 53

Hình 4.12.3c: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 19- 24,5 cm 54

Hình 4.12.3d: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 19- 24,5 cm 54

Hình 4.12.4a: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 24,7-34,5 cm 55

Hình 4.12.4b: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 24,7-34,5 cm 55

Hình 4.12.4c: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 24,7-34,5 cm 56

Hình 4.12.4d: Đá tai cá Nục Thuôn có kích cỡ 24,7-34 ,5 cm 56

Hình 4.12.5: Mô tả cấu trúc đá tai của loài Cá Nục Sò 57

Hình 4.12.6a: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 16,1-17,9 cm 57

Hình 4.12.6b: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 16,1-17,9 cm 58

Hình 4.12.6c: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 16,1-17,9 cm 58

Hình 4.12.6d: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 16,1-17,9 cm 59

Hình 4.12.7a: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 18- 25,2 cm 59

Hình 4.12.7b: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 18- 25,2 cm 59

Hình 4.12.7c: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 18- 25,2 cm 60

Hình 4.12.7d: Đá tai cá Nục Sò có kích cỡ 18- 25,2 cm 60

Hình 4.13.1: Tương quan giữa chiều dài thân cá và chiều dài đá tai của loài Cá Nục Thuôn 62

Hình 4.13.2: Tương quan giữa chiều dài thân cá và chiều rộng đá tai của loài Cá Nục Thuôn 62

Hình 4.13.3: Tương quan giữa chiều dài thân cá và trọng lượng đá tai của loài Cá Nục Thuôn 63

Hình 4.13.4: Tương quan giữa trọng lượng thân cá và trọng lượng buồng trứng của loài Cá Nục Thuôn 64

Hình 4.13.5: Tương quan giữa chiều rộng đá tai và trọng lượng thân cá của loài Cá Nục Thuôn .65

Hình 4.13.6: Tương quan giữa chiều dài đá tai và trọng lượng thân cá của loài Cá Nục Thuôn 65

Trang 10

Hình 4.13.7: Tương quan giữa chiều dài thân cá và chiều dài đá tai của loài

Trang 11

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT

D: Số tia vây lưng

A: Số tia vây hậu môn

V: Số tia vây bụng

P: Số tia vây ngực

FL, FL, TL: Chiều dài tổng thân cá

TLo: Chiều dài chuẩn

W, BW, FW : Trọng lượng thân cá

Wo: Trọng lượng thân bỏ nội quan

OL, OL: Chiều dài đá tai

OR, OR: Chiều rộng đá tai

OW, OW: Trọng lượng đá tai

GW, GW: Trọng lượng tuyến sinh dục

GWo: Trọng lượng mẫu trứng

Trang 12

kỹ từ đặc tính tự nhiên, đặc tính sinh học để nghiên cứu phương pháp, công cụ đánh bắt thích hợp có hiệu quả cao Bên cạnh đó, nhận thấy rằng nguồn lợi thủy sản ngày càng suy giảm do sự ô nhiễm môi trường, sự khai thác quá mức làm mất cân đối và sự bảo vệ nguồn lợi thủy sản chưa hợp lý Vì vậy việc đánh giá nguồn tài nguyên để nắm quy luật phân bố, trữ lượng và khả năng khai thác ở toàn bộ vùng biển Việt Nam là một nhiệm vụ rất phù hợp và cần thiết

Nước ta chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thành phần loài, phân bố của các loài cá biển cũng như chưa đi sâu tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh sản và nhất là về đá tai cá thì chưa có tài liệu ở Việt Nam thực sự nghiên cứu về vấn đề này Mà đá tai chính là một cơ sở quan trọng trong việc tìm hiểu phân bố cũng như đặc điểm sinh sản của các loài cá với độ tin cậy cao được nhiều nhà nghiên cứu sinh học cá biển trên Thế giới công nhận

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long vùng biển Sóc Trăng và Bạc Liêu có một

vị trí hết sức thuận lợi về điều kiện tự nhiên chính vì vậy mà một số lớn các loài

cá biển có giá trị kinh tế tập trung ở đây , được các ngư dân tập trung khai thác bấy lâu nay Đây chính là điều kiện thuận lợi để có được số lượng mẫu cá đa dạng và chất lượng để phục vụ công tác nghiên cứu, giúp cho kết quả đảm bảo

Chính vì những điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội như vậy nên được

sự đồng ý của khoa Thủy Sản- trường Đại Học Cần Thơ đề tài “Đặc điểm sinh

học của cá Nục Thuôn (Decapterus lajang) và cá Nục Sò (Decapterus maruadsi)

phân bố ở vùng biển Sóc Trăng - Bạc Liêu” được tiến hành

Trang 13

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài thực hiện nhằm làm cơ sở khoa học cho việc phân loại, phát triển đối tượng nuôi và quản lý nguồn lợi thủy sản tốt hơn ở vùng biển này

Nhằm đi trước một bước trong việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học

của 2 loài cá Nục Thuôn (Decapterrus lajang) và Nục Sò (Decapterus

maruadsi) và tiến tới cho sinh sản nhân tạo đối tượng này và áp dụng vào nuôi

đối tượng này

1.3 Nội dung nghiên cứu

§ Khảo sát tình hình khai thác cá Nục Thuôn (Decapterus lajang) và Nục

Sò (Decapterus maruadsi) tại vùng biển Sóc Trăng- Bạc Liêu

§ Phân tích hồi quy tương quan giữa chiều dài và trọng lượng thân của hai

loài cá Nục Thuôn (Decapterus lajang) và Nục Sò (Decapterus

maruadsi)

§ Mô tả đặc điểm hình thái đá tai và phân tích tương giữa chiều dài, trọng lượng thân cá với chiều dài, chiều rộng và khối lượng của đá tai của hai loài cá này

§ Phân tích đặc điểm phát triển tuyến sinh dục của hai loài cá Nục Thuôn

(Decapterus lajang) và Nục Sò (Decapterus maruadsi)

Trang 14

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Tình hình nguồn lợi thủy sản

2.1.1 Tình hình nguồn lợi thủy sản trên thế giới

Nguồn lợi thủy sản là nguồn tài nguyên quan trọng và phong phú trong các loại hình thủy vực mà con người khai thác nhằm phục vụ cho cuộc sống Nguồn đạm từ cá được xem là nguồn chất đạm tốt là nguồn thực phẩm rẻ tiền, tươi sống,

có giá trị dinh dưỡng cao và rất tốt với sức khỏe của con người phục vụ cho cuộc sống con người ở rất nhiều quốc gia trên thế giới nhất là ở các quốc gia nghèo Vì vậy, việc khai thác nguồn lợi thủy sản ngày càng tinh vi với nhiều công cụ khai thác ngày càng hiện đại, điều đó càng làm cho nguồn lợi thủy sản suy giảm một cách nhanh chóng do khai thác quá mức và việc thay đổi vùng sinh sống của chúng (Nguyễn Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Theo đánh giá mới đây của FAO, hầu như 50% nguồn lợi hải sản thế giới

đã bị khai thác tới giới hạn và không còn khả năng tăng sản lượng; 25% nguồn lợi

đã bị khai thác quá giới hạn cho phép Như vậy, chỉ còn 25% nguồn lợi hải sản trên thế giới còn khả năng tăng sản lượng khai thác Gần đây, FAO đưa ra các dự báo cụ thể hơn như sau: Nguồn lợi đã hoàn toàn cạn kiệt 1%, nguồn lợi bị cạn kiệt 9%, nguồn lợi bị khai thác quá giới hạn cho phép 8%, nguồn lợi đã khai thác tới giới hạn cho phép 47%, nguồn lợi còn khả năng phát triển 21% và nguồn lợi ít đụng đến 4% (Bộ Thủy Sản, 2006)

2.1.2 Tình hình nguồn lợi thủy sản Việt Nam

Việt Nam là một trong ba quốc gia nằm trong bán đảo Đông Dương với đường bờ biển dài hơn 3.260 km Điều kiện địa lý vùng biển dọc theo dãy đất hình chữ “ S” của Việt Nam đã tạo nên những vùng sinh thái khác nhau từ đó tạo nên sự phong phú đa dạng đối với các loài thủy sinh vật Có thể chia môi trường sống của các loài thủy sinh vật này thành 4 dạng môi trường sống cơ bản: vùng nước mặn xa bờ, vùng nước mặn gần bờ, vùng nước lợ và vùng nước nội địa (vùng nước nước ngọt)

Trong những năm gần đây hòa cùng với sự phát triển chung của thế giới,

sự phát triển của các ngành công - nông nghiệp và dịch vụ đã ảnh hưởng đáng kể đến môi trường sinh thái và các loài thủy sản nước ngọt, vùng cửa sông, ven biển

Trang 15

và vùng biển khơi, bên cạnh đó sự phát triển của các loai nghề khai thác nhằm vào các loài thủy sản có giá trị kinh tế đã ảnh hưởng không nhỏ đến nguồn lợi chính những điều này đã góp phần không nhỏ làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản (Mai Viết Văn, 2006)

Theo các nghiên cứu khoa học, nguồn lợi hải sản Việt Nam có: 75 loài tôm, 25 loài mực, 7 loài bạch tuộc, 653 loài rong biển, trong đó rong kinh tế chiếm 14% (90 loài), san hô (loài san hô cứng) tạo rạn có 298 loài, thuộc 76 giống, 16 họ và trên 10 loài san hô sừng Cá có trên 2.100 loài, trong đó hơn 100 loài có giá trị kinh tế

Qua quá trình điều tra tổng hợp đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác

cá biển Việt Nam được trình bày qua Bảng 2.1.1 như sau:

Bảng 2.1.1: Tổng hợp kết quả đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá biển Việt Nam

Trữ lượng Khả năng khai

thác Vùng biển Loại cá Ðộ sâu

Tấn Tỷ lệ

(%) Tấn

Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ trong toàn bộ biển Việt Nam (%)

Trang 16

Toàn vùng

biển

Cá nổi đại dương (*)

kể đến các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và Bến Tre Nhưng mỗi vùng biển có đặc thù riêng để thích nghi cho đối tượng thủy sản khác nhau sinh sống Vùng biển Sóc Trăng- Bạc Liêu cũng không ngoại lệ, thích hợp cho sự phát triển của một số loài cá của họ cá Khế (Carangidae) trong đó có hai loài cá

Nục Thuôn (Decapterus lajang) và Nục Sò (Decapterus maruadsi)

Hai tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu có vị trí chiến lược quan trọng trong toàn vùng có mặt tiếp giáp với biển và đất liền thuận lợi cho sự phát triển cơ cấu nông- lâm-ngư nghiệp:

• Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu nằm ở độ cao trên dưới 1,2 m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng ngập nước quanh năm với diện tích tự nhiên là 2.542 km2 và có bờ biển dài 56 km chiếm 7,62% bờ biển Đồng Bằng Sông Cửu Long (735m) (Sở Công Thương Bạc Liêu, 2008)

• Sóc Trăng là vùng đất trẻ, được hình thành qua nhiều năm lấn biển nên địa hình bao gồm phần đất bằng, xen kẻ là những vùng trũng và các giồng cát với cao trình phổ biến ở mức 0,5 – 1 m so với mặt với mặt biển, nghiêng

từ Tây Bắc xuống Đông Nam và có hai tiểu vùng địa hình chính: Vùng ven

Trang 17

sông Hậu với độ cao 1 – 1,2 m, bao gồm vùng đất bằng và nhứng giồng cát hình cánh cung nối tiếp nhau chạy sâu vào giữa tỉnh; Vùng trũng phía Nam tỉnh với độ cao 0 – 0,5 m, thường bị ngập úng dài trong mùa lũ Sóc Trăng

có 72 km bờ biển chiếm 9,8% bờ biển Đồng Bằng Sông Cửu Long với hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt, hệ sinh thái rất thích hợp để phát triển ngành thủy sản (Sở công thương Sóc Trăng, 2007)

Sản lượng khai thác của Đồng Bằng Sông Cửu Long khoảng 630.000 tấn/năm, đóng góp khoảng 50% tổng sản lượng thủy sản cả nước, 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu, đặc biệt 80% sản lượng tôm cho xuất khẩu, với 15.974 tàu thuyền khai thác với tổng công suất 572.000 CV Tuy nhiên, hiện nay nguồn lợi thủy sản tự nhiên dần dần bị cạn kiệt do sự khai thác quá mức số lượng tàu khai thác không ngừng tăng lên bên cạnh đó để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người đã tạo áp lực lên nghề khai thác, làm xuất hiện các ngư cụ khai thác có tính chất hủy diệt làm ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường tự nhiên, do đó việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản đã đặt ra yêu cầu cấp bách đối với Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung (Lý Thiên Phú, 2007)

Bảng 2.1.2 thể hiện hiện nay sản lượng thủy sản qua các năm đều tăng có được kết quả trên không phải nguồn lợi thủy sản tăng lên mà do áp dụng những công cụ cũng như những kỹ thuật khai thác hiện đại đó là nguyên nhân chính làm suy giảm nguồn lợi thủy sản một cách đán kể, thậm chí một số loài thủy sản đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ để khắc phục nguy cơ này thì hoạt động nuôi trồng thủy sản được đẩy mạnh chỉ sau 10 năm tốc độ tăng trưởng đạt hơn 3 lần , một số loài cá như: Cá chẽm, Cá Mú, Cá Bớp được đưa vào nuôi thử nghiệm được trong nội địa và bước đầu có dấu hiệu thành công về sản xuất giống các loài cá này đó là tín hiệu vui cho cả ngành để góp phần ngăn chặn sự suy giảm

nguồn lợi thủy sản (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006)

Trang 18

Bảng 2.1.2: Sản lượng thủy sản Đồng Bằng Sông Cửu Long (Cục thống kê,

2.2 Giới thiệu, vị trí phân loại

Theo Nguyễn Phi Đính (1978) cá Nục (Decapterus) thuộc họ cá Khế (Carangidae) là một đối tượng khai thác quan trọng của nghề cá nổi vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam nó là một đối tượng quan trọng của nghề

cá tất cả các tỉnh có bờ biển, một trong các tỉnh đó có hai tỉnh Bạc Liêu- Sóc Trăng, sản lượng khai thác cá Nục chiếm khoảng 10% sản lượng cá các loại

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá Nục mà phần lớn là phân loại và kiểm tra các loài cá Nục như công trình của Wakiya (1924), Weber

và Beaufort (1931), Norman (1935), Nichols (1942), Bertin và Dollfus (1948), Lindberg (1969), Necrasov (1969) đã cho thấy rằng việc phân biệt các loài cá Nục rất phức tạp vì chúng không có những đặc trưng rõ rệt để phân biệt loài này với loài khác (được trích dẫn bởi Nguyễn Phi Đính, 1978)

Ở Việt Nam qua các danh mục công bố của Durand (1940), Besednov (1963), Nguyễn Bá Hùng (1964), Viện nghiên cứu biển (1971), Bùi Đình Chung (1964), Chiriginski (1965) (được trích dẫn bởi Nguyễn Phi Đính, 1978) thì có 7

loài cá Nục với tên gọi như sau: Decapterus maruadsi, D.russeli, D macresoma,

D lajang, D kurra, D kurroides, D dayi Nhưng trong luận văn này được sự

phân công của bộ môn chỉ nghiên cứu 2 loài cá trong 7 loài cá này là cá Nục

Thuôn (Decapterus lajang) và cá Nục Sò (Decapterus maruadsi)

Vị trí phân loại như sau:

Giới: Animalia

Ngành: Chordata

Lớp: Actinopterygii

Bộ: Perciformes

Trang 19

Họ: Carangidae

Giống: Decapterus

Loài 1: Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel, 1844)

Loài 2: Decapterus lajang (Bleeker, 1855)

2.3 Đặc điểm phân loại

Theo Nguyễn Phi Đính (1978) có sự mô tả các loài cá trên như sau:

2.3.1 Cá Nục Thuôn (Decapterus lajang)

Phân bố: Thế giới: Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương Inđônêxia, Philippin, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam Việt Nam: cá phân bố ở vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung Bộ, Nam Bộ (Hình 2.2)

Đặc điểm hình thái: Thân hình thoi dài, hơi dẹp bên Chiều dài thân bằng 5,1 - 5,8 lần chiều cao thân, bằng 3,5 - 4,0 lần chiều dài đầu Mõm tương đối dài, nhọn Chiều dài mõm lớn hơn đường kính mắt Đường bên hoàn toàn, khi cá còn nhỏ đoạn thẳng đường bên ngắn hơn đoạn cong, và cá lớn ngược lại Vây lưng dài, thấp Phần lưng màu xanh xám, phần bụng màu trắng (Hình 2.1)

Hình 2.1: Cá Nục Thuôn Decapterus lajang (Bleeker, 1851)

Hình 2.2: Bản đồ phân bố cá Nục Thuôn (www.fishbase.org)

Trang 20

cả đoạn thẳng Vây lưng dài, thấp Vây ngực dài, mút vây đạt đến hoặc quá lỗ hậu môn Phần lưng màu xanh xám, bụng màu trắng Đỉnh vây lưng thứ hai có màu trắng (Hình 2.3)

Hình 2.3: Cá Nục Sò Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel,

1843)

Hình 2.4: Bản đồ phân bố cá Nục Sò (www.fishbase.org)

Trang 21

2.4 Đá tai cá

2.4.1 Một số khái niệm về đá tai cá

Đá tai cá là một bộ phận cấu thành nên cơ quan thính giác của cá, cá có rất nhiều loài khác nhau nên đá tai cá cũng có nhiều dạng khác nhau điển hình là cấu trúc của viên đá tai loài cá Image courtesy of được thể hiện qua Hình 2.5

Hình 2.5: Cấu trúc viên đá tai của loài cá Image courtesy of Thám hiểm Bắc Cực năm 2002, Ian MacDonald, Texas A & M University, NOAA / OER.

Theo nghiên cứu của Kent Hortle, là nhà sinh học cá làm việc cho chương trình nghề cá của MRC thì đá tai cá được hiểu như sau: “Để nghe được những tiếng động trong môi trường nước thì cá cần có cấu tạo tai đặc biệt Cá có cấu tạo tai trong hoàn chỉnh, trong đó đá tai là bộ phận quan trọng then chốt Đá tai kết cấu bằng xương, nó phản ứng với sóng âm khác với phản ứng của cơ thể nó Chuyển động nhỏ của đá tai kích thích những lông tơ ở tai trong, từ đó truyền tín hiệu thần kinh lên não Tai trong cũng rất quan trọng trong việc giữ thăng bằng cho cá trong đó đá tai là trung tâm của chiếc la bàn hồi chuyển của cá Những chuyển động của đá tai thông báo cho não biết về hướng đi và tốc độ di động của cá”

Đá tai là cơ quan cảm giác nói chung được gọi là mê cung và được đặt bên trong và ở phía sau của khoang sọ Mê cung có da mỏng và có ba “túi”

Trang 22

chính, từng cái chứa đựng một viên đá tai nói chung là sỏi tai (thạch nhĩ) Cái lớn nhất của những “túi” này là túi bầu dục, chứa đựng một sỏi tai nhỏ Có cơ cùng cụt trước tới túi bầu dục là túi nhỏ chứa đựng sỏi tai lớn nhất, gọi là viên đá khóa Viên đá khóa được hình thành khác nhau trong các loài khác nhau và bởi vậy sỏi tai này đã được sử dụng trong nguyên tắt phân loại Cái nhỏ nhất của những “túi” là ống ốc tai, nối chỉ tới túi nhỏ, và chứa đựng sỏi tai cuối cùng, được gọi là sỏi thính giác Mê cung được làm đầy bằng nội bạch huyết Một phần bên trong của mê cung, đặc biệt là màng gần những sỏi tai được bao trùm bởi những kết thúc của dây thần kinh giác quan phản ứng lại trên những sự khác nhau trong sức ép và những sự chuyển động của sỏi tai Trong các loài cá thì có

sự đối xứng những mê cung phải và trái là những “phép ánh xạ gương” với nhau, từ đây mỗi cặp sỏi tai có thể được chia cắt vào trong phải và trái là những sỏi tai

2.4.2 Mô tả và đặc điểm của đá tai

Như mọi động vật có xương sống khác, cá tuy sống trong môi trường nước nhưng vẫn cần có một cơ quan thính giác để nghe và truyền thông tin trong môi trường nước và cơ quan này phải được hợp nhất trong cơ thể cá Cơ quan cảm giác này được gọi là tai trong (Labyrinth) của cá được đặc bên trong và ở phía sau của khoang sọ và có chức năng giữ sư cân bằng định hướng và dò tìm âm thanh (NPAFC, 2006)

Bên trong tai được lấp đầy bằng các nội bạch huyết Lớp màng mỏng gần những viên đá tai được bao trùm bởi một hệ thống dây thần kinh giác quan; có tác dụng giúp cá giữ thăng bằng và phản ứng lại sức vận động và sức ép của đá tai khi cá di chuyển

2.4.2.1 Mô tả đá tai

Trong một cơ thể cá thì hệ thống tai trong của loài luôn luôn có đầy đủ ba cặp Đó là đá tai chính (Sagitta), viên đá tai nhỏ hơn (Lapillus), và cuối cùng là viên sỏi nhỏ thính giác (Asteriscus) (Tero Hakonen, 1986)

Trong luận văn thực hiện thì chỉ có đề cập đến một cặp đá tai lớn nhất quan sát được khi tiến hành thí nghiệm đó là cặp đá tai chính (Sagitta)

Đá tai đựơc cấu tạo bởi cacbonat canxi và Protêin Hai hợp chất này tiếp xúc với bề mặt đá tai và kết hợp với quá trình khoáng hóa và hình thành nên đá tai (otolith) Quá trình khoáng hóa này gồm hai bước:

• Bước 1: Các ion kim loại trong môi trường vào cơ thể cá, sẽ được thu hút đến và kết hợp với oxy ở tại bề mặt của đá tai Sau đó sẽ tạo thành một khối đa diện gọi là polyhedra Nếu lượng oxy nhiều sẽ thúc đẩy mạnh sự hình thành khối đa diện ion ca2+ Acid cacbonat sẽ liên kết với các hợp chất protêin trong môi trường thông qua hydro

Trang 23

• Bước 2: Sự trao đổi oxy với nhau sẽ cho phép oxy của acid cacbonat sẽ tham gia vào các khối đa diện này (Matheja và Degens, 1986)

Đá tai có sự khác nhau đối với từng loài khác nhau là do sự tiếp xúc của hai hơp chất canxi cacbonat và protêin lên bề mặt của đá tai Và sự tiếp xúc này nhiều hay ít phụ thuộc vào môi trường mà cá sinh sống; ngoài ra còn phụ thuộc vào thời gian, mùa vụ… Ví dụ: Một số loài cá có tập tính di cư và trú đông, nên thời gian này cá tiêu thụ thức ăn ít hơn các mùa khác vì vậy mà có ít lượng prôtêin ít hơn Do đó khi quan sát đá tai cúa các loài cá này thì ta sẽ thấy một cấu trúc vòng tròn bao gồm một số vòng có màu đục và một số vòng có màu trắng trong Vòng này được gọi là vòng tăng trưởng của cá Thông qua vòng tăng trưởng sẽ xác định được tuổi của cá, tốc độ tăng trưởng cúa cá và môi trường mà

cá đã từng sống (NPAFC, 2006)

2.4.2.2 Đặc điểm và vị trí của đá tai chính

Để mô tả chính xác cấu trúc của nó ta phải để đá tai theo hướng chính xác Điều này không phải dễ dàng quan sát bằng mắt thường, nên ta có một qui tắc đơn giản có thể quan sát được là phần nhọn của đá tai là phần chủy hay phần mỏ, đối diện ở phía sau là phần đuôi Ở phần giữa luôn có một cấu trúc dọc gọi là rảnh trung tâm Ở phái sau phần chủy có một vùng lõm được gọi là miệng của rảnh trung tâm, miệng rảnh sẽ nối với rảnh trung tâm Phía trên chủy có một đầu hơi nhọn, nhô ra gọi là đối chủy Phía trên của đối chủy gọi là mép lưng và ở mặt lưng của đá tai có một vùng hơi lõm được gọi là vùng lõm của mặt lưng Phía dưới của phần đuôi là mép bụng Những phần mô tả trên thuộc mặt trong của đá tai Mặt ngoài của đá tai là một mặt lồi Và hai mặt này sẽ giúp ta định dạng đúng hướng đá tai khi nghiên cứu Ngoài ra, mỗi loài khác nhau thì đá tai cũng khác nhau, nhưng những cấu trúc chính của đá tai vẫn giống nhau (Tero Hakonen, 1986)

2.4.3 Các ứng dụng khoa học của đá tai cá

Theo nghiên cứu của Kent Hortle (1998): “Đá tai được sử dụng để xác định tuổi cá trong nhiều thập kỷ trở lại đây bởi vì tốc độ lớn của đá tai ít nhiều tỷ

lệ thuận với tốc độ lớn của cá, và nó cấu tạo bởi những tầng (vòng) protein và canxi cacbonat nhỏ xen kẻ với nhau gọi là vòng năm Vòng năm lớn lên hằng ngày cho nên có thể tính được tuổi ngay cả đối với cá chưa trưởng thành”

Xác định sự giảm sinh trưởng hàng ngày rõ ràng nhất đối với cá của vùng

ôn đới trong mùa đông, khi đó sinh trưởng bị chậm lại, hình thành nên vòng năm

rõ ràng Cá ở vùng nhiệt đới được xác định tuổi khó hơn nếu căn cứ theo mùa hoặc một số yếu tố làm ức chế sự sinh trưởng khác

Hình dáng đá tai cúa các loài cá khác nhau thì khác nhau Đá tai bị tiêu hoá rất chậm nên nó tồn tại khá lâu trong ruột cá dữ Điều này cho phép các nhà sinh học cá xác định con vật bị ăn là loài cá nào

Trang 24

Rất nhiều nghiên cứu hiện nay sử dụng ưu thế về thành phần cấu tạo cúa

đá tai thay đổi theo nồng độ hoá chất của môi trường khác nhau Tỷ lệ thành phần các nguyên tố cúa đá tai cho phép xác đinh vết tích của đàn cá đã sống trong môi trường nào, nó có thể chỉ ra rằng cá thể này có thời gian sống ở biển hay không Kỹ thuật này đã được sử dụng để chứng minh cá Bông Lau

(Pangasius krempfi) ở sông Mekong có một phần vòng đời sống ở biển Cấu tạo

của đá tai còn phản ánh nồng độ các chất ô nhiễm của môi trường, nó còn là chỉ tiêu có ích xác định lịch sử đời sống cá thể

Áp dụng mới nhất gần đây dựa theo phân tích đồng vị ổn định của đá tai

Đá tai tích tụ chất oxy đồng vị theo tỷ lệ khác nhau phụ thuộc vào môi trường

Vì thế nó được phản ánh nhiệt độ nước trong thời gian cá sống ở đó Đá tai của

cá hoá thạch hiện nay được dùng để xác định nhiệt độ thời tiền sử

Tỷ lệ thành phần chất đồng vị ổn định có thể chỉ ra cá này là loài ăn cỏ,

ăn tạp hay ăn thịt và còn chỉ ra nguồn quang hợp sơ cấp trong chuỗi thức ăn của

cá (thí dụ như có phải tảo hay thực vật cao cấp hơn là chứa thức ăn chủ yếu của

cá hay không) và những ứng dụng rất có ích khác trong công tác quản lý nghề

2.4.4 Các nghiên cứu khoa học về đá tai cá

Jennifer Brown (2000), cựu sinh viên đại học nghiên cứu Fellow (Elkhorn Slough) đã có bài viết đề cập đến việc sử dụng đá tai để xác định sự di cư của một số loài cá trong khu vực từ khi còn nhỏ đến khi cá trưởng thành Theo đó, đá tai được xem như một thiết bị theo dõi vì các hóa chất trong cột nước nơi cá sinh sống được sáp nhập vào đá tai, Jennifer Brown đã phân tích các thành phần hóa học của đá tai từ nhiều nguồn cá trong số các mẫu và thấy rằng các hóa chất đặc biệt tồn tại trong đá tai tương ứng với môi trường sống của cá lúc chưa trưởng thành (www.elkhornslough.org/research/grf_jennifer.html, cập nhật ngày 15/09/2009)

Hình 2.6: Đá tai của loài cá Protosciaena bathytatos (Neogene Marine,

2008)

Trang 25

Một nghiên cứu khác của John Hook năm 1976, nhà môi trường học người Anh cũng đã khẳng định đến sự liên quan giữa đá tai và những thành phần cấu trúc của nó mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu đặc điểm sinh học cá John đã đề cập đến việc cấu trúc đá tai có nhiều lớp mà mỗi lớp với các thành phần hóa học khác nhau và những sự thay đổi trong việc tăng trưởng của đá tai như hình dạng cũng như khoảng cách các vòng tăng trưởng có ảnh hưởng rất lớn của môi trường mà cá sinh trưởng

Simon Thorrold (2007) đã nghiên cứu loại xương đá tai trong đầu cá và phát hiện thấy, chúng mọc thành vòng theo ngày, hay còn gọi là vòng ngày tuổi

Đá tai có đường kính từ 0,25cm đến 2,5cm và có ở tất cả các loài cá, trừ cá Mập,

cá Mút Đá và cá Đuối Nó tích luỹ canxi cacbonat và các kim loại từ vùng nước xung quanh, do đó mà phản ánh chính xác vùng nước mà cá bơi qua Nhờ vậy, người ta có thể sử dụng loại xương này để lập bản đồ di cư của cá (www.vnexpress.net/G cập nhật ngày 20/09/2009)

Sự mô tả về đá tai ở các loài cá nước ngọt ở Châu Âu đã được công bố bởi Drouillard (1935) Trong các kết quả được công bố sau đó của Bauzá (1962), Schmidt (1968), Nijssen (1964) và Hecht (1978) có sự mô tả rất nhiều về đá tai của các loài cá xương ở biển Một vài nhà cổ sinh học như Weiler (1942) Và Nolf (1978) đã có sự mô tả đá tai của các loài cá có xương tương ứng từ kỷ nguyên đại cổ sinh Christensen (1964), Zoutendyk (1974), Blacker (1974), Deelder (1976) và một vài người khác đã đưa ra nhièu hoặc ít phương pháp thành công trong việc xác định các vòng tuổi trong đá tai cá (Tero Harkonen, 1986)

Nghiên cứu mối tương quan giữa chiều dài, trọng lượng đá tai và đặc điểm sinh trưởng của cá (Tero Harkonen 1986) đã cho những kết quả:

- Chiều dài đá tai có nguồn gốc từ một vài yếu tố của tự nhiên Đó là một trong những thông số dùng để đo lường kích thước, nó cũng thường được sử dụng trong các tài liệu, sự phân chia với các mảnh vỡ hoặc sự ăn mòn đá tai thường dễ để khôi phục hình dạng và kích cỡ gốc

- Một trong những thông số lớn thứ hai là chiều rộng đá tai, đạt được

sự tương quan tốt hơn đúng như hình dạng biến đổi của sóng lưng và mép bụng, được xem như là thông số kích cỡ (Prime 1979, được trích dẫn bởi Tero Harkonen, 1986) Có lý do cho rằng đá tai đã và đang giảm bớt độ dày hơn chiều rộng và chiều dài do chế độ dinh dưỡng Tuy nhiên, mặt lõm có độ bền và đá tai nhỏ nhất cũng làm tăng thêm sai số của sự đo lường và có thể là nguồn quan trọng của sự sai số về mặt lý thuyết

- Trọng lượng của đá tai là một trong ba thông số kích thước Sai số của sự đo lường phụ thuộc chính là độ chính xác của các dụng cụ Dài nhỏ và cấu trúc biến đổi của đá tai ít quan trọng Đá tai được sấy khô để mất hàm lượng nước Nếu thông số này được sử dụng cho phân tích thức

ăn, đá tai phải được lấy một cách cẩn thận, tỉ mĩ và sạch sẽ Nếu đá tai bị

Trang 26

vỡ, tuy đã nối lại giống như lúc ban đầu nhưng có thể nó đã mất ít hoặc nhiều canxi bề mặt Mà canxi tại bề mặt ảnh hưởng đến trọng lượng đá tai,canxi bên trong thì không thể dự đoán được bởi vì vùng phát triển bên trong đá tai thì dựa vào tốc độ phát triển và tuổi

- Kết quả chứng minh thứ nhất cho rằng có một sự tương quan chiều dài đá tai và kích cỡ cá (Hecht và Appellbaum, 1982) Trong hầu hết các trường hợp có liên quan đã đưa ra một phương trình hồi quy giữa chiều dài đá tai và chiều dài cá Kết quả thứ hai cho rằng sự tương quan tốc độ phát triển cúa đá tai dường như giống nhau trong sự phân bố khác nhau trên các loài cá

2.5 Một số đặc điểm sinh học của cá

2.5.1 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

Sinh sản là một khâu quan trọng của chu trình sống của cá Đặc biệt là các quần đàn cá được bảo tồn Sự sinh sản và sinh trưởng của mỗi loài cá thích nghi với những điều kiện nhất định và được phản ánh trên những thời điểm của trứng

và phôi và những thời kì còn lại của đời sống

Tuổi và kích cỡ thành thục sinh dục cũng là đặc điểm thích nghi với điều kiện sinh sản hay là đặc tính của loài ở các loài cá khác nhau Sinh sản xảy ra vào một độ tuổi và kích thước xác định Trong một quần thể tuổi trưởng thành giữa các cá thể thay đổi và có liên quan đến sự tăng trưởng của chúng Số lượng trứng

là biểu hiện sự thích nghi của loài với điều kiện sinh sản và điều kiện môi trường Đồng thời kích thước của trứng cũng khác nhau giữa các loài và phụ thuộc vào lượng dự trữ chất dinh dưỡng của trứng Khi điều kiện môi trường thay đổi thì sức sinh sản của cá cũng thay đổi theo

Đã có nhiều tác giả nghiên cứu sự khác nhau về đặc điểm hình thái, tổ chức học của buồng trứng trong qua trình phát triển Tuy nhiên, hầu hết họ đều phân chia theo 6 giai đoạn với những đặc điểm cơ bản và chung nhất Theo Nikolsky (1963) sự phát triển của buồng trứng gồm 6 giai đoạn như sau

Trang 27

Bảng 2.5: Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolsky (1963) (được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

I Cá thể non, chưa thành thục sinh dục

II Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường

không nhìn thấy hạt trứng

III Giai đoạn thành thục Bằng mắt thường nhìn thấy

những hạt trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt

IV Giai đoạn chín muồi Tuyến sinh dục có kích thước

lớn nhất, nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa xảy ra

V Giai đoạn đẻ trứng Các sản phẩm sinh dục chảy ra

khi ấn nhẹ vào bụng cá Khối lượng tuyến sinh dục

từ đầu đến cuối giai đoạn đẻ trứng giảm đi rất nhanh

VI Giai đoạn sau khi đẻ Các sản phẩm sinh dục được

phóng thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão Ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng

2.5.2 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối

Sức sinh sản là số lượng trứng chín của một cá thể trước khi sinh sản (Bagenal và Braum, 1968) Sức sinh sản biến đổi từ loài này sang loài khác và phụ thuộc vào tuổi của cá, kích thước cơ thể và điều kiện môi trường Sức sinh sản được xác định theo các bước (i) lấy mẫu buồng trứng từ các cá cái một cách ngẫu nhiên, (ii) xác định số lượng trứng bằng cách đếm toàn bộ buồn trứng hay từ các mẫu đại diện, (iii) phân tích kết quả trong mối liên hệ với các chỉ tiêu sinh học khác như chiều dài, trọng lượng thân, trọng lượng tuyến sinh dục, tuổi cá Cách chính xác nhất để xác định số lượng trứng là đếm toàn bộ số trứng có trong

Trang 28

buồng trứng như vậy sẽ tránh được sai số Tuy nhiên, cách tính này rất khó thực hiện trong trường hợp cá có sức sinh sản cao Vì vậy, sức sinh sản thường được xác định bằng cách đếm mẫu đại diện và tính toán theo phương pháp số lượng hay phương pháp thể tích (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Sức sinh sản tương đối là một chỉ số thường được sử dụng để so sánh sức sinh sản của cá cá thể (hay quần thể) trong cùng một loài khi có sự khác nhau về

độ tuổi, kích cỡ, vùng phân bố Việc sử dụng chỉ số sức sinh sản tương đối dựa trên giả định là số lượng trứng trên một đơn vị trọng lượng (gram) thì không tăng hay giảm theo chiều dài hay trọng lượng cơ thể Sức sinh sản tương đối được biểu thị bằng số lượng trứng trên một đơn vị trọng lượng hay chiều dài của cá (Hardisty, 1964) Sức sinh sản tương đối rất quan trọng với nghề nuôi cá vì chúng

ta có thể tính được số lượng trứng mà cá cái có được theo khối lượng của nó

2.5.3 Hệ số thành thục

Khối lượng tuyến sinh dục là một chỉ tiêu về số lượng để đánh giá tình trạng thành thục của cá Hệ số thành thục của cá là một chỉ số để dự đoán mùa vụ sinh sản của cá Sự thay đổi theo mùa của khối lượng tuyến sinh dục có thể thấy

rõ ràng ở trên cá cái do gia tăng nhanh chống khối lượng sản phẩm sinh dục (Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

2.5.4 Hệ số điều kiện CF

Theo Fulton thì khi xác định hệ số điều kiện của cá, người ta đã lấy khối lượng chung của nó kể cả nội quan Phương pháp như vậy chưa phản ánh được những chỉ số thực sự của độ béo Mức độ khác nhau của sự phát triển các sản phẩm sinh dục và độ no của dạ dày, ruột gây nên sai số khi tính hệ số béo Khi tính hệ số béo cần phải dùng chiều dài thân và chính chiều dài thân đặc trưng cho

hệ số béo nhiều nhất

Kết quả tốt nhất thu được theo Clark (1992) là tính hệ số béo theo khối lượng cá bỏ nội quan Nikolsky (1963) đề nghị dùng một lúc cả hai phương pháp (được trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Trang 29

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu sẽ được thực hiện ở vùng biển Bạc Liêu- Sóc Trăng (Hình 3.1)

Hình 3.1: Địa điểm nghiên cứu tại vùng biển Sóc Trăng - Bạc Liêu

3.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu là bắt đầu từ tháng 06/2009

Thời gian kết thúc nghiên cứu là hết tháng 05/2010

3.3 Vật liệu nghiên cứu

Trang 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu và cố định mẫu cá

Mẫu sẽ được thu định kỳ hàng tháng và kéo dài từ tháng 6 đến tháng 3 năm sau với nhiều kích cỡ khác nhau trong điều kiện tự nhiên Số lượng 30 cá thể của mỗi loài sẽ được thu định kỳ hàng tháng và kéo dài trong suốt 10 tháng để phân tích các chỉ tiêu về hình thái và sau đó tiến hành mổ cá để lấy đá tai cá Mẫu vật được thu thập tại hiện trường bằng các loại ngư cụ khai thác thông thường Ví dụ như: lưới kéo, lưới vây, lưới rê…

Mẫu sau khi thu được giữ lạnh bằng nước đá và vận chuyển về phòng nguồn lợi, khoa Thuỷ Sản, Trường Đại Học Cần Thơ Sau đó sẽ được phân loại sơ

bộ và được định danh, rồi được mang về phòng thí nghiệm Nguồn Lợi, Khoa Thuỷ Sản, Trường Đại Học Cần Thơ để tiếp tục phân tích

3.4.2 Phương pháp thu và xử lý mẫu đá tai

Dùng dao mổ để tách hộp sọ dọc theo đường giữa Dùng kẹp nhẹ nhàng di chuyển một phần não bộ ra ngoài hộp sọ cá Sau đó, dùng kim mũi nhọn nhẹ nhàng lấy đá tai ra ngoài Thu cả 2 đá tai nằm trong khoang tai ở bên trong hộp sọ

Đá tai sau khi được lấy ra khỏi hộp sọ rửa sạch bằng cồn và được dự trữ khô trong ống Mycrotypes 1,5-3 ml

3.4.3 Phương pháp phân tích mẫu

3.4.3.1 Phân tích mẫu cá

Xác định trọng lượng thân cá, trọng lượng thân bỏ nội quan, chiều dài tổng

và chiều dài chuẩn

Cập nhật và đối chiếu tên đồng vật (synonym) và các tên được định danh dựa theo các tác giả:

Froese R And D Pauly Editors 2009 Fishbase Word Wide Web electronic puslication www.fishbase.org, 04/2009

Thomas M Orrell, 2009 Acting Director, Intergrated Taxonomic Information System (ITIS) Clo Smithsonian Institution P.O www.itis.gov, 07/2009

Trang 31

Xác định mối tương quan giữa chiều dài và trọng lượng cá theo phương pháp của Huxley, 1924 (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) bằng phương trình

W= a * L b

Trong đó:

W: trọng lượng (g) L: chiều dài (cm) Giá trị L còn được thể hiện qua TL (chiều dài tổng) hoặc FL (chiều dài chuẩn)

b: hệ số tăng trưởng a: hằng số tăng trưởng ban đầu hay nhân tố điều kiện Trong mối quan hệ giữa chiều dài và trọng lượng thân cá thì các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục có ảnh hưởng đến quy luật quan hệ này Để khảo sát

sự ảnh hưởng đó, King (1995) đề nghị sử dụng đại lượng nhân tố điều kiện CF và xét theo công thức sau:

Trong đó:

W: trọng lượng (g) L: chiều dài (cm) Giá trị L còn được thể hiện qua TL (chiều dài tổng) hoặc FL (chiều dài chuẩn)

b: hệ số tăng trưởng CF: nhân tố điều kiện

3.4.3.2 Phân tích mẫu đá tai

Đá tai sau khi được xử lý thì tiến hành cân khối lượng, đo chiều dài, chiều rộng và mô tả đặc điểm hình thái thông qua ảnh chụp dưới kính lúp

Chụp toàn bộ các mẫu đá tai từ giai đoạn nhỏ nhất đến giai đoạn lớn nhất của mỗi loài cá dưới kính lúp Mô tả các đặc điểm hình thái đá tai qua ảnh chụp (theo phương pháp của Taro Harkonen, 1986)

Phương trình tương quan giữa chiều dài và trọng lượng của thân cá với chiều dài, chiều rộng và trọng lượng của đá tai dựa theo phương trình hồi quy của Tero Harkonen (1986)

+ Phương trình tương quan giữa trọng lượng thân cá với chiều dài đá tai

FW= g * OL h

Trang 32

3.4.3.3 Phân tích sự phát triển tuyến sinh dục của cá

- Mẫu tuyến sinh dục của cá được lấy ngẫu nhiên từ mỗi cá thể của cá và được cân trọng lượng, sau đó được cố định trong dung dịch cố định trứng

(Gilson”s fluid theo Simson, 1954)

- Xác định mức độ thành thục sinh dục của cá theo bậc thang thành thục sinh dục 6 giai đoạn của Nikolsky (1963) (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần

Đắc Định, 2004)

- Xác định hệ số thành thục của cá (GSI) theo công thức của Josep và Hans-Joachim (2000) (trích dẫn bởi Trần Đắc Định, 2008)

Trang 33

Trong đó:

GSI: hệ số thành thục GW: trọng lượng tuyến sinh dục của cá (gam) BW: trọng lượng cơ thể (gam)

VW: trọng lượng nội quan (gam)

- Xác định sức sinh sản tuyệt đối (F) theo công thức của Bagenad (1967) (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Trong đó:

F: sức sinh sản tuyệt đối n: số lượng trứng giai đoạn IV, giai đoạn V trong mẫu đại diện G: trọng lượng buồng trứng (gam)

g: trọng lượng mẫu đại diện (gam) Mẫu trứng được lấy để đếm ở 3 vị trí đầu, giữa, cuối buồng trứng

- Xác định sức sinh sản tương đối (FA) theo công thức của Hardisty (1964) (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004)

Trong đó:

FA: sức sinh sản tương đối F: sức sinh sản tuyệt đối W: trọng lượng cá (gam)

- Phân tích mối tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối (F) và chiều dài tổng (TL), trọng lượng thân (BW), trọng lượng buồng trứng (GW) bằng phương pháp hổi quy theo công thức của Bagenad (1967) (trích dẫn bởi Phạm Thanh Liêm

và Trần Đắc Định, 2004)

Log F = log a + b * log TL Log F = log a + b * log BW Log F = log a + b * log GW

Trang 34

Trong đó:

F: sức sinh sản tuyệt đối

TL : chiều dài thân cá (cm) BW: trọng lượng thân cá (gam) GW: trọng lượng buồng trứng (gam)

a, b: các tham số tương quan

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Dùng phần mềm Microsoft Excel để xử lý các số liệu thu được Dùng phần mềm Microsoft Word để viết báo cáo

Trang 35

CHƯƠNG 4

KẾT QUẢ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình khai thác cá Nục Thuôn và Nục Sò tại địa bàn nghiên cứu

Kết quả khảo sát tình hình khai thác cá Nục Thuôn (Decapterus lajang) và

cá Nục Sò (Decapterus maruadsi) qua phỏng vấn trực tiếp 60 hộ khai thác tại địa

bàn nghiên cứu như sau: Trong số 60 hộ ngư dân khảo sát có 28 hộ ở tỉnh Sóc Trăng và 32 hộ ở tỉnh Bạc Liêu Đa số ngư dân làm nghề khai thác đều có kinh nghiệm nhiều năm theo kiểu cha truyền con nối, ngư dân có kinh nghiệm lâu năm nhất là 24 năm và thấp nhất trên 1 năm Tỷ lệ phần trăm cơ cấu ngành nghề tương ứng như sau: nghề lưới kéo (16,67%); nghề lưới rê (16,67%) và nghề lưới vây (66,66%)

Trình độ học vấn trung bình của những ngư dân được phỏng vấn như sau: Trình độ học vấn cấp I (50,03%); cấp II (48,30%): Cấp III (1,67%) (Hình 4.1.1)

Do sự tương đồng của vùng biển Sóc Trăng- Bạc Liêu nên mùa vụ khai

thác cá Nục Thuôn (Decapterus lajang) và cá Nục Sò (Decapterus maruadsi) ở

hai tỉnh này tương đối là tương đồng nhau Theo như nhiều ngư dân cá Nục Thuôn và cá Nục Sò có quanh năm nên mùa vụ khai thác thường là quanh năm,

Trang 36

trong đó có một số tháng có nhiều và một số tháng chỉ khai thác được sản lượng ít hai loài cá này

Qua quá trình khảo sát và thống kê lại theo đa số các ngư dân làm nghề khai thác cá Nục Thuôn và cá Nục Sò có những tháng có sản lượng cao và những tháng có sản lượng thấp, trong đó những tháng cho sản lượng cao nhất thường tập trung từ tháng 1 đến tháng 3 (âm lịch), những tháng cho sản lượng ít cũng thường tập trung trong tháng 4, 10 (âm lịch) và một số tháng khác, những tháng còn lại là những tháng có sản lượng trung bình

4.2.1 Sản lượng trung bình của các loài cá trong một chuyến đi

Hoạt động đánh bắt thủy sản ngoài biển khơi xét về thành phần loài và trữ lượng đều rất phong phú nhất là về thành phần loài (Bảng 4.1.1)

Bảng 4.1.1: Sản lượng của các loài cá trong một chuyến đi

% sản lượng trung bình/

chuyến

Tổng trọng lượng trung bình/ chuyến

Nhóm cá nổi lớn (big pelagics fish)

Trang 37

4.3 Những nhận định của ngư dân về ngành nghề

4.3.1 Nhận định về nguồn lợi thủy sản

Qua kết quả phỏng vấn 60 phiếu thì có đến 58 phiếu của các ngư dân (chiếm 96,7%) cho rằng nguồn lợi thủy sản bị suy giảm so với 5 năm trước đây Chỉ có 2 phiếu (chiếm 3,3%) cho rằng nguồn lợi thủy sản không đổi (Hình 4.3.1),

do thu nhập của những ngư dân này tương đối ổn định so với những năm trước,

họ có đầu tư để trang bị những thiết bị khai thác hiện đại như những máy tầm ngư hiện đại dẫn đến sản lượng khai thác của những tàu đánh bắt này thậm chí không giảm mà còn có thể tăng lên nên họ đã nhầm tưởng là nguồn lợi thủy sản không giảm đó chính là tác hại vô cùng to lớn dẫn tới sự suy giảm nguồn lợi thủy sản (Hình 4.3.1)

Không bị suy giảm về nguồn lợi thủy sản: 3.3%

Bị suy giảm về nguồn lợi thủy sản: 96.7%

Hình 4.3.1: Nhận định nguồn lợi thủy sản tại vùng nghiên cứu 4.3.2 Các nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản ở vùng nghiên cứu

Từ Hình 4.3.2 cho thấy được nhận định của ngư dân về việc suy giảm nguồn lợi chủ yếu là do 2 nguyên nhân chính là ngành khai thác hải sản hiện nay

đã có quá nhiều tàu (28%) và kích thướt mắc lưới quá nhỏ (24%), với những mắc lưới quá nhỏ nên đã làm cho nguồn lợi thủy sản trong tự nhiên bị suy giảm đáng

kể, nguyên nhân là như vậy nhưng cũng rất khó hạng chế hiện nay nguồn lợi thủy sản bị suy giảm, muốn cho sản lượng không đổi thì chỉ có thể khai thác những cỡ

cá mà từ trước đến nay chúng ta chưa khai thác, sản lượng đánh bắt ven bờ giãm ngày nay muốn khai thác muốn có lãi thì phải khai thác xa bờ nên những ngư dân nghèo, khó khăn càng gặp khó khăn thêm Ngoài 2 nguyên nhân trên thì theo

Trang 38

nhiều ngư dân việc nguồn lợi thủy sản trong tự nhiên ngày càng suy giảm còn do các nguyên nhân như: biển ngày càng bị ô nhiễm (25%), kĩ thuật khai thác ngày càng cao (9%) và thời tiết thay đổi Đây cũng là một nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi

Kỹ thuật đánh bắt tăng: 9% Tàu thuyền

Hình 4.3.2: Nhận định nguyên nhân làm giảm nguồn lợi thủy sản

4.3.4 Mùa vụ khai thác hai loài cá Nục Thuôn (Decapterrus lajang) và Nục Sò (Decapterus maruadsi)

Hầu như ngư dân khai thác quanh năm nếu chuyến biển nào ra khơi có lãi thì họ làm chứ họ không tính đến sự suy kiệt nguồn lợi thủy sản nên các tháng có sản lượng ít ngày một tăng lên (Hình 4.3.3)

Trang 39

Giống (Genus): Decapterus

► Loài: Cá Nục Thuôn (Decapterus lajang) (Bleeker, 1855)

Cá Nục Thuôn vẩy lăng chỉ có ở nửa sau đoạn thẳng đường bên, số vẩy đường bên từ 106- 132 (trung bình 118) trên xương lá mía có răng (Bertin- Dollfus, 1948) (Hình 4.4.1)

Thân hơi dài, hai bên hơi dẹt Phần trước của đường bên hơi cong và dài hơn phần thẳng Có 28 -30 vẩy xếp mái ngói Vây lưng và vây hậu môn có một vây nhỏ tách rời Vây ngực ngắn, kéo dài đến đầu mút của vây lưng thứ nhất Thông thường chiều dài thân từ 15- 25cm, có con đạt tới 30cm

Chiều dài thân lớn gấp 3-6 lần chiều cao, vảy cá Nục Thuôn là những vảy nhỏ xếp chồng lên nhau Một số chỉ tiêu hình thái của cá Nục Thuôn ở một số vùng trên thế giới

Trang 40

Hình 4.4.1: Cá Nục Thuôn Decapterus lajang (Bleeker, 1851)

Kết quả so sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Nục Thuôn thể hiện qua Bảng 4.4.1

Bảng 4.4.1: So sánh một số chỉ tiêu hình thái của cá Nục Thuôn

Decapterus lajang (Bleeker, 1855)

Các chỉ tiêu Biển

Nhật Bản

Nam Hải

1962

Đông Nam Norman

1935

Việt Nam

Đông Ấn

Độ và Ấn

Độ Dương

Qua Bảng so sánh 4.4.1, ta thấy mẫu cá trong nghiên cứu này có các chỉ tiêu hình thái giống với nghiên cứu của Hội phát triển nghề cá Việt Nam (1999), đồng thời các chỉ tiêu tia vi lưng (D), tia vi hậu môn (A) trong nghiên cứu này cũng giống với kết quả nghiên cứu của Froese và Pauly (2009).Từ đó, ta có

thể kết luận loài nghiên cứu trên là loài Cá Nục Thuôn (Decapterus lajang)

(Bleeker, 1855)

Giống (Genus): Decapterus

Loài: Cá Nục Sò Decapterus maruadsi (Temminck & Schlegel,

1843)

Cá Nục Sò vẩy lăng có trên toàn bộ hoặc hầu hết đoạn thẳng đường bên

Số vẩy đường bên ít hơn 100 (trung bình 85- 87), số tia vây hậu môn 24-21 (trung bình 27) khi sống các vây không có màu đỏ và đỏ cam

Thân hơi dài, gần giống hình trái xoan, chiều dài thân gấp 4,5-5,5 lần

Ngày đăng: 07/11/2020, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm