1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc Điểm Quần Xã Phiêu Sinh Động Vật Trong Ao Nuôi Cá Sặc Rằn Sử Dụng Phân Heo Trực Tiếp Ở Mỹ Phụng

67 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƢỢC Các loài sinh vật sống trong ao nuôi cá như phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy… là những sinh vật chỉ thị cho môi trường nước giúp cho ta có thể đánh giá đượ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN

QUÁCH NGỌC HOÀNG PHƯỚC

Luận văn tốt nghiệp Đại học Chuyên ngành Khoa học Môi Trường

ĐẶC ĐIỂM QUẦN XÃ PHIÊU SINH ĐỘNG VẬT TRONG AO NUÔI

CÁ SẶC RẰN SỬ DỤNG PHÂN HEO TRỰC TIẾP Ở MỸ PHỤNG,

PHONG ĐIỀN, TP CẦN THƠ

Cán bộ hướng dẫn: Dương Trí Dũng

Cần Thơ, 2010

Trang 2

Luận văn kèm theo đây, với tựa đề là “Đặc điểm quần xã động vật phiêu sinh trong ao nuôi cá sặc rằn sử dụng phân heo trực tiếp ở Mỹ Phụng, Phong Điền,

Tp Cần Thơ ”, do Quách Ngọc Hoàng Phước thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua

ThS Dương Trí Dũng ThS Trần Chấn Bắc Ths Cô Thị

Kính

Trang 3

CẢM TẠ

Xin cảm ơn đến quý Thầy, Cô trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của mình

Cảm ơn thầy Dương Trí Dũng đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp

Cảm ơn thầy Trần Chấn Bắc và cô Cô Thị Kính đã có những góp ý quý báu giúp em xây dựng đề tài của mình tốt hơn

Cuối cùng em xin cảm ơn tất cả quí thầy cô trong khoa và các bạn đã giúp

đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

TÓM LƢỢC

Các loài sinh vật sống trong ao nuôi cá như phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy… là những sinh vật chỉ thị cho môi trường nước giúp cho ta có thể đánh giá được chất lượng của thủy vực, trong đó, phiêu sinh động vật có vai trò rất lớn trong hệ sinh thái này Vì thế, đề tài “đặc điểm quần xã động vật phiêu sinh trong ao nuôi cá sặc rằn sử dụng phân heo trực tiếp ở Mỹ Phụng, Phong Điền, Tp Cần Thơ” được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng ao nuôi bằng cách theo dõi sự biến động về thành phần loài và số lượng cá thể của phiêu sinh động vật trong ao nuôi Quá trình được đánh giá qua các chu kì thu mẫu ( có 3 chu kì) Qua quá trình theo dõi, kết quả cho thấy với mô hình canh tác này thì ao nuôi bị

ô nhiễm hữu cơ vì thế cần có một hình thức canh tác khác phù hợp hơn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương I: Mở đầu 8

I Giới thiệu 8

II Mục tiêu nghiên cứu 8

Chương II: Lược khảo tài liệu 10

I Đặc điểm nước ĐBSCL 10

II Sơ lược về ấp Mỹ Phụng 10

III Đặc điểm sinh học cá sặc rằn 11

IV Đặc điểm của phiêu sinh động vật (Zooplankton) 12

Chương III: Phương pháp nghiên cứu 21

I Nội dung nghiên cứu 21

II Thời gian nghiên cứu 21

III Địa điểm nghiên cứu 21

IV Phương tiện nghiên cứu 22

V Phương pháp nghiên cứu 22

Chương IV: Kết quả và thảo luận 24

I Biến động thành phần loài 24

II Biến động số lượng động vật nổi 35

III Đánh giá ao nuôi 41

Chương V: Kết luận và kiến nghị 43

I Kết luận 43

II Kiến nghị 43

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 1: Sự phân bố các nhóm sinh vật nổi trong vùng khảo sát. 24 Bảng 2: Số loài của các nhóm sinh vật nổi trong ao nuôi cá ở chu kì thu mẫu lần thứ nhất. 25

Bảng 3: Số loài của các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trên sông đối chứng ở chu kì thu mẫu lần thứ nhất 28

Bảng 4: Số loài của các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trong ao ở chu kỳ thu mẫu lần thứ hai 29

Bảng 5: Số loài của các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trên sông đối chứng ở chu kì thu mẫu lần thứ hai 31

Bảng 6: Thành phần các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trong ao ở chu kì thu mẫu theo mỗi tuần suốt thời gian khảo sát 32

Bảng 7: Thành phần các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trên sông đối chứng ở chu kì thu mẫu theo tuần 34

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Trang Hình 1: Sơ đồ ao nuôi cá tiến hành nghiên cứu 21

Hình 2: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trong ao ở chu kì thu mẫu lần thứ nhất. 26

Hình 3: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trên sông ở chu kì thu mẫu lần thứ nhất 28

Hình 4: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trong ao ở chu kì thu mẫu lần thứ hai 30

Hình 5: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trên sông ở chu kì thu mẫu lần thứ hai 31

Hình 6: sự biến động số lượng zooplankton qua các tuần khảo sát 32

Hình 7: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trên sông ở chu kì thu mẫu theo tuần 34

Hình 8: Sự biến động số lượng các nhóm zooplankton trong ao nghiên cứu ở chu

Hình 13: Sự biến động số lượng các nhóm zooplankton trên sông đối chứng ở

tuần 41

Trang 8

cá và ô nhiễm môi trường

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rộng 36.000 km2

chiếm trên 4% diện tích lưu vực và là điểm thoát nước cuối cùng của lưu vực sông Mekong Đồng bằng có hai mặt giáp biển Đông và vịnh Thái Lan dài hơn 600 km, mỗi năm vùng đất bằng phẳng này nhận hơn 450 tỷ m3

tổng lượng nước từ sông Mekong Do vậy, ĐBSCL được xem là vùng đất ngập nước rộng lớn nhất Việt Nam Yếu tố tự nhiên này, ngoài sự tăng trưởng rất mạnh về canh tác lúa và rau trái, vùng ĐBSCL rất thuận lợi cho việc phát triển thủy sản (Lê Anh Tuấn, 2007) trong đó có đối tượng vật nuôi là cá sặc rằn

Các loài sinh vật sống trong ao nuôi cá như phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, động vật đáy… là những sinh vật trong môi trường nước giúp cho ta có thể đánh giá được chất lượng của thủy vực, trong đó, phiêu sinh động vật có vai trò rất lớn trong hệ sinh thái này Chúng là thành phần của lưới thức ăn, thành phần trong năng suất sinh học của thủy vực, lọc sạch nước của thủy vực và là

Trang 9

những sinh vật chỉ thị Vì thế, đề tài “đặc điểm quần xã động vật phiêu sinh trong

ao nuôi cá sặc rằn sử dụng phân heo trực tiếp ở Mỹ Phụng, Phong Điền, thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm đánh giá tác động của phân heo đến sự phát triển của động vật thủy sinh trong ao nuôi cá

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu sự phát triển của của quần xã phiêu sinh động vật trong ao nuôi cá sặc rằn bằng phân heo trực tiếp

2 Mục tiêu cụ thể

Theo dõi sự biến động thành phần loài trong ao nuôi trong thời gian nuôi

Theo dõi sự biến động số lượng cá thể của từng loài phiêu sinh động vật trong ao nuôi trong thời gian nuôi

Trang 10

CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Theo Viện Qui Hoạch Thủy Lợi Miền Nam, 2009

ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mê Kông và nước mưa Cả hai nguồn này đều đặc trưng theo mùa một cách rõ rệt Lượng nước bình quân của sông Mê Kông chảy qua ĐBSCL hơn 460 tỷ m3 và vận chuyển khoảng 150-200 triệu tấn phù sa Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quá trình bồi bổ lâu dài

đã tạo nên Đồng bằng ngày nay

ĐBSCL có hệ thống sông kênh rạch lớn nhỏ đan xen, nên rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm Về mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, sông Mê Kông là nguồn nước mặt duy nhất Về mùa mưa, lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.400 mm ở vùng phía Tây ĐBSCL đến 1.300 mm ở vùng trung tâm và 1.600 mm ở vùng phía Đông Về mùa lũ, thường xảy ra vào tháng 9, nước sông lớn gây ngập lụt

Chế độ thuỷ văn của ĐBSCL có 3 đặc điểm nổi bật:

- Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa chuyển tải phù sa, phù du, ấu trùng

- Nước mặn vào mùa khô ở vùng ven biển

- Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn

ĐBSCL có trữ lượng nước ngầm không lớn Sản lượng khai thác được đánh giá ở mức 1 triệu m3/ngày đêm, chủ yếu phục vụ cấp nước sinh hoạt

Mỹ Phụng là một vùng đất thuộc ĐBSCL, vì thế cũng chịu ảnh hưởng của các đặc điểm nước ở ĐBSCL

II SƠ LƯỢC VỀ ẤP MỸ PHỤNG - XÃ MỸ KHÁNH - HUYỆN

PHONG ĐIỀN - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Theo UBMTTQVN xã Mỹ Khánh, ban công tác mặt trận ấp Mỹ Phụng, 2008

- Bắc giáp xã Giai Xuân, huyện Phong Điền

- Tây giáp xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền

- Nam giáp ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền

- Đông giáp ấp Mỹ Long, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền

Trang 11

Địa bàn Mỹ Phụng có trục lộ chính từ cầu rạch Sắn đến cầu rạch Cùng với thị trấn Nhơn Ái chiều dài 2200 km

Tổng diện tích đất 160 ha, trong đó:

- Đất vườn 113 ha chiếm 71% tổng diện tích đất

- Đất ruộng 33 ha chiếm 21% tổng diện tích đất

- Đất sử dụng cho mục đích khác: 14 ha chiếm 8% tổng diện tích đất

Dân số: 1.137 người gồm 272 hộ, trong đó:

- Hộ vừa có ruộng vừa có vườn: 53 hộ chiếm 19% tổng số hộ

- Hộ chỉ có vườn: 201 hộ chiếm 74% tổng số hộ

- Hộ không có đất sản xuất: 18 hộ chiếm 7% tổng số hộ

Toàn ấp chia thành 07 tổ dân sự tự quản, có 32 hộ giàu chiếm 12%, 205 hộ khá chiếm 75%, 13 hộ nghèo chiếm 5%, 22 hộ nghèo chiếm 8% trong tổng số hộ dân của ấp

III ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÁ SẶC RẰN

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) Định loại cá

nước ngọt Đồng Bằng Sông Cửu Long

1 Hình thái phân loại:

Hệ thống phân loại cá sặc rằn được xếp như sau:

Trang 12

Tên địa phương: cá sặc rằn, cá sặc bổi

Vảy đường bên: 49 – 55

Đầu nhỏ dẹp bên, mõm ngắn, nhọn, miệng trên nhỏ Răng nhỏ, mịn mọc hai bên hàm, lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn trên trục giữa thân và phần chóp mõm hơn một điểm cuối xương nắp mang

Thân ngắn, dẹp bên, vây lược nhỏ phủ khắp thân và đầu, có nhiều vảy nhỏ phủ lên gốc vi hậu môn, vi lưng và vi đuôi

Cá có màu xanh đen ở mặt lưng, nhạt dần xuống hai bên hông và bụng Trên cơ thể có hai chấm tròn đen, một ở giữa thân, một ở giữa đuôi Ở một số con còn có thể có nhiều vạch đen mờ nằm xéo ngang thân, trên vi hậu môn, vi lưng, vi đuôi có nhiều chấm nhỏ li ti màu cam Vào mùa sinh sản con đực có màu đen, vi đuôi đỏ cam, con cái có màu nâu nhạt không sặc sở

2 Đặc điểm sinh thái học:

Tại Việt Nam, trong vùng châu thổ sông Mêkông, cá phân bố chủ yếu ở các vùng trũng ngập nước quanh năm, sinh sản tự nhiên trong ruộng, kinh mương nơi chúng cư trú, đặc biệt là nợ có nhiều cây cỏ thuỷ sinh với nhiều chất hữu cơ

Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang là những tỉnh có cá sặc rằn phân bố tập trung và sản lượng cao hiện nay ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Trang 13

b) Dinh dƣỡng:

Cũng như nhiều loài cá khác, ở thời kỳ đầu sau khi nở, cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng Sau khi noãn hoàng tiêu biến, cá chuyển sang ăn thức ăn bên ngoài

Thức ăn ở thời kỳ đầu gồm nhiều loại, như phiêu sinh động vật (Ciliata, Rotifera, Copepoda, Cladocera), phiêu sinh thực vật (Bacillariophyceae,

Cyanophyceae, Chlorophyceae) và thuỷ thực vật tan ra

Ở thời kỳ trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hoá của cá phù hợp với loài ăn tạp Những loại thức ăn thường xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn trong ruột cá bao gồm: mùn bã hữu cơ, phiêu sinh thực vật, phiêu sinh động vật, mầm non thực vật cũng như các loại thực vật thuỷ sinh mềm trong nước

Cá cũng sử dụng tốt các loại thức ăn do người cung cấp như: bột ngũ cốc các loại, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của chính nó

Giai đoạn cá 7 ngày tuổi dài 6mm sẽ xuất hiện vi lưng như một màng mỏng

Giai đoạn 15 ngày tuổi dài 10 – 14,3mm, trên thân có nhiều sắc tố đen chạy từ sau mắt đến cuối đuôi nhưng chưa rõ và chấm dứt bằng một đám sắt tố đen tròn Ống tiêu hoá giống cá trưởng thành bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột, hệ thống hô hấp bằng mang hoàn chỉnh

Cá 35 ngày tuổi dài 23 – 27mm, lưng có màu đen, thân phủ vảy, vi đuôi,

vi lưng và vi hậu môn hoàn chỉnh

Theo Lê Như Xuân (1997) chiều dài tối đa của cá khoảng 25cm, trong điều kiện nhiệt độ thích hợp 25 – 350C trọng lượng cá đạt khoảng 140g/con Ở Việt Nam, khi nuôi cá cở 0,2g/con với mật độ nuôi 20 – 25 con/m2, cho ăn phân heo tươi 3kg/100m2/ngày cá sẽ đạt năng suất 6,7 – 7,2 tấn/ha

Trang 14

d) Sinh sản:

Cá sặc rằn thường đẻ vào mùa mưa tư tháng 4 đến tháng 10 Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi trong ao, có cho ăn, cá đẻ quanh năm những vẫn tập trung vào những tháng mùa mưa

Cá thành thục sinh dục khoảng 7 tháng tuổi Cá đực có vây lưng dài và nhọn, thân hình thon, bụng nhỏ Ngược lại cá cái có vi lưng tròn và ngắn, thường không vượt quá cuống vây đuôi Bụng cá lúc mang trứng căng tròn, nhìn thẳng góc với vị trí đầu thì có dạng hình chữ U Trong tự nhiên cá đẻ trong ruộng lúa,ao nuôi, nơi có nhiều cây cỏ thuỷ sinh

IV ĐẶC ĐIỂM CỦA PHIÊU SINH ĐỘNG VẬT (ZOOPLANKTON):

Theo Dương Trí Dũng , 2001 Zooplankton là tập hợp những động vật sống trong môi trường nước, ở tầng nước trong trạng thái trôi nổi, cơ quan vận động của chúng rất yếu hoặc không có, chúng vận động một cách thụ động và không có khả năng bơi ngược dòng nước Theo phương thức sống và sự phân trong tầng nước mà người ta chia thành các dạng sau

Pleuston: là những sinh vật nổi, sống ở màng nước (phân giới hạn giữa nước và

không khí)

Neuston: là những sinh vật nổi có kích thước hiển vi, sống ở màng nước ( phần

giới hạn giửa nước và không khí) Trong nhóm này nó được chia làm hai loại là (i) Epineuston là sinh vật dạng neuston nhưng phần cơ thể tiếp xúc với không khí nhiều hơn tiếp xúc với nước; (ii) Hyponeuston là sinh vật dạng neuston nhưng phần cơ thể tiếp xúc với nước nhiều hơn là tiếp xúc với không khí

Planton: là những sinh vật nổi, sống trong tầng nước, không khả năng bơi lội

ngược dòng nước, di động thụ động là chủ yếu

Trong nhóm sinh vật nổi này người ta còn dựa vào kích thước để phân chia thành các dạng sau:

- Sinh vật nổi cưc lớn (Megaloplankton): có kích thước > 1m, điển hình

là các loài sứa biển

- Sinh vật nổi lớn (Macroplankton): kích thước trong khoảng 1 đến

100cm, điển hình là các loài sứa nhỏ

Trang 15

- Sinh vật nổi lớn vừa (Mesoplankton): có kích thước trong khoảng 1mm đến 10mm, điển hình là các loài giáp xác chân chèo (Copepoda), giáp xác râu ngành (Cladocera)

- Sinh vật nổi nhỏ (Microplankton): có kích thước từ 0.005 – 1.0mm, điển hình là giáp xác chân chèo (Copepoda), giáp xác râu ngành (Cladocera), nhuyển thể (Mollusca) và trùng bánh xe (Rotatoria)

- Sinh vật nổi cực nhỏ (Nanoplankton): có kích thước khoảng vài mươi micro mét, điển hình là các loài thuộc động vật nguyên sinh (Protozoa), vi khuẩn (Bacteria)

Dựa vào tập tính sống người ta cũng chia động vật nổi thành hai nhóm sau:

- Sinh vật nổi hoàn toàn (Holoplankton): là những sinh vật trong vòng đời của nó hoàn toàn sống nổi trong nước chỉ trừ giai đoạn trừng nghĩ (cyst) là ở

tầng đáy như ở trùng bánh xe, giáp xác râu ngành, chân chèo và một số dạng của nguyên sinh động vật

- Sinh vật nổi không hoàn toàn (Mesoplankton): là những sinh vật chỉ

sống nổi trong một giai đoạn nào đó của vòng đời như là giai đoạn ấu trùng, phần lớn cuộc đời còn lại sống đáy hay sống bám như thủy tức và nhuyển thể…

Dựa vào sự phân bố theo chiều sâu ( chủ yếu là sinh vật biển), sinh vật nổi cũng được chia thành hai nhóm chủ yếu

- Sinh vật nổi tầng mặt (Epiplankton): gồm những sinh vật ở độ sâu từ 0

– 200m, đây là vùng có sự xâm nhập của ánh sáng, có thức vật và có quá trình tự dưỡng

- Sinh vật nổi ở tầng sâu (Nyctoplankton): gồm những sinh vật sống ở độ

sâu hơn 200m, nơi này không có ánh sáng xuyên thấu nên không có thực vật phân bố

1 Vai trò của động vật phiêu sinh trong thủy vực

- Thành phần mạng lưới thức ăn, thức ăn tự nhiên trong thủy vực

- Thành phần trong năng suất sinh học của thủy vực

Quá trình chuyển hóa thì sinh vật trước trong chuổi thức ăn sẽ là nguồn cung cấp năng lượng cho sinh vật bậc kế tiếp, quá trình đó được tóm tắt theo sơ đồ:

Trang 16

Tảo Động vật nổi Động vật nổi lớn Cá ăn động vật nổi

- Lọc sạch nước của thủy vực

- Là sinh vật chỉ thị:

Sự tồn tại và phát triển của một nhóm sinh vật nào đó trong môi trường nào đó là kết quả của quá trình thích nghi Sự phát triển mạnh của một nhóm sinh vật nào đó sẽ biểu hiện được tính chất môi trường ở đó thích hợp cho sự phát triển của quần xã này Thí dụ môi trường giàu chất hữu cơ sẽ là môi trường thuận

lợi cho nhóm sinh vật ăn lọc như Protozoa, Rotatoria hay Cladocera, tùy theo

mức độ ô nhiểm sẽ có từng nhóm nào phát triển

Mặt khác sự không thích ứng hay sự mất đi của một nhóm sinh vật nào đó trong khu hệ cũng là một dấu hiệu cho thấy khuynh hướng diễn biến của môi trường thí dụ trong một thủy vực có hàm lượng độc tố của nông dược cao sẽ ức

chế quá trình phát triển có thể tiêu diệt các nhóm sinh vật như Rotatoria,

Cladocera Khi môi trường được phục hồi lại, hàm lượng nông dược giảm đi thì nhóm sinh vật Rotatotria phát triển nhanh chóng và trở lại tình trạng ban đầu, nếu môi trường hoàn toàn vô độc thì nhóm Cladocera xuất hiện lại

Tóm lại sự xuất hiện hay biến mất của một nhóm sinh vật nào đó thể hiện được đặc tính môi trường thì đó gọi là sinh vật chỉ thị Thủy sinh vật với đặc tính sinh trưởng nhanh, sức sinh sản cao, vòng đời rất ngắn thích hợp cho việc nghiên cứu làm sinh vật chỉ thị đặc tính của môi trường nước

2 Ngành động vật nguyên sinh (Protozoa)

Xuất hiện sớm nhất trong giới động vật và ở nhiều vùng sinh sống khác nhau Nhóm sống tự do được tìm thấy trong nước, nhóm kí sinh thì được phát hiện hầu hết ở các sinh vật đa bào

Protozoa rất đa dạng như phổ biến nhất là dạng hình cầu, oval, cầu kéo dài

và hơi dẹp có đủ các kiểu đối xứng như đối xứng tỏa tròn, đối xứng 2 bên, không đối xứng…miệng nằm ở mặt bụng Kích thước cơ thể trong khoảng 0.005 – 5.00µm đa số có chiều dài từ khoảng 30 – 300 µm

Trang 17

Có nhiều hình thức dinh dưỡng: thực bào Protozoa có thể lấy phần thức ăn nhỏ như tảo, vi khuẩn kể cả Protozoa nhỏ khác , động vật đa bào cở nhỏ, vụn hữu cơ; quang hợp, hấp thu muối dinh dưỡng hòa tan; kí sinh; dinh dưỡng hổn hợp

Nước nhiễm bẩn rất giàu về thành phần loài như Euglypha, Amoeba,

Vorticella, Difflugia… chúng được gọi là Protoxoa nước thải

Quần thể trùng roi phát triển mạnh vùng giàu oxy Euglypha ở vùng giàu hữu cơ, Testacea ở vùng đầm lầy có rong riêu

Có hạt màu thường ở gần bề mặt hay các thủy vực nhỏ

3 Lớp trùng bánh xe (Rotatoria)

Được gọi là trùng bánh xe vì nhiều loài có vòng tơ quanh đầu giống như bánh xe quay đồng bộ là sinh vật hiển vi với chiều dài khoảng 0.04 – 2.5 mm thường trong khoảng 0.1 – 0.5mm những sinh vât trong lớp trùng bánh xe được chia làm hai bộ là bộ noãn sào chẳn và bộ noãn sào lẽ

Bộ noãn sào chẵn cá thể cái có hai buồn trứng, một hàm nghiền và không

có phần ống ngầm hay phần vỏ bộ này được chia thành hai bộ phụ là Bdelloidea

và Seisonidea

Bộ noãn sào lẽ chiếm khoảng 90% trong tổng số loài trùng bánh xe được biết Chúng có một buồng trứng, hàm nghiền không có phiến nghiền chúng có

vỏ hay không có vỏ Cá thể đực được tìm thấy trong vài loài, chúng có kích thướt

nhỏ và ở dạng thoái hóa Bộ này được chia làm ba bộ phụ là ploima,

Flosculariacea và Collothecacea

Thức ăn và phương thức bắt mồi:

Trong nhóm trùng bánh xe ăn thực vật sống bám và sống tự do là những

sinh vật ăn lọc, thụ động như Filinia, Keratella, Euchlanis, Brachionus… vòng

tiêm mao quanh đầu là bộ phận hướng thức ăn trong nước như Periphyton, sinh vật nổi cở nhỏ khác và các mãnh vụn hưu cơ với cở thích hợp

Bọn bắt mồi chủ động như Asplanchna, Synchaeta, Trichocerca… sẽ phát

hiện ra con mồi nhờ râu cảm giác hay sự phát hiện hoạt chất sinh hóa nào đó Thức ăn của chúng là những sinh vật đa bào cở nhỏ, trùng bánh xe nhỏ khác và phiêu sinh hay chất lơ lững

Trang 18

Bọn bò trường không có vong tiêm mao hay vòng này kém phát triển như

Cupelopagis, Acyclus và Atrchus có một cái miệng hình phiểu lớn, khi con mồi

đi vào trong phiểu này thì chúng nhanh chống kép kín miệng lại bắt lấy con mồi

Trùng bánh xe sống vùng hồ hay đầm lầy như: Asplanchna, Filina,

Polyarthra, Keratella thường xuất hiện ở vùng hồ sâu thiếu oxy trong khoảng

thời gian giữa hè hay giữa đông Những loài sống ở độ sâu vài centimaet trong khe cát hay đáy bùn sâu là những loài bị thiếu oxy Có thể là hoạt động của vòng tiêm mao quanh đầu tao dòng nước cung cấp oxy cho chúng trong mọi hoàn cảnh Thông thường nước có pH>7 thì có ít loài nhưng số lượng cao, các loài

thích nghi với điều kiện này là Asplanchna, Asplanchnopus, Mytilina,

Brachionus, Filinia, Lacinularia, Sinantherina, Eosphora và Notholaca nhưng

khi môi trương chuyển sang acid thì nhiều loài xuất hiện nhưng số lượng không

cao như Cephalodella, Lepadella, Lecane, Monostylla, Trichocera và

Dicranophorus, phần còn lại là những loài phân bố rộng ở hai môi trường

4 Bộ giáp xác râu ngành (Cladocera)

Đây là nhóm sinh vật phân bố rộng trong tất cả các loại hình thủy vực, lại

dễ dàng quan sát và phân loại nên chúng là đối tượng nghiên cứu rất thích hợp cho các nhà thủy sinh học và sinh thái học thủy vực

Chúng phân bố rộng khắp ở các vùng trên trái đất và thường thấy ở các thủy vực tạm thời và có nhiều chất hữu cơ

Hầu hết các sinh vật thuộc bộ Cladocera có chiều dài từ 0.2 – 0.3 mm Cơ thể không phân đốt rỏ rang nhưng hầu hết đều có phần vỏ giáp bao lấy đầu và

Trang 19

ngực Phần ngực được bao bằng một tấng vỏ gấp lại ở lưng trông giống như hai mảnh vỏ Nhìn mặt sau của vỏ rất đa dạng có thể có hình oval, hình tròn hay kéo dài hay hình góc cạnh Trên mặt vỏ có hình hay chạm trổ mạng lưới hay hình kẻ sọc hoặc những dạng khác

Thức ăn chính của chúng là tảo nguyên sinh động vật, cũng có thể là phần thức ăn khác nhưng biết rỏ rang nhất là chất hữu cơ đạng phân hủy (detritus) các loại Nhưng thực tế cho thấy phần thức ăn có kích cở hợp sẽ được đưa vào ống tiêu hóa mà không cần sự lựa chọn nào Thức ăn có kích thước lớn khi đưa vào miệng nó được đẩy ra ngoài bằng các sợi tơ ở gốcc chân ngực số 1, sau đó bị

đuôi bụng đá ra ngoài Một vài loài như Polyphemus và Leptodora là vật dữ, có

chân biến đổi để lấy thức ăn, thức ăn của chúng là entomostracan và trùng bánh

xe

Cladocera là sinh vật có nguonf gốc nước ngọt, chỉ có một số loài sống ở

vùng nước mặn và lợ như Evadne và Podon (polyphemidae) Ngoài những thủy

vực chảy mạnh như suối và thủy vực ô nhiểm nặng thì chúng có thể chiếm ưu thế

ở nhiều thủy vực khác Nhóm ưa thực vật bao gồm Daphnia pulex, Sida

crystalline, hầu hết Chydoridae và Macrothricidae Nhóm ưa chất hữu cơ bao gồm Daphnia rosea, Bosmina, Diaphanosoma, Chydorus sphaericus và

Ceriodaphnia

Hầu hết Cladocera là sinh vật chịu được pH khoảng 6.5 – 8.5

5 Lớp phụ chân mái chèo (Copepoda)

Chiều dài biến đọng trong khoảng 0.3mm – 3.2 mm nhưng đa phần có chiều dài nhỏ hơn 2.0 mm Cơ thể có màu nâu hay hơi xám, những loài sống ở vùng triều có màu sáng hơn, có thể có màu tím hay đỏ

Copepoda chịu được điều kiện thiếu oxy tốt hơn Cladocera đó là do khả năng trao đổi chất tốt trong điều kiện thiếu oxy ở nền đáy thủy vực

Trong những thập niên gần đây, nuôi trồng thủy sản đã trở thành một phần quan trọng trong nền kinh tế của thế giới Thử thách lớn nhất là phải đương đầu cùng với các hộ nuôi cá để kiểm soát nhiều yếu tố vô sinh và hữu sinh phức tạp

mà nó ảnh hưởng đến sự thành công trong quá trình ương nuôi cá

Trang 20

Một ví dụ phức tạp liên quan đến quản lý hệ thống thủy sản là việc kiểm

soát quần thể giáp xác chân chèo (copepoda) bằng cách quản lý môi trường ao

nuôi Copepoda giữ vai trò chủ yếu trong hệ sinh thái ao như là: (1) thức ăn cho

cá nhỏ, (2) động vật ăn thịt cỡ nhỏ của cá và các sinh vật khác, (3) ký sinh trùng

của cá, (4) ký chủ trung gian của ký sinh trùng cá và (5) ký chủ và sinh vật lây

bệnh cho con người Động vật phiêu sinh, đặc biệt là luân trùng, giác xác râu

ngành và các giống loài thuộc bộ cyclopoida của copepoda là nguồn thức ăn quan

trọng nhất trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt, đặc biệt ấu trùng của copepoda

có giá trị làm thức ăn cho cá giai đọan giống Copepoda có thể được nuôi hoặc là

thu thập từ các thủy vực tự nhiên được sử dụng như nguồn thức ăn tự nhiên cho

ấu trùng cá Copepoda giai đoạn ấu trùng và trưởng thành của bộ Cyclopoida là

nguồn thức ăn cho nhiều loài cá giai đọan mới nở Trong nuôi trồng thủy sản, các

Copepoda khác là ký sinh trùng của cá Các ký sinh trùng copepoda trưởng thành

thường gặp nhất ở các loài cá nước ngọt là Lernaea cyprinacea, Ergasilus

sieboldi, Salmincola californiensis, S edwardsii, Achtheres percarum,

Tracheliastes maculates, và Caligus lacustris Thêm vào đó, ấu niên của Lernaea

và ấu trùng của Achtheres và Salmincola tấn công vào tia mang cá và gây tổn

thương biểu mô và có thể được xem là nguyên nhân gián tiếp làm chết cá

Copepoda còn là ký chủ trung gian cho các ký sinh trùng cá quan trọng, chẳng

hạn như giun tròn và sán dây Sự gây hại của các ký sinh trùng này có thể làm

tăng tỉ lệ chết cá hoặc làm giảm giá trị thương phẩm của cá Ngoài ra, Copepoda

còn là ký chủ trung gian cho ký sinh trùng mà nó lây nhiễm cho con người và có

thể xem như những sinh vật gây bệnh nghiêm trọng cho con người giống như

bệnh dịch tả (Piasecki1 et al., 2004)

Trang 21

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

 Xác định thành phần các loài phiêu sinh động vật và sự biến động của nó

trong ao nuôi cá sặc rằn bằng phân heo

 Xác định số lượng từng loài phiêu sinh động vật và sự biến động của nó

trong ao nuôi cá sặc rằn bằng phân heo

II THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU

Từ 01/01/2010 đến 30/4/2010

III ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Ao nuôi cá sặc rằn bằng phân heo trực tiếp của hộ dân Nguyễn Văn Sáu,

tổ 47, ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Hình 1: Sơ đồ ao nuôi cá tiến hành nghiên cứu

Diện tích ao nuôi: 12x17= 204 m2

Mật độ cá trong ao nuôi: 50 con/m2

Ngày thả cá: 02/11/2009

Ao cá Thí nghiệm

Chuồng heo

Chòi canh

Đường đi

Sông

Mươ

ng vườn

Vườn cây Mương vườn

Vườn cây

Trang 22

Chuồng nuôi có hai heo thịt, trọng lượng khoảng 45 kg

Ao nuôi cá sử dụng phân heo trực tiếp từ chuồng heo thải xuống làm thức

ăn cho cá, có bổ sung thêm thức ăn viên và bột cá

Nước trong ao được khi thấy ao quá, thông thường là khoảng 2 tuần nguồn nước để lấy vào ao là nguồn nước từ sông bên ngoài Từ khi bắt đầu nuôi đến ngày khảo sát (18/12/2009) đã thay nước 2 lần

IV PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

1 Phương tiện thu mẫu:

Lưới phiêu sinh thực vật đường kính mắt lưới 59 µm

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Thời gian thu mẫu:

Khoảng 06 giờ đến 08 giờ sáng

2 Chu kì thu mẫu

Trong quá trình nghiên cứu đã tiến hành hai chu kỳ thu mẫu là 1 ngày 1 lần trong một chu kỳ thay nước và 7 ngày một lần trong suốt quá trình nuôi cá

a Trong suốt thời gian khảo sát

Định kỳ thu mẫu một tuần một lần trong khoảng thời gian từ ngày

1/1/2010 đến 23/03/2010

b Trong một chu kỳ thay nước

Trang 23

Để xem xét sự biến động của thủy sinh vật dưới sự cung cấp phân heo trực tiếp, liên tục, nhiên cứu được tiến hành với chu kỳ thu mẫu mỗi ngày một lần với hai chu kỳ thu mẫu là:

- Chu kì thứ nhất từ 11.01.2010 đến 24.01.2010

- Chu kì thứ hai từ 10.03.2010 đến 23.03.2010

3 Phương pháp thu mẫu:

Định tính; được thu bằng cách dùng lưới phiêu sinh động vật vớt xung quanh ao hay đường chéo ao Sinh vật thu thập được sẽ được chuyển sang lọ nhựa và cố định mẫu với formol 2-4%

Định lượng: cũng với phương thức và dụng cụ như phần định tính, phần định lượng cũng được tiến hành tương tự nhưng cần phải xác định lượng nước đi qua lưới Mẫu vật thu được cũng chuyển sang lọ và cố định mẫu với formol 2-4%

Ghi nhãn đầy đủ định tính, định lượng, thời gian thu, đặc điểm môi trường xung quanh khi thu mẫu

4.Phương pháp phân tích:

Mẫu sau khi cố định bằng formol được phân tích ở phòng thí nghiệm

Định tính: lấy mẫu định tính ra quan sát dưới kính hiển vi hay kính lúp

với độ phóng đại thích hợp nhằm xác định các đặc điểm hình thái cấu tạo và các đặc điểm phân loại, trên cơ sở đó định danh theo tài liệu phân loại thích hợp

Định lượng: phiêu sinh động vật được điếm bằng buồng điếm Bogorov

rồi xác đinh số lượng theo công thức:

X

V Trong đó:

D: mật độ hay số lượng động vật nổi (cá thể/m3

) X: số cá thể điếm được trong mẫu nước

V: thể nước đã thu (lít)

5 Phương pháp xử lý kết quả

Sau khi phân tích xong, kết quả được thể hiện thành bảng, trên cơ sở đó đánh giá tính đa dạng và sinh lượng

Trang 24

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1 Thành phần loài động vật nổi

Qua kết quả phân tích cho thấy, có 67 loài zooplankton được phát hiện trong ao và kinh cấp nước (phụ lục 1,2,3), trong đó Rotatoria có thành phần loài phong phú nhất, với 35 loài chiếm 52,24%, kế đến là Protozoa có 15 loài chiếm 22,39%, Cladocera có 10 loài chiếm 14,93% và Copepoda chiếm thành phần ít nhất với 7 loài chiếm 10,45% Kết quả được biểu thị trong bảng 1

Bảng 1: Số loài sinh vật nổi trong vùng khảo sát

Ngoài ra, hầu hết các loài zooplankton ở các thủy vực nghiên cứu là các

loài phân bố rộng, nhóm Trùng bánh xe Rotatoria là nhóm thường có mặt trong

thủy vực giàu dinh dưỡng (Đặng Ngọc Thanh và cộng tác viên, 2002), Cladocera cũng là nhóm sinh vật chỉ thị cho môi trường giàu hữu cơ (Dương Trí Dũng,

Trang 25

2003) cũng xuất hiện với số loài tương đối nhiều trong vùng khảo sát, nên có thể nói các thủy vực nghiên cứu có hàm lượng hữu cơ trong nước cao

2 Trong một chu kỳ thay nước

Chu kì thu mẫu thứ nhất (từ 11.01.2010 đến 24.01.2010)

a Trong ao

Kết quả phân tích định tính động vật nổi trong ao nuôi cá được trình bày ở phụ lục 1 Kết quả cho thấy đã phát hiện được 35 loài động vật nổi, trong đó lớp Rotatoria có số loài phong phú nhất với 15 loài chiếm 42,86% trong tổng số loài động vật nổi của ao Kế đến là Protozoa với 13 loài chiếm 37,14%, Copepoda có

4 loài chiếm 11,43% và Cladocera có 3 loài chiếm 8,57% Kết quả được biểu thị qua bảng sau:

Bảng 2: Số loài của các nhóm sinh vật nổi trong ao nuôi cá ở chu kỳ thu mẫu lần thứ nhất

Số loài zooplankton trong ao nuôi ở chu kỳ thu mẫu thứ nhất biến động từ

14 đến 24 loài, trong đó ở ngày thu mẫu đầu tiên có số loài được phát hiện nhiều nhất là 24 loài, ở ngày thu mẫu thứ 5 và ngày thu mẫu thứ 14 của chu kỳ chỉ còn

có 14 loài Số loài phát hiện được ở lần thu mẫu đầu tiên của chu kỳ nhiều nhất là

do nước mới được lấy từ sông thay vào ao, vì thế có nhiều loài từ sông theo nước

đi vào Số loài phát hiện được ở lần thu mẫu thứ 5 ít là do lần thu mẫu này rơi vào ngày mưa nên các loài sinh vật có xu hướng ít nổi lên bề mặt thoáng của ao

Trang 26

Ở lần thu mẫu thứ 14 là cuối chu kỳ thu mẫu thứ nhất số loài phát hiện được ít nhất, có lẽ vì điều kiện môi trường nước trong ao ở thời điểm đó đã không phù hợp với sự phát triển của nhiều loài zooplankton Sự biến động số loài động vật nổi trong ao được thể hiện qua biểu đồ sau

Hình 2: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trong ao ở chu kỳ thu mẫu lần thứ nhất

Hình 2 cho thấy ngành Protozoa có sự biến động lớn nhất về số loài trong thời gian khảo sát, nó biến động từ 1-8 loài Các giống thường được phát hiện nhất trong nhóm Protozoa là Centropyxis và Difflugia điều này cho thấy nước có khả năng đã bị ô nhiễm vì những loài trên thường được gọi là Protozoa nước thải

(Dương Trí Dũng, 2000) Tintinnopsis angulata là loài có số lần được phát hiện ít

nhất vì loài này thường phân bố ở các thủy vực nước mặn, chúng theo dòng chảy

đi vào sông sau đó thâm nhập vào nội địa Khi thay nước, chúng được đưa vào

ao, nhưng môi trường không thuận lợi nên chúng không phát triển được Trong các loài Protozoa được phát hiện trong ao ở chu kỳ này có sự xuất hiện của

Trichodina sp, tuy số lần phát hiện được loài này không nhiều nhưng rất đáng

chú ý vì đây là loài thuộc nhóm kí sinh, sống kí sinh trên da, mang và khoang mũi cá gây nên bệnh trùng bánh xe, chúng có thể sống tự do trong nước từ 1- 1,5 ngày (Bùi Quang Tề, 2006)

Trang 27

Rotatoria là nhóm luôn có số loài được phát hiện nhiều nhất trong tất cả các lần thu của chu kỳ thu mẫu thứ nhất Tuy nhiên, qua hình 1 có thể thấy được rằng số loài phát hiện được của nhóm này tương đối ổn định, giao động từ 9-12 loài Nhờ có kích thước nhỏ, bơi lội chậm chạp, sống lơ lửng trong nước làm cho Rotatoria trở thành con mồi thích hợp cho ấu trùng của các loài cá và giáp xác có kích thước miệng nhỏ (Snell và Carrillo, 1984)

Tuy nhiên, chúng lại thường hay xuất hiện tại các thủy vực giàu dinh dưỡng (Đặng Ngọc Thanh và cộng tác viên, 2002) và với sự xuất hiện thường

xuyên của Filina longiseta cho thấy khả năng ô nhiễm hữu cơ có khá năng xảy ra

(Dương Trí Dũng, 2003)

Trong chu kỳ thu mẫu này, Cladocera có sự biến động về số loài phát hiện

được là từ 1-3 loài, trong đó, Moina dubia là loài luôn được phát hiện trong tất cả các lần thu mẫu Moina có thể chịu được môi trường ô nhiễm chất thải hơn so với

các giống khác (Huỳnh Ngọc Yến, 2009) nên sự xuất hiện ổn định của chúng cho thấy có khả năng ao nuôi bị ô nhiễm hữu cơ

Sự biến động về số loài thuộc nhóm Copepoda phát hiện được trong ao nuôi ở chu kỳ này biến động từ 1-4 loài, trong đó, các loài thuộc họ Cyclopidae

luôn được phát hiện trong mỗi lần thu mẫu ở chu kỳ này như Limnoithona

sinensis, Mescocyclops leuckarti, Thermocyclops hyalinus , đã thể hiện sự phong

phú về hàm lượng hữu cơ lơ lửng trong thủy vực

b Trên sông

Kết quả định tính động vật nổi ở sông cho thấy có 62 loài được phát hiện Trong đó, Rotatoria có 36 loài chiếm 58,06% trong thành phần loài, Cladocera và Protozoa đều có có 10 loài trong mỗi nhóm chiếm 16,13%, Copepoda có 6 loài chiếm 9,68% Kết quả được trình bày qua bảng sau:

Bảng 3: Số loài của các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trên sông ở chu

kỳ thu mẫu lần thứ nhất

Trang 28

và 14 là lúc nước lớn đã mang nhiều loài đến đây Sự biến động được biểu hiện qua biểu đồ sau

Hình 3: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trên sông ở chu

Trang 29

biến hầu như không có loài nào có sự xuất hiện ổn định phù hợp với đặc tính của thủy vực nước chảy

3.Chu kỳ thu mẫu thứ hai ( từ 10.03.2010 đến 23.03.2010)

a Trong ao

Ở chu kỳ thu mẫu thứ 2, số loài phát hiện được được trình bày ở phụ lục 2,

cụ thể như sau: tổng số có 33 loài được phát hiện, trong đó Rotatoria nhiều nhất với 17 loài chiếm 51,52%, kế đến là Protozoa có 10 loài chiếm 30,3%, Copepoda chiếm 12,12% với 4 loài và Cladocera có 2 loài chiếm 6,06% Kết quả được biểu thị qua bảng sau:

Bảng 4: Số loài của các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trong ao ở chu

kỳ thu mẫu lần thứ hai

từ sông được du nhập vào ao làm cho số loài trong ao tăng lên, đến sau lần thu mẫu thứ 9 và trước lần thu mẫu thứ 10 chủ ao lại tiếp tục cho thay nước vào ao với lượng nước thay vẫn là ½ ao, lúc này do được thay nước liên tiếp nên mật độ zooplankton trong ao giảm lại, điều này ảnh hưởng đến số loài thu được Sự biến động được thể hiện qua biểu đồ sau

Trang 30

Hình 4: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trong ao ở chu kỳ thu mẫu lần thứ hai

Số loài phát hiện được trong nhóm Protozoa biến động từ 1-7 loài, nhìn

vào bảng phụ lục 2 có thể thấy rằng sự xuất hiện của Tintinnopsis angulata tăng

nhiều hơn so với chu kỳ thu mẫu thứ nhất

Rotatoria vẫn là nhóm luôn có số loài được phát hiện nhiều nhất trong tất

cả các lần thu mẫu, số loài phát hiện được biến động từ 6-10 loài, tuy nhiên, nếu

so sánh với chu kì thứ nhất thì số loài phát hiện được ít hơn và sự biến động cũng lớn hơn, có thể do sự thay nước thường xuyên vào ao làm ảnh hưởng đến số loài trong ao

Cladocera vẫn được phát hiện trong nhiều lần thu mẫu, tuy nhiên có đến 4 tuần không thấy sự hiện diện của Cladocera, điều này có lẽ cũng do chế độ thay nước làm ảnh hưởng đến sự xuất hiện của các loài thuộc nhóm Cladocera

b Trên sông

Kết quả định tính động vật nổi trên sông đối chứng ở chu kỳ thu mẫu thứ

2 cho thấy có 56 loài được phát hiện Trong đó, Rotatoria vẫn là nhóm có số loài được phát hiện nhiều nhất với 32 loài chiếm 57,14%, kế đến là kế đến là protozoa phát hiện được 10 loài chiếm 17,86%, Cladocera có 8 loài chiếm 14,29%, và Copepoda với số loài phát hiện ít nhất 6 loài chiếm 10,71% Kết quả được biểu thị qua bảng sau:

Trang 31

Bảng 5: Số loài của các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trên sông đối chứng ở chu kỳ thu mẫu lần thứ hai

Hình 5: Sự biến động số loài của các nhóm zooplankton trên sông ở chu kỳ thu mẫu lần thứ hai

Trang 32

4 Trong chu kỳ thu mẫu hàng tuần

a Trong ao

Trong suốt thời gian khảo sát, số loài của các nhóm zooplankton được phát hiện trong ao là 34 loài Rotatoria chiếm tỉ lệ cao nhất 52,94% với 18 loài, kế đến là Protozoa chiếm 26,47% với 9 loài, Copepoda có 4 loài chiếm 11,76%, Cladocera

ít nhất chiếm 8,82% với 3 loài Kết quả biểu thị qua bảng sau:

Bảng 6: Thành phần các nhóm sinh vật nổi phát hiện được trong ao ở chu

kỳ thu mẫu theo mỗi tuần suốt thời gian khảo sát

Số loài zooplankton phát hiện được qua các tuần khảo sát biến động từ

12-23 loài, trong đó sự biến động diễn ra mạnh hơn vào 8 tuần đầu và ổn định hơn vào 4 tuần sau Sự biến động được thể hiện qua biểu đồ sau:

Hình 6: sự biến động số loài zooplankton qua các tuần khảo sát

Trang 33

Hình 6 cho thấy rằng số loài phát hiện được có xu hướng tăng từ tuần 1 đến tuần 5, tuần 6 số loài phát hiện được giảm mạnh và tăng cao lại vào tuần 7, sau đó vào tuần 8 lại tiếp tục giảm mạnh rồi tăng nhẹ vào tuần 9 sau đó ổn định dần Nguyên nhân là từ tuần 1 đến tuần 8, chế độ thay nước của ao nuôi là mỗi 2 tuần 1 lần, và mỗi lần thay là khoảng ½ ao, nên số loài phát hiện được qua mỗi lần thu nhiều do mật độ cao Ở tuần 6, số loài phát hiện được giảm mạnh là do ở tuần này ao nuôi có được xử lí bằng formol Sau đó ao được thay nước vào tuần

7 Tuần 8, ao nuôi tiếp tục được xử lí bằng CuSO4 nên số loài phát hiện được cũng giảm Kể từ tuần 9 trở đi ao nuôi áp dụng chế độ thay nước mỗi 4-5 ngày 1 lần nên số loài phát hiện được ít hơn so với các tuần 1,2,3,4,5,7

Số loài Protozoa phát hiện được biến động từ 0-6 loài, trong đó số loài

phát hiện được nhiều trong các lần thu mẫu là Centropyxis ecornia, sự xuất hiện của loài này cùng với một số loài khác như Trichodina sp tập trung vào các tuần

thu mẫu thứ nhất đến thứ 7 Sự phân bố số loài như vậy là do tác động của chu kỳ thay nước ao

Rotatoria có số loài được phát hiện biến động từ 6-15 loài, trong đó tuần thu mẫu thứ 6 có số loài phát hiện ít nhất, nguyên nhân là do ao được xử lý bằng formol Sự biến động về số loài phát hiện được trong nhóm Rotatoria tương đối lớn và số loài phát hiện được trong nhóm Rotatoria chiếm thành phần lớn nhất trong các nhóm zooplankton nên sự biến động số loài trong nhóm Rotatoria phát hiện được sẽ ảnh hưởng lớn sự biến động chung của số loài zooplankton phát hiện được

Trong nhóm Cladocera thì Moina dubia là loài được phát hiện hầu như tất

cả các tuần thu mẫu, điều này cho thấy thủy vực có khả năng bị ô nhiễm hữu cơ

do Moina thường phát triển trong khu vực nước thải giàu hữu cơ

Ở chu kỳ thu mẫu theo tuần, số loài trong nhóm Copepoda được phát hiện gồm 4 loài trong đó có 3 loài thuộc phân nhóm Cyclopoida xuất hiện thường xuyên ở mỗi tuần thu mẫu, điều này cho thấy ao nuôi giàu chất hữu cơ lơ lửng

b Trên sông

Số loài zooplankton phát hiện được tổng cộng 61 loài gồm có lớp

Rotatoria có 35 loài chiếm 57,38%, Protozoa có 10 loài chiếm 16,39%,

Ngày đăng: 07/11/2020, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm