Trong khoảng ba thập niên gần đây có các công trình nghiên cứu của các nhà tảo học như Nguyễn Văn Tuyên 1980 trong luận án phó tiến sĩ sinh học đã giám định được 856 loài thực vật thuộc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TNTN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
.0O0
HUỲNH KIỀU LINH
ĐẶC ĐIỂM PHIÊU SINH THỰC VẬT TRONG AO NUÔI CÁ SẶC RẰN
SỬ DỤNG PHÂN HEO TRỰC TIẾP
Trang 2Thầy Trần Chấn Bắc – Bộ môn Khoa học môi trường, đã tận tình chỉ dạy và quan tâm giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Quý thầy, cô, anh, chị ở Bộ môn Khoa học môi trường, Khoa Môi trường & TNTN trường Đại học Cần Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân và tất
cả các bạn bè đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập trên giảng đường đại học và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Trong bài còn nhiều sai sót em rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài luận văn hoàn chỉnh hơn
Cần thơ, ngày 07 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Kiều Linh
Trang 3TÓM LƯỢC
Qua nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm phiêu sinh thực vật trong ao nuôi cá sặc
rằn sử dụng phân heo trực tiếp ở ấp Mỹ Phụng – Phong Điền – TP Cần Thơ” với
2 chu kỳ thu mẫu, tiến hành thu tại 5 điểm trong ao và 1 điểm đối chứng
Về thành phần giống loài tôi đã xác định được 235 loài tảo Trong đó:
o Tảo khuê có thành phần giống loài phong phú nhất 99 loài và chiếm 42.13% tổng số loài
o Tảo lục có 76 loài chiếm 32.34% tổng số loài
o Tảo mắt có 41 loài chiếm 17.45% tổng số loài
o Tảo lam có 16 loài chiếm 6.80% tổng số loài
o Tảo giáp có 3 loài chiếm 1.28% tổng số loài
Về sinh lượng tảo tôi đã xác định được:
o Tảo mắt có số lượng chiếm ưu thế nhất Mật độ trung bình tảo mắt dao động trong khoảng 1314 – 12061 cá thể/ml (ct/ml)
o Mật độ trung bình tảo lục dao động trong khoảng 455 – 6855 (ct/ml)
o Mật độ trung bình tảo khuê dao động trong khoảng 362 – 2867 (ct/ml)
o Mật độ trung bình tảo lam dao động trong khoảng 183 – 2029 (ct/ml)
o Mật độ trung bình tảo giáp dao động trong khoảng 0 – 99 (ct/ml) Chỉ số đa dạng Shannon biến động từ 3.28 đến 2.89 Theo Stau et al., (1970) – các thủy vực nghiên cứu nước từ sạch đến hơi ô nhiễm Điều này cần có sự lưu ý đến nguồn nước để có thể cải tạo tốt cho ao nuôi
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm lược ii
Mục lục iii
Danh sách hình vi
Danh sách bảng viii
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Lược khảo tài liệu 3
2.1 Một vài nét sơ lược về địa điểm nghiên cứu 3
2.1.1 Vị trí địa lí 3
2.1.2 Diện tích 3
2.1.3 Dân số 3
2.2 Lược sử thực vật phù du nước ngọt 3
2.3 Tổng quan một số loài tảo thường gặp trong thủy vực 6
2.3.1 Tảo khuê (Bacillariophyta) 8
2.3.2 Tảo lục (Chlorophyta) 10
2.3.3 Tảo mắt (Euglenophyta) 12
2.3.4 Tảo lam (Cyanophyta) 14
2.3.5 Tảo giáp (Pyrrophyta) 18
2.3.6 Tảo vàng ánh (Chrysophyta) 19
2.3.7 Tảo vàng (Xanthophyta) 20
2.3.8 Tảo nâu (Phaeophyta) 20
2.3.9 Tảo đỏ (Rhodophyta) 21
2.3.10 Tảo vòng (Charophyta) 22
2.4 Đặc điểm sinh thái, sinh học của cá sặc rằn 24
2.4.1 Phân bố 24
Trang 52.4.3 Sự sinh trưởng, phát triển và tính ăn 25
2.4.4 Sinh học sinh sản cá 26
2.4.5 Dinh dưỡng 26
2.5 Vài nét về phân heo 27
2.6 Một số yếu tố mt đối với tv thủy sinh 28
2.6.1 Ánh sáng 28
2.6.2 Nhiệt độ 29
2.6.3 Chất dinh dưỡng 30
2.6.4 Độ đục và độ trong 33
2.6.5 pH 34
2.6.6 Oxi hòa tan (DO) 36
2.6.7 Hidrosulfure (H2S) 37
2.6.8 Màu nước 38
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 42
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 42
3.1.1 Thời gian nghiên cứu 42
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 42
3.2 Phương pháp thu thập số liệu 42
3.2.1 Phương tiện thu và phân tích mẫu 42
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.3 Phương pháp xử lí số liệu 44
Chương 4: Kết quả và thảo luận 45
4.1 Sự biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật 45
4.2 Sự biến độ về mật độ phiêu sinh thực vật 58
4.2.1 Sự biến động về số lượng phiêu sinh thực vật tại các điểm thu mẫu ở chu kì 1 65 4.2.2 Sự biến động về số lượng phiêu sinh thực vật tại các điểm thu mẫu ở chu kì 2 70 4.3 Kết quả chỉ số đa dạng giữa các điểm thu mẫu 76
Trang 6Chương 5: Kết luận và kiến nghị 78 5.1 Kết luận 78 5.2 Kiến nghị 80
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: Kết quả định tính mẫu phiêu sinh thực vật
Phụ lục 2: Kết quả định lượng mẫu phiêu sinh thực vật
Phụ lục 3: Bảng tổng hợp thành phần giống loài
Phụ lục 4: Kết quả tổng hợp định lượng mẫu phiêu sinh thực vật
Phụ lục 5: Chỉ số đa dạng tại các điểm thu mẫu
Phụ lục 6: Kết quả định lượng phiêu sinh thực vật tại ao nuôi cá sặc rằn có sử dụng nước thải từ túi ủ biogas
Phụ lục 7: Kết quả phân tích thủy hóa trong ao nuôi
Phụ lục 8: Hình nơi thu mẫu và các ngành tảo trong phân tích
Trang 7DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Quá trình sinh sản của tảo khuê 9
Hình 2: Ảnh hưởng của pH đến đời sống cá 35
Hình 3: Sự tăng và giảm lượng DO trong ao cá giàu dinh dưỡng 37
Hình 4: Các điểm thu mẫu trong ao 43
Hình 5: Sự biến động mật độ tảo ở các điểm theo thời gian thu mẫu trong chu kì 1 59
Hình 6: Sự biến động mật độ tảo ở các điểm theo thời gian thu mẫu trong chu kì 2 60
Hình 7: Sự biến động mật độ tảo trong từng ngành theo thời gian thu mẫu ở chu kì 1 62
Hình 8: Sự biến động mật độ tảo trong từng ngành theo thời gian thu mẫu ở chu kì 2 63
Hình 9: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 1 trong chu kì 1 65
Hình 10: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 2 trong chu kì 1 66
Hình 11: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 3 trong chu kì 1 67
Hình 12: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 4 trong chu kì 1 68
Hình 13: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 5 trong chu kì 1 68
Hình14: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 1 trong chu kì 2 70
Hình 15: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 2 trong chu kì 2 71
Trang 8Hình 16: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 3 trong chu kì 2 72 Hình 17: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 4 trong chu kì 2 74 Hình 18: Sự biến động mật độ tảo theo thời gian thu mẫu của điểm 5 trong chu kì 2 74
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Đánh giá chất lượng nước theo chỉ số đa dạng 6
Bảng 2: Số lượng các chi, loài, dưới loài và các dạng tảo nước ngọt Việt Nam theo các ngành phân loại 24
Bảng 3: Phân biệt cá đực và cá cái bằng một số chỉ tiêu 26
Bảng 4: Lượng phân heo và nước tiểu mỗi ngày thải ra 27
Bảng 5: Màu nước 40
Bảng 6: Một số tiêu chuẩn chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản 41
Bảng 7: Tỷ lệ thành phần loài trong 2 chu kì thu mẫu 45
Bảng 8: Tỷ lệ thành phần loài ở các điểm thu mẫu trong chu kì 1 46
Bảng 9: Tỷ lệ thành phần loài ở các điểm thu mẫu trong chu kì 2 46
Bảng 10: Biến động thành phần loài PSTV ở đối chứng 49
Bảng 11: Biến động thành phần loài PSTV ở điểm 1 51
Bảng 12: Biến động thành phần loài PSTV ở điểm 2 52
Bảng 13: Biến động thành phần loài PSTV ở điểm 3 54
Bảng 14: Biến động thành phần loài PSTV ở điểm 4 55
Bảng 15: Biến động thành phần loài PSTV ở điểm 5 56 Bảng 16: Trung bình chỉ số đa dạng tại các điểm trong 2 chu kì thu mẫu 76
Trang 11Chương 1
GIỚI THIỆU
Hiện nay, ngành nuôi trồng thuỷ sản đang đóng vai trò khá cao trong nền kinh tế của nước ta Nuôi trồng thuỷ sản không những đem lại nguồn thực phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước mà còn dùng để xuất khẩu Bên cạnh đó, vai trò môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản được chú ý nhiều trong những năm gần đây nhằm hạn chế gây ô nhiễm nguồn nước mặt của môi trường xung quanh, đó là mô hình nuôi trồng thuỷ sản bền vững Nuôi trồng thuỷ sản bền vững là
mô hình được xây dựng hệ thống nuôi gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và có hiệu quả kinh tế cao
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng châu thổ phì nhiêu với sông nước mênh mông, được thiên nhiên ban tặng cho một hệ thống sông ngòi chằng chịt, đây
là một điều kiện thuận lợi cho vùng phát triển kinh tế rất lớn cả về nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, dịch vụ… và đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản
Ngày 27/03/2009, tại vườn du lịch Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP.Cần Thơ đã diễn ra Hội thảo Phát triển nông thôn dựa trên cơ chế sản xuất sạch do Trung tâm Nghiên cứu quốc tế Nhật Bản về Khoa học nông nghiệp (JIRCAS) và Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) phối hợp tổ chức Dự án nghiên cứu tính khả thi của mô hình phát triển nông thôn dựa trên cơ chế phát triển sạch ở ĐBSCL do Khoa Môi trường & TNTN (ĐHCT) phối hợp với JIRCAS đồng tổ chức thực hiện từ 01/04/2008 đến 31/03/2011 tại vùng trọng điểm thuộc ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền Mục tiêu nghiên cứu nhằm góp phần vào sự phát triển nông thôn bền vững bằng cách mở rộng các công nghệ kỹ thuật mới bao gồm việc áp dụng mô hình VACB (vườn - ao - chuồng - biogas) cho người dân và tiến hành dự án CDM (cơ chế sản xuất sạch) để giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính thông qua mô hình
này ( www.tnmthainguyen.gov.vn )
Trang 12Thông qua mô hình nuôi trồng thuỷ sản bền vững thì việc sử dụng chất thải
từ chăn nuôi cho ao nuôi cá sẽ giúp hạn chế việc xả thải trực tiếp nguồn nước bẩn ra sông, đồng thời đây cũng là nguồn cung cấp thức ăn cho cá Hay nói cách khác chất thải từ chăn nuôi là nguồn cung cấp chất hữu cơ phong phú cho thành phần phiêu sinh thực vật trong ao nuôi cá Các loại cá nuôi chủ yếu trong mô hình này là các loại cá ăn phiêu sinh, mùn bã hữu cơ như: sặc rằn, điêu hồng, tai tượng… Trong đó với những ưu thế vượt trội của mình thì cá sặc rằn đã được đông đảo người dân ở đây chọn nuôi
Song song với mặt tích cực là nguồn lợi từ cá mang lại, thì việc thải trực tiếp chất thải chăn nuôi vào ao nuôi cá có thể gây ô nhiễm môi trường Vì vậy cần xác định lượng chất thải cho vào ao nuôi thích hợp để đảm bảo tỷ lệ sống và tăng trưởng cao cho cá thông qua việc xác định thành phần phiêu sinh thực vật có trong ao Do
đó, đề tài: “Đặc điểm Phiêu Sinh Thực Vật trong ao nuôi cá sặc rằn sử dụng phân
heo trực tiếp ở Mỹ Phụng – Phong Điền – Tp Cần Thơ” được thực hiện
Mục tiêu tổng quát:
Tìm hiểu sự ảnh hưởng của môi trường nước khi cho phân heo trực tiếp vào ao nuôi cá sặc rằn, nhằm tìm điều kiện thích hợp nhất cho sự phát triển và tăng trưởng cho cá
Mục tiêu cụ thể:
Xác định thành phần, số lượng phiêu sinh thực vật trong ao nuôi cá có sử dụng phân heo trực tiếp Thông qua kết quả phân tích được cho biết vai trò và
sự ảnh hưởng của tảo trong ao đến cá
Nội dung nghiên cứu:
o Xác định thành phần giống loài và sinh lượng phiêu sinh thực vật
o Đánh giá biến động thành phần loài trong thuỷ vực nghiên cứu
o Xác định chỉ số đa dạng Shannon H’ của phiêu sinh thực vật trong thủy vực nghiên cứu để biết được những hạn chế và ảnh hưởng của chúng trong thủy vực
Trang 13Chương 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Một vài nét sơ lược về địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Vị trí địa lý
Ấp Mỹ Phụng – Xã Mỹ Khánh - Huyện Phong Điền – TP Cần Thơ
o Phía Bắc giáp xã Giai Xuân
o Phía Tây giáp xã Nhơn Ái
o Phía Nam giáp ấp Mỹ Hoà, xã Mỹ Khánh
o Phía Đông giáp ấp Mỹ Long, xã Mỹ Khánh
2.1.2 Diện tích
Tổng diện tích đất Mỹ Phụng: 160 ha Trong đó:
o Đất vườn 113 ha chiếm 71% tổng diện tích đất
o Đất ruộng 33 ha chiếm 21% tổng diện tích đất
o Đất sử dụng cho mục đích khác: 14 ha chiếm 8% tổng diện tích đất
2.1.3 Dân số
Dân số: 1.137 người gồm 272 hộ Trong đó:
o Hộ vừa có ruộng vừa có vườn: 53 hộ chiếm 19% tổng số hộ
o Hộ chỉ có vườn: 201 hộ chiếm 74% tổng số hộ
o Hộ không có đất sản xuất: 18 hộ chiếm 7% tổng số hộ
Toàn ấp chia thành 7 tổ nhân dân tự quản, có 32 hộ giàu chiếm 12%, 205 hộ khá chiếm 75%, 13 hộ nghèo chiếm 5% theo tiêu chí mới, 22 hộ cận nghèo chiếm 8% trong tổng số hộ dân của ấp
(Nguồn: UBMTTQVN xã Mỹ Khánh ban công tác mặt trận ấp Mỹ Phụng, 2008)
2.2 Lược sử thực vật phù du nước ngọt
Công trình đầu tiên về tảo ở Việt Nam do J Loureiro viết năm 1973, ông đã
mô tả về tảo lục, Ulva pisum Người Việt Nam nghiên cứu và công bố kết quả đầu
tiên chuyên về tảo lam, đó là Cao Ngọc Phương (1964) Bà đã viết về 23 taxon tảo
Trang 14lam sát mặt đất ở Sài Gòn và Đà Lạt, trong đó có 11 chi với 2 chi có tế bào dị hình
và 9 chi không có tế bào dị hình, 1 loài mới đối với khoa học: Phormidium vietnamense và một thứ mới: Gloeocapsa punctata var phamhoangii (Dương Đức Tiến, 1996)
Tháng 01/1966, phân tích nước hồ Hoàn Kiếm vào thời điểm nước nở hoa, nhà tảo học Hungari T.Hortobagyi (1967, 1968, 1969) đã xác định 24 taxon tảo lam
thuộc về 14 chi (1 chi có tế bào dị hình và 13 chi không có tế bào dị hình) (Dương Đức Tiến, 1996)
Trong bài báo cáo về “Tảo lam cố định đạm trên đất trồng lúa miền Bắc Việt Nam” của Dương Đức Tiến (1977) đã công bố 13 loài tảo lam thuộc 6 chi (4 chi có
tế bào dị hình và 2 chi không có tế bào dị hình) với đặc điểm phân loại và khả năng
cố định đạm của chúng (Dương Đức Tiến, 1996)
Trước năm 1960 các công trình nghiên cứu về thực vật nổi ở Việt Nam có rất
ít và hầu như chỉ mang tính chất phân loại M.D Bois, P Petit (1904) công bố 38 loài tảo silic thu được trong đáy thuỷ vực nước ngọt ở Nam Việt Nam P Fremy (1927) đã mô tả hai loài tảo lam từ mẫu thu được của D Gaumont khi nghiên cứu
tảo nổi ở miền Nam Việt Nam (Petelot, 1944) (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Từ 1960 đến 1975, ở miền Nam Việt Nam có các công trình nghiên cứu của
Phạm Hoàng Hộ, A Shirota, Nguyễn Thanh Tùng (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Phạm Hoàng Hộ (1963, 1964, 1968) nghiên cứu tảo thuỷ vực ruộng lúa, kênh, ao tỉnh Cần Thơ, đã đưa ra danh mục 39 loài tảo, trong đó tảo lam có 30 loài,
tảo lục 2 loài, tảo thuộc họ Characeae 7 loài Đa số thuộc loài tảo sống ở đáy, sống bám (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
A Shirota (1963, 1966) trong chương trình nghiên cứu hải ngoại của Nhật Bản đã công bố một quyển sách về sinh vật nổi Nam Việt Nam với 388 taxon loài và dưới loài, trong đó tảo mắt – 57 loài, tảo lục – 152 loài, tảo lam – 29 loài, tảo silic –
103 loài, tảo roi lệch – 4 loài, tảo vàng – 43 loài Tuy nhiên, công tác nghiên cứu chưa được thực hiện ở Tây Nguyên và không có dẫn chứng xuất xứ của các taxon
(Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Trang 15Trong luận văn bảo vệ tiến sĩ đệ tam cấp của Nguyễn Thanh Tùng (1967,
1970) đã mô tả 39 loài tảo sợi thuộc các chi Spirogyra, Zygnema, Zygnemopis, Mougetia bắt gặp trong các thuỷ vực suối, ao và ruộng lúa Nam Việt Nam với những đặc điểm sinh thái của chúng (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Ở miền Bắc Việt Nam, trong khoảng thời gian này, các công trình nghiên cứu
về thực vật nổi nằm trong các công trình nghiên cứu thủy sinh học các đầm hồ tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam như Hồ Tây, hồ Ba Bể, đầm Chính Cuông (từ 1961) và các hồ chứa nhân tạo (1962) của các cơ quan nghiên cứu như Trạm nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng, Trường Đại Học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội Các kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho sản xuất thủy sản nước ngọt Bắc Việt Nam và từ đó, nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu tiếp tục với thủy sinh học các thủy vực nội địa đã được đưa ra Mặt hạn chế ở thời điểm này là việc định loại thực vật nổi mới dừng lại ở mức độ chi (genus) và hầu hết chỉ trong các báo cáo
nội bộ ít được công bố (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Trong khoảng ba thập niên gần đây có các công trình nghiên cứu của các nhà tảo học như Nguyễn Văn Tuyên (1980) trong luận án phó tiến sĩ sinh học đã giám định được 856 loài thực vật thuộc 7 ngành tảo nổi trong một số các thủy vực Bắc Việt Nam Năm 1982 Dương Đức Tiến trong điều tra sinh thái các thủy vực nước ngọt Việt Nam công bố 1403 các taxon loài và dưới loài trong đó tảo lục - 530 loài, tảo silic - 388 loài, tảo lam - 344 loài, tảo mắt - 78 loài, tảo giáp - 30 loài, tảo vàng
ánh - 14 loài, tảo vòng - 9 loài, tảo vàng - 5 loài và tảo đỏ - 4 loài (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Ở khu vực Bắc Trung Bộ có công trình nghiên cứu thực vật nổi ở hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) của Võ Hành (1983) Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Phùng Thị Nguyệt
Hồng (1992) đã công bố 94 taxon tảo lam hầu hết thuộc lớp Hormogoneae và là những dạng sợi (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Ngoài ra, cần phải kể đến những nghiên cứu về phân loại thực vật nổi ở vùng nước các cửa sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy của các tác giả Trương Ngọc
An, Hàn Ngọc Lương (1970 – 1971) Kết quả đã giám định được 115 loài Nguyễn
Trang 16Văn Điều (1970 – 1971) đã nghiên cứu ở vùng cửa sông Cấm (Hải Phòng); Vũ Trung Tạng và Đặng Thị Sy (1978, 1981) nghiên cứu ở các đầm phá phía Nam sông Hương; Vũ Thị Tám và Nguyễn Trọng Nho (1978 – 1980) nghiên cứu ở đầm Thị Nại - Bình Định, đã giám định 135 loài thực vật nổi và ở đầm Phá - Phú Khánh (1980), đã giám định được 116 loài thực vật nổi Tôn Thất Pháp (1991 – 1993) nghiên cứu ở đầm phá Tam Giang Trong công trình nghiên cứu của Đặng Thị Sy (1994 – 1995) và tảo silic vùng cửa sông ven biển, đã phát hiện được 307 loài và
dưới loài (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Bảng 1: Đánh giá chất lượng nước theo chỉ số đa dạng (Lê Văn Khoa, 2007)
(Nguồn : Stau et al., 1970)
2.3 Tổng quan một số loài tảo thường gặp trong thủy vực
Nhóm phiêu sinh thực vật còn gọi là tảo, sống lơ lửng trong nước, không có khả năng bơi lội tích cực, sống trôi nổi nhờ sự thích ứng tỷ trọng của tảo trong môi trường hay chúng có những bộ phụ để gia tăng diện tích bề mặt Tảo là những thực vật bậc thấp, nghĩa là những thực vật bào tử có tản (cơ thể không phân chia ra thành
thân, lá và rễ), tế bào của chúng chứa diệp lục (Dương Đức Tiến & Võ Văn Chi, 1978)
Tảo phân bố rộng từ ở nơi ẩm ướt, nước và thậm chí ở trong môi trường không khí Diệp lục tố trong tế bào có khả năng quang hợp để tạo thành chất hữu cơ Ngoài diệp lục tố tảo còn có các sắc tố bổ trợ khác, làm cho các ngành tảo có màu
sắc khác nhau (Dương Trí Dũng, 2009)
Các tế bào tảo quang hợp nhỏ và vi khuẩn lam trôi nổi trong nước được gọi là
Trang 17vật dị dưỡng ở đại dương cũng như nước ngọt Tảo có vai trò quan trọng trong chu trình cacbon, biến đổi carbon dioxid thành carbonhydrat nhờ quang hợp và thành
canxi carbonat nhờ sự hóa canxi (Nguyễn Bá, 2007)
Tảo phổ biến trong các đại dương, các thủy vực nước ngọt và cả trong đất Tảo giữ vai trò trong các hệ sinh thái như là sinh vật sản xuất Vai trò của tảo trong
hệ sinh thái cũng giống như thực vật trên đất liền (Nguyễn Bá, 2007)
Tảo có cấu trúc hết sức đa dạng, bao gồm những đơn bào, tập đoàn đa bào với những loài có kích thước lớn và cấu tạo khác nhau Đây là nhóm thực vật thuỷ
sinh phong phú nhất Kích thước từ vài µ (Chlorella), vài chục mét (Sargassum) đến vài trăm mét (Macrocystis) (Dương Trí Dũng, 2009)
Tảo có nhiều hình thức sinh sản khác nhau, tuỳ thuộc vào các loài như: sinh sản dinh dưỡng, sinh sản vô tính, sinh sản hữu tính
Sinh sản dinh dưỡng: Thực hiện bằng những phần riêng rẽ của cơ thể,
thường không chuyên hoá chức năng sinh sản
Sinh sản vô tính: Là hình thức sinh sản phổ biến ở tảo Thực hiện bằng
cách hình thành các bào tử chuyên hoá, hay phân đôi cơ thể
Sinh sản hữu tính: Thực hiện thông qua tế bào sinh dục gọi là giao tử Giao
tử đực và giao tử cái phối hợp nhau tạo thành hợp tử và phát triển tạo thành
tảo mới (Dương Trí Dũng, 2009)
Sự hiện diện của loài Phytoplankton là rất quan trọng, đây là hệ thống vi tảo,
là chất chỉ thị môi trường ao nuôi nhạy cảm, nhanh và chính xác nhất (Nguồn:
www.ebook.edu.vn - Kĩ thuật nuôi tảo khuê)
Một số thực vật nổi có khả năng chỉ thị cho nước bị ô nhiễm bởi:
o Ô nhiễm chất hữu cơ (gây suy giảm nồng độ oxi hòa tan)
Trang 182.3.1 Tảo khuê (Bacillariophyta)
Tảo khuê - tảo silic - là tảo đơn bào hay tập đoàn, giữ vai trò quan trọng trong nhóm thực vật phù du Người ta ước tính đến 25 phần trăm tổng sản phẩm sơ cấp của cả Trái đất là của tảo khuê phù du và đó là nguồn thức ăn đầu tiên cho động vật
ở nước biển cũng như nước ngọt Tảo khuê cung cấp chủ yếu carbonhydrat, acid
béo, sterol và vitamin cho động vật (Nguyễn Bá, 2007)
Sắc thể ngoài diệp lục còn có chất sắc màu vàng là khuê tảo tố (Diatomin), chất dữ trự là dầu, giữa tế bào có không bào lớn Khuê tảo di động được do tiết chất nhầy qua khe hở của 2 nắp Ngoài ra, tảo khuê có một hoặc hai đường sống ở giữa tùy theo loài Vỏ giáp bên ngoài trơn, có u hay có vân
(Lam Mỹ Lan, 2000)
Khuê tảo có khoảng 250 chi và tới 104.000 loài còn sống và tin rằng số lượng này còn tăng hơn nhiều Có tới hàng ngàn loài đã tuyệt chủng được biết qua các vết
tích silicat lưu trữ trong vách tế bào (Nguyễn Bá, 2007)
Tảo silic không có roi ngoại trừ một số giao tử đực Tảo silic có vách gồm hai mảnh vỏ úp chồng lên nhau giống như cái hộp petri, cấu tạo từ chất trùng hợp opalin silic (SiO2 nH2O) Dưới kính hiển vi điện tử có thể thấy trên vỏ có nhiều đường nét,
lỗ, hoa văn mà một số nối với chất nguyên sinh bên trong với môi trường ngoài Các loài khác nhau có kiến trúc hoa văn khác nhau và trong phần lớn trường hợp hai mảnh của vỏ có cùng một kiểu hoa văn, nhưng cũng có trường hợp có thể khác nhau
(Nguyễn Bá, 2007)
Tảo khuê sống tự dưỡng là chính, thích ánh sáng yếu những vùng biển
có độ sâu 350cm, một số loài tảo khuê vẫn sống được những tảo chuyển sang
dị dưỡng (Lý Khải Dân & Nông Quang Minh, 2005)
Sinh sản của tảo khuê chủ yếu là dinh dưỡng bằng cách phân chia tế bào Khi phân chia tế bào thì mỗi tế bào con nhận được một nửa phần vỏ của tế bào mẹ và tạo nên một nửa mới Do vậy kết quả là một trong hai tế bào con có kích thước nhỏ hơn
tế bào mẹ và sau những chuỗi phân chia lâu dài, kích thước của quần thể sẽ giảm
Trang 19xuống Và khi kích thước quần thể đã giảm tới mức báo động thì ở một số tảo sẽ xảy
ra sinh sản hữu tính (Nguyễn Bá, 2007)
Hình 1: Quá trình sinh sản của tảo khuê (Nguồn: www.ebook.edu.vn - Kĩ thuật nuôi tảo khuê)
Khi gặp điều kiện bất lợi như thiếu dinh dưỡng khoáng thì tảo silic biển cũng như ở đáy có thể ở trạng thái nghỉ Lúc đó tế bào có vỏ dày và sẵn sàng rơi xuống đáy Khi có đầy đủ thức ăn thì tế bào sẽ nảy mầm Tảo khuê phát triển phong phú
nhất vào mùa xuân và mùa thu (Nguyễn Bá, 2007)
Một số loài làm thức ăn cho ấu trùng thủy sản và tích lũy vỏ silic dưới đáy Một số có khả năng tiết chất độc hoặc có gai dài làm nghẽn mang cá, khi nở hoa cạnh tranh O2, gây ô nhiễm môi trường Tảo khuê sống cả nước mặn lẫn nước ngọt, trên bờ đá, bề mặt hay trong đất Chiếm ưu thế trong thành phần phiêu sinh và bám
đáy (Nguồn: www.ebook.edu.vn - Kĩ thuật nuôi tảo khuê)
Tảo khuê phân bố rộng trong các thủy vực nước ngọt như ao, hồ, sông, suối và ở vùng nước mặn Một số loài tảo sống trong đất hoặc trên cạn, trên các loài tảo khác hay thực vật thượng đẳng Một số loài sống ở đáy Tảo khuê thay đổi hình dạng theo mùa Một số loài tảo khuê chỉ xuất hiện theo mùa nhất
định như Coscinodiscus phát triển mạnh vào mùa hè và mùa thu (Lam Mỹ Lan, 2000)
Trang 20Tảo khuê thích nghi với đời sống trôi nổi bằng cách làm nhẹ cơ thể nhờ các giọt dầu, bọt khí bên trong cơ thể tăng diện tích tiếp xúc bằng cách thành lập các phụ bộ như vân, gia hay tiết ra chất nhầy hoặc kết hợp thành quần thể Khuê tảo nước ngọt cũng như ở biển đều là phần quan trọng của thực vật phù
du, giá trị của tảo khuê rất lớn Tảo khuê là thành phần thức ăn chủ yếu của động vật phiêu sinh, nhuyễn thể, tôm, cá ăn thực vật và một số cá sống đáy Khi chết, tảo khuê không tiêu hủy mà lắng xuống đáy tạo thành Diatomit có giá trị cao dùng làm đá mài kim loại, dùng trong công nghiệp lọc dầu hoặc làm nguyên liệu cách âm Tảo khuê cũng gây hiện tượng nở hoa nước làm pH
trong nước thấp nhưng tảo không gây độc (Lam Mỹ Lan, 2000)
Ngoài ra, tảo khuê còn là những sinh vật chỉ thị môi trường: Cho biết độ
ô nhiễm, độ mặn, pH của nước vì một số loài có thể hiện diện ở khắp nơi, một
số loài khác chỉ sống được trong môi trường nhất định (Lam Mỹ Lan, 2000)
2.3.2 Tảo lục (Chlorophyta)
Trong tất cả các ngành tảo, ngành tảo lục có vẻ là tổ tiên gần với thực vật bậc cao nhất Giống như thực vật bậc cao, chúng có diệp lục tố a và b, chất dự trữ là tinh bột Nhiều tế bào có vách cellulose như thực vật bậc cao Chúng gồm khoảng từ 13.000 đến 20.000 loài Tảo lục phân biệt với các ngành tảo khác ở đặc điểm đầu tiên là màu lục thuần khiết của cơ thể giống như màu lục của cây cối cỏ hoa xung
quanh ta (Tiến & Hành, 1998)
Tảo lục gồm cả tảo đơn bào và đa bào Từ những dạng đơn bào đơn độc, sống
tự do đến những dạng tộc đoàn di động được hay không Các loài đa bào có hình bản, hình sợi có phân nhánh hay không Tảo lục được tìm thấy trong nước ngọt và nước mặn, trong đất, trên cơ thể sinh vật khác và cộng sinh trong cơ thể thực vật
khác (Dương Trí Dũng, 2009) Tế bào tảo có kích thước từ 1 - 2 m cho đến
hàng chục cm Vách tế bào tảo được cấu tạo bởi hợp chất pectin ở ngoài, bên trong là cellulose Những tế bào tảo dạng nguyên thủy nhất không có màng Những tảo sống riêng rẽ, màng tế bào hóa nhầy để bảo vệ tế bào tránh bị khô
Trang 21Thường tế bào có một nhân, có trường hợp có tế bào có nhiều nhân như
Hydrodictyon (Lam Mỹ Lan, 2000)
Cho đến nay người ta tìm thấy trong ngành này có khoảng 360 giống và hơn
5700 loài, phần lớn là những loài sống trong môi trường nước ngọt, chỉ có một số
giống sống trong môi trường biển (Dương Trí Dũng, 2009)
Đặc trưng nhất của các loài trong ngành này có màu lục, sản phẩm quang hợp
là tinh bột Chất nguyên sinh tạo thành lớp mỏng ngay sát thành vỏ tế bào, ở giữa tế bào là một túi lớn chứa đầy dịch bào Trong nguyên sinh chất còn có những túi nhỏ chứa sản phẩm của quá trình trao đổi chất Hạt màu chủ yếu của tảo lục là
chlorophyll và carotenoid (Dương Trí Dũng, 2009)
Thể màu của tảo có nhiều hình dạng khác nhau chứa diệp lục a và b, caroten, xanthophin Trong đó, diệp lục a và b chiếm ưu thế so với các chất màu phụ khác nên tảo bao giờ cũng có màu lục giống màu sắc của thực vật bậc cao Chất dự trữ là tinh bột tập trung quanh hạch tạo bột nằm trong thể màu, đôi khi chất dự trữ có thể là những giọt dầu Một số tảo lục đơn bào hoặc tập đoàn có thể di động được ở trạng thái dinh dưỡng nhờ có roi còn các tảo lục
khác chỉ có bào tử hoặc giao tử mới có roi di động (Hoàng Thị Sản, 2003)
Tảo lục có nhiều hình thức sinh sản khác nhau, sinh sản dinh dưỡng bằng cách phân cắt tế bào hay một đoạn thân
o Sinh sản vô tính: do tế bào sinh dưỡng tự tạo bào tử động và không động
Bào tử động có 2, 4 hoặc nhiều tiêm mao để di chuyển, khi gặp môi trường thuận lợi bào tử ngừng chuyển động, bám vào vật bám và phát triển thành
cá thể mới Bào tử không động có hoạt động như sinh vật tiềm sinh
o Sinh sản hữu tính: có sự thụ tinh giữa phối tử đực và cái, khi hai phối tử
giống nhau về hình dạng thì gọi là đồng phối, khác nhau gọi là dị phối, nếu tạo tinh tử và trứng thì gọi là noãn phối
(Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)
Tảo lục phân bố khắp nơi có ánh sáng, 90% giống loài phân bố ở nước ngọt, trên thân cây vách đá, trên đất ẩm Đa số tảo lục sống phiêu sinh tự do,
Trang 22một số sống bì sinh, ngoại sinh hoặc ký sinh, khoảng 10% sống ở biển (Lam
Mỹ Lan, 2000)
Tảo lục là nguồn thức ăn, là nguồn cung cấp oxi cho động vật trong thủy vực nước ngọt, mặn Tảo lục dể tạo nên hiện tượng hoa nước làm cản trở hoạt động của cá tôm Tảo phát triển rộng trong ruộng lúa làm hại lúa Nhiều loài tảo được nuôi sinh khối để chiết xuất làm chất kháng sinh, làm thức ăn cho người và động vật Một số loài tảo lục phân bố ở biển chứa muối canxi
được sử dụng làm tăng độ phì nhiêu của đất (Lam Mỹ Lan, 2000)
2.3.3 Tảo mắt (Euglenophyta)
Ngành tảo mắt đã được biết đến với 900 loài (Nguyễn Bá, 2007), gồm những
đại diện nguyên sinh vật với khoảng 40 giống đơn bào hay tộc đoàn, không có vách cellulose Là những tảo phiêu sinh và thường làm thành lớp váng trên mặt nước ao
tù, thường gặp Euglena và Phacus Ngoài đặc điểm có lục lạp, chúng mang nhiều
đặc điểm của động vật như cách nuốt, tiêu hóa, biến dưỡng thức ăn Trong phòng thí nghiệm nếu loại bỏ lục lạp bằng tia cực tím, nhiệt cao hay cấy trong tối với sự hiện
diện của Streptomycine, các tảo này có thể sống sót bằng nguồn thức ăn khác Tế
bào có thể sinh sản và tồn tại trong môi trường cấy có chứa các chất hữu cơ phức tạp Khi không còn sắc tố khó phân biệt chúng với các động vật nguyên sinh không màu về cách lấy và hấp thu thức ăn Không có vách, tế bào được bao bọc bằng màng sinh chất Bên trong màng sinh chất là màng protein có khe mỏng, đàn hồi giúp tế
bào có roi uốn lượn quay tròn Mỗi tế bào có vài lục lạp, chứa diệp lục tố a và b như tảo lục nhưng chất dự trữ là paramylon, một loại đường đa chỉ có ở Euglenophyta (Dương Trí Dũng, 2009)
Euglenophyta – ngành tảo gồm các sinh vật giống thực vật và cả động vật
Một số có màu lục và tự dưỡng, số khác không màu và dị dưỡng Các dạng tự dưỡng
có thể trở thành dị dưỡng trong một số điều kiện nhất định, đặc biệt như khi thiếu ánh sáng Một số loài như Trùng roi cũng được xếp vào động vật nguyên sinh có tiên mao trong bộ Trùng tiêm mao Một số loài là sinh vật chỉ thị môi trường Phân
bố rộng trong nước ngọt, nước biển và đất ẩm ( www.bachkhoatoanthu.gov.vn )
Trang 23Hình dạng cơ thể rất đa dạng, cơ thể có hình thoi, bầu dục hay hình lá tròn Tảo mắt sống đơn độc, di chuyển được nhờ roi, có khả năng tạo tập đoàn khi điều kiện môi trường bất lợi Vách tế bào là một lớp chu bì mỏng, có nguồn gốc là chất
nguyên sinh Những loài có chu bì cứng thì hình dạng không đổi như Phacus, Trachelomonas còn chu bì mỏng thì hình dạng rất biến đổi như Euglena (Dương Trí Dũng, 2009)
Euglena – cơ thể là tế bào dạng hình thoi, có một điểm mắt màu đỏ, màng tế
bào mềm, dễ biến đổi hình dạng Mặt ngoài của màng bằng ngoại sinh chất có các đường vân, lỗ vân Cơ thể bơi lội tự do, phía trước tế bào có roi nằm trong rãnh họng, không bào co rút Chất nguyên sinh ở bên trong tế bào chứa các thể màu hình que Những loài này khi phát triển mạnh làm nước có màu xanh bẩn hoặc làm thành
váng xanh trên mặt thủy vực (Dương Đức Tiến & Võ Văn Chi, 1978)
Phacus - tế bào có cấu trúc dẹt, hình dạng như lá trầu không, màng tế bào
cứng, có đường vân và lỗ vân, có rãnh họng, roi, không bào co rút giống như
Euglena (Dương Đức Tiến & Võ Văn Chi, 1978)
Trachelomonas - tế bào có dạng thoi hay hình trứng, màu vàng nâu, vỏ cứng, phía trước tế bào có họng cổ chai hay không Vỏ màng phủ long hoặc có gai (Dương Đức Tiến & Võ Văn Chi, 1978)
Tảo mắt sinh sản bằng cách phân đôi theo chiều dọc, sự phân chia xảy ra lúc
tế bào hoạt động và không hoạt động Tế bào có vỏ cứng khi phân cắt chúng chui ra khỏi vỏ và tạo vỏ mới Quá trình phân cắt diễn ra nhanh chóng, khi gặp điều kiện môi trường bất lợi chúng tạo nang thủng có vỏ dày chịu điều kiện khắc nghiệt của
môi trường (Dương Trí Dũng, 2009)
Tảo mắt dinh dưỡng theo ba cách (Lam Mỹ Lan, 2000):
o Dị dưỡng: gặp ở môi trường thiếu hoặc không có ánh sáng và có
nhiều chất hữu cơ
o Tự dưỡng: tảo quang hợp nhờ năng lượng ánh sáng mặt trời
o Hỗn dưỡng: kết hợp giữa dị dưỡng và tự dưỡng tùy thuộc vào điều
kiện môi trường
Trang 24Tảo mắt phân bố hầu hết ở các thủy vực nước ngọt Một vài loài tảo mắt
sống ở núi, trong các thủy vực nước lợ, loài Euglena limosa làm cho nước có
màu xanh lục khi nở hoa Tảo mắt thường xuất hiện vào mùa ấm, có nhiệt độ
cao, ánh sáng đầy đủ Một số tảo mắt khác sống kí sinh (Lam Mỹ Lan, 2000)
Tảo mắt ít có giá trị dinh dưỡng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho tôm cá do một số loài tảo mắt có vỏ cứng nên cá ăn khó tiêu Một số loài
thuộc giống Euglena và Astasia được sử dụng làm đối tượng trong các thí
nghiệm sinh hóa, sinh lý Ngoài ra còn là sinh vật chỉ thi cho môi trường bị ô
nhiễm (Lam Mỹ Lan, 2000)
2.3.4 Tảo lam (Cyanophyta)
Cyanophyta ngành tảo nhân sơ - là thực vật bậc thấp còn nhiều nét giống với
vi khuẩn quang hợp, không có lục lạp và ti thể nên cơ chế quang hợp và hô hấp nằm
ở hệ thống lamen bên trong, chất dự trữ là glycogen và cyanophixin Tảo lam sinh
sản vô tính và có 12 - 31 bộ Các loài tảo thuộc chi Nostoc, Oscillatoria có khả năng
cố định nitơ, còn các loài tảo lam khác là thành viên của tổ hợp địa y Một số tảo lam có khả năng cố định nitơ tự do, khả năng này có ý nghĩa lớn ở đất trồng lúa ngập nước Trước khi đất bị ngập nước, lượng nitơ do tảo lam cố định chỉ chiếm 30%, sau thời gian ngập nước, giá trị nâng lên tới 70% so với nitơ tổng số Năng suất cố định nitơ của tảo lam cao nhất trong điều kiện đầy đủ ánh sáng Khả năng cố định nitơ của tảo lam ở đất lúa vùng nhiệt đới có ý nghĩa lớn; mức độ cố định nitơ của tảo ở đây cao hơn nhiều so với các vi khuẩn sống tự do Ở ruộng lúa có tảo lam
và tảo lục phát triển mạnh, lượng nitơ do tảo cố định có thể xấp xỉ bằng lượng nitơ
mà thực vật hấp thụ (www.dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn)
Tảo lam sống dạng đơn bào riêng lẻ hay dạng tập đoàn dạng sợi hay khối Tâp đoàn dạng trần hay có bao Vách tế bào có 3 lớp: lớp chung (vagina), lớp riêng (locula) và bao vách có chất hemicellulose và pectin Tế bào không có nhân mà chỉ
có vùng chứa AND gọi là trung bào chất (Dương Trí Dũng, 2009)
Dưới kính hiển vi thường, vách tế bào tảo lam dày, gồm hai lớp: lớp ngoài là lớp pectin và trong là lớp cellulose mỏng Dưới kính hiển vi điện tử, vách tế bào tảo
Trang 25có cấu trúc phức tạp gồm bốn lớp nằm giữa chất nhầy và màng tế bào chất Tảo lam
không có sắc lạp mà có phiến thylakoid (Lam Mỹ Lan, 2000)
Tảo lam có thể hình cầu hoặc hình sợi Tảo hình cầu rời nhau (Chroococcus),
tổ hợp thành khối nổi (Microcystis) hoặc dính trên thực vật khác Tảo hình sợi có thể
là sợi đơn do tế bào giống nhau làm ra (Oscillatoria, Lyngbya), tảo có thế trần hay ở
trong một bao dầy màu trong hoặc một chất đệm hàn dính chúng lại và tảo do nhiều
sợi dính nhau làm thành lông mịn, miếng hay dề mỏng (Phạm Hoàng Hộ, 1972)
Các thủy vực nước ngọt như ao, hồ, hồ chứa, kênh rạch… là nguồn cấp nước
và thủy sản quan trọng đối với đời sống con người và động vật nuôi Hiện nay do sự phát triển kinh tế ồ ạt đã tạo ra sự ô nhiễm báo động đối với môi trường nói chung
và các loại hình ao, hồ nói riêng Người ta từng cảnh báo nhiều lần về sự đổi màu và mùi của nước, tiếp theo là các biểu hiện khác như động vật thủy sinh chết hàng loạt… Đó là những biểu hiện điển hình của một thủy vực đã bị ô nhiễm Nguyên nhân chính là sự phát triển qúa độ của một số loài tảo và tảo lam Chúng ta có thể
quan sát thấy rõ hiện tượng này qua sự phát triển qúa độ của Microcystis Hơn nữa,
nhiều loài tảo lam còn chứa độc tố gây hại cho sinh vật khác và con người
( www.thuviencongdong.org )
Đa số tảo lam có khả năng tổng hợp các chất trên cơ sở sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời Đối với tảo lam hình thức dinh dưỡng chủ yếu là quang tự dưỡng nhưng không phải là duy nhất Ngoài quang hợp chính thức, tảo lam còn có khả năng quang khử, quang dị dưỡng, tự dị dưỡng, và thậm chí hoàn toàn dị dưỡng Chúng sử dụng các chất hữu cơ có trong môi trường dưới dạng nguồn năng lượng bổ sung Nhờ có khả năng hỗn dưỡng, tảo lam có thể tích cực hoạt động trong điều kiện khó khăn để quang tự dưỡng Trong các nơi sống như vậy hầu như hoàn toàn không
có sự cạnh tranh, tảo lam chiếm vị trí ưu thế hơn cả (Dương Đức Tiến, 1996)
Trong điều kiện chiếu sáng yếu (trong hang động, ở những chỗ nước sâu) thành phần chất màu trong tế bào tảo lam bị thay đổi Hiện tượng này là sự biến đổi màu sắc của cơ thể dưới ảnh hưởng của sự thay đổi thành phần quang phổ ánh sáng
Sự biến đổi màu sắc của tế bào xảy ra trong trường hợp môi trường sống không đủ
Trang 26thành phần dinh dưỡng, có chất độc cũng như chuyển sang dạng dị dưỡng (Dương Đức Tiến, 1996)
Một số loài tảo lam có khả năng cố định đạm khí quyển Hiện nay đã phát hiện trên 100 loài Những loài có khả năng cố định đạm hầu hết trên tản đều có tế bào dị hình Đa số tảo lam cố định đạm này thích ứng với lối sống trên mặt đất
Nhiệt độ tối đa để tảo lam có thể sống và quang hợp được là +65 oC, nhưng
đó không phải là giới hạn, chúng có thể trải qua được nhiệt độ cao như vậy là nhờ trạng thái keo đặc biệt của chất nguyên sinh Nhiệt độ cao chất nguyên snh từ từ kết
dính lại Mastigocladus laminosus, Phormidium laminosum là những loài toàn cầu
ưa nhiệt phổ biến nhất Tảo lam còn có khả năng tồn tại ở nhiệt độ thấp Một số loài
có thể tồn tại hàng tuần ở nhiệt độ rất thấp (-190o
C) Trong thiên nhiên không có nhiệt độ đó, nhưng ở Nam cực khi nhiệt độ -83o
C tảo lam được tìm thấy với một
lượng lớn (Nostoc) (Dương Đức Tiến, 1996)
Tảo lam là thành phần của thực vật phù phiêu trong các thủy vực giàu chất dinh dưỡng; khi chúng phát triển mạnh gây nên sự nở hoa của nước Những chất do tảo lam tiết ra cũng như những sản phẩm phân hủy của chúng chết đi đều có hại Tảo lam phát triển mạnh ở nhiệt độ cao, nghĩa là vào các tháng nóng trong năm Đối với tảo lam ở nước ngọt nhiệt độ thích ứng cho sự phát triển của chúng vào khoảng gần +30oC Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ, một số loài Oscillatoria gây nên sự nở hoa
trong nước ở dưới băng (nhiệt độ xấp xỉ 0o
C) Sự nở hoa của nước do tảo lam gây
nên thường bị coi như là tai họa, bởi vì nước trở nên không sử dụng được (Dương Đức Tiến, 1996)
Trang 27Tảo Lam sinh sản theo nhiều hình thức nhưng không có sinh sản hữu
tính (Lam Mỹ Lan, 2000) Sinh sản chủ yếu là phân đôi theo một hướng tạo sợi,
hai hướng tạo mặt phẳng, và 3 hướng tạo khối Hiện tượng tảo đoạn cũng là hình thức sinh sản Tảo này phân bố khắp nơi và chịu đựng được điều kiện bất lợi của
môi trường (Dương Trí Dũng, 2009)
Sinh sản dinh dưỡng:
o Tảo đơn bào: phân đôi thành 2, 4, 8 tế bào theo hướng thẳng góc với
chiều dài tế bào hay theo hai hướng thẳng góc cho ra cộng tộc phẳng
(Merismopedia) hoặc theo ba hướng tạo thành khối
o Tảo sợi: phân chia tế bào theo hình thức tảo đoạn
Sinh sản vô tính:
o Nội bào tử: những bào tử hình thành ở bên trong tế bào mẹ Chúng
hoàn toàn giống tế bào mẹ, chỉ khác vế kích thước Thường gặp ở
giống loài thuộc Dermocarpaceae
o Ngoại bào tử: hình thành theo từng chuỗi ở trên tế bào Đôi khi
chúng không tách khỏi tế bào mẹ mà hình thành ngay ở phía bên
trên Thường gặp ở giống loài thuộc Chamaesiphonaceae
o Bì bào tử: Là những tế bào to, vỏ dày, tế bào chất thường đặc, dự trữ
nhiều chất dinh dưỡng chịu đựng với điều kiện bất lợi của môi trường và phát sinh cá thể mới khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi
o Dị bào tử: là những tế bào đặc biệt, màng có hai lớp
Như vậy, tảo lam phân bố rộng rãi trên tất cả các khu vực và điều kiện khác nhau (trong nước, trên chỗ khô hạn, nước ngọt, nước mặn…) Ngành tảo lam được coi là nhóm thực vật tự dưỡng cổ xưa nhất trên trái đất Với cấu tạo tế bào đặc biệt,
sự vắng mặt của sinh sản hữu tính và giai đoạn có roi đã chứng minh rõ sự cổ xưa
của chúng (Dương Đức Tiến, 1996)
Trang 282.3.5 Tảo giáp (Pyrrophyta)
Giống như khuê tảo, tảo giáp (còn được gọi là tảo hai rãnh) là một nhóm tảo đơn bào và là thành phần quan trọng của phiêu sinh nước ngọt và nước mặn Hiện
nay đã biết gần 4.000 loài cả ở biển và nước ngọt (Nguyễn Bá, 2007) Một số loài ở
biển tạo ra toxin và sự nở hoa của các loài này có thể làm chết cá và sò ốc và gây
ngộ độc cho người ăn phải các hải sản này ( www.bachkhoatoanthu.gov.vn )
Nhiều loài có các tấm cellulose bao phủ tạo nên vỏ bọc giống như cái áo giáp
thời xưa (Nguyễn Bá, 2007) Ở một số giống trên tế bào có hai rãnh, một rãnh ngang
và một rãnh dọc Trong mỗi rãnh có một chiên mao, chiên mao trong rãnh dọc hướng về phía sau, hoạt động như một bánh lái Chiên mao trong rãnh ngang xoắn theo hình xoắn ốc, chiên mao này đẩy tế bào đi về phía trước, cùng lúc làm tế bào
xoay tròn ( www.bachkhoatoanthu.gov.vn )
Tảo giáp là một loại tảo hoạt động, chúng có hai roi dài bằng nhau hoạt sole, chúng mọc trên đỉnh hay một bên của tế bào Chúng sinh sản dinh dưỡng bằng cách phân cắt theo mặt phẳng dọc hay xiên, sinh sản vô tính bằng cách tạo động bào tử có hai roi, gặp điều kiện bất lợi chúng tạo nang thủng Ít có dạng sinh sản hữu tính
(Dương Trí Dũng, 2009)
Có đến một nửa số tảo giáp không có cơ quan quang hợp do vẫy chúng tìm chất dinh dưỡng bằng các phần thức ăn rắn hoặc hấp thụ các chất hữu cơ hòa tan Cách dinh dưỡng như thế cũng có ở những tảo giáp có sắc tố quang hợp Thể màu
hình bản chứa diệp lục a và c, Caroten và Xantophin (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Những tảo có chứa sắc tố Chlorophyll như các tảo giáp này đều sử dụng nguồn
carbon hữu cơ và vô cơ (Nguyễn Bá, 2007) Trên thể màu có chứa một hoặc một vài
hạt bột Sản phẩm quang hợp là dầu thường nhuộm Xantophin nên có màu vàng hoặc đỏ Không bào co rút liên kết với miệng tế bào Một số loài gần rãnh dọc có
điểm mắt, còn đa số không có (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Khi gặp điều kiện không thuận lợi như thiếu thức ăn thì tảo giáp có thể tạo thành nang kén không chuyển động, rơi xuống đáy ao hồ hay biển và tồn tại như vậy hàng năm trời Dòng nước có thể đưa nang kén đến những chỗ khác nhau để khi gặp
Trang 29điều kiện thuận lợi thì lại nảy mầm thành quần thể của những tế bào bơi lội Sự hình thành các nang kén, sự di chuyển và nảy mầm giúp giải thích hiện tượng nở hoa sinh
ra chất độc ở tảo giáp (Nguyễn Bá, 2007)
Có gần đến 20% các loài đã biết của tảo giáp có chứa chất độc Các chất độc này thường là dùng để bảo vệ chống lại các loài bắt mồi Nhiều loài cá ăn phải chất độc glycozid bị tê liệt hệ thống hô hấp và bị chết hàng loạt Mặt khác, tảo giáp ở biển cũng có khả năng phát sáng, sự phát sáng sinh học được xem là sự bảo vệ chống lại các loài ăn thịt, bắt mồi của các loài ăn thịt, bắt mồi của các loại chân
chèo, giáp xác nhỏ của các động vật phù du (Nguyễn Bá, 2007)
Chúng phân bố ở nước mặn là chủ yếu và ưa nước chua Tảo giáp biển phát triển nhiều làm cho nước biển có màu đỏ (còn gọi là xích triều) Một số loài tảo giáp
có khả năng phát quang như Ceratium tripos có trong các biển ôn đới Một số phân
bố ven bờ biển làm cát có màu lục và màu nâu như các đại diện thuộc chi
Amphidnum, Hemidinium (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
2.3.6 Tảo vàng ánh (Chrysophyta)
Tảo vàng ánh là tảo dạng đơn bào hay tập đoàn vận động nhờ roi hay chân giả Hình dạng tế bào có thể là hình cầu, bầu dục, có loài không di động được thì nằm trong chất nhày Vách tế bào có chạm trổ, đôi khi có calcium trên vỏ cứng Chúng sinh sản vô tính là chính, ít khi xảy ra sinh sản hữu tính, và chúng thường tạo
động bào tử, nang thủng (Dương Trí Dũng, 2009)
Hiện nay đã biết hơn 1.000 loài, có chứa chất chlorophyll a và c, một số ít
không có màu Màu của tảo thường bị che khuất bởi chất fucoxanthin (Nguyễn Bá, 2007)
Một số tảo vàng ánh tiêu hóa các vi khuẩn và những phần tử hữu cơ khác
Tập đoàn tảo Dinobryon có thể tiêu thụ đến 36 con vi khuẩn trong một giờ Poteriochromonas có thể tiêu thụ các tảo có roi vận động có đường kính lớn hơn nó
gâp hai ba lần Khối lượng tế bào của nó có thể phình ra đến 30 lần sau khi ăn Khả năng tiêu thụ các thức ăn đặc biệt tạo ưu việt cho nó khi điều kiện chất dinh dưỡng thiếu Một số tảo vàng ánh có vách tế bào xen sợi cellulose có thể khảm các chất
Trang 30khoáng Một số không có vách trông giống như con amip chứa lạp lục (Nguyễn Bá, 2007)
Các tảo vàng ánh ở biển như Heterosigma và Aureococcus gây nên “triều
nâu” độc gây thiệt hại lớn cho nghề thủy sản Một số tảo vàng ánh nước ngọt cũng
có thể gây nên hiện tượng nước nở hoa, gây nên sự khó chịu về mùi và vị do các hợp
chất hữu cơ tiết ra ở nước uống (Nguyễn Bá, 2007)
2.3.7 Tảo vàng (Xanthophyta)
Trước đây tảo vàng được xếp vào sắp xếp vào ngành tảo lục, đến năm 1889 L.Ther lần đầu tiên tách thành một lớp riêng căn cứ vào những đặc điểm đặc trưng
của chúng và gọi tên là Heterocontae (tảo roi lệch) (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Những tảo nằm trong ngành này có cấu trúc một tế bào riêng biệt hoặc dính lại thành sợi không phân nhánh hoặc thành dạng khối Một số loài có cấu trúc nhiều nhân Tế bào có dạng hình cầu, cột tròn hay dạng túi, một số loài cơ thể biến dạng
Ở một số loài, màng tế bào do hai mảnh có hình chữ H chồng vào nhau và bao lấy
hai phần nửa của hai tế bào liên tiếp, cứ như vậy chúng hình thành sợi (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Đây là ngành tảo đơn bào hay tập đoàn không hoạt động, một số loài có tập đoàn dạng sợi Vách tế bào là cellulose và pectin, hầu hết điều tẩm calcium Dù tảo vàng ở dạng đơn bào hay tập đoàn nhưng chỗ khớp nối của chúng rất chắc chắn Trên cơ thể có sắc tố là diệp lục a, b, carotene và nhiều sắc tố loại xanthophyll làm chúng có màu vàng lục Chúng sinh sản chủ yếu là phân cắt dọc hay tạo động bào tử
có 2 roi, 1 số loài tạo bào tử không động, gặp điều kiện bất lợi chúng tạo ra trứng
nghỉ (cyst) Hình thức thụ tinh là noãn giao và đẳng giao (Dương Trí Dũng, 2009)
2.3.8 Tảo nâu (Phaeophyta)
Tảo nâu đa phần sống ở biển, rất hiếm loài sống ở nước ngọt Có khoảng trên
190 giống và hơn 900 loài (Dương Trí Dũng, 2009) Đa số tảo nâu phân bố ở các
vùng biển lạnh, so với tảo lục thì tảo nâu sống ở tầng nước sâu hơn Nhiều loài tảo nâu sống bám trên những giá thể, một số thì sống ký sinh trên những tảo biển khác
và ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Trang 31Vỏ tế bào có chất keo fucoidin hay fucin, một số loài khác có chất sừng, khảm calci hay sắt Sản phẩm đồng hóa ban đầu của tảo nâu là mannitol, laminarin, glucoza…, những chất này sẽ chuyển thành polysaccharit Đặc biệt là iod trong tảo nâu, cao gấp 80 – 90 lần so với nước biển (4mg/kg) Sinh sản bằng các hình thức như sinh dưỡng, vô tính với bào tử động và không động, mặt khác, chúng sinh sản
hữu tính bằng cách phối tử theo kiểu đồng dị và noãn phối (Dương Trí Dũng, 2009)
Tảo nâu có cấu tạo bởi nhiều tế bào, dạng màng giả, dạng phiến, dạng sợi đơn giản một hàng tế bào chia nhánh, dạng ống hoặc phân hóa phức tạp hơn thành dạng
cây có rễ giả, thân giả và lá giả (Dương Trí Dũng, 2009) Rễ giả có hình sợi hoặc
hình khay Thân giả có dạng hình trục tròn hoặc dẹt, phân nhánh Lá giả có nhiều dạng, hình bàn tay, mép lá có răng cưa, tùy theo chức năng mà lá giả có 3 kiểu: lá dinh dưỡng (hình mảnh), lá nổi (hình túi như cái phao), lá sinh sản (lá mang cơ quan
sinh sản) (Nguyễn Hồng Hải, 2007) Trong chu kỳ sống có sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn cây bào tử và cây phối tử khác nhau rõ về hình thái cấu tạo (Dương Trí Dũng, 2009)
Thể màu của tảo nâu có dạng đĩa tròn, hình hạt hoặc hình tấm Trong tế bào
có từ một đến vài thể màu Ngoài diệp lục a, c, , Carotin, trên thể màu còn mang các chất màu thuộc nhóm Xanthophin Màu sắc tảo dao động từ xanh vàng đến nâu
tối phụ thuộc vào quan hệ giữa các chất màu (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
2.3.9 Tảo đỏ (Rhodophyta)
Có từ 4.000 đến 6.000 loài của khoảng 680 chi tảo đỏ sống ở các vùng nhiệt đới và các vùng nước ấm nhưng cũng có nhiều loài sống ở cả những miền lạnh trên thế giới Phần lớn tảo đỏ có kích thước lớn và cấu trúc phức tạp, một số rất ít là đơn
bào hoặc hình sợi hiển vi như Cyanidium, một trong những sinh vật sống được trong
suối nước nóng Có khoảng dưới 100 loài tảo đỏ sống trong nước ngọt, còn ở biển thì số loài tảo đỏ lớn hơn các loài rong biển khác Tảo đỏ thường sống bám vào đá
hoặc tảo khác, số ít sống trôi nổi (Nguyễn Bá, 2007)
Chúng là những thực vật đáy, phân bố ở những mức nước sâu tới 200m
(Nguyễn Hồng Hải, 2007) Lạp lục của tảo đỏ có chứa phycobilin che đậy màu của
Trang 32chlorophyll a vì vậy mà tảo đỏ có màu đặc trưng Những sắc tố này có thể hấp thụ
được ánh sáng lục và xanh lục sâu dưới nước nơi tảo đỏ sống Về mặt hóa học và cấu trúc thì lục lạp của tảo đỏ rất giống vi khuẩn lam cho nên chúng có thể đã qua nội cộng sinh Một số tảo đỏ đã mất đi phần lớn hoặc toàn bộ sắc tố cho nên đã sống
kí sinh trên các tảo đỏ khác (Nguyễn Bá, 2007)
Vách tế bào phần lớn của tảo đỏ trơ, cứng, có cấu tạo từ những sợi cellulose hay là các polysacarit khác và một lớp nhày ở phía ngoài chư chất agar hay là chất caragenan Chính lớp nhày đó làm cho tảo đỏ uyển chuyển, trơn để giúp cho tảo đỏ thoát khỏi những sinh vật khác có thể chiếm bề mặt và làm giảm nguồn sáng
(Nguyễn Bá, 2007).
Tảo đỏ có ba hình thức sinh sản, sinh sản sinh dưỡng thực hiện bằng một phần tách rời của tản Sinh sản vô tính bằng cách tạo một bào tử trần, bất động
(Nguyễn Hồng Hải, 2007) Sinh sản hữu tính rất phổ biến, cấu tạo của cơ quan sinh
sản hữu tính phức tạp và tiến hóa cao Vòng đời của chúng chia làm hai loại là cây
có bào tử và cây không có bào tử, chúng phát triển xen kẽ lẫn nhau để quần thể
nhanh chóng đạt số lượng (Dương Trí Dũng, 2009)
Ở tảo đỏ, tản dạng đơn bào có rất ít, hầu hết là tản đa bào, từ vài cm đến 0.5m Phân hóa đơn giản hoặc phức tạp, loại đơn giản có dạng hình sợi, hình bản, loại phức tạo hơn có dạng hình lá cây, hình san hô, hay phân hóa thành “thân, rễ, lá”
trông hơi giống như thực vật bậc cao (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Tế bào cấu trúc nên tản của tảo đỏ có dạng hình cầu, hình vuông hay hình sợi Màng tế bào ở những tảo chưa tiến hóa có chất sừng (cutin) còn ở những dạng tiến hóa cao thì bằng xenluloza, phía ngoài có chất gelose bao bọc hoặc chất vôi hay chất vôi của acid silic Thể màu của những tảo chưa tiến hóa có dạng hình sao, còn ở tảo
đỏ đã tiến hóa có hình đĩa, hình que hay hình sợi Thể màu có màu đỏ đến màu đỏ tím sẫm, chúng chứa các chất màu diệp lục a và d phieorytrin màu đỏ, các chất màu
thuộc nhóm Carotinoid và Phycoxantin (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
2.3.10 Tảo vòng (Charophyta)
Tảo vòng là những tảo lớn rất độc đáo, sai khác rõ rệt với các ngành tảo khác
Trang 33Môt số tảo vòng sống ở trong rừng nơi có bóng râm và ẩm ướt, một số có đời sống ở trong nước Thoạt nhìn theo hình dạng bên ngoài những tảo này giống như những thực vật bậc cao Cơ thể của chúng bao gồm “thân”, “lá” và “rễ”, là một tản đa bào điển hình, đặc trưng cho thực vật bậc thấp, tuy nhiên có cấu trúc phức tạp và độc đáo Tảo vòng phân bố rộng trong các vùng nước ngọt, đặc biệt trong nước cứng Chúng cũng phát triển ở trong vịnh và trong các vùng nước lợ Tảo vòng phát triển
không đơn độc mà thường hình thành đám, bụi ở đáy các thủy vực (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Đặc điểm dễ nhận biết của tảo vòng là hình dạng bên ngoài của tản Chúng có dạng bụi phân nhánh, với cấu trúc phân đốt mọc vòng, bám vào đáy thủy vực bằng
rễ giả không màu Tính chất này được thể hiện trên trục chính, phân thành đốt, giữa các đốt mang các chồi ngắn có độ lớn giống nhau; những chồi này lại cũng phân đốt
(Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Tảo vòng có cấu trúc cơ quan sinh sản hữu tính độc đáo Chúng được hình thành trên lá, đỉnh ở đa số các đốt, nghĩa là ở trên các mấu Cơ quan sinh sản cái: túi noãn và cơ quan sinh sản đực: túi tinh, là những bộ phận đa bào ở đa số loài phát triển trên hai cây Túi non hình trái xoan, dài 1mm, gồm noãn cầu và vỏ bọc ngoài, được cấu thành từ năm tế bào hẹp Phía dưới của túi noãn là cuống đơn bào, còn phía trên là một vòng nhỏ gồm năm hay mười tế bào nhỏ Túi tinh hình cầu, đường kính 0.5 mm được hình thành từ năm tế bào xếp sát vào nhau Các tế bào sinh sản
hữu tính đực được xuất hiện bằng con đường phức tạp (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Hiện nay trên thế giới đã biết khoảng 300 loài tảo vòng Trong tự nhiên tảo vòng thường phát triển thành sinh khối lớn ở các thủy vực nước ngọt và nước lợ Chúng hình thành các đám dày đặc ở đáy và khi ấy có ảnh hưởng tới chế độ thủy lý, hóa và đặc tính sinh học của thủy vực Khi tảo hình thành các quần xã nó làm cho tính chất của thủy vực trở nên bền vững hơn Ở trên các tản của tảo vòng thường có nhiều loài sống bám Những quần xã tảo vòng là nơi trú ngụ của các động vật nhỏ,
ẩn tránh khỏi sự săn bắt của cá con (Nguyễn Hồng Hải, 2007)
Trang 34Bảng 2: Số lượng các chi, loài, dưới loài và các dạng tảo nước ngọt Việt Nam theo các ngành phân loại (Nguồn: Đặng Ngọc Thanh, 2002)
chi
Số lượng loại, dưới loài và dạng
Phần trăm theo số các loài, dưới loài và dạng
loài Trichogaster pectoralis Regan
Cá sặc rằn thích hợp ở những vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng mưa hằng năm nhiều Ở nước ta cá sống thích hợp nhất ở vùng ĐBSCL như Cần Thơ, An
Giang, Cà Mau (Dương Nhựt Long, 2004)
2.4.1 Phân bố
Cá sặc rằn cũng là đối tượng nuôi quan trọng hiện nay Cá phân bố tự nhiên ở các thủy vực vùng Đông Nam Á và Nam Việt Nam Cá sinh sản tự nhiên trong ao, mương, kênh, rạch, rừng tràm và ruộng lúa Cá thích sống ở những thủy vực có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất hữu cơ Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần
Trang 35Thơ và Kiên Giang… là những tỉnh có cá phân bố tập trung và sản lượng cao hiện
nay ở ĐBSCL (Dương Nhựt Long, 2004)
2.4.2 Sự thích nghi với môi trường
o Cá có cơ quan thở khí trời nên sống được ở điều kiện nước thiếu
hoặc không có oxi
o Cá cũng có khả năng chịu đựng được môi trường nước bẩn, hàm lượng hữu cơ cao cũng như môi trường có độ pH thấp (pH dao động
2.4.3 Sự sinh trưởng, phát triển và tính ăn
Trong điều kiện nhiệt độ 28 – 30 oC trứng thụ tinh và nở hoa 24 – 26h
Cá sau khi nở sẽ dinh dưỡng bằng noãn hoàn trong 2.5 – 3 ngày Lúc này cá nổi trên mặt nước Sau khi tiêu hết noãn hoàng, cá con di chuyển xuống lớp nước dưới để kiếm mồi Cá ương trong ao đạt chiều dài 2 – 3 cm sau 30 – 35 ngày Thức ăn cho cá con ban đầu là động vật phiêu sinh cỡ nhỏ như luân trùng, các chất hữu cơ lơ lửng trong nước, tảo phù du Cá càng lớn càng sử
dụng nhiều loại thức ăn hơn, khi trưởng thành cá ăn thiên về thực vật (Dương Nhựt Long, 2004)
Nuôi ở ruộng hay trong ao sử dụng phân động vật cá lớn nhanh sau 1 năm nuôi cá đạt trọng lượng 50 – 80 g/con sau 18 – 24 tháng cá đạt trọng
lượng 100 – 150 g/con là cỡ thu hoạch tốt ở ĐBSCL hiện nay (Dương Nhựt Long, 2000)
Cá có chiều dài tối đa 25 cm Thức ăn cho cá thường là mùn bã hữu cơ Khi nuôi trong ao, ruộng cho ăn bổ sung như cám, phân động vật, bèo và các phụ phế phẩm khác.Cá sặc rằn có cơ quan hô hấp phụ nằm ở mặt lưng của cung mang thứ nhất và hình thành khi cá được 23 ngày tuổi Với đặc điểm này
giúp ta có thể nuôi và vận chuyển cá dễ dàng (Dương Nhựt Long, 2004)
Trang 362.4.4 Sinh học sinh sản cá
Cá sặc rằn thường đẻ vào mùa mưa từ tháng 4 – 10 Tuy nhiên trong điều kiện nuôi trong ao, có cho ăn cá đẻ quanh năm nhưng tập trung vẫn là những tháng mùa mưa (tháng 4 – tháng 8) Cá thành thục sinh dục khoảng 7 tháng tuổi Sức sinh sản cao, 1 kg cá có thể đẻ 200000 – 300000 trứng Cá đực có vây dài và nhọn, thân hình thon, bụng nhỏ Ngược lại con cái có vây lưng tròn và ngắn, thường không vượt quá cuốn vây đuôi Bụng cá lúc mang trứng căng tròn, nhìn thẳng vuông góc với vị trí đầu, bụng cá có hình chữ U Trong tự nhiên cá đẻ trong ruộng lúa, ao nuôi nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh Khi sinh sản, cá đực và cá cái bắt cặp tìm nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, ven
bờ và kín đáo Con đực làm tổ bằng nước bọt dưới những tán hay lùm của cây
cỏ Sau đó cá đực đưa cá cái đến gần tổ và cong mình ép cá cá i đẻ trứng vào trong tổ Trứng cá thuộc trứng nổi do có giọt dầu lớn Những trứng rơi vãi ra ngoài được cá đực gom lại và đưa vào tổ Sau khi cá đẻ xong, cá đực bảo vệ trứng chống những cá khác xâm nhập vào tổ, ngay cả cá cái Trong sinh sản
nhân tạo, cá đẻ thường được kích thích bằng kích dục tố (Dương Nhựt Long, 2004)
Bảng 3: Cá trưởng thành có thể phân biệt cá đực và cá cái dễ dàng bằng một
số chỉ tiêu sau: (Nguồn: Dương Nhựt Long, 2000)
hoặc dài tới đuôi
Phần tia mềm ngắn, không tới vi đuôi
Trang 37Ở thời kỳ trưởng thành, cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá phù hợp với loài ăn tạp Những loại thức ăn thường xuyên bắt gặp và chiếm khối lượng lớn trong ruột cá gồm: mùn bã hữu cơ, thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, mầm non thực vật cũng như các loại thực vật thủy sinh mềm trong nước
Cá cũng sử dụng tốt những loại thức ăn do người cung cấp như: bột ngũ cốc các loại, cám tấm, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của chúng
(Nguồn: www.hoind.tayninh.gov.vn )
2.5 Vài nét về phân heo
Bón phân là một cách làm có hiệu quả để nâng cao năng suất và sản lượng ao nuôi, tăng hiệu quả nuôi cá và cũng là một biện pháp quan trọng để phát triển sản
xuất nghề cá
Phân heo như một nguồn phân bón tốt Nó không làm biến đổi các thông số hóa sinh của nước như độ pH, mức ôxy hòa tan và độ kiềm Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước (photphat và nitrat) trong các ao hồ được bón phân heo cao hơn các ao đối chứng (không bón phân, chỉ cho ăn bổ sung) Ngoài ra, mật độ phù
du sinh vật cũng cao hơn đáng kể
Chất thải động vật làm tăng khả năng sinh học của ao hồ qua các cách khác nhau dẫn tới sự tăng trưởng sản lượng của cá Phân heo cung cấp cho phù du động vật nguồn thức ăn bổ sung từ vi khuẩn có từ nguồn phân hữu cơ Thành phần của phân heo ảnh hưởng tới cấu trúc quần thể sinh vật phù du, trong số thực vật phù
du, tảo lam là nhóm chiếm ưu thế, tiếp theo là tảo lục
(Nguồn: www.hoind.tayninh.gov.vn ) Bảng 4: Lượng phân heo và nước tiểu mỗi ngày thải ra (Lăng Ngọc Huỳnh, 2000)
Trang 382.6 Một số yếu tố môi trường đối với thực vật thủy sinh
Hầu hết các thuỷ vực dạng ao ở Việt Nam thường là các thuỷ vực nhân tạo, kích thước nhỏ (thường chỉ vài trăm mét vuông), được hình thành chủ yếu ở vùng
nông thôn cho sinh hoạt và nuôi cá (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Quá trình phân hủy hữu cơ sinh ra do có các nguyên liệu dư thừa trong ao như thức ăn dư thừa, phân, xác cá - tôm, xác tảo chết lắng tụ, hóa chất dư tồn như vôi, thuốc, sự rửa trôi do mưa làm bờ ao sạt lở kéo xuống đáy ao, do nguồn nước giàu chất phù sa, chất lơ lửng… Sản phẩm sau cùng của quá trình phân hủy hữu cơ,
là sinh ra nhiều loại khí rất độc hại đối với tôm - cá nuôi như khí Amoniac (NH3), Hydrosulfua (H2S), Nitric (NO2)…
2.6.1 Ánh sáng
Ánh sáng ảnh hưởng đối với thực vật trên cạn nhiều hơn thực vật dưới nước Thực vật thuỷ sinh sống chủ yếu là dị dưỡng và quang tự dưỡng, do đó hầu hết thực vật thuỷ sinh sống tập trung trên tầng mặt để tận dụng nguồn ánh sáng mặt trời Do
đó, ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự phân tầng của thực vật thuỷ sinh (Dương Trí Dũng, 2009)
Nguồn ánh sáng chủ yếu trong các thuỷ vực là từ mặt trời và mặt trăng toả xuống, ngoài ra còn có nguồn phát sáng từ thuỷ sinh vật Phần lớn lượng ánh sáng vào nước được các phân tử nước và các vật lơ lửng trong nước hấp thụ Hệ số hấp thụ ánh sáng của nước tỷ lệ nghịch với độ trong của nước và khác nhau đối với loại tia sáng khác nhau.Như vậy, các thuỷ vực nước đục hấp thụ ánh sáng nhiều hơn các thuỷ vực nước trong Các tia sáng đi vào trong nước không đồng đều, phụ thuộc vào
độ dài sóng và độ trong của nước Độ sâu nhất của các tia sáng đi vào nước khoảng 1.500 - 1.700m Vùng sâu dưới 1.700m, có thể coi là vùng không có ánh sáng mặt trời Do các tia sáng xâm nhập vào nước khác nhau, nên có thể chia tầng nước từ trên xuống dưới sâu thành các vùng ánh sáng khác nhau
o Vùng trên (vùng sáng từ 0 - 200m) là vùng còn đủ các tia sáng tia sáng từ
đỏ tới tím, bảo đảm sự quang hợp cho thực vật phát triển
o Vùng giữa (vùng mắt sáng từ 200 - 1.500m) là vùng chỉ còn các tia sáng
Trang 39có sóng ngắn và cực ngắn
o Vùng dưới (vùng tối sâu hơn 1.500m) là vùng không có ánh sáng
(Hứa Thị Phượng Liên, 2005)
Ánh sáng ảnh hưởng đến sự di động và phân bố của thuỷ sinh vật theo độ sâu, đặc biệt là thực vật quang hợp Sự phân bố của ánh sáng không đồng đều theo
độ sâu đã tạo nên các vùng thực vật phong phú ứng với các vùng sáng của tầng nước sự thay đổi độ chiếu sáng ngày và đêm có tác dụng tới hiện tượng di động ngày và đêm của thuỷ sinh vật Ánh sáng còn giúp thuỷ sinh vật định hướng di động, gọi là tính quang hướng động, thúc đẩy các quá trình sinh hoá trong đời sống
cá thể, tạo vitamin, ảnh hưởng nhất định đến quá trình sinh sản, lối sinh sản, chu kỳ sinh sản và biến đổi về hình thái, màu sắc, các cơ quan cảm quang của động vật ở
các vùng khác nhau (Hứa Thị Phượng Liên, 2005)
2.6.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ của nước ít thay đổi hơn của không khí do nước có các tính chất nhiệt động học đặc biệt cho phép giảm nhẹ các biến thiên nhiệt độ, nhưng vẫn là yếu
tố giới hạn quan trọng (Trần Chấn Bắc, 1998) Hay nói cách khác do nước có độ toả
nhiệt và thu nhiệt lớn, các lớp nước ở trên mặt và dưới sâu điều hoà nhiệt độ lẫn nhau trong quá trình lạnh đi hay bốc hơi, làm cho khối nhiệt độ của cả khối nước ít
biến đổi (Hứa Thị Phượng Liên, 2005) Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân tầng của
thực vật thuỷ sinh Đối với thực vật thuỷ sinh thích hợp nhiệt độ cao tập trung ở tầng mặt Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của thực vật thuỷ sinh là 15 – 30o
C Tuy nhiên, một số giống loài tảo có khả năng sống được ở nơi tuyết phủ (dưới 0o
C) hay suối nước nóng (khoảng 78o
C) (Dương Trí Dũng, 2009)
Nhiệt độ ao phụ thuộc vào nhiệt độ không khí, thay đổi theo mùa và biến đổi vào các thời điểm khác nhau trong ngày Do là loại hình thuỷ vực nông cho nên nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy ao không chênh lệch nhau nhiều, chỉ trên dưới
1oC (Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Ảnh hưởng của nhiệt độ nước trong thuỷ vực đối với thuỷ sinh vật rất lớn, có tính chất quyết định đối với đời sống thuỷ sinh vật Trong đời sống cá thể nhiệt độ
Trang 40ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi chất, hô hấp, dinh dưỡng, nhịp độ sinh sản và phát triển của thuỷ sinh vật Nhiệt độ cũng là nhân tố quyết định ảnh hưởng tới biến động
số lượng của thuỷ sinh vật trong thuỷ vực (Hứa Thị Phượng Liên, 2005)
Thông thường, nhiệt độ nước trong các thuỷ vực thấp nhất vào buổi sáng lúc
2 - 5 giờ, cao nhất vào buổi chiều lúc 14 - 16 giờ và lúc 10 giờ, nhiệt độ của nước
trong thuỷ vực gần tới nhiệt độ trung bình ngày đêm (Lý Khải Dân & Nông Quang Minh, 2005)
Biên độ dao động của nhiệt độ nước trong ngày đêm lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tính chất của thuỷ vực: các thuỷ vực nhỏ và nông có biên độ dao động nhiệt độ ngày đêm lớn hơn các thuỷ vực nông và sâu Sự thay đổi nhiệt độ theo ngày đêm ở các ao nông có thể rất đáng kể: ở lớp nước mặt, sự chênh lệch nhiệt độ nước ngày đêm có thể lên tới 10 oC, ở độ sâu 20cm là 5 oC Khi nhiệt độ nước thay đổi 3 oC hay
4 oC có thể làm cá chết Cá có thể chịu đựng sự thay đổi nhiệt độ 0.2 oC/phút nhưng
sự thay đổi này không vượt quá vài 0C Nhiệt độ cao làm tăng tốc độ phản ứng thuỷ
phân để chuyển chất ô nhiễm thành chất có độc tính thấp hơn (Lý Khải Dân & Nông Quang Minh, 2005)
này thích hợp cho sự phát triển tảo là 0.1 - 1mg/L (Dương Trí Dũng, 2009)
N-NH4+ thường không bền dưới tác động nhiệt hoặc trong môi trường bazơ
dễ biến thành NH3 gây độc cho thuỷ sinh vật và gây mùi hôi cho nước Nồng
độ NH3 giới hạn cho phép là 0.02 ppm được đề nghị do vấn đề độc tính đối
với đời sống của cá (Lam Mỹ Lan, 2000) Sự có mặt của NH +
trong nước