Kết quả nghiên cứu định tính được 74 loài phiêu sinh thực vật thuộc 4 ngành tảo: Euglenophyta 34 loài 46.58% và Cyanophyta19 loài 26.03%, có thành phần giống loài phong phú nhất như: Eug
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TNTN
BỘ MÔN KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
BÙI VĂN GIÁP
ĐẶC ĐIỂM PHIÊU SINH THỰC VẬT Ở AO NUÔI CÁ SẶC RẶC
CÓ SỬ DỤNG NƯỚC THẢI BIOGAS Ở MỸ PHỤNG-PHONG ĐIỀN
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Sau gần 5 tháng nỗ lực thực hiện luận văn nghiên cứu “Đặc điểm phiêu sinh thực vật ở ao nuôi cá Sặc rằn có sử dụng nước thải Biogas ở ấp Mỹ Phụng – Phong Điền – TP Cần Thơ” đã phần nào hoàn thành Ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân, tôi đã nhận được sự khích lệ rất nhiều từ phía nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè
Trước hết tôi xin cám ơn ba mẹ đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện tốt để tôi học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin cảm ơn thầy cô Bộ môn khoa Môi trường & TNTN trường Đại học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng chân thành sâu sắc đến thầy Trần Chấn Bắc, người
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp Xin cám ơn tất cả bạn bè lớp Khoa học môi trường khóa 31 đã quan tâm và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cám ơn các Chú Bác ở ấp Mỹ Phụng đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày ….tháng 5 năm 2010 Sinh viên thực hiện
BÙI VĂN GIÁP
Trang 3 Số lượng tảo cở nào để hấp thu hạn chế ô nhiễm
Nhằm mục tiêu đánh giá hiện trạng môi trường ở nơi đây thông qua sự biến động thành phần và sinh lượng phytoplankton kết hợp với kết quả lý hoá, từ đó
đề xuất định hướng quản lý chất lượng nước
Kết quả nghiên cứu định tính được 74 loài phiêu sinh thực vật thuộc 4 ngành tảo:
Euglenophyta 34 loài (46.58%) và Cyanophyta19 loài (26.03%), có thành phần giống loài phong phú nhất như: Euglena, Phacus, Trachelomonas, Pediastrum biradiatrum, Scenedesmus dimorphus
Sinh lượng phytoplankton khá cao chủ yếu là tảo mắt, tảo lục như: Trachelomonas volvocina, Euglena minima, Euglena oblonga, Phacus torta, Phacus alata, Pediastrum biradiatrum, Scenedesmus dimorphus Điều này cho thấy cần có sự lưu ý đến nguồn nước và có khả năng gây hại cho cá ở trong ao Thành phần loài tảo không cao, biến động không nhiều từ 5 đến 10 loài giữa các chu kỳ thu mẫu, số loài phong phú nhất là tảo mắt và tảo lục
Số lượng PSTV tại khu vực khảo sát tương đối cao, cao nhất lên đến 2.090.000
cá thể/lít Loài chiếm ưu thế là: Trachelomonas volvocina, Euglena minina,
Euglena oblonga, Pediastrum biradiatum, Senesdesmus dimorphus,
Trang 4Khu vực khảo sát có chỉ số đa dạng loài tương đối nhưng không cao, trong khoảng từ (2.66-3.58), chứng tỏ thủy vực đang trong giai đoạn từ sạch chuyển sang ô nhiễm (Stau et al, 1970)
Điều này cần có sự lưu ý đến nguồn nước để có thể cải tạo tốt cho ao nuôi cá
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm tạ 2
Tóm lược 3
Mục lục 5
Danh sách bảng 7
Danh sách hình 8
Chương 1 Giới thiệu 9
1.1 Giới thiệu 9
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 10
Chương 2 Lược khảo tài liệu 11
2.1 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu 11
2.2 Tổng quan về phiêu sinh thực vật 12
2.2.1 Các khái niệm 12
2.2.2 Sơ lược về phiêu sinh thực vật 12
2.2.3 Các hình thái của tản 15
2.2.4 Đặc điểm cấu tạo tế bào 16
2.2.5 Sinh sản 17
2.2.6 Môi trường phân bố 18
2.2.7 Vài nét về Biogas 18
2.2.8 Đặc điểm môi trường nước 19
2.2.9 Các chương trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 22
2.2.10 Những nghiên cứu của các tác giả trong nước 24
Chương 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Địa điểm và thời gian 27
3.1.1 Địa điểm thu mẫu 27
3.1.2 Thời gian 27
3.2 Phương tiện nghiên cứu 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu 28
3.3.1 Thời gian thu mẫu 28
Trang 63.3.2 Phương pháp thu mẫu 28
3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 29
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 4 Kết quả và thảo luận 31
4.1 Các yếu tố thủy hóa 31
4.1.1 Nhiệt độ 31
4.1.2 Độ trong 32
4.1.3 Độ pH 32
4.1.4 Oxy hòa tan (DO) 33
4.1.5 N-NH4- 35
4.1.6 N-NO3- 35
4.1.7 P-PO43- 36
4.2 Phiêu sinh thực vật trong các ao 37
4.2.1 Thành phần giống loài PSTV 37
4.2.2 Thành phần giống loài PSTV trong các ao 38
4.2.3 Biến động thành phần giống loài 38
4.2.4 So sánh thành phần giống loài PSTV 46
4.2.5 Biến động số lượng PSTV 49
4.2.6 Biến động chỉ số đa dạng của PSTV 53
Chương 5 Kết luận và kiến nghị 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị 55
Tài liệu tham khảo 56
Phụ lục 58
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng 30
Bảng 2: Thành phần giống loài tảo qua hai chu kỳ thu mẫu 39
Bảng 3: Số lượng PSTV ở mỗi ao theo thời gian thu mẫu 50
Bảng 4: Chỉ số đa dạng của PSTV tại các ao 52
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Bản đồ tự nhiên ấp Mỹ Phụng 11
Hình 2: Biến động về nhiệt độ 31
Hình 3: Biến động về độ trong 32
Hình 4: Biến động về độ pH 33
Hình 5: Biến động về DO 34
Hình 6: Hàm lượng N-NH4+ qua các ngày thu mẫu 35
Hình 7: Hàm lượng N-NO3- ở 3 ao 36
Hình 8: Hàm lượng P-PO43- ở 3 ao 37
Hình 9: Biến động thành phần giống loài PSTV tại kênh gạch chu kỳ I 39
Hình 10: Biến động thành phần giống loài PSTV tại ao 1 chu kỳ I 40
Hình 11: Biến động thành phần giống loài PSTV tại ao 2 chu kỳ I 41
Hình 12: Biến động thành phần giống loài PSTV tại ao 3 chu kỳ I 42
Hình 13: Biến động thành phần giống loài PSTV tại kênh gạch chu kỳ II 43
Hình 14: Biến động thành phần giống loài PSTV tại ao 1 chu kỳ II 44
Hình 15: Biến động thành phần giống loài PSTV tại ao 2 chu kỳ II 45
Hình 16: Biến động thành phần giống loài PSTV tại ao 3 chu kỳ II 46
Hình 17: Thành phần loài tảo ao 1 qua 2 chu kỳ thu mẫu 47
Hình 18: Thành phần loài tảo ao 2 qua 2 chu kỳ thu mẫu 48
Hình 19: Thành phần loài tảo ao 3 qua 2 chu kỳ thu mẫu 49
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu
Trong vài năm gần đây, các hình thức nuôi cá phổ biến ở TP Cần Thơ chủ yếu là
cá – lúa, cá – mương vườn, mô hình VAC, VACB,… và đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống
Tuy nhiên cho đến nay, nghề nuôi cá vẫn dựa vào các kinh nghiệm cổ truyền là chính, còn hạn chế trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, chất lượng môi trường nước, đặc biệt là các yếu tố sinh học hầu như không được thường xuyên quan tâm theo dõi Trong khi đó phiêu sinh thực vật là loại thủy sinh vật có khả năng sử dụng trực tiếp các chất vô cơ ở môi trường nước để tổng hợp nên chất hữu cơ cho cơ thể sống thông qua quá trình quang hợp Ngược lại, động vật đáy
và cá không làm được điều này mà phải sử dụng chất hữu cơ sẵn có để tổng hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của chúng Chính vì vậy phiêu sinh vật là mắc xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn, là cơ sở hình thành chất sống trong thủy vực Ngoài ra sinh lượng thực vật phù du còn cung cấp lượng ôxy chủ yếu cho môi trường và không khí Vì vậy vai trò của phiêu sinh thực vật trong thủy vực càng trở nên quan trọng hơn Theo giáo sư G.G Vinbe (1965) khẳng định: “Không có tảo sẽ không có nghề cá” Tuy nhiên trong nghề cá cũng như các lĩnh vực sinh học khác yếu tố nào phát triển quá mức hoặc kém phát triển đều tạo ra sự biến động trong quan hệ sinh thái đó Sự phát triển quá mức của phiêu sinh thực vật khi chết sẽ gây ô nhiễm môi trường và làm lượng ôxy hoà tan giảm đi rất nhiều hay sự nở hoa của tảo cũng sẽ gây hại cho các đối tượng khác bằng chính độc tố của chúng tiết ra
Bằng cách trực tiếp hay gián tiếp thì tảo cũng gây ảnh hưởng đến các sinh vật khác Vì thế cần có sự tận dụng hợp lý, theo dõi và xử lý tốt môi trường, hạn chế những bất lợi, phát huy được ưu thế của thực vật phù du Từ đó điều khiển chúng theo hướng có lợi phục vụ cho sản xuất Muốn đáp ứng được yêu cầu trên thì việc nghiên cứu phiêu sinh thực vật và những biến đổi của chúng trong môi
Trang 10trường nước là việc làm rất cần thiết Do đó, đề tài: “Đặc điểm phiêu sinh thực vật trong các ao nuôi cá Sặc rằn có sử dụng nước thải Biogas ở Mỹ Phụng – Phong Điền – TP Cần Thơ ” được thực hiện, với nội dung nghiên cứu:
- Khảo sát thành phần giống loài và sinh lượng phiêu sinh thực vật ở các ao nuôi
cá Sặc rằn có sử dụng nước thải Biogas ở Mỹ Phụng – Phong Điền – TP Cần Thơ
- Xác định chỉ số đa dạng Shanon H' của phiêu sinh thực vật trong ao để biết được sự phong phú hay những hạn chế của chúng trong thủy vực
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định thành phần giống loài và số lượng tảo trong ao nuôi cá sặc rằn
có sử dụng nước thải Biogas, cho thấy vai trò và sự ảnh hưởng của tảo trong ao đến cá
CHƯƠNG 2
Trang 11LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về địa điểm nghiên cứu
Ấp Mỹ Phụng thuộc xã Mỹ Khánh - huyện Phong Điền - thành phố Cần Thơ, được tách ra từ ấp Mỹ Long vào đầu năm 2008
Vị trí địa lý của ấp Mỹ Phụng (Hình 1):
Phía Đông giáp Rạch Sắn
Phía Tây giáp Rạch Cùng
Phía Nam giáp Kinh Sáu Sáng
Phía Bắc giáp Rạch Ngã Cái (Giai Xuân)
Hình 1: Bản đồ tự nhiên ấp Mỹ Phụng - xã Mỹ Khánh -
huyện Phong Điền - thành phố Cần Thơ
Mỹ Phụng là một địa phương có :
Tổng diện tích đất: 160 ha Trong đó :
- Đất vườn 113 ha chiếm 71% tổng diện tích
S
Trang 12- Đất ruộng 33 ha chiếm 21% tổng diện tích đất
- Đất sử dụng cho mục đích khác: 14 ha chiếm 8% tổng diện tích đất
Dân số 1.137 người gồm 172 hộ Trong đó :
- Hộ vừa có ruộng vừa có vườn: 53 hộ chiếm 19% tổng số hộ
- Hộ có vườn: 201 hộ chiếm 74% tổng số hộ
- Hộ không có đất sản xuất: chiếm 7% tổng số hộ
(Nguồn UBMTTQVN xã Mỹ Khánh ban công tác mặt trận Ấp Mỹ Phụng, 2008)
2.2 Tổng quan về phiêu sinh thực vật (Phytolankton)
2.2.1 Các khái niệm
Phytoplankton (từ gốc Hy Lạp là phyton là thực vật) là những sinh vật nhỏ trôi nổi hoặc có khả năng bơi một cách yếu ớt trong tầng nước ngọt, Biển, Đại dương, nhóm này bao gồm nhiều đơn vị phân loại thuộc các giới khác nhau Tảo là những thực vật thấp cơ thể chưa phân hoá thành rễ, thân, lá (những dấu hiệu của thực vật bậc cao) nên cơ thể chúng được gọi chung là tản Cơ thể chúng
có chứa sắc tố quang hợp, chúng có khả năng quang tự dưỡng sử dụng năng lượng mặt trời chuyển các chất vô cơ thành dạng đường đơn giản Tản có cấu trúc rất đa dạng: đơn bào, tập đoàn hay đa bào
2.2.2 Sơ lƣợc về phiêu sinh thực vật
Phiêu sinh thực vật (Phytoplankton) còn được gọi là tảo hay thực vật nổi Tảo sống trôi nổi trên mặt nước, một số có thể di chuyển nhờ roi Tảo có khả năng
N-NO3-, P-PO43-) và hấp thu CO2 để phát triển cơ thể và tạo ra oxy hòa tan cho thủy vực
Phiêu sinh thực vật là thức ăn của phiêu sinh động vật (Zooplankton) và là thức
ăn của ấu trùng tôm, cá, …
Sau đây là một số ngành tảo thường gặp :
- Tảo khuê (Bacillariophyta)
Trang 13Tảo khuê gồm những dạng đơn bào có lạp màu vàng nâu, có chứa dịp lục tố a, c
và -Caroten và Xanthophyll Chất dự trữ là Chrysolaminarin và chất béo Đặc trưng của tảo khuê là có vách ngấm silic và tạo ra một vỏ hai mảnh Trong nước, tảo khuê phát triển mạnh ở môi trường giàu dinh dưỡng
Ngành tảo này có ý nghĩa với nuôi trồng thủy sản (Lam Mỹ Lan, 2000)
- Tảo lục (Chlorophyta)
Tảo lục là ngành rộng lớn nhất trong các ngành tảo hiện nay đã biết, chúng thuộc nhóm có nhân thật Tảo lục gồm có khoảng 13.000-20.000 loài (Dương Đức Tiến, 1997) Tảo lục được phân biệt với các ngành tảo khác ở đặc điểm là có màu lục thuần khiết của cơ thể Tản có màu lục giống như thực vật bậc cao vì thế tế bào có chứa dịp lục tố a, b, -Caroten, Xantophyll Tản rất đa dạng: đơn bào, sống tự do hay tập đoàn trong khối chất nhầy, tế bào bất động hay di chuyển nhờ chiên mao
Lục lạp có nhiều hình dạng: hình sợi xoắn, hình chuông hình phiến quấn tròn, hình sao, …Các lục lạp đều có chứa hạch lạp với hạch lạp dài và hạch lạp thể Trong môi trường giàu dinh dưỡng, tảo lục phát triển mạnh và là thức ăn của tôm, cá,…(Trần Chấn Bắc, 1998)
- Tảo mắt (Eulenophyta)
Tảo mắt gồm những tảo đơn bào, di động được nhờ có chiên mao Lạp có màu xanh lục Chất dự trữ là Paramilon nằm ngoài lạp, nhân tròn hay bầu dục, dễ thấy
và thường quan sát được hạch nhân dưới kính hiển vi
Tảo mắt có khoảng 40 giống, 800 loài (Dương Đức Tiến, 1997) Tảo mắt hầu hết phân bố trong các thủy vực nước ngọt, nước đứng và có nhiều chất hữu cơ, giàu
cứng, hay chứa nhiều chất nhầy (Trần Chấn Bắc, 1998)
- Tảo lam (Cyanophyta) :
Trang 14Tảo lam thuộc nhóm tiền nhân, có cơ cấu ít tiến hóa, hình dạng rất phức tạp Tảo lam gồm các loài có đặc điểm không có màng nhân, không có lạp và không có sự sinh sản hữu tính
Dưới kính hiển vi quang học, tảo lam rất dễ nhận diện do có màu xanh đặc trưng
vì có diệp lục tố, -Caroten, Xanthophyll, c-phycoerytryn, c-phycocyanin (Võ Thị Yến Phi, 1997)
- Tảo giáp (Pyrrophyta)
Tảo giáp gồm những tảo có kích thước hiển vi, đơn bào di chuyển với hai roi Ở dạng tập đoàn tảo không chuyển động và có dạng sợi ngắn (Võ Thị Yến Phi, 1997) Tế bào có rảnh dọc và ngang, roi nằm trong rảnh và có chiều dài không đều nhau
Tảo giáp có chứa Chorophyll a, b, -Caroten, Xanthophyll Lạp có chứa hạch lạp Chất dự trữ là lipit và tinh bột Tảo giáp sống trong môi trường nước mặn,
lợ, chúng tiết chất độc hại cho tôm, cá và các loài thủy sản khác Tuy nhiên theo Nguyễn Thị Thủy (2004) tảo giáp kết hợp với tảo khuê là thức ăn „chính‟ cho phiêu sinh động vật, ấu trùng tôm,…
Vai trò của phiêu sinh thực vật
- Phiêu sinh thực vật có vai trò quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản Vì chúng là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn, như tảo khuê, tảo lục là thức ăn
tự nhiên tốt nhất cho phiêu sinh động vật, ấu trùng tôm, cá… Bên cạnh đó tảo còn là nguồn cung cấp oxy hòa tan trong thủy vực
Phiêu sinh thực vật là sinh vật chỉ thị môi trường nước, tảo mắt chỉ thị môi
trường giàu chất hữu cơ Môi trường sạch Melosira
- Tảo là sinh vật có vai trò quan trọng trong quá trình làm sạch của thủy vực, xử
lý chất thải trong nước: Tảo giáp có vai trò trò tích lũy mùn đáy, xử lý bằng cách hấp thu hay phân hủy hiếu khí
- Tảo dùng trong nghiên cứu sinh học: Trong khảo sát hiện tượng quang hợp,
nuôi cấy tảo Chlorella, Senedesmus, Anacystis,…thường được sử dụng trong
nghiên cứu
Trang 15- Tảo cung cấp chất khoáng: Tảo cung cấp Natri cho sản xuất xà phòng, dụng cụ thủy tinh Tảo khuê khi chết làm lắng tụ một lớp silic, con người khai thác và sử dụng chất làm các lớp cách nhiệt, cách âm…
- Tảo dùng làm chất kháng sinh: Chrorellin được chiết xuất từ tảo Chrorella, tảo
Nitzschia palena có chất kháng sinh rất hữu hiệu đối với vi khuẩn Escherichia coli
- Tảo dùng làm phân bón: Một số tảo lam có khả năng cố định đạm và dùng làm
phân bón như: Nostoc, Cylindrospermum, Anabaena, Osillatoria,…
- Tảo làm thức ăn cho người và gia súc: Chủ yếu là các ngành tảo lớn như ngành tảo nâu, tảo đỏ và một số thuộc ngành tảo lục, tảo lam, Một số giống loài là
thức ăn như: Chlorella, Senedesmus, Laminaria, Spirulina, Agar-Agar,…
2.2.3 Các hình thái của tản
Tản của tảo có thể có những hình dạng cấu trúc sau đây:
2.2.3.1 Dạng đơn bào
là đơn bào hay tập đoàn, cấu tạo từ một số hay nhiều tế bào giống nhau về hình thái và chức năng
giản hay ở những giai đoạn sinh sản (giao tử hay bào tử) của những tảo có cấu trúc cao hơn
2.2.3.2 Dạng hạt
độc hay liên kết trong tập đoàn
2.2.3.3 Dạng sợi
bào trong sợi phần lớn giống nhau hay đôi khi một số tế bào ở gốc hay ở ngọn có hình dạng và cấu tạo khác biệt
2.2.3.4 Dạng bản
Trang 16 Được hình thành từ dạng sợi trong quá trình cá thể phát sinh của tế bào Ở đây các tế bào được phân chia theo cả chiều dọc và chiều ngang, kết quả tạo nên dạng bản có hình lá rộng hay hẹp, nhiều tản ở biển (như tảo nâu, tảo đỏ) có cấu trúc này
2.2.3.5 Dạng ống
bào khổng lồ có kích thước tới vài chục centimet thậm chí hàng vài mét chứa nhiều nhân và không có vách ngăn thành các tế bào riêng rẽ Dạng ống có thể đơn hoặc phân nhánh hình cành
2.2.4 Ðặc điểm cấu tạo tế bào
Vách tế bào của tảo phần lớn được cấu tạo bởi cellulose và pectin, một vài loài tảo vách có thấm thêm silic (như khuê tảo, tảo vàng ánh) hoặc cacbonat canxi (tảo vòng) Mỗi tế bào có một nhân hay đôi khi nhiều nhân (ở tảo dạng ống) Trong chất nguyên sinh có những bản (thylakoids) chứa diệp lục và các sắc tố khác được bao bọc lại gọi là lạp Lạp có hình dạng khác nhau, ổn định với từng giống riêng rẽ hay là với các nhóm phân loại lớn, có thể có dạng bản, dãy xoắn, hình sao, mạng lưới, đĩa, hạt
Ở một số tảo như tảo lục, trong lạp có các thể đặc biệt gọi là hạt tạo bột (pyrenoid), là những thể protein hình cầu hay có góc, xung quanh tập trung các hạt tinh bột hay hidrat cacbon là chất dự trữ chính của tảo lục, ngoài ra còn có những giọt lipid ở trong hoặc ngoài lạp (như ở các tảo khác)
Ðối với những tảo có cấu trúc đơn bào, trong tế bào của chúng chứa đầy chất nguyên sinh và không có không bào với dịch tế bào Nhưng với những loài sống
ở nước ngọt, trong chất nguyên sinh ở phần đầu tế bào chứa một hay một vài không bào co bóp, có chức phận thải các sản phẩm thừa trong trao đổi chất ra ngoài tế bào và điều chỉnh sự thẩm thấu của tế bào
Nhiều dạng đơn bào còn có roi (2 hoặc 1 roi, ít khi 4 hoặc nhiều hơn) xuất phát
từ gốc ở phía trước của tế bào, làm nhiệm vụ vận chuyển Quan sát dưới kính hiển vi điện tử nhận thấy roi là một bó gồm 11 sợi, với 2 sợi ở giữa và 9 sợi ở
Trang 17xung quanh (cấu trúc này giống với cấu trúc roi ở các nhóm sinh vật khác, trừ vi khuẩn roi chỉ có một sợi đơn) Sau cùng, ở nhiều tảo đơn bào còn có một chấm
đỏ ở đầu cùng tế bào gọi là điểm mắt Ðiểm mắt có hai phần: phần có màu và phần không màu Ðiểm mắt là cơ quan thụ cảm với kích thích của ánh sáng, trong đó phần không màu có dạng lồi ở 2 phía giữ vai trò một thấu kính tập trung các tia sáng
2.2.5 Sinh sản
2.2.5.1 Sinh sản sinh dưỡng: Thực hiện bằng những phần riêng rẽ của cơ thể
thường không chuyên hóa về chức phận sinh sản Ở các tảo đơn bào sinh sản sinh dưỡng thực hiện bằng cách phân đôi tế bào; ở các tảo tập đoàn thì tách ra thành các tập đoàn nhỏ hay hình thành tập đoàn mới ở bên trong tập đoàn (như ở
Volvox); các tảo dạng sợi sinh sản sinh dưỡng bằng cách phát triển một đoạn tản
được tách rời khỏi tản cũ được gọi là tảo đoạn Một số ít tảo có tạo thành cơ quan chuyên hóa của sinh sản sinh dưỡng như hình thành chồi ở tảo vòng (Chara)
2.2.5.2 Sinh sản vô tính: Thực hiện bằng sự hình thành các bào tử chuyên hóa,
có roi hoặc không có roi Các bào tử được hình thành trong bào tử phòng (túi bào tử) Bào tử nẩy mầm thành tản mới
2.2.5.3 Sinh sản hữu tính: Thực hiện bằng sự kết hợp của những tế bào chuyên
hóa gọi là giao tử Tùy theo mức độ giống nhau hay khác nhau của các giao tử
mà phân biệt 3 hình thức sinh sản hữu tính là đẳng giao, dị giao và noãn giao Hợp tử được hình thành sau khi kết hợp giao tử hoặc thụ tinh sẽ nẩy mầm trực tiếp thành tản mới hoặc qua giai đoạn trung gian
Ở một số tảo chưa tiến hóa (như ở bộ Volvocales) quá trình hữu tính tiến hành bằng sự kết hợp toàn vẹn của cả cơ thể (gọi là sự toàn giao = hologamy) Ngoài
ra một số tảo khác lại có quá trình sinh sản hữu tính đặc biệt theo lối tiếp hợp (zygogamy) giữa 2 tế bào sinh dưỡng và không tạo thành giao tử (như ở Rong
nhớt Spirogyra)
Sự xen kẽ thế hệ (hay giao thế hình thái) ở tảo có thể là đồng hình hoặc dị hình
2.2.6 Môi trường phân bố
Trang 18Ở đâu có nước ở đó có tảo Tảo thường sống ở trong nước ngọt hay nước mặn, trôi nổi tự do trong lớp nước ở trên mặt, có trong thành phần của các sinh vật phù
du (plankton), cũng có khi chúng sống bám vào đáy hay các giá thể khác ở dưới nước hoặc nằm tự do ở dưới đáy, tham gia vào nhóm sinh vật đáy (benthos) Nhiều tảo còn sống trên cạn (trên đất, đá, thân cây ), sống trên băng tuyết
2.2.7 Vài nét về Biogas
Biogas (khí sinh học) là một sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí các chất hữu cơ và đã được coi là một năng lượng để thay thế Biogas được sử dụng trong các hộ gia đình để nấu nướng, thắp sáng, sưởi ấm,… Ở quy mô lớn hơn, Biogas được dùng để chạy máy phát điện Theo Lê Hoàng Việt (1998) Biogas là nguồn năng lượng có tiềm năng lớn nhất; Nguyên liệu cho quá trình ủ Biogas là phân người, phân gia súc hay phế phẩm nông nghiệp,… Ở đồng bằng sông Cửu Long, nguyên liệu của quá trình ủ Biogas thường là phân heo
Theo Lăng Ngọc Huỳnh (2000) lượng phân heo mỗi ngày cho ra :
Trang 19môi trường nước Chất thải Biogas chứa nhiều muối dinh dưỡng vô cơ như đạm, lân sẽ được sử dụng bón cho ao nuôi thủy sản, ao nuôi tảo, ruộng,…
2.2.8 Đặc điểm môi trường nước
Môi trường nước là một cấu thành của môi trường sống trong thiên nhiên và là môi trường có diện tích lớn nhất Thuỷ quyển đến 71% diện tích trái đất, trong đó biển và đại dương chiếm tới 99,5% còn mặt nước ngọt nội địa chiếm 0,5%
Trong nghề nuôi thuỷ sản, chất lượng nước được xem là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống của thủy sinh vật (Dương Trí Dũng, 2003) Đặc biệt là mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng nước
và các loài thủy sinh vật đang tồn tại trong thủy vực Do đó, để đánh giá chất lượng nước trong nuôi thuỷ sản, ta thường tập trung vào một vài yếu tố lý hoá sau:
nhiều ảnh hưởng gián tiếp của nó Tảo lam Cocochlois peniocystis có thể quang
hợp ở pH 7-10,…(Dương Trí Dũng, 2003) Khi pH quá cao hay quá thấp sẽ làm thay đổi thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối – nước giữa cơ thể với môi trường ngoài Do đó pH là nhân tố quyết định giới hạn phân
bố của loài thủy sinh vật
2.2.8.2 Nhiệt độ
Nguồn nhiệt làm cho nước ấm của thuỷ vực lên là năng lượng ánh sáng mặt trời Ngoài ra, còn có thể do khả năng sinh ra trong quá trình oxy hóa các hợp chất
Trang 20hữu cơ vô cơ trong nước và nền đáy của thủy vực nhưng không đáng kể so với năng lượng mặt trời cung cấp
Do đó, nhiệt độ của nước thay đổi theo vị trí địa lý của thủy vực, theo mùa, theo thời tiết, theo ngày đêm Trong đó, nhiệt độ thay đổi theo ngày đêm gắn liền với nhiệt độ chiếu sáng của mặt trời trong ngày
Thủy sinh vật thường xuyên chịu đựng ở mức biến động hẹp về nhiệt độ hơn là động vật trên cạn (Dương Trí Dũng, 2003) Nhiệt độ là yếu tố có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến môi trường sống như: sinh dưỡng, sinh sản và di cư của thủy sinh vật, đặc biệt là đối với cá vì cá là động vật biến nhiệt
kỵ khí, ảnh hưởng đến đời sống của sinh vật thủy sinh
2.2.8.5 Oxy hòa tan (DO)
DO là hàm lượng oxy có trong một lít dung dich ở nhiệt độ và áp suất xác định Oxy là chất khí quan trọng nhất và cần thiết cho thủy sinh vật Hệ số khuếch tán của oxy trong không khí là 11, còn trong nước là 34.10-6 Do đó dễ đưa đến hiện tương thiếu oxy cục bộ trong thủy vực Hơn nữa, trong thủy quyển oxy hoà tan
Trang 21chiếm 3,4% thể tích, còn trong khí quyển nó chiếm tới 20,98% (Huỳnh Quốc Tịnh, 2003)
Trong thủy vực, nguồn cung cấp oxy chủ yếu là do quang hợp của thủy sinh thực vật và sự khuếch tán từ không khí vào Nhưng quá trình làm mất oxy trong thủy vực do sự phân hủy của hợp chất hữu cơ, sự hô hấp của thủy sinh vật,… Vì vậy lượng oxy hòa tan có liên quan đến nhiều yếu tố cùng tồn tại với nó trong nước Ngoài lượng oxy hòa tan vào thủy vực, còn phụ thuộc vào mặt thoáng của thủy vực, nhiệt độ, không khí,…
Hàm lượng oxy hòa tan tối thiểu trong nước để đảm bảo cho hoạt động bình thường của tôm cá là phải từ 3-4mg/l
2.2.8.6 Nhu cầu oxy hóa học (COD)
Nhu cầu oxy hóa học là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hoá các hợp chất
độ nhiễm bẫn của nguồn nước, nó biểu thị cả hàm lượng chất hữu cơ không thể
bị oxy hóa bằng vi khuẩn (Huỳnh Quốc Tịnh, 2003) Hàm lượng COD thích hợp cho nuôi thủy sản là 15-30ppm, giới hạn tối đa cho phép là 35ppm (TCVN 5943-1995)
2.2.8.7 Hydrosufua (H 2 S)
Khí Hydrosufua tích tụ dưới nền đáy các thủy vực, trong thủy vực nước lợ, mặn như nước biển và đại dương, nơi có nhiều ion SO42- trong nước, H2S trong nước hình thành thông qua quá trình phản ứng Sulfat hoá với sự tham gia của các vi khuẩn yếm khí (Trương Quốc Phú, 2000) Trong điều kiện nhiệt độ cao và trong thủy vực có nhiều hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh là điều kiện thuận lợi để H2S tạo thành
Đặc tính của khí này có trong nước là làm cho nước có mùi trứng thối Đây là một khí cực độc đối với sinh vật Nồng độ gây độc đối với tôm cá là 0,01-
nuôi trồng thuỷ sản không vượt quá 0,005mg/l
2.2.8.8 Các muối hòa tan trong nước
Trang 22hợp cho nuôi trồng thuỷ sản là 0,5mg/l
-Nitrat là một dạng đạm được thực vật hấp thu dễ dàng nhất và không độc đối với thủy sinh vật Hàm lượng NO3- có trong nước biển dao động từ 0,2-0,4mg/l, trong các thủy vực nước ngọt, hàm lượng của chúng có thể lên đến hàng chục mg/l Nồng độ thích hợp cho các ao nuôi thủy sản là từ 2-3mg/l (Trương Quốc Phú, 2000)
P-PO 4 3-
Lân là yếu tố gới hạn đối với đời sống của thủy sinh thực vật, sức sản xuất của thủy vực năng suất tôm, cá nuôi phụ thuộc rất lớn vào hàm lượng lân trong nước Lân là một yếu tố dinh dưỡng hết sức cần thiết, không có nó thì không có thực vật bậc cao và cả nguyên sinh động vật cũng không thể sống được Ngoài ra, do quá trình trao đổi chất, đặc biệt quá trình trao đổi protein chỉ tiến hành được khi
có sự tham gia của H3PO4 và sự thiếu hụt của nó trong thủy vực còn hạn chế quá trình phân hủy các chất hữu cơ bởi vi sinh vật (Trương Quốc Phú, 2000)
2.2.9 Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
- Theo Beant (1905) trong nghiên cứu về thủy hóa học biển, liên hệ sự phát triển
của thực vật nổi, động vật nổi
- Bojsen – Jensen (1919) là người đầu tiên nêu lên nguyên lý tính năng suất sinh học Nguyên lý lượng Bojsen – Jensen dựa trên các nguyên lý biến động số lượng các quần thể và thành phần của chúng
Trang 23- Barnov (1948), Winberg, Vineska (1956) đã tiến hành nghiên cứu năng suất sinh học của vùng Leningrat, Beloruxia, lưu vực sông Vônga -Wright và cộng tác viên (1954), Haris (1940), Pennak (1949) với các công trình nghiên cứu cho rằng độ bảo hòa oxy trong nước có quan hệ với sự phát triển của phiêu sinh thực vật
- Theo Stecmanm, Nielsien (1951 – 1952) dùng phương pháp đồng vị phóng xạ xác định quang hợp ở vùng biển Đan Mạch
- Đoàn Galathea (1957) đã tiến hành nghiên cứu thủy sinh vật ở các vùng sông phía đông Thái Bình Dương
- M.Rose (1962) là người đầu tiên công bố danh sách động vật và thực vật nổi ở Việt Nam Tổng cộng có 56 loài động vật và 42 loài thực vật phù du, trong đó có
46 loài Copepoda ở vùng biển ven bờ Việt Nam và vịnh Thái Lan
- Ở Liên Xô (1965) Vinberg và Lrachon Vited U.P… nghiên cứu tác dụng của phân bón đến thành phần và số lượng thủy sinh vật làm thức ăn cho cá
- A Shirota (1966) đã công bố danh sách kèm theo hình vẽ 701 loài sinh vật phù
du nước ngọt và 982 loài nước mặn ở ven bờ Huế trở vào
- V I Uipenskaia (1966) nghiên cứu về sinh thái và sinh lý dinh dưỡng của tảo nước ngọt,
- Bogrov – Zen Kevits (1971) đã nghiên cứu động vật phù du và động vật đáy qua đó cho thấy rằng các vùng khác nhau thì sinh khối khác nhau và năng suất khác nhau
- W T Edmondron và G.G Vinberg (1971) Richa rd A.Vollon Weider (1994)
đã nghiên cứu và giới thiệu về những phương pháp tính năng suất sinh học khu vực nước
- A Y, Malia Repkaia và các cộng tác viên (1972) nghiên cứu về quan hệ giữa tảo và trao đổi chất ở cá
- Gôryurôva, Đêmica (1974) đã thống kê các loài tảo độc đối với cá
Trang 24- Becđichepsky Veringin, Eôgan sen (1977) đưa ra biện pháp tăng thức ăn tự nhiên cho cá bằng phân bón (vô cơ hữu cơ và hổn hợp hữu cơ vô cơ)
- I Sutoxuata (1978) đã nghiên cứu về mối quan hệ thức ăn của các sinh vật ở dưới nước - Sui (1980) Wognarovich (1979) Shang và Costapiere (1983), FAO (1983) cho rằng quan hệ giữa thủy sinh vật với hệ thống nuôi gia súc có hiệu quả hơn nuôi cá và gia súc độc lập
2.2.10 Những nghiên cứu của các tác giả trong nước
Trước 1960 các công trình nghiên cứu về thực vật nổi ở Việt Nam có rất ít và hầu như chỉ mang tính phân loại
Từ 1960 đến 1975 ở miền Nam có các công trình nhiên cứu của Phạm Hoàng Hộ, A.Shirota, Nguyễn Thanh Tùng
Phạm Hoàng Hộ (1963, 1964) nghiên cứu tảo thủy vực ruộng lúa, kinh ao tỉnh Cần Thơ, đã đưa ra danh mục 39 loài tảo Trong đó tảo lam có 30 loài, tảo lục 2 loài, tảo họ characeae 7 loài, đa số loài tảo sống ở đáy, sống bám
A.Shirota (1963, 1966) trong chương trình nghiên cứu hải ngoại của Nhật đã công bố một quyển sách về sinh vật nổi nam Việt Nam với 388 taxon loài và dưới loài Trong đó tảo mắt 57 loài, tảo lục 152 loài, tảo lam 29 loài, tảo silic 103 loài, tảo roi lệch 4 loài, tảo vàng 4 loài Tuy nhiên công tác nghiên cứu chưa được thực hiện ở Tây nguyên và không có dẫn chứng xuất xứ của các taxon Trong luận văn bảo vệ tiến sĩ đệ tam cấp của Nguyễn Thanh Tùng (1967, 1970)
đã miêu tả 39 loài tảo sợi thuộc các chi Spirogyra, Zygnema, Zygnemopi,
Mougeotia bắt gặp trong các thủy vực suối, ao và ruộng lúa nam Việt Nam với
những đặc điểm sinh thái của chúng
Năm 1966 ông A.Shirota cùng giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tiến sĩ Hoàng Quốc Trương nghiên cứu thủy sinh vật vùng Rạch Giá, Cần Thơ, Long Xuyên và nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng ở mức phân loại và phân bố
Năm 1968 Vũ Quang Nhung đã nêu chu kỳ bón phân vô cơ cho ao ương cá vào ngày 9, 12, 18 và 21 kể từ sau lần bón đầu tiên Bón như thế mới tạo được chu kỳ phát triển đều đặn của thủy sinh vật ở trong ao
Trang 25Năm 1970 Phạm Văn Trăng với nghiên cứu về việc xử lý tốt dòng nước thải để làm giàu nguồn thức ăn cho cá
Ở miền Bắc Việt Nam, trong khoảng thời gian này các công trình nghiên cứu về thực vật nổi nằm trong các công trình nghiên cứu thủy sinh học các đầm hồ tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam như hồ Tây, hồ Ba Bể, đầm Chính Cuông (từ 1961)
và các hồ chứa nhân tạo (1962) của các cơ quan nghiên cứu như Trạm nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng, Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội Các kết quả nghiên cứu đã đóng góp cho sản xuất thủy sản nước ngọt Bắc Việt Nam Từ đó nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu tiếp tục với thủy sinh học các thủy vực nội địa đã được đưa ra Mặt hạn chế ở thời điểm này về việc định loại thực vật nổi mới dừng lại ở mức độ chi (genus) và hầu hết trong các báo cáo nội bộ ít được công bố
Trong khoảng 3 thập niên gần đây có các công trình nghiên cứu của các nhà tảo học như Nguyễn Văn Tuyên (1980) trong luận án phó tiến sĩ sinh học đã giám định được 856 loài thực vật thuộc 7 ngành tảo nổi trong một số các thủy vực Bắc Việt Nam
Năm 1977– 1980 Trung tâm nghiên cứu cá nước ngọt Đình Bảng đã phối hợp với trường Đại Học Cần Thơ điều tra thủy lý hóa và thủy sinh vật trên sông Tiền sông Hậu
Năm 1979 Nguyễn Viết Trung nghiên cứu và ứng dụng vào việc ương cá bằng nước thải thành phố Hà Nội
Năm 1981 Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Trọng Nho nghiên cứu về năng suất sinh học vực nước và đề ra biện pháp tăng năng suất sinh học thủy vực
Năm 1982 Dương Đức Tiến trong điều tra sinh thái các thủy vực nước ngọt Việt Nam công bố 1403 các taxon loài và dưới loài Trong đó tảo lục 530 loài, tảo silic 388 loài, tảo lam 344 loài, tảo mắt 78 loài, tảo giáp 30 loài, tảo vàng ánh 14 loài, tảo vòng 9 loài, tảo vàng 5 loài và tảo đỏ 4 loài
Trang 26Năm 1985 Phạm Văn Miên và các cộng tác viên nghiên cứu đặc tính thủy sinh vật học của các mặt nước vùng Hậu Giang và đề xuất phương pháp quy hoạch nuôi trồng thủy sản trong báo cáo 60 – 02.
Ở khu vực Bắc Trung Bộ có công trình nghiên cứu thực vật nổi ở hồ Kẻ Gỗ - Hà Tỉnh của Võ Hoành (1983) Ở Đồng Bằng Sông Cữu Long, Phùng Thị Nguyệt Hồng (1992) đã công bố 94 taxon tảo lam, hầu hết thuộc lớp Hormogoneac và là những dạng sợi
Ngoài ra cần phải kể đến những nghiên cứu về phân loại thực vật nổi ở vùng nước các cửa sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy của các tác giả Trương Ngọc An, Hàn Ngọc Lương (1970 – 1971) Kết quả đã giám định được 115 loài Nguyễn Văn Điều (1970 –1971) đã nghiên cứu ở vùng cửa sông Cám (Hải Phòng) Vũ Trung Tạng và Đặng Thị Sy (1978- 1981) nghiên cứu ở các đầm phá phía nam sông Hương Vũ Thị Tám và Nguyễn Trọng Nho (1978 – 1980) nghiên cứu ở đầm Thị Nại Bình Định, đã giám định 135 loài thực vật nổi và ở đầm phá Phú Khánh (1980) đã giám định được 116 loài thực vật nổi Tôn Thất Pháp (1991 – 1993) nghiên cứu ở đầm phá Tam Giang
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Địa điểm và thời gian
3.1.1 Địa điểm thu mẫu
Ở ao cá Sặc rằn có sử dụng chất thải của túi ủ biogas ở Mỹ Phụng - Phong Điền - TP Cần Thơ
Trang 27Thời gian thực hiện từ ngày 15/12/2009 - 30/4/2010
3.2 Phương tiện nghiên cứu
Phương tiện thu và phân tích mẫu:
- Lưới thu phiêu sinh thực vật có mắc lưới 27µm
- Kính hiển vi và buồng đếm Sedgewick Rafter
- Tài liệu định danh A.Shirota (1966), Trần Trường Lưu (1976) và Tảo nước ngọt Việt Nam – phân loại bộ tảo lục (1977)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 283.3.1 Thời gian thu mẫu
Thời gian thu mẫu: 8 giờ sáng
Chu kỳ thu: 3 ngày thu 1 lần, thu 7 lần trong 21 ngày và thu 2 đợt
Điều kiện ao (3 ao thông với nhau)
Phân heo thải ra hằng ngày khoảng 2kg/con
Thức ăn: 2kg/ngày (thức ăn dạng viên)
Số lượng heo nuôi: 5con (mỗi con nặng khoảng 60kg)
Cá nuôi được: 4 tháng
Độ sâu: 1,5m
Trọng lượng: 40g/con (25con/kg)
3.3.2 Phương pháp thu mẫu
- Mẫu định tính: Dùng lưới phiêu sinh có kích thước mắc lưới 27 m Đặt lưới sát mặt nước ở các điểm thu và kéo theo dạng số 8, không xác định lượng nước đi qua Thu càng nhiều điểm càng tốt Lưu trữ mẫu trong lọ nhựa 110ml và cố định bằng formol 4%
- Mẫu định lượng: Thu mẫu nước nhiều nơi trong ao cho vào sô, khuấy đều cho vào can 1 lít và cố định bằng formol 4%
3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu
- Mẫu định tính: Lắc nhẹ lọ mẫu để sinh vật trộn đều trong nước, dùng ống nhỏ giọt lấy 1 – 2 giọt nhỏ lên lame, lấy lamelle đậy lại và quan sát dưới kính hiển vi
Trang 29Dựa vào các tài liệu định danh để xác định thành phần giống loài phiêu sinh thực vật có trong ao
- Mẫu định lượng: Để yên bình chứa trong 24 giờ, sau đó dùng ống hút có bịt lưới phiêu sinh thực vật 27μm để hút bỏ phần trong và chừa lại 100cc (cô đặc) Dùng ống hút nhỏ giọt lấy 1cc mẫu cho vào buồng đếm Kết quả tính theo công thức:
Y = - N*V
được trong quá trình phân tích mẫu
Dùng phần mềm Excell để xử lý số liệu
Chỉ số đa dạng Shannon H‟ được tính theo công thức :
Trong đó: s: Số loài trong mẫu hoặc trong quần thế
n: Số cá thể trong một mẫu của quần thể
n
n Ln n
Trang 30ni: Số cá thể của loài (i) trong một mẫu của quần thể
Bảng 1: Xếp hạng chất lượng nước theo chỉ số đa dạng
Nguồn: Stau et al(1970)
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Các yếu tố thủy hóa trong ao nuôi cá Sặc rằn có sử dụng nước thải biogas ở ấp Mỹ Phụng - Phong Điền - TP Cần Thơ
4.1.1 Nhiệt độ
Sự biến động nhiệt độ của 3 ao được thể hiện qua hình 2
Nhiệt độ
0.000 5.000 10.000
03/01/2010
06/01/2010
09/01/2010
12/01/2010
15/01/20
C), thấp nhất vào ngày 12/01 (31.500C) Ao 3 nhiệt độ cao nhất vào ngày 15/01 (33.500C), thấp vào ngày 29/12 (27.6630C) Sự khác biệt về nhiệt độ trong các ngày thu mẫu là do yếu tố thời tiết thay đổi khác nhau ở các thời điểm khảo sát lúc thu mẫu, tuy nhiên sự chênh lệch về nhiệt độ như vậy là không lớn
Qua các ngày thu mẫu, nhận thấy chỉ tiêu nhiệt độ trong các ao thích hợp cho
sự phát triển của tảo (Tuấn & Phương, 1994)
Trang 324.1.2 Độ trong
Sự biến động độ trong của 3 ao được thể hiện qua hình 3
Độ trong
0.000 5.000 10.000
03/01/2010
06/01/2010
09/01/2010
12/01/2010
15/01/20
4.1.3 Độ pH
Sự biến động pH của 3 ao được thể hiện qua hình 4
Trang 33nước thải Biogas ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
Từ hình 4 cho thấy ao 1 pH cao nhất vào ngày 09/01 (6.993), thấp nhất vào ngày 15/01 (6.850) Ao 2 pH cao nhất vào ngày 09/01 (7.140), thấp nhất vào ngày 15/01 (6.907) Ao 3 pH cao nhất vào ngày 29/12 (7.213), thấp nhất vào ngày 06/01 (6.937)
Theo Vũ Thế Trụ (2003) khoảng pH thích hợp cho phiêu sinh vật, tôm, cá phát triển tốt là 7.2-8.3 Do đó chỉ có pH ở ao số 3 vào ngày 29/12 (7.213) là thích hợp cho tảo phát triển, còn các ao qua các ngày còn lại có pH nhỏ hơn trong khoảng (7.2-8.3) thì không thuận lợi cho tảo phát triển
4.1.4 Oxy hòa tan (DO)
Sự biến động Oxy hòa tan của 3 ao được thể hiện qua hình 5
Trang 34Oxy hòa tan (DO)
Hình 5: DO ở 3 ao nuôi cá Sặc rằn có sử dụng nước thải Biogas
ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
Qua Hình 5 cho thấy ở ao 1 DO cao nhất vào ngày 06/01 (1.710 mg/l) và thấp nhất vào ngày 12/01 (0.470 mg/l), ở ao 2 DO cao nhất vào ngày 06/01 (1.110 mg/l) và thấp nhất vào ngày 29/12/2009 (0.100 mg/l), ở ao 3 DO cao nhất vào ngày 06/01 (1.153 mg/l) và thấp nhất vào ngày 29/12 (0.197 mg/l) DO cao nhất đều tập trung vào ngày 06/01, hàm lượng DO trong ao thấp là do mặt thoáng bị bóng cây che, ngăn cản sự khuếch tán oxy nhờ gió vào ao Bên cạnh đó, lượng phân heo thải xuống ao quá nhiều nên vi khuẩn phải sử dụng oxy trong nước để phân hủy lượng phân heo Theo Vũ Thế Trụ (2003) thì DO tối thiểu để cho tôm
cá phát triển bình thường phải từ 4mg/l trở lên Nên trong các ngày thu mẫu đều dưới tiêu chuẩn chưa thích hợp cho tôm, cá phát triển
Đối với thủy vực nước đứng như ao, thì oxy do quang hợp là chủ yếu (Lê Anh Xuân, 1994), oxy tham gia vào quá trình phân hủy chất hữu cơ, do ta thu mẫu vào buổi sáng khoảng (6-8h), mà trong thời điểm này hàm lượng oxy trong thủy vực thấp Do đó oxy trong thủy vực không cao
Trang 35Hình 6: Hàm lƣợng N-NH 4 + qua các ngày thu mẫu
ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
mg/l), thấp nhất vào ngày 15/01 (0.006 mg/l); ở ao 2 hàm lượng N-NH4+ cao nhất vào ngày 29/12 (0.067 mg/l), thấp nhất vào ngày 15/01 (0.017 mg/l); ở ao 3 hàm lượng N-NH4+ cao nhất vào ngày 15/01 (0.060 mg/l), thấp nhất vào ngày 03/01 (0.019 mg/l) Qua kết quả cho thấy hàm lượng N-NH4+ trong ao 2 cao nhất là do phân heo thải xuống phần lớn là bị phân hủy và tạo nên lượng đạm lớn, còn trong
ao 1 hàm lượng thấp vì phân heo thải xuống ao bị hấp thụ bởi rau muống mọc mé
bờ chiếm gần 1/3 diện tích ao
trong các ao đều thích hợp cho sự phát triển của tảo Theo Ronald, hàm lượng N-NH4+ thích hợp cho tôm cá phát triển thì không vượt quá 0.13 mg/l, do đó hàm lượng N-NH4+ trong các ao đều thích hợp
4.1.6 N-NO 3
Trang 36-Sự biến động N-NO 3 - qua các ngày thu mẫu được thể hiện qua hình 7
ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
cao nhất vào ngày 12/01 (1.209 mg/l) và thấp nhất vào ngày 03/01 (0.914 mg/l), ở ao 2 hàm lượng N-NO3-
cao nhất vào ngày 09/01 (2.606 mg/l) và thấp nhất vào ngày 29/12 (0.458 mg/l), ở ao
cao nhất vào ngày 12/01 (4.365 mg/l) và thấp nhất vào ngày 15/01 (0.978 mg/l) Qua kết quả cho thấy hàm lượng N-NO3- cao nhất ở ao 3, do lượng phân heo được thải xuống ao nhiều tạo nên lượng đạm cao
tảo mắt phát triển
4.1.7 P-PO 4
3-Sự biến động P-PO 4 3- qua các ngày thu mẫu được thể hiện qua hình 8
Trang 37ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
Qua hình 8 cho thấy: Tại ao 1 hàm lượng P-PO43- cao nhất vào ngày 29/12 (12.290mg/l) và thấp nhất vào ngày 06/01 (0.850 mg/l), ở ao 2 hàm lượng P-
PO43- cao nhất vào ngày 29/12 (8.047 mg/l) và thấp nhất vào ngày 15/01 (0.599 mg/l), ao 3 hàm lượng P-PO43- cao nhất vào ngày 15/01 (5.544 mg/l) và thấp nhất vào ngày 06/01 (0.902 mg/l)
Nói chung, hàm lượng lân trong các ao đều khá cao và rất thuận lợi cho tảo phát triển, đặc biệt là tảo mắt (Lam Mỹ Lan, 2000)
4.2 Phiêu sinh thực vật trong các ao
4.2.1 Thành phần giống loài phiêu sinh thực vật
Các ngành tảo phiêu sinh:
Qua phân tích các mẫu phiêu sinh thực vật trong 3 ao và kênh rạch (mẫu đối chứng), khảo sát qua 2 chu kỳ thu mẫu, xác định được 4 ngành tảo:
- Tảo khuê (Bacillariophyta)
- Tảo lục (Chlorophyta)
Trang 38- Tảo mắt (Euglenophyta)
- Tảo lam (Cyanophyta)
4.2.2 Thành phần giống loài phiêu sinh thực vật trong các ao
Qua 2 chu kỳ thu mẫu, khảo sát thành phần giống loài phiêu sinh thực vật trong 3
ao nuôi cá Sặc rằn có kết hợp với nước thải Biogas và kênh rạch (mẫu đối chứng), ta nhận thấy trong 2 chu kỳ thu mẫu đều xuất hiện cả 4 ngành tảo kể trên
Về thành phần giống loài, chu kỳ thứ nhất phong phú hơn chu kỳ thứ hai Chúng được thể hiện qua Bảng 2
Bảng 2: Thành phần giống loài tảo qua hai chu kỳ thu mẫu
ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
4.2.3 Biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật tại mỗi ao và kênh rạch (mẫu đối chứng) theo từng chu kỳ thu mẫu
4.2.3.1 Chu kỳ I
a Kênh rạch (đối chứng)
Sự biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật tại kênh rạch (đối chứng) chu kỳ I, thể hiện qua hình 9
Trang 3909/01/2010
12/01/2010
15/01/20
Số loài
Tảo mắt Tảo lục Tảo khuê Tảo lam
Hình 9: Biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật tại kênh rạch (mẫu đối chứng) chu kỳ I ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
Qua hình 9 ta thấy: Tại kênh rạch (mẫu đối chứng), phong phú nhất là tảo lục có
số loài cao nhất ngày 29/12 (10 loài), thấp nhất 15/01 (5 loài) Kế tiếp là tảo mắt cao nhất ngày 29/12 (8 loài) và thấp nhất 15/01 (3 loài) Tảo khuê số loài cao nhất vào ngày 29/12 (7 loài), thấp nhất 12/01 và 09/01 (3 loài) Thấp nhất là tảo lam, số loài cao nhất 29/12 (6 loài), thấp nhất ngày 03/01, 09/01, 12/01 (3 loài) Nhìn chung tảo có số loài cao nhất tập trung vào ngày 29/12 và thấp nhất ngày 15/01, số loài tăng giảm không đồng đều vì kênh rạch là nơi nước chảy thường xuyên nên số loài thay đổi
b Ao 1
Sự biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật trong ao 1 chu kỳ I, thể hiện qua hình 10
Trang 40Hình 10: Biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật
tại ao 1 chu kỳ I ở ấp Mỹ Phụng, Phong Điền, TP Cần Thơ
Qua hình 10 cho thấy: Ở ao 1 tảo mắt có số loài cao nhất ngày 12/01 (25 loài), thấp nhất 06/01 (17 loài) Tảo lục đứng thứ hai, cao nhất 03/01 (13 loài), thấp nhất 09/01 (4 loài) Kế đến là tảo khuê có số loài cao nhất 03/01 (7 loài) và thấp nhất 06/01 (3 loài) Thấp nhất là tảo lam có số loài cao nhất 29/12 (6 loài), thấp nhất 12/01 và 15/01 (2 loài) Nhìn chung ta thấy số loài tảo mắt chiếm tỉ lệ khá cao trong ao và số loài tảo tăng giảm không đồng đều, đặc biệt là tảo mắt
c Ao 2
Sự biến động thành phần giống loài phiêu sinh thực vật tại ao 2, thể hiện qua hình 11