Đối với các ao A1, A2, A3 có bỗ sung nước thải từ túi ủ biogas thì số lượng cá thể tăng cao, nhưng sự phong phú về loài thì không cao, việc bổ sung nước thải từ túi ủ biogas trong ao nuô
Trang 1Cần thơ, 05/2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGYÊN THIÊN NHIÊN
Cán bộ hướng dẫn:Ths Dương Trí Dũng
Trang 4
LỜI CẢM TẠ
Sau 4 tháng thực hiện luận văn tốt nghiệp, dưới sự giúp đỡ của quý thầy
cô nay em đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Xin trân trọng gởi lời cám ơn đến:
Quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báo trong những năm em ngồi trên ghế nhà trường
Quý thầy cô và các anh chị trong bộ môn MÔI TRƯỜNG & TNTN đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp
Em xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Dương Trí Dũng, thầy Trần Chấn Bắc, thầy Nguyễn Văn Công, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ, đưa ra ý kiến trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các thành viên lớp Khoa học môi trường K32, đã giúp đở cho tôi trong quá trình làm đề tài
Trang 5
TÓM LƯỢC
Đề tài “đặc điểm phiêu sinh động vật trong ao nuôi cá sặc rằn có sử dụng nước thải biogas tại ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.” được thực hiện từ ngày 29/12/2009 - 30/4/2010 nghiên cứu được thực hiện trong ba ao (A1, A2, A3), tiến hành thu mẫu định tính và định lượng kết quả thu được như sau:
Thí nghiệm đã phát hiện được 66 loài gồm 4 nhóm đặc trưng cho thủy vực nước ngọt với Rotatoria có số loài cao nhất với 33 loài chiếm 50%, thấp nhất là Copepoda (5 loài), chiếm 7,6 %., kế đến là Protozoa với 21 loài chiếm 31,8%, và cuối cùng là
cladocera có loài, chiếm10,6 %
Trong đó, ao số một ta thu được 57 loài, ao số hai thu được 52 loài, ao số ba thu được 39 loài
Kết quả định lượng: tại ao số một mật độ cá thể dao động 284900- 359920 ct/m3
.Tại ao
số hai
240570- 302720 ct/m3 Tại ao số một mật độ cá thể dao động 236500- 307560 ct/m3
Đối với các ao( A1, A2, A3) có bỗ sung nước thải từ túi ủ biogas thì số lượng cá thể tăng cao, nhưng sự phong phú về loài thì không cao, việc bổ sung nước thải từ túi ủ biogas trong ao nuôi cá góp phần cung cấp thêm dưỡng chất trong thủy vực làm cho thủy vực gia tăng về số lượng động vật nổi, nhung không đồng nghĩa với việc gia tăng thành phần loài phiêu sinh động vật
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 2-1 Bản đồ tự nhiên ấp Mỹ Phụng Error! Bookmark not defined
Hình 2-2 Một số dạng của Protozoa Error! Bookmark not defined Hình 2-3 Một số dạng của Rotatoria Error! Bookmark not defined Hình 2-4 Hình dạng của Cladocera Error! Bookmark not defined Hình 2-6: Cá sặc rằn Error! Bookmark not defined Hình 3-1 Sơ đồ minh họa điểm thu mẫu phiêu sinh động vật ao cá sặc rằnError! Bookmark
not defined
Hình 4-1 Biến động số lượng loài phiêu sinh động vật ở A2 trong chu kỳ thay nước tại ấp Mỹ
Phụng Xã Mỹ Khánh Huyện Phong Điền Thành Phố Cần ThơError! Bookmark not defined
Hình 4-2 Biến động thành phần loài ở ao ba theo chu kỳ thay nước tại ấp Mỹ Phụng xã Mỹ
Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ Error! Bookmark not defined
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 4-1 Thành phần Zooplankton trong khu vực khảo sátError! Bookmark not defined Bảng 4-2 Biến động số lượng loài phiêu sinh động vật ở ao 1 trong suốt quá trình nuôiError!
Bookmark not defined
Bảng 4-3 Thành phần phiêu sinh động vật ở ao 1 trong chu kỳ thay nước tại ấp Mỹ Phụng xã
Mỹ Khánh huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ Error! Bookmark not defined
Bảng 4-4 Thành phần phiêu sinh động vật ở A2 trong suốt quá trình nuôi tại ấp Mỹ Phụng xã
Mỹ Khánh huyện Phong Điền thành phố Cần Thơ Error! Bookmark not defined
Bảng 4-5 Biến động số lượng loài ở ao ba trong suốt quá trình nuối tại ấp Mỹ Phụng xã Mỹ
Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ Error! Bookmark not defined
Bảng 4-6 Thành phần phiêu sinh động vật ở kênh dẫn nước tại ấp Mỹ Phụng xã Mỹ Khánh
huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ .Error! Bookmark not defined
Bảng 4-7 Biến động số lượng phiêu sinh động vật tại ao một trong suốt quá trình khảo sát tại
ấp Mỹ Phụng xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ Error! Bookmark not
defined
Bảng 4-8 Biến động mật số phiêu sinh động vật tại ao 1 trong chu kỳ thay nước tại ấp Mỹ
Phụng xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ.Error! Bookmark not defined
Bảng 4-9 Số lượng phiêu sinh động vật tại ao hai trong suốt quá trình nuôi tại ấp Mỹ Phụng
xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ .Error! Bookmark not defined
Bảng 4-10 Biến động mật số phiêu sinh động vật ở ao 2 trong chu kỳ thay nước tại ấp Mỹ
Phụng xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ.Error! Bookmark not defined
Bảng 4-11 Số lượng phiêu sinh động vật tại ao ba trong suốt quá trình nuôi tại ấp Mỹ Phụng
xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ .Error! Bookmark not defined
Bảng 4-12 Biến động mật số phiêu sinh động vật ở ao ba trong chu kỳ thay nước tại ấp Mỹ
Phụng xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ.Error! Bookmark not defined
Bảng 4-13 Phiêu sinh động vật trên nguồn nước chu kỳ tuần tại ấp Mỹ Phụng xã Mỹ Khánh
huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ .Error! Bookmark not defined
Bảng 4-14: Số lượng phiêu sinh động vật ( ct/m3 ) trên nguồn nước chu kỳ ngày tại ấp Mỹ
Phụng xã Mỹ Khánh huyện Phong Điền Thành Phố Cần Thơ.Error! Bookmark not defined
Trang 8CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành thủy sản đồng bằng sông Cửu Long ngày càng phát triển, vì thế nhu cầu thức ăn cho nuôi trồng thủy sản ngày càng tăng cao Các loại thức ăn công nghiệp đem lai hiệu quả nhanh chóng lại ít gây ô nhiểm cho môi trường nước nhưng giá thành cao khiến người nuôi thủy sản quảng canh ít khi sử dụng chúng
Việc sử dụng thức ăn tự nhiên đã có từ lâu đời nhưng ít được chú ý vì đòi hỏi kỹ thuật và khó đạt năng suất cao Nguồn thức ăn tự nhên cho thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long rất phong phú bao gồm tảo, động vật nổi, độn vật đáy
Ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền là vùng nông nghiệp thuộc thành phố Cần Thơ, các loại hình canh tác ở đây tuy rất đa dạng, nhưng chưa được phát triển ổn định và lâu dài,do phần lớn nông hộ còn bị hạn chế bởi qui mô diện tích, kỹ thuật áp dụng trong canh tác, vốn đầu tư cho sản xuất Chính vì điều này đã hạn chế sự phát triển kinh tế nông hộ Do đó để nâng cao đời sống nông hộ và người dân đia phương thì phải dựa vào thế mạnh của địa phương, và nguồn tài nguyên sắn có để mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân Góp phần vào sự phát triển nông thôn bền vững, ngày 27-3-2009, tại vườn du lịch Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, TP.Cần Thơ đã diễn ra Hội thảo Phát triển nông thôn dựa trên cơ chế sản xuất sạch do Trung tâm Nghiên cứu quốc tế Nhật Bản về Khoa học nông nghiệp (JIRCAS) và Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) phối hợp tổ chức Dự án báo cáo nghiên cứu tính khả thi của mô hình phát triển nông thôn dựa trên cơ chế phát triển sạch ở đồng bằng Sông Cửu Long Theo dự án, trong hầu hết các hệ thống nuôi kết hợp thì mô hình VACB (vườn- ao- chuồng- biogas) là mô hình có tính bền vững nhất và đáp ứng tiêu chí phát triển sạch hiện đang được áp dụng rất rộng rãi trong
cả nước vì với hệ thống sản xuất này ta có thể tái sử dụng được các chất thải
Để góp phần năng cao sản lượng ngành nuôi trồng thủy sản, thì việc tiến hành khảo sát yếu tố môi trường,cung cấp thức ăn đủ chất và lượng đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cá nuôi là việc làm cần thiết nhưng việc cung cấp các dưỡng chất phần nào tác động đến môi trường bên ngoài do đó việc đánh giá môi trường nuôi là một trong những nhiệm vụ ngành môi trường Trong các yếu tố đánh giá môi trường đó, thì phiêu sinh động vật cũng có vai trò quan trọng vì chúng vừa tham gia vào chuổi thức ăn tự nhiên, nó vừa là sinh vật chỉ thị cho môi trường nước Hơn nữa, trong số các loài đó cũng có phiêu sinh động vật gây hại cho cá, ảnh hưởng tới năng suất nuôi trồng, do đó các biện pháp cải tạo môi trường, chọn đúng đối tượng nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất là yêu cầu của ngành thủy sản
Trang 9Với những yêu cầu đó thì đề tài “Đặc điểm phiêu sinh động vật trong ao
nuôi cá sặc rằn có sử dụng biogas tại ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm mục tiêu:Đánh giá môi trường
nước trong quá trình nuôi cá có sử dụng nước thải từ túi ủ biogas
Để đạt được mục tiêu trên một số nội dung sau được thực hiện:
Xác định sự biến động thành phần loài phiêu sinh động vật trong quá trình nuôi cá sặc rằn có sử dụng chất thải từ túi ủ Biogas
Xác định sự biến động số lượng phiêu sinh động vật trong quá trình nuôi cá sặc rằn có sử dụng chất thải Biogas
Trang 10CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về ấp Mỹ Phụng
Ấp Mỹ Phụng thuộc xã Mỹ Khánh - huyện Phong Điền - thành phố Cần Thơ, được tách ra từ ấp Mỹ Long vào đầu năm 2008
Vị trí địa lý của ấp Mỹ Phụng (Hình 2-1):
Phía Đông giáp Rạch Sắn
Phía Tây giáp Rạch Cùng
Phía Nam giáp Kinh Sáu Sáng
Phía Bắc giáp Rạch Ngã Cái (Giai Xuân)
Hình 2-1 Bản đồ tự nhiên ấp Mỹ Phụng
Theo thống kê của UBND xã Mỹ Khánh (năm 2008), Ấp Mỹ Phụng có tổng diện tích đất là 160 ha Trong đó:
Đất vườn: 113 ha chiếm 71% tổng diện tích đất
Đất ruộng: 33 ha chiếm 21% tổng diện tích đất
Đất sử dụng cho các mục đích khác: 14 ha chiếm 8% tổng diện tích đất
Dân số của ấp Mỹ Phụng là 1.137 người gồm 272 hộ Trong đó:
S
Trang 11Hộ vừa có ruộng vừa có vườn: 53 hộ chiếm 19% tổng số hộ
Hộ chỉ có vườn: 201 hộ chiếm 74% tổng số hộ
Hộ không có đất sản xuất: 18 hộ chiếm 7% tổng số hộ
Nông hộ sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và dịch vụ buôn bán nhỏ Hiện tại ấp có một trường mẫu giáo với số lượng các cháu theo học bình quân từ 14 đến 20 em Toàn ấp chia thành 07 tổ nhân dân tự quản Theo tiêu chí mới có 32 hộ giàu chiếm 12%, 205 hộ khá chiếm 75%, 13 hộ nghèo chiếm 5%,
22 hộ cận nghèo chiếm 8% trong tổng số hộ dân của ấp (Báo cáo của UBMTTQVN
Theo phương thức sống và sự phân chia theo tầng nước, động vật nổi có thể chia thành các dạng sau:
- Pleuston: là những sinh vật nổi, sống ở màng nước (phần giới hạn giữa nước và không khí)
- Neuston: là những sinh vật nổi có kích thước hiển vi, sống ở màng nước (phần giới hạn giữa nước và không khí Trong nhóm này, nó được chia thành 2 loại:
+ Epineuston: có phần cơ thể tiếp xúc với không khí nhiều hơn tiếp xúc với nước
+ Hyponeuston: có phần cơ thể tiếp xúc với nước nhiều hơn tiếp xúc với không khí
- Plankton: là những sinh vật nổi sống trong tầng nước, không có khả năng bơi ngược dòng nước, di động thụ động là chủ yếu
Dựa vào tập tính sống, có thể chia động vật nổi thành 2 nhóm sau:
- Sinh vật nổi hoàn toàn (Holoplankton): là những sinh vật trong vòng đời của nó hoàn toàn sống nổi trong nước chỉ trừ giai đoạn trứng nghỉ (cyst) là ở tầng đáy như ở trùng bánh xe, giáp xác râu ngành, chân chèo và một số dạng của nguyên sinh động vật
Trang 12- Sinh vật nổi không hoàn toàn (Mesoplankton): là những sinh vật chỉ sống nổi trong một giai đoạn nào của vòng đời như là khi ở giai đoạn ấu trùng, phần lớn cuộc đời còn lại sống đáy hay sống bám như thuỷ tức, nhuyễn thể,…
Dựa vào sự phân bố theo độ sâu (chủ yếu là sinh vật biển), sinh vật nổi cũng được chia thành 2 nhóm chủ yếu:
- Sinh vật nổi tầng mặt (Epiplankton): gồm những sinh vật ở độ sâu từ 0 –
200m Đây là vùng có sự xâm nhập của ánh sáng, có thực vật và có quá trình tự dưỡng
- Sinh vật nổi ở tầng sâu (Nyctoplankton): gồm những sinh vật sống ở độ sâu
hơn 200 m Nơi này không có ánh sáng xuyên thấu nên không có thực vật phân bố
2.2.2 Một số nhóm phiêu sinh động vật chính trong thủy vực
a Protozoa (nguyên sinh động vật)
Protozoa là những động vật đơn bào, chúng xuất hiện sớm nhất trong giới động vật có thể sống tự do hay ký sinh Tuy cơ thể có cấu tạo một tế bào nhưng sự phân hóa trong tế bào khá phức tạp Ngoài thành phần cơ bản là nhân, tế bào chất của chúng còn có cơ quan đảm nhận chức năng sinh lý như tiêm mao dùng để di chuyển, bắt mồi, không bào co bóp để đảm nhận nhiệm vụ hô hấp, bài tiết, không bào tiêu hóa dùng tiêu hóa thức ăn Do đó, tuy chỉ có cấu tạo một tế bào nhưng chúng có chức năng như một cơ thể sống
Hình 2-2 Một số dạng của Protozoa (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)
Trang 13Chúng phân bố rộng khắp môi trường nước mặn và ngọt, sống đơn độc hoặc thành tập đoàn, hình thái rất đa dạng như hình cầu, que, đế giày,… Kích thước cơ thể khoảng 0,005 – 5 µm, đa số có chiều dài trong khoảng 30 – 300 µm Có thể di chuyển bằng tơ roi, chân giả hay nhờ sự co giãn của cơ thể
Có nhiều hình thức dinh dưỡng của protozoa, chủ yếu ở các dạng: thực bào, hấp thumuối dinh dưỡng hòa tan và dinh dưỡng hỗn hợp Protozoa có thể lấy thức
ăn như tảo, vi khuẩn, kể cả protozoa nhỏ khác, động vật đa bào nhỏ, mảnh vụn hữu cơ,…
Hầu hết protozoa là sinh vật hiếu khí, chúng có khả năng hấp thụ oxy hòa tan
trong môi trường qua màng tế bào,… Chúng phát triển tốt ở vùng oxy là 10% bão hòa Một vài loài khác sống ký sinh ở nhiều vùng nước thải, vùng có hữu cơ, nơi nuớc tĩnh hay đáy hồ trong lúc thiếu oxy nhưng khả năng này chỉ tạm thời Năng lượng hoạt động của chúng lấy từ sự phân giải của quá trình lên men như nấm, sản phẩm thải cuối cùng chủ yếu là CO2, nước và các hợp chất có chứa nitơ
b Rotatoria (lớp trùng bánh xe)
Rotatoria được chia làm 2 nhóm dựa vào nguồn dinh dưỡng: nhóm ăn thực vật sống bám và sống tự do là những sinh vật ăn lọc, thụ động; nhóm bắt mồi chủ động Thức ăn của chúng là sinh vật đa bào nhỏ, các phiêu sinh hay chất lơ lững
Nhóm sống tự do ăn xác chết của copepoda, cladocera và cả giun ít tơ Các loài này
có thể sống trong môi trường kỵ khí hay hiếu khí
Hình 2-3 Một số dạng của Rotatoria (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)
Sự phát triển và phân bố: Rotatoria phát triển nhanh trong vài giờ sau khi
sinh và sau đó chậm dần Con trưởng thành lớn gấp 3 – 10 lần cá thể mới nở Thời gian sống của chúng biến động theo loài nhưng chỉ trong vài ngày Sự phân bố rotatoria liên quan đến môi trường sống, nhiệt độ, sinh vật chung quanh, dòng chảy,… và đặc biệt là pH có liên quan mật thiết đến thành phần loài của trùng bánh
xe Thông thường nước có pH > 7 có ít loài nhưng số lượng của chúng cao Khi môi
Trang 14trường chuyển sang acid thì nhiều loài xuất hiện nhưng số lượng không cao Đôi khi cũng có loài phân bố ở cả hai môi trường
c Cladocera (giáp xác râu ngành)
Đây là nhóm sinh vật phân bố rộng trong tất cả các loại hình thủy vực, dễ dàng quan sát và phân loại nên là đối tượng thích hợp để nghiên cứu của các nhà thủy sinh học
Cladocera phân bố rộng ở vùng nhiệt đới, ôn đới và các thủy vực nước ngọt,
nước lợ Đặc biệt trong thủy vực nước ngọt, cladocera chiếm thành phần chủ yếu trong quần xã động vật nổi
Hình 2-4 Hình dạng của Cladocera (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)
Thức ăn chính của chúng là tảo, nguyên sinh động vật, chất hữu cơ đang phân hủy Phần thức ăn có kích cỡ thích hợp sẽ được đưa vào ống tiêu hóa mà không cần có sự lựa chọn nào Thức ăn có kích thước lớn hơn sẽ bị đẩy ra ngoài
Cơ thể có phần râu phát triển mạnh Đó là râu A2, râu này vận động làm con
vật di chuyển Ngoài ra, cladocera còn có một đôi mắt rất lớn, một số loài có sắc
điểm
Cladocera là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá kinh tế
d Copepoda (chân mái chèo)
Phân bố rộng từ biển khơi đến nội địa, cả khe nước ở núi cao và mạch nước ngầm,
là thức ăn của cá non và là thành phần thức ăn cơ bản của cá nổi Kích thước cơ thể
và hình dạng khá lớn, dài khoảng 1 – 4 mm, có loài dài đến 5,5 mm Sinh sản hữu tính
Dinh dưỡng: thường ăn tảo, các chất lơ lửng và các sinh vật nhỏ khác như:
rotatoria, protozoa Hiện tượng ăn lẫn nhau cũng phổ biến ở giai đoạn chưa thành
thục
Trang 15Hình 2-5 Hình dạng của Copepoda (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)
Phát triển và phân bố: phát triển qua nhiều giai đoạn, trứng nở qua nhiều giai
đoạn ấu trùng, sau đó đến giai đoạn trưởng thành Copepoda chỉ sống được trong 3
môi trường: nổi, ven bờ và đáy (Nguyễn Ngọc Cúc Phương, 2009 trích dẫn Đặng Ngọc Thanh, 2002)
Trong chu kỳ sống của Copepoda thường có dạng hình thái là: trứng, 6 giai đoạn ấu trùng nauplius, 5 giai đoạn copepodid và trưởng thành.Trứng của Copepodanở thành ấu trùng nhỏ, hoạt động gọi là nauplius Chúng có 3 đôi bộ phụ
để sau đó biến thành râu A1, A2 và hàm dưới Khi lột xác sang giai đoạn 2, chúng chỉ có hàm trên Có 4 giai đoạn ấu trùng và 5 giai đoạn tiền trưởng thành khi biến thành con trưởng thành có khả năng sinh sản Sau mỗi lần lột xác, con vật lớn hơn
và dài hơn đồng thời có thêm bộ phụ
2.3 Vai trò của phiêu sinh động vật
2.3.1 Thành phần của mạng thức ăn, thức ăn tự nhiên trong thủy vực
Mối quan hệ chủ yếu của các sinh vật trong thủy vực là quan hệ thức ăn, thông qua chu trình vật chất
2.3.2 Thành phần trong năng suất sinh học của thuỷ vực
Theo quá trình chuyển hóa thì sinh vật trước trong chuỗi thức ăn sẽ là nguồn cung cấp năng lượng cho sinh vật bậc kế tiếp
Theo sơ đồ, sinh vật đứng trước là nguồn thức ăn cho sinh vật phía sau Nếu mất đi một mắc xích thì chu trình không hoàn chỉnh và gây tình trạng mất cân bằng sinh thái
nổi lớn
Cá ăn động vật nổi Cá dữ động vật nổi
Trang 162.3.3 Lọc sạch nước của thuỷ vực
Do đặc tính dinh dưỡng của từng nhóm sinh vật trong quần xã mà tính chất này được xem là ưu việt nhất của thủy sinh vật Quá trình lọc sạch được thể hiện ở các dạng sau:
Làm giảm nguồn hữu cơ gây ô nhiễm môi trường: đặc tính ăn lọc của các nhóm sinh vật không xương thủy sinh như protozoa, rotatoria và cladocera Ngoài
ra, mollusca cũng sẽ làm giảm đi nguồn vật chất hữu cơ Sự phân giải vật chất hữu
cơ trong môi trường nước thành vật chất vô cơ của vi sinh vật cũng góp phần quan trọng trong việc làm sạch môi trường
Tích lũy chất độc, kim loại nặng: khả năng sinh vật có thể tích lũy một lượng giới hạn chất độc trong thời gian ngắn, nhưng trong quá trình sinh trưởng và phát triển do sự hấp thu lâu dài nên cơ thể có khả năng tích tụ một chất độc đáng kể cao gấp hàng chục hay hàng trăm lần Quá trình này đã chuyển hóa chất độc từ môi trường sang cơ thể sinh vật khiến nguồn nước được sạch hơn
2.3.4 Sinh vật chỉ thị
Sự tồn tại và phát triển của một nhóm sinh vật trong một môi trường nào đó
là kết quả của quá trình thích nghi Sự phát triển của một nhóm sinh vật nào đó sẽ biểu hiện được tính chất môi trường ở đó thích hợp cho sự phát triển của quần xã này Thí dụ môi trường giàu chất hữu cơ sẽ là môi trường thuận lợi cho nhóm sinh vật ăn lọc như protozoa, rotatoria hay cladocera Tùy theo mức độ ô nhiễm sẽ có các nhóm sinh vật thích nghi phát triển
Mặt khác sự không thích ứng hay mất đi một nhóm sinh vật nào đó trong khu
hệ cũng là một dấu hiệu cho thấy khuynh hướng diễn biến của môi trường Thí dụ trong một thủy vực có hàm lượng độc tố nông dược cao sẽ ức chế quá trình phát triển và có thể tiêu diệt các nhóm sinh vật như rotatoria, cladocera Khi môi trường được phục hồi lại, hàm lượng nông dược giảm đi thì nhóm sinh vật rotatoria phát triển nhanh chóng và trở lại tình trạng ban đầu Nếu môi trường hoàn toàn vô độc thì nhóm cladocera xuất hiện trở lại (Dương Trí Dũng, 2009)
2.4 Biogas
- Biogas (còn gọi là khí đầm lầy) là một loại khí đốt sinh học được tạo ra khi
phân hủy yếm khí phân thải ra của gia súc Nguyên liệu cho quá trình sản xuất biogas là phân người, phân gia súc, bùn, và các phế phẩm nông nghiệp Các chất thải của gia súc được cho vào hầm kín (hay túi ủ), ở đó các vi sinh vật sẽ phân hủy chúng thành các chất mùn và khí, khí này được thu lại qua một hệ thống đường dẫn
Trang 17tới lò để đốt Mặt dù một số chất thải có thể sử dụng trực tiếp làm phân bón hoặc làm chất đốt nhưng có thể sử dụng làm biogas mà vẫn giữ được phần lớn dưỡng chất có trong chất thãi để sản xuất nông nghiệp (Lê Hoàng Viêt, 2004).Các chất thải
ra sau quá trình phân hủy trong hầm kín (hay túi ủ) gần như sạch và có thể thải ra môi trường, đặc biệt nước thải của hệ thống Biogas có thể dùng tưới cho cây trồng, nuôi cá Biogas thường được sử dụng trong các hộ gia đình để nấu nướng, thấp sáng,sưởi ấm, với quy mô lớn hơn có thể sử dụng để phát điện
Hiện nay, một số huyện ở Cần thơ, hầu hết các nhà chăn nuôi đều có lắp đặt
hệ thống Biogas và canh tác theo mô hình hình VACB (Vườn – Ao – Chuồng – Biogas) (Lê Hoàng Viêt, 2004)
- Mục đích lợi ích của cộng nghệ sản xuất khí sinh học (biogas)
+ Tạo nguồn năng lượng tại chỗ, có thể tái tạo được và phục vụ cho vùng nông thôn sâu thay thế một phần cho việc sử dụng năng lượng hóa thạch đang ngày càng khan hiếm
Cố định các chất thải: các phản ứng sinh hóa diển ra trong quá trình yếm khí
đã cố định khoảng 30-60% chất hữu cơ trong chất thải, và tạo nên bùn ổn định Bùn này thích hợp cho làm phân bón và cải tạ đất, không hoặc ít gây ảnh hưởng cho môi trường (Lê Hoàng Viêt, 2004)
+ Vô hiệu quá một số mần bệnh: do trong suốt quá trình phân hủy không có oxy trong vòng 15-50 ngày, những điều kiện này góp phần vô hiệu hóa các vi khuẩn, vi rút, nguyên sinh động vật và các kí sinh trùng gây bệnh (Lê Hoàng Viêt, 2004)
Trang 18Hình 2-6: Cá sặc rằn
2.5.1 Phân bố
- Cá sặc rằn phân bố tại Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và được di giống sang các nước Mã Lai, Indonesia, Bangladesh Cá sặc rằn phân bố rộng rãi trong
nhiều thủy vực như kênh rạch, ruộng lúa, ao hồ
- Tại Việt Nam, trong vùng châu thổ sông Mêkông, cá phân bố tập trung trong các vùng trũng ngập nước quanh năm, sinh sản tự nhiên trong ruộng, kinh mương nơi chúng cư trú, đặc biệt là có nhiều cây cỏ thủy sinh với nhiều chất hữu cơ Hai tỉnh Cà Mau và Kiên Giang là vùng phân bố tập trung và có sản lượng cao hiện nay
ở vùng ĐBSCL (http://www.oceansatlas.org )
2.5.2 Đặc điểm sinh trưởng
- Cá sặc rằn có thể sống được ở những nơi nước lợ, có hàm lượng chất hữu cơ cao, lượng oxy hòa tan thấp, pH thấp (pH dao động 4-4,5), chúng có thể sống bình thường ở nhiệt độ thấp 10-12 oC Cá sặc rằn sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 25-30 oC và
Cá cũng sử dụng tốt những loại thức ăn do người cung cấp như: bột ngũ cốc các
loại, cám tấm, động vật và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả trứng của chúng
Trang 192.5.4 Đặc điểm sinh sản
Cá sặc rằn thành thục lần đầu sau 7 tháng tuổi Khi thành thục, có thể phân biệt dễ dàng cá đực, cá cái bằng các biểu hiện bên ngoài của dấu hiệu sinh dục phụ Khi thành thục, ở cá đực phần tia mềm vây lưng kéo dài tới hoặc vượt khỏi gốc vi đuôi, còn cá cái vi này rất ngắn và không bao giờ chạm tới gốc vi đuôi Ngoài chỉ tiêu căn bản này, cũng có thể phân biệt cá đực với các sọc ngang đậm nét chạy từ lưng xuống bụng rõ hơn cá cái và miệng của nó cũng lớn hơn
- Vào khoảng thời điểm giao mùa (khô sang mưa) là sự chuyển biến rất nhanh của tuyến sinh dục Cá sinh sản trong suốt mùa mưa, nên trong đàn luôn xuất
hiện những cá thể có mức độ thành thục khác nhau
- Khi sinh sản cá sặc rằn bắt cặp và tìm đến vùng nước ven bờ, nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh để đẻ Hoạt động sinh sản bắt đầu với việc làm tổ bằng bọt của cá đực, sau đó cá cái đẻ trứng ra ngoài, trứng được thụ tinh và cũng chính cá đực dùng
miệng gom trứng lại rồi đặt vào tổ bọt
Kể từ khi trứng thụ tinh, trong điều kiện nhiệt độ nước 27 – 29 oC cá nở sau
20 – 23 giờ Trong suốt thời gian này kể từ khi trứng đẻ tới nở và dinh dưỡng bằng noãn hoàng, cá đực thường xuyên bơi lội quanh tổ để bảo vệ và dùng vây quạt nước
cung cấp oxy cho trứng (Nguyễn Mạnh Hà,2003)
2.6 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu
Nói đến vai trò của Zooplankton trong một loại hình thủy vực nào đó là nói đến các mối quan hệ trong hệ thống thuỷ vực đó Nếu một yếu tố nào đó trong hệ sinh thái này thay đổi sẽ dẫn đến hàng loạt các thay đổi tiếp theo để tạo nên một cân bằng mới Chính vì thế đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành:
Năm 1966, Akihiko Shirota cùng giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tiến sĩ Hoàng Quốc Trường nghiên cứu thủy sinh vật vùng Rạch Giá, Cần Thơ, Long Xuyên và nhiều nơi khác ở ĐBSCL nhưng chỉ ở mức định danh, phân loại và vẽ hình dạng của chúng
Năm 1974, Đặng Ngọc Thanh đã nghiên cứu về đời sống của các thủy sinh vật sống trong các thủy vực, các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến thủy sinh vật, qui luật phân bố tổng quát của chúng trong thủy quyển và năng suất sinh học của thủy vực Sau cùng là đề cập đến vấn đề khai thác và bảo vệ nguồn lợi sinh vật thủy vực
và vấn đề nhiễm bẩn và chống nhiễm bẩn các nguồn nước tự nhiên
Năm 1980, Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên đã mô tả hình thái, phân loại và xác định sự phân bố của động vật không xương sống nước ngọt
Trang 20Năm 1981, Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Trọng Nho đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh học vực nước, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tính năng suất sinh học của vực nước và đề ra các biện pháp tăng năng suất sinh học thủy vực
1985, Phạm Văn Miên cùng các cộng tác viên nghiên cứu đặc tính thủy sinh học của các mặt nước vùng Hậu Giang và đề xuất phương pháp qui hoạch nuôi trồng thủy sản trong báo cáo 60-02
Năm 2002, Đặng Ngọc Thanh và cộng tác viên đã xuất bản công trình nghiên cứu “Thủy sinh học các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam” Nội dung nói về điều kiện môi trường sống ở các thủy vực nước ngọt, sự phân bố địa lý, đặc trưng sinh thái thủy vực và đa dạng sinh học, các phương pháp sinh học được phổ biến trong giám sát môi trường và đề ra ý kiến về khai thác và bảo vệ đa dạng nguồn lợi sinh vật trong các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.2.1.Thí nghiệm và thu mẫu
Mẫu phiêu sinh động vật được thu trong ba ao nuôi cá sặc rằn của hộ Lê Văn Năm tổ 44, ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Đây là một hộ nuôi cá trong mô hình VACB với qui mô như sau:
Một chuồng heo với 4 con heo lớn 45kg, 1 con nái trọng lượng 130kg, 10 con heo con, trọng lượng 1,2 kg/con
Ba ao nuôi cá với qui mô như sau:
Diện tích ao thứ nhất là 70 m2, nuôi ghép cá sặc rằn với cá rô phi tỉ lệ là 95%
và 5%, mật độ 20 con/ m2 Lúc đầu ao được cung cấp phân heo trực tiếp làm thức
ăn cho cá, nước thải biogas được cung cấp sau khi lấp túi đượC 1 tuần, túi Ủ biogas được lấp vào ngày 24/11
Ao thứ hai có diện tích là 80 m2, mật độ cá nuôi là 20 con/ m2, ao được sử dụng nuôi cá sặc rằn xung quanh ao có nhiều cây, ao sử dụng nước thải từ túi ủ biogas và còn sử dụng nước thải sinh hoạt của gia đình Ao cũng sử dụng một lượng phân heo trực tiếp như ao môt do hai ao nối thông nhau qua ống dẫn nước
Ao thứ ba có diện tích là 70 m2, mật độ cá thả nuôi là 20 con/ m2, và ao nuôi
cá sặc rằn, xung quanh ao có nhiều cây xanh, ao được thông với ao hai, ao có sử
Trang 22lượng nhỏ phân heo trực tiếp Trong đợt một của chu kỳ thay nước thì nước thải biogas bỗ sung cho ao thông qua ao số hai do hai ao thông với nhau
Khi lắp túi ủ biogas 7 ngày thì các ao được cung cấp nước thải túi ủ biogas với chu kì 3 ngày/lần Lượng nước thải cho vào ao là 124 lít/ ngày Trong đợt một của chu kỳ thay nước thì việc cung cấp biogas mỗi ngày giống như ao một, trong đợt hai của chu kỳ thay nước thì nước biogas được cho vào ao ngày 12/3 và với chu
kỳ là ba ngày lần
Mực nước trong ao dao động trong khoảng 1,2 – 1,5 m
Sơ đồ ao nuôi cá và vị trí thu mẫu
Hình 3-1 Sơ đồ minh họa điểm thu mẫu phiêu sinh động vật ao cá sặc rằn
- A1-A9: là các điểm thu mẫu (thu nhiều điểm trong ao để đặt trưng, đại diện được cho ao, nhưng sẽ trộn chung thành một mẫu tại mỗi ao)
- V: vườn cây ăn trái
A5
A6
A9
A 8 A7
A1
A2
A3
Trang 23- N: nhà ở
- L: lộ giới
3.2.2 Thời gian thu mẫu
- Đề tài được thực hiện từ ngày 29/12/2009 - 30/4/2010 với hai chu kỳ thu mẫu được sắp xếp như sau
a Thu mẫu theo chu kỳ thay nước
Mẫu được thu vào ngày bắt đầu thay nước và sau đó cách 2 ngày thu mẫu một lần cho đến đợt thay nước kế tiếp
Đợt 1: Từ ngày 11/01/2010 đến 19/01/2010
Đợt 1: Từ ngày 11/03/2010 đến 19/03/2010
b Thu mẫu định kỳ trong suốt quá trình nuôi
Trong suốt quá trình nuôi cá, mẫu phiêu sinh động vật thu định kỳ một tuần một lần vào các ngày: lần 1 vào ngày 06/01, lần 2 vào ngày 13/01; lần 3 vào ngày 20/01; lần 4 vào ngày 27/01; lần 5 vào ngày 03/02; lần 6 vào ngày 10/02; lần 7 vào ngày 17/02; lần 8 vào ngày 24/02; lần 9 vào ngày 03/03; lần 10 vào ngày 10/03; lần
11 vào ngày 17/03; lần 12 vào ngày 24/03
3.2.3 Phương pháp thu mẫu
Tại mỗi điểm nghiên cứu động vật phiêu sinh, tiến hành thu hai mẫu, một mẫu định lượng và một mẫu định tính
Thời gian thu mẫu: từ 6 giờ đến 8 giờ,
Mẫu định tính
Dùng lưới thu phiêu sinh động vật có mắc lưới 59µm đặt miệng lưới sâu xuống mặt nước mặt nước từ 15-20 cm rồi kéo theo dạng số 8 hoặc zichzac, thu dọc theo bờ ao với thể tích nước qua miệng lưới càng nhiều càng tốt Sau đó cho vào chai nhựa 110 ml và cố định mẫu bằng formol sao cho nồng độ là 2-4%
Lắc đều và đánh dấu mẫu Ghi nhật kí thu mẫu
Mẫu định lượng
- Lấy 100L nước tại điểm thu mẫu đổ qua lưới vớt động vật phiêu sinh có mắt lưới có kích thước là 59 µm để lọc mẫu, sau đó chuyển mẫu qua lọ đựng mẫu
Kế đó cố định ngay tại hiện trường bằng Formalin 2-4 %, lắc đều và đánh dấu mẫu
- Sau khi thu mẫu xong phải ghi nhật ký thực địa