1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc Điểm Động Vật Phiêu Sinh Trong Ao Nuôi Cá Tai Tượng Thâm Canh Ở Mỹ Phụng - Phong Điền

88 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung khảo sát là xác định thành phần các loài phiêu sinh động vật và khảo sát sự biến động về số lượng các nhóm phiêu sinh động vật trong quá trình nuôi.. Vì vậy, đề tài “Đặc điểm qu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ĐẶC ĐIỂM ĐỘNG VẬT PHIÊU SINH TRONG

AO NUÔI CÁ TAI TƯỢNG THÂM CANH

Ở MỸ PHỤNG - PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cán bộ hướng dẫn ThS DƯƠNG TRÍ DŨNG

Cần Thơ – 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ĐẶC ĐIỂM ĐỘNG VẬT PHIÊU SINH TRONG

AO NUÔI CÁ TAI TƯỢNG THÂM CANH

Ở MỸ PHỤNG - PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Cán bộ hướng dẫn ThS DƯƠNG TRÍ DŨNG

Trang 3

Luận văn kèm theo đây, với tựa đề là “Đặc điểm quần xã động vật phiêu sinh trong

ao nuôi cá Tai tượng thâm canh ở Mỹ Phụng, Phong Điền, thành phố Cần Thơ”, do

Ngô Mỹ Hồng thực hiện và báo cáo đã được hội đồng chấm luận văn thông qua

Cán bộ hướng dẫn Cán bộ phản biện Cán bộ phản biện

ThS Dương Trí Dũng PGS.TS Trương Thị Nga KS Trần Sỹ Nam

Trang 4

Xin chân thành cám ơn:

- Thầy Dương Trí Dũng cùng quý thầy cô trong bộ môn đã tận tình hướng dẫn, giúp

đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu

- Gia đình chú Trần Văn Hón đã tạo điều kiện thuận lợi cho con làm việc tại gia đình

Xin trân trọng ghi nhớ những ân tình của các anh chị và tập thể lớp Khoa học Môi trường K32 đã luôn giúp đỡ tôi trong thời gian làm đề tài

Sinh viên thực hiện

Ngô Mỹ Hồng

Trang 5

TÓM LƯỢC

Đề tài “Đặc điểm quần xã động vật phiêu sinh trong ao nuôi cá Tai tượng thâm canh

ở Mỹ Phụng, Phong Điền, thành phố Cần Thơ” được thực hiện tại ấp Mỹ Phụng, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ Nội dung khảo sát là xác định thành phần các loài phiêu sinh động vật và khảo sát sự biến động về số lượng các nhóm phiêu sinh động vật trong quá trình nuôi Kết quả đã xác định được 47 loài phiêu sinh động vật gồm bốn nhóm phiêu sinh động vật Protozoa, Rotatoria, Cladocera và Copepoda Mật độ phiêu sinh động vật dao động từ 98.563 – 8.560.200 ct/m3

Trong đó, chiếm số loài và số lượng nhiều nhất là nhóm Rotatoria trong tất cả các đợt khảo sát, kế đến là Cladocera, Copepoda và Protozoa Số lượng động vật nổi trong ao thấp vào đầu chu kỳ thay nước và cao vào những ngày cuối chu kỳ thay

nước Sự ưu thế của Filinia longiseta thể hiện sự ô nhiễm hữu cơ của ao nuôi cá

thường là vào ngày thứ 14 trong một chu kỳ thay nước Để hạn chế gây ô nhiễm nguồn nước, cần phải thay nước ½ tháng/lần với 20 – 30% lượng nước trong ao, đồng thời sử dụng thức ăn công nghiệp với số lượng vừa đủ để hạn chế thức ăn thừa lắng đọng dưới đáy ao

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG PHÊ DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG 1

LỜI CẢM TẠ 2

TÓM LƯỢC 3

DANH SÁCH HÌNH 5

DANH SÁCH BẢNG 6

Chương 1: MỞ ĐẦU 7

Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 9

2.1 Tổng quan huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ 9

2.2 Cá tai tượng 10

2.3 Mô hình nuôi cá thâm canh 12

2.4 Tổng quan phiêu sinh động vật 13

2.5 Vai trò của phiêu sinh động vật 18

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

3.2 Phương tiện nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

Chương 4: KẾT QUẢ 25

4.1 Trong thời gian nuôi 25

4.1.1 Thành phần loài và biến động thành phần loài 25

4.1.2 Biến động số lượng động vật nổi 29

4.2 Trong một chu kỳ thay nước 34

4.2.1 Thành phần loài và biến động thành phần loài 34

4.2.2 Biến động số lượng động vật nổi 39

4.3 Đánh giá mô hình nuôi cá 42

Chương 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ 10

Hình 2.2 Cá tai tƣợng (Osphronemus gouramy) 10

Hình 2.3 Một số dạng của Protozoa 15

Hình 2.4 Một số dạng của Rotatoria 16

Hình 2.5 Hình dạng của Cladocera 17

Hình 2.6 Hình dạng của Copepoda 18

Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống ao nuôi nơi lấy mẫu 22

Hình 3.2 Sơ đồ thu mẫu 23

Hình 4.1 Số loài tại các điểm thu mẫu 25

Hình 4.2 Biến động số loài qua các đợt thu mẫu 26

Hình 4.3 Tỉ lệ (%) của các nhóm động vật nổi qua các điểm thu mẫu 27

Hình 4.4 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 1 qua các đợt thu mẫu 28

Hình 4.5 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 2 qua các đợt thu mẫu 29

Hình 4.6 Tỉ lệ % mật độ các nhóm động vật nổi tại các điểm thu mẫu 31

Hình 4.7 Mật độ (ct/m3) các nhóm động vật nổi qua các đợt thu mẫu trong ao 1 32

Hình 4.8 Mật độ (ct/m3) các nhóm động vật nổi qua các đợt thu mẫu trong ao 2 33

Hình 4.9 Số loài tại các điểm thu 34

Hình 4.10 Biến động số loài tại các điểm qua các đợt thu mẫu 35

Hình 4.11 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 1 qua các đợt thu mẫu 36

Hình 4.12 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 2 qua các đợt thu mẫu 37

Hình 4.13 Tỉ lệ % của các nhóm động vật nổi tại các điểm thu mẫu 38

Hình 4.14 Tỉ lệ (%) mật độ các nhóm động vật nổi tại các điểm thu mẫu 40

Hình 4.15 Mật độ (ct/m3) các nhóm động vật nổi qua các đợt thu mẫu ở ao 1 41

Hình 4.16 Mật độ (ct/m3)các nhóm động vật nổi qua các đợt thu mẫu ở ao 2 42

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1 Mật độ (ct/m3) động vật nổi tại các điểm trong 12 đợt thu mẫu 30 Bảng 4.2 Mật độ (ct/m3) động vật nổi theo chu kỳ thay nước tại các điểm trong

14 đợt thu mẫu 39

Trang 9

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xem là một vùng đất ngập nước rộng lớn nhất Việt Nam (Lê Anh Tuấn, 2007) Ngoài sự phát triển mạnh về nghề trồng lúa và cây ăn trái thì nơi đây còn phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản nhờ sự

đa dạng về môi trường với các hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn và sự

đa dạng sinh học với nhiều loài thủy sản có giá trị Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi đó, ngành nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL đã nhanh chóng phát triển, đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc gia (Lê Anh Tuấn, 2007), với sản lượng cá nuôi năm

2008 là 1.419.010 tấn (Tổng cục thống kê, 2009), chiếm 52,52% tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng của vùng

Thành phố Cần Thơ là vùng nước ngọt quanh năm nên rất thuận lợi cho việc nuôi trồng các đối tượng thủy sản nước ngọt Ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền là một vùng nông nghiệp trong thành phố Cần Thơ với các hoạt động chính là trồng trọt và chăn nuôi trong đó nuôi thủy sản, nhất là nghề nuôi cá Trê lai đã là nguồn thu nhập chính rất cao cho một số hộ trong địa phương (Trần Hồng Điệp, 2009) Tuy nhiên, hoạt động này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất cao, bình quân 330.000 đồng/m2, nhưng lại gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước và gặp nhiều rủi

ro về kinh tế Nhằm giảm bớt rủi ro này, người dân đã chuyển sang gây nuôi đối tượng khác trong đó có cá Tai tượng, chúng có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường ở đây và đầu ra đang ổn định Để tăng năng suất cá nuôi, người dân đã tiến hành nuôi cá thâm canh với nguồn thức ăn tự chế là chủ yếu Tuy nhiên, nếu nguồn thức ăn này đưa vào ao nuôi không hợp lý sẽ làm cho môi trường nước bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến sự phát triển của cá và không mang lại hiệu quả kinh tế Bên cạnh sử dụng các chỉ tiêu hóa học để đánh giá chất lượng môi trường nước thì việc nghiên cứu các yếu tố sinh học cũng cần được quan tâm Do đó, việc phát hiện các loài động vật thủy sinh trong ao nuôi cá Tai tượng thâm canh có một ý nghĩa nhất định trong quá trình đánh giá môi trường nước Động vật thủy sinh không

Trang 10

những là nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực mà còn có khả năng lọc sạch nước Dựa vào tập tính sống của chúng, có thể xem đây là nhóm sinh vật chỉ thị hữu hiệu trong xác định sự ô nhiễm hữu cơ trong môi trường nước Vì vậy, đề tài “Đặc điểm quần xã động vật phiêu sinh trong ao nuôi cá Tai tượng thâm canh ở Mỹ Phụng, Phong Điền, thành phố Cần Thơ” được thực hiện nhằm đánh giá môi trường nước trong ao nuôi và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp Nội dung của đề tài là:

- Xác định thành phần các loài phiêu sinh động vật

- Khảo sát sự biến động về số lượng của các nhóm phiêu sinh động vật trong quá trình nuôi thâm canh cá Tai tượng

Trang 11

CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

+ Đất ruộng: 33 ha chiếm 21% tổng diện tích đất

+ Đất sử dụng cho mục đích khác: 14 ha chiếm 8% tổng diện tích đất

- Dân số: 1.137 người gồm 272 hộ

+ Hộ vừa có ruộng vừa có vườn: 53 hộ chiếm 19% tổng số hộ

+ Hộ chỉ có vườn: 201 hộ chiếm 74% tổng số hộ

+ Hộ không có đất sản xuất: 18 hộ, chiếm 7% tổng số hộ

(Nguyễn Ngọc Cúc Phương, 2004; trích dẫn nguồn UBMTTQVN xã Mỹ Khánh ban công tác mặt trận ấp Mỹ Phụng)

Trang 12

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơm

(nguồn: www.cantho.gov.vn)

2.2 Cá Tai tƣợng

2.2.1 Phân bố

Cá Tai tƣợng (Osphronemus gouramy) là loài cá đặc trƣng cho vùng nhiệt đới

Chúng phân bố chủ yếu ở Indonesia, Thái lan, Malaysia, Campuchia, Việt Nam Hiện nay, chúng là đối tƣợng nuôi phổ biến ở miền Nam Việt Nam

Trang 13

Cá Tai tượng là loài cá có khả năng thích nghi đặc biệt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường Chúng sống được trong môi trường nước ao dơ bẩn, thiếu oxygen nhờ cơ quan hô hấp phụ nằm ở cung mang thứ nhất Hơn nữa, cá còn có thể sống trong nước có độ pH = 4, nước nhiễm mặn có nồng độ muối 6 – 8‰ Chúng có thể sống trong điều kiện nhiệt độ nước dao động từ 16 – 420

C Tuy nhiên, cá sinh trưởng tốt ở nhiệt độ nước 22 – 300C, ở nhiệt độ thấp hơn cá thường hay bị bệnh So với cá Sặc rằn và cá Rô phi thì khả năng chịu lạnh của cá Tai tượng kém hơn nhưng sức chịu nóng lại cao hơn

2.2.2 Dinh dưỡng

Cá Tai tượng thuộc nhóm cá ăn tạp thiên về thực vật Cá bột dinh dưỡng bằng noãn hoàng với thời gian khá dài từ 5 – 7 ngày Thức ăn đầu tiên của cá bột là động vật phù du cỡ nhỏ và vừa như: Moina, Daphnia, Cyslops, do kích thước cá bột tương đối lớn Sau 2 tuần tuổi, cá đã ăn được trùng chỉ, cung quăng, sâu bọ, bèo cám,… Đến 1 tháng tuổi cá Tai tượng bắt đầu chuyển sang ăn tạp nhưng thiên về động vật 84,7% và càng về sau chúng chuyển sang ăn thực vật là chính chiếm 87,5% Khi trưởng thành cá Tai tượng ăn được hầu hết các loại rau, thực vật thủy sinh và cả những phụ phẩm khác

2.2.3 Sinh trưởng

Cá Tai tượng là loài cá có kích thước lớn, cỡ lớn nhất được biết là 50 kg, dài 1,8 m nhưng chúng là loài sinh trưởng chậm Trong ao nuôi được cung cấp thức ăn đầy đủ với mật độ nuôi thưa cá có thể tăng trọng 800 – 1.200 g/năm Tuy nhiên, thực tế cho thấy cá thường có tốc độ lớn nhanh ở năm thứ 2 Cá 3 năm tuổi đạt 2,5 kg/con

2.2.4 Sinh sản

Trong điều kiện nuôi tốt, cá Tai tượng phát dục sau 1,5 – 2 năm tuổi Trọng lượng

cá nhỏ nhất để tham gia sinh sản là 300 – 400 g Cá sinh sản tốt khi đạt trọng lượng

từ 1 – 1,5 kg (khoảng 3 – 5 năm tuổi) Cá cái cỡ 1,5 – 2 kg/con, mỗi lần sinh sản khoảng 3.000 – 5.000 trứng

Trang 14

Mùa vụ sinh sản của cá Tai tượng ngoài tự nhiên tập trung vào tháng 3 – 4 và tháng

8 – 10 dương lịch Trong ao nuôi, cá Tai tượng sinh sản bắt đầu từ tháng 2 – 7 nhưng tập trung từ tháng 3 – 5, kể từ tháng 8 trở đi số cá tham gia sinh sản giảm đi mặc dù chế độ nuôi vỗ không thay đổi Mùa vụ sinh sản của cá Tai tượng phụ thuộc vào thời gian nuôi vỗ và chế độ nuôi vỗ

2.3 Mô hình nuôi cá thâm canh

Cá nuôi được chăm sóc hoàn toàn bởi thức ăn chế biến, nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi không đáng kể Mật độ cá thả nuôi thường rất cao, dao động từ

10 - 60 con/m2 hay 30 - 400 con/m3

Phương tiện sử dụng nuôi thường nhỏ, ao đất dao động từ 300 - 2000 m2 Hình thức nuôi quãng canh hoặc bán thâm canh, diện tích ao nuôi thường lớn hơn 1.000 m2

- Đặc điểm thuận lợi: Ao nuôi có kích thước nhỏ, dễ quản lí và cho năng suất nuôi rất cao

- Những đặc điểm hạn chế

+ Ô nhiễm môi trường nước do vật chất thải và thức ăn thừa trong ao nuôi

+ Dịch bệnh xảy ra thường xuyên khi người nuôi không chủ động kiểm soát được chất lượng nước

+ Mức độ đầu tư tài chính và cơ sở vật chất vào hệ thống nuôi rất cao như: vốn, công nhân, cá giống, thức ăn và quản lý

- Các phương thức nuôi thâm canh

+ Phương thức nuôi thâm canh trong hệ thống ao đất

+ Phương thức nuôi thâm canh trong bè

+ Phương thức nuôi thâm canh với hệ thống đăng chắn (đăng quầng)

+ Phương thức nuôi thâm canh trong bể ciment hoặc bể composit

Điểm cần lưu ý trong quá trình nuôi, khi mật độ cá thả nuôi quá cao, hàm lượng DO giảm thấp Trong những trường hợp DO của ao nuôi giảm thấp, cần phải tăng cường giám sát và có biện pháp điều chỉnh hàm lượng này thông qua các biện pháp ứng dụng phổ biến hiện nay như: thay nước, sục khí bổ sung (Dương Nhật Long, 2004)

Trang 15

2.4 Tổng quan phiêu sinh động vật

2.4.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu

Ở Việt Nam, các nhóm động vật nổi nước ngọt đã được nghiên cứu từ khá lâu Tuy nhiên, các nhóm động vật nổi nước ngọt Việt Nam thời kì trước Cách mạng (1975) còn ít được nghiên cứu ngay cả về thành phần loài

Trong thời kì trước Cách mạng, thành phần loài giáp xác nhỏ trong động vật nổi ở Bắc Việt Nam hầu như chưa biết, ngoài hai nghiên cứu của Richard (1894) ở Lào Cai, đảo Cát Bào (vùng đảo Cát Bà) và của Brehm (1952) ở vùng Hải Dương Đối với vùng phía Nam Việt Nam, trong thời kì này, các công trình nghiên cứu của Daday (1907) và Stingelin (1905) cũng chỉ mới công bố được 4 loài Copepoda và

11 loài Cladocera

Từ 1960 trở lại đây, giáp xác chân chèo Copepoda được nghiên cứu một cách đầy

đủ hơn về phân loại học Các công trình tiêu biểu của một số tác giả như: Đặng Ngọc Thanh (1965 – 1977); Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái và Phạm Văn Miên (1980),…

Giáp xác râu ngành của Việt Nam được nghiên cứu đầu tiên bởi Richard (1984) đưa

ra danh sách 7 loài Cadocera, sau đó là Daday (1907) và Stingelin (1905) công bố

11 loài ở phía Nam Việt Nam Bên cạnh đó, Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái và Phạm Văn Miên (1980) đã xác định và định loại 45 loài giáp xác râu ngành ở Bắc Việt Nam

Dẫn liệu đầu tiên về trùng bánh xe (Rotatoria) ở Việt Nam là của Richard (1894) với 5 loài, Weber (1907) đã công bố 5 loài Ở Bắc Việt Nam, Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái và Phạm Văn Miên (1980) đã mô tả 54 loài trùng bánh xe Năm

1992, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải đã thống kê danh sách 107 loài trùng bánh xe trong thủy vực nội địa Việt Nam

So với các nhóm động vật nổi khác, dẫn liệu về động vật nguyên sinh ở các thủy vực nước ngọt Việt Nam cho tới nay còn rất ít Tổng hợp kết quả, các tác giả đã công bố 157 loài thuộc 36 họ

Trang 16

2.4.2 Khái niệm

Động vật nổi (zooplankton) là tập hợp những động vật sống trong môi trường nước,

ở tầng nước trong trạng thái trôi nổi, cơ quan vận động của chúng rất yếu hoặc không có Chúng vận động thụ động và có khả năng bơi ngược dòng nước

Theo phương thức sống và sự phân chia theo tầng nước, động vật nổi có thể chia thành các dạng sau:

- Pleuston: là những sinh vật nổi, sống ở màng nước (phần giới hạn giữa nước và không khí)

- Neuston: là những sinh vật nổi có kích thước hiển vi, sống ở màng nước (phần giới hạn giữa nước và không khí Trong nhóm này, nó được chia thành 2 loại:

+ Epineuston: có phần cơ thể tiếp xúc với không khí nhiều hơn tiếp xúc với nước

+ Hyponeuston: có phần cơ thể tiếp xúc với nước nhiều hơn tiếp xúc với không khí

- Plankton: là những sinh vật nổi sống trong tầng nước, không có khả năng bơi ngược dòng nước, di động thụ động là chủ yếu

Dựa vào tập tính sống, có thể chia động vật nổi thành 2 nhóm sau:

- Sinh vật nổi hoàn toàn (Holoplankton): là những sinh vật trong vòng đời của

nó hoàn toàn sống nổi trong nước chỉ trừ giai đoạn trứng nghỉ (cyst) là ở tầng đáy như ở trùng bánh xe, giáp xác râu ngành, chân chèo và một số dạng của nguyên sinh động vật

- Sinh vật nổi không hoàn toàn (Mesoplankton): là những sinh vật chỉ sống nổi trong một giai đoạn nào của vòng đời như là khi ở giai đoạn ấu trùng, phần lớn cuộc đời còn lại sống đáy hay sống bám như thuỷ tức, nhuyễn thể,…

Dựa vào sự phân bố theo độ sâu (chủ yếu là sinh vật biển), sinh vật nổi cũng được chia thành 2 nhóm chủ yếu:

- Sinh vật nổi tầng mặt (Epiplankton): gồm những sinh vật ở độ sâu từ 0 – 200m Đây là vùng có sự xâm nhập của ánh sáng, có thực vật và có quá trình tự dưỡng

- Sinh vật nổi ở tầng sâu (Nyctoplankton): gồm những sinh vật sống ở độ sâu

Trang 17

2.4.3 Một số nhóm phiêu sinh động vật chính trong thủy vực

a Protozoa (nguyên sinh động vật)

Protozoa là những động vật đơn bào, chúng xuất hiện sớm nhất trong giới động vật

có thể sống tự do hay ký sinh Tuy cơ thể có cấu tạo một tế bào nhưng sự phân hóa trong tế bào khá phức tạp Ngoài thành phần cơ bản là nhân, tế bào chất của chúng còn có cơ quan đảm nhận chức năng sinh lý như tiêm mao dùng để di chuyển, bắt mồi, không bào co bóp để đảm nhận nhiệm vụ hô hấp, bài tiết, không bào tiêu hóa dùng tiêu hóa thức ăn Do đó, tuy chỉ có cấu tạo một tế bào nhưng chúng có chức năng như một cơ thể sống

Hình 2.3 Một số dạng của Protozoa (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)

Chúng phân bố rộng khắp môi trường nước mặn và ngọt, sống đơn độc hoặc thành tập đoàn, hình thái rất đa dạng như hình cầu, que, đế giày,… Kích thước cơ thể khoảng 0,005 – 5 µm, đa số có chiều dài trong khoảng 30 – 300 µm Có thể di chuyển bằng tơ roi, chân giả hay nhờ sự co giãn của cơ thể

Trang 18

Có nhiều hình thức dinh dưỡng của protozoa, chủ yếu ở các dạng: thực bào, hấp thumuối dinh dưỡng hòa tan và dinh dưỡng hỗn hợp Protozoa có thể lấy thức ăn như tảo, vi khuẩn, kể cả protozoa nhỏ khác, động vật đa bào nhỏ, mảnh vụn hữu cơ,… Hầu hết protozoa là sinh vật hiếu khí, chúng có khả năng hấp thụ oxy hòa tan trong môi trường qua màng tế bào,… Chúng phát triển tốt ở vùng oxy là 10% bão hòa Một vài loài khác sống ký sinh ở nhiều vùng nước thải, vùng có hữu cơ, nơi nuớc tĩnh hay đáy hồ trong lúc thiếu oxy nhưng khả năng này chỉ tạm thời Năng lượng hoạt động của chúng lấy từ sự phân giải của quá trình lên men như nấm, sản phẩm thải cuối cùng chủ yếu là CO2, nước và các hợp chất có chứa nitơ

b Rotatoria (lớp trùng bánh xe)

Rotatoria được chia làm 2 nhóm dựa vào nguồn dinh dưỡng: nhóm ăn thực vật sống bám và sống tự do là những sinh vật ăn lọc, thụ động; nhóm bắt mồi chủ động Thức ăn của chúng là sinh vật đa bào nhỏ, các phiêu sinh hay chất lơ lững Nhóm sống tự do ăn xác chết của copepoda, cladocera và cả giun ít tơ Các loài này có thể sống trong môi trường kỵ khí hay hiếu khí

Hình 2.4 Một số dạng của Rotatoria (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)

Sự phát triển và phân bố: Rotatoria phát triển nhanh trong vài giờ sau khi sinh và sau đó chậm dần Con trưởng thành lớn gấp 3 – 10 lần cá thể mới nở Thời gian sống của chúng biến động theo loài nhưng chỉ trong vài ngày Sự phân bố rotatoria liên quan đến môi trường sống, nhiệt độ, sinh vật chung quanh, dòng chảy,… và đặc

Trang 19

thường nước có pH > 7 có ít loài nhưng số lượng của chúng cao Khi môi trường chuyển sang acid thì nhiều loài xuất hiện nhưng số lượng không cao Đôi khi cũng

có loài phân bố ở cả hai môi trường

c Cladocera (giáp xác râu ngành)

Đây là nhóm sinh vật phân bố rộng trong tất cả các loại hình thủy vực, dễ dàng quan sát và phân loại nên là đối tượng thích hợp để nghiên cứu của các nhà thủy sinh học Cladocera phân bố rộng ở vùng nhiệt đới, ôn đới và các thủy vực nước ngọt, nước

lợ Đặc biệt trong thủy vực nước ngọt, cladocera chiếm thành phần chủ yếu trong quần xã động vật nổi

Hình 2.5 Hình dạng của Cladocera (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)

Thức ăn chính của chúng là tảo, nguyên sinh động vật, chất hữu cơ đang phân hủy Phần thức ăn có kích cỡ thích hợp sẽ được đưa vào ống tiêu hóa mà không cần có

sự lựa chọn nào Thức ăn có kích thước lớn hơn sẽ bị đẩy ra ngoài

Cơ thể có phần râu phát triển mạnh Đó là râu A2, râu này vận động làm con vật di chuyển Ngoài ra, cladocera còn có một đôi mắt rất lớn, một số loài có sắc điểm Cladocera là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài cá kinh tế

d Copepoda (chân mái chèo)

Phân bố rộng từ biển khơi đến nội địa, cả khe nước ở núi cao và mạch nước ngầm,

là thức ăn của cá non và là thành phần thức ăn cơ bản của cá nổi Kích thước cơ thể

và hình dạng khá lớn, dài khoảng 1 – 4 mm, có loài dài đến 5,5 mm Sinh sản hữu tính

Trang 20

Dinh dưỡng: thường ăn tảo, các chất lơ lửng và các sinh vật nhỏ khác như: rotatoria, protozoa Hiện tượng ăn lẫn nhau cũng phổ biến ở giai đoạn chưa thành thục

Hình 2.6 Hình dạng của Copepoda (Nguồn: Dương Trí Dũng, 2009)

Phát triển và phân bố: phát triển qua nhiều giai đoạn, trứng nở qua nhiều giai đoạn

ấu trùng, sau đó đến giai đoạn trưởng thành Copepoda chỉ sống được trong 3 môi trường: nổi, ven bờ và đáy (Nguyễn Ngọc Cúc Phương, 2009 trích dẫn Đặng Ngọc Thanh, 2002)

Trong chu kỳ sống của Copepoda thường có dạng hình thái là: trứng, 6 giai đoạn ấu trùng nauplius, 5 giai đoạn copepodid và trưởng thành.Trứng của copepoda nở thành ấu trùng nhỏ, hoạt động gọi là nauplius Chúng có 3 đôi bộ phụ để sau đó biến thành râu A1, A2 và hàm dưới Khi lột xác sang giai đoạn 2, chúng chỉ có hàm trên

Có 4 giai đoạn ấu trùng và 5 giai đoạn tiền trưởng thành khi biến thành con trưởng thành có khả năng sinh sản Sau mỗi lần lột xác, con vật lớn hơn và dài hơn đồng thời có thêm bộ phụ

2.5 Vai trò của phiêu sinh động vật

2.5.1 Thành phần của mạng thức ăn, thức ăn tự nhiên trong thủy vực

Mối quan hệ chủ yếu của các sinh vật trong thủy vực là quan hệ thức ăn, thông qua chu trình vật chất

Trang 21

2.5.2 Thành phần trong năng suất sinh học của thuỷ vực

Theo quá trình chuyển hóa thì sinh vật trước trong chuỗi thức ăn sẽ là nguồn cung cấp năng lượng cho sinh vật bậc kế tiếp

Theo sơ đồ, sinh vật đứng trước là nguồn thức ăn cho sinh vật phía sau Nếu mất đi một mắc xích thì chu trình không hoàn chỉnh và gây tình trạng mất cân bằng sinh thái

2.5.3 Lọc sạch nước của thuỷ vực

Do đặc tính dinh dưỡng của từng nhóm sinh vật trong quần xã mà tính chất này được xem là ưu việt nhất của thủy sinh vật Quá trình lọc sạch được thể hiện ở các dạng sau:

Làm giảm nguồn hữu cơ gây ô nhiễm môi trường: đặc tính ăn lọc của các nhóm sinh vật không xương thủy sinh như protozoa, rotatoria và cladocera Ngoài ra, mollusca cũng sẽ làm giảm đi nguồn vật chất hữu cơ Sự phân giải vật chất hữu cơ trong môi trường nước thành vật chất vô cơ của vi sinh vật cũng góp phần quan trọng trong việc làm sạch môi trường

Tích lũy chất độc, kim loại nặng: khả năng sinh vật có thể tích lũy một lượng giới hạn chất độc trong thời gian ngắn, nhưng trong quá trình sinh trưởng và phát triển

do sự hấp thu lâu dài nên cơ thể có khả năng tích tụ một chất độc đáng kể cao gấp hàng chục hay hàng trăm lần Quá trình này đã chuyển hóa chất độc từ môi trường sang cơ thể sinh vật khiến nguồn nước được sạch hơn

2.5.4 Sinh vật chỉ thị

Sự tồn tại và phát triển của một nhóm sinh vật trong một môi trường nào đó là kết quả của quá trình thích nghi Sự phát triển của một nhóm sinh vật nào đó sẽ biểu hiện được tính chất môi trường ở đó thích hợp cho sự phát triển của quần xã này Thí dụ môi trường giàu chất hữu cơ sẽ là môi trường thuận lợi cho nhóm sinh vật ăn

nổi lớn

Cá ăn động vật nổi

Cá dữ động vật nổi

Trang 22

lọc như protozoa, rotatoria hay cladocera Tùy theo mức độ ô nhiễm sẽ có các nhóm sinh vật thích nghi phát triển

Mặt khác sự không thích ứng hay mất đi một nhóm sinh vật nào đó trong khu hệ cũng là một dấu hiệu cho thấy khuynh hướng diễn biến của môi trường Thí dụ trong một thủy vực có hàm lượng độc tố nông dược cao sẽ ức chế quá trình phát triển và có thể tiêu diệt các nhóm sinh vật như rotatoria, cladocera Khi môi trường được phục hồi lại, hàm lượng nông dược giảm đi thì nhóm sinh vật rotatoria phát triển nhanh chóng và trở lại tình trạng ban đầu Nếu môi trường hoàn toàn vô độc thì nhóm cladocera xuất hiện trở lại (Dương Trí Dũng, 2009)

Trang 23

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ 29/12/2009 đến 30/4/2010

- Tại khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ

3.2 Phương tiện nghiên cứu

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Địa điểm thu mẫu

- Tại số 35, tổ 43, ấp Mỹ Phụng, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Trang 24

Cá trong ao được nuôi khoảng 6 tháng tuổi (ngày nuôi 15/6/2009) và mật độ hiện tại

là khoảng 27 con/m2

với trọng lượng khoảng 200 g/con Thức ăn của cá là đầu cá Tra được nấu chín Cá được cho ăn 2 ngày/lần và 160 kg thức ăn/lần; cá thường được cho ăn vào lúc 15 giờ và được ăn bổ sung rau muống cắt nhỏ

Ao nuôi được thay nước khoảng 1 tháng/lần (khi nước có màu xanh đen) vào lúc triều cường Khi thay nước, nước trong ao được lưu thông với nước sông khoảng

2 – 3 ngày, thay khoảng 2/3 lượng nước trong ao

Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống ao nuôi

3.3.2 Thời gian thu mẫu

* Thu mẫu với tần suất 7 ngày/ lần, thu từ 07/1/2010 đến 25/3/2010Đợt 1 : ngày 07/1/2010

- Số mẫu định tính: 3 điểm (sông, ao 1, ao 2) x 12 = 36

- Số mẫu định lượng: 3 điểm (sông, ao 1, ao 2) x 12 = 36

Trang 25

* Thu mẫu theo chu kỳ thay nước: tháng 1/2010 với tần suất thu mẫu 2 ngày/lầnĐợt 1: ngày 15/1/2010

- Số mẫu định tính: 3 điểm (sông, ao 1, ao 2) x 14 lần thu = 42

- Số mẫu định lượng: 3 điểm (sông, ao 1, ao 2) x 14 lần thu = 42

3.3.3 Phương pháp thu mẫu

Hình 3.2 Sơ đồ thu mẫu

Mỗi ao thu 2 mẫu bao gồm định tính và định lượng

- Thu mẫu định định tính: dùng lưới phiêu sinh vớt theo đường chéo hình số 8 tại vị trí thu mẫu Sinh vật thu được sẽ chuyển sang lọ trữ mẫu, cố định mẫu bằng formol (4%)

- Thu mẫu định lượng: thu 100 lít nước tại vị trí thu mẫu cho vào lưới phiêu sinh, cô đặc lại cho vào chai nhựa 110 ml, cố định mẫu bằng formol (4%)

Cả 2 mẫu định tính và định lượng đều phải được ghi nhãn: định tính hay định lượng, thời gian thu mẫu, địa điểm thu mẫu

Trang 26

3.3.4 Phương pháp phân tích mẫu

* Định tính: dùng ống hút nhỏ giọt hút 1 – 2 giọt mẫu định tính lên lame và lấy lamelle đậy lại Đưa lên kính hiển vi, kính nhìn nổi quan sát nhằm xác định các đặc điểm hình thái cấu tạo và các đặc điểm phân loại Trên cơ sở đó định danh theo tài liệu phân loại của Đặng Ngọc Thanh (2002)

* Định lượng: dùng ống hút hút mẫu định lượng vào buồng đếm Bogorov, ghi nhận thể tích vừa lấy Đưa vào kính hiển vi quan sát và đếm tổng số lượng động vật nổi có trong mẫu

V1: thể tích mẫu sau khi cô đặc (ml)

V2: tổng thể tích mẫu lấy vào buồng qua các lần đếm (ml)

V3: thể tích mẫu thu ngoài thực địa (lít)

1.000: hệ số chuyển đổi thành m3

V2 V3

X V1

Trang 27

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ

4.1 Trong thời gian nuôi

4.1.1 Thành phần loài và biến động thành phần loài

Kết quả phân tích định tính cho thấy thành phần loài động vật nổi ở các điểm thu mẫu khá đa dạng với số loài từ 41 – 75 loài (hình 4.1) Tuy nhiên, mỗi vị trí có số loài khác nhau

Hình 4.1 Số loài tại các điểm thu mẫu

Trong 3 điểm thu mẫu, điểm đối chứng ngoài sông có thành phần loài cao hơn trong

ao với số loài là 75 Do nguồn nước trên sông thường xuyên thay đổi, lưu thông với với hệ thống sông Cái Răng, sông Hậu làm xuất hiện nhiều loài động vật nổi Trong

ao, nước không được lưu thông với bên ngoài (trừ những ngày thay nước) nên thành phần loài ổn định và số lượng cũng thấp hơn Vì vậy, ngoài sông có thành phần loài đa dạng hơn trong ao nuôi

Đối với ao 1 và ao 2, thành phần loài không khác biệt nhiều Cả hai ao đều được thay nước cùng một thời gian và nhận chung một nguồn nước từ sông dẫn vào Tuy nhiên,

Trang 28

số loài ở ao 1 nhiều hơn, do hướng gió thổi từ ao 2 sang ao 1 nên đẩy các động vật nổi tập trung về ao 1 làm gia tăng thành phần loài tại ao 1

Qua các đợt thu mẫu, thành phần loài ở các điểm thu mẫu có sự biến động khác nhau (hình 4.2)

Hình 4.2 Biến động số loài qua các đợt thu mẫu

Mỗi địa điểm thu có số loài biến động theo thời gian khác nhau Ở điểm đối chứng số loài dao động rất lớn, có sự dao động này là do ảnh hưởng của chế độ nước khi nước ròng và khi nước lớn Tiêu biểu là số loài thu được cao nhất vào đợt 3 (46 loài) và đợt

9 (40 loài), đây là những thời điểm thu mẫu vào lúc nước ròng

Ở ao 1 và ao 2, số loài ít biến động theo thời gian, do nước trong ao không lưu thông với bên ngoài nên thành phần loài dao động không nhiều Số loài trong 2 ao thường tăng sau khi thay nước như đợt 8 và 12 Riêng đợt 3, người dân đã cho vôi vào hai ao

để diệt khuẩn, có thể điều này đã giảm đi số lượng thành phần loài của ao 1 và ao 2 Qua các điểm thu mẫu, số loài của từng nhóm động vật nổi có sự khác nhau (hình 4.3)

Trang 29

Hình 4.3 Tỉ lệ (%) các nhóm động vật nổi qua các điểm thu mẫu

Trong tất cả các nhóm loài thì Rotatoria là nhóm có số loài xuất hiện nhiều nhất Đây

là nhóm sử dụng các sinh vật nổi cỡ nhỏ và mảnh vụn hữu cơ làm nguồn thức ăn (Dương Trí Dũng, 2009) Điều này chứng tỏ môi trường nước ở các điểm thu mẫu có nhiều chất hữu cơ, thuận lợi cho sự phát triển của nhóm này Trong ao có số loài Rotatoria nhiều hơn ngoài sông, do lưu lượng nước ngoài sông lớn hơn và thường xuyên trao đổi nên nồng độ chất hữu cơ bị pha loãng Mặt khác, trong ao nuôi thường xuyên nhận chất thải của cá nên lượng chất hữu cơ trở nên nhiều hơn

Ngoài sông Rotatoria thường xuất hiện với các loài Asplanchna sieboldi, Anuraeopsis

fissa, Filinia longiseta, Lecane luna, Polyathra sp.,… Trong ao Rotatatoria thường

xuất hiện với các loài Asplanchna sieboldi, Brachionus calyciflorus, Filinia longiseta,

Hexathra mira, Polyathra sp.,… Số loài của hai nhóm Cladocera và Copepoda trong

ao thấp hơn Trong ao, Cladocera thường xuất hiện với các loài Moina dubia,

Moinodaphania macleayii,… Copepoda thường xuất hiện với các loài Ectocyclops phaleratus, Mesocyclops leuckarti, Tropocyclops prasinus,… Ngoài sông, Cladocera

thường xuất hiện với các loài Bosmina longirostris, Diaphanosoma sari, Moina

dubia,… Copepoda thường xuất hiện với các loài Mesocyclops leuckarti, Tropocyclops prasinus,…

Trang 30

Hình 4.4 cho thấy sự biến đổi thành phần loài các nhóm động vật nổi trong ao 1 qua các đợt thu mẫu

Hình 4.4 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 1 qua các đợt thu mẫu

Số loài Rotatoria giảm vào đợt 3 vì đợt thu này ao vừa được bón vôi Môi trường nước thay đổi đột ngột làm hạn chế sự phát triển của một số loài

Nhóm Rotatoria xuất hiện trong ao với các loài như: Asplanchna sieboldi, Brachionus

angularis, Brachionus calyciflorus, Brachionus caudatus, Filinia longiseta, Hexathra mira, Polyathra sp,…

Nhóm Copepoda tăng số loài vào đợt 8 vì nước trong ao vừa được thay Các loài xuất

hiện trong ao là Ectocyclops phaleratus, Mesocyclops leuckarti, Thermocylops

hyalinus, Tropocyclops prasinus,…

Ngoài tác động của việc thay nước, lượng nước trong ao còn chịu ảnh hưởng của nước trong mương vườn và ao cá Trê bên cạnh Vì vậy, thành phần các nhóm động vật nổi

có biến động (từ 1 – 2 loài)

Nhóm Cladocera thường xuất hiện các loài Moina dubia, Moinodaphania macleayii Các loài Protozoa có trong ao là Centropysis constricta, Centropysis ecornia,…

Trang 31

Hình 4.5 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 2 qua các đợt thu mẫu

Vào đợt 3, ao vừa được bón vôi nên hầu hết số loài các nhóm động vật nổi đều giảm Vào đợt 8 và đợt 12, nước trong ao mới được thay nên số loài các nhóm Rotatoria, Copepoda và Protozoa tăng Tuy nhiên, nhóm Cladocera có số loài ổn định, có thể vào những ngày thay nước số loài của nhóm này ở ngoài sông ít

Tương tự ao 1, thành phần các nhóm động vật nổi có sự biến động từ 1 – 2 loài do ảnh hưởng của nước trong mương vườn và ao cá Trê Trong ao, nhóm Rotatoria thường

gặp với các loài Asplanchna sieboldi, Brachionus calyciflorus, Brachionus urceus,

Filinia longiseta, Hexathra mira, Lecane luna, Polyathra sp.,… Nhóm Cladocera

thường xuất hiện các loài Moina dubia, Moinodaphania macleayii Nhóm Copepoda

có các loài như Mesocyclops leuckarti, Thermocylops hyalinus, Tropocyclops

prasinus Nhóm Protozoa thường xuất hiện các loài Centropysis constricta, Centropysis ecornia,…

4.1.2 Biến động số lượng động vật nổi

Theo kết quả định lượng, số lượng của động vật nổi có sự biến động rõ rệt qua các lần thu mẫu tại các điểm thu mẫu (hình 4.6)

Trang 32

Bảng 4.1 Mật độ (ct/m3) động vật nổi tại các điểm trong 12 đợt thu mẫu

Trong ao, số lượng của động vật nổi thường thấp khi mới thay nước, chẳng hạn như đợt 3, 8, 12; sau đó tăng dần vào các ngày sau bởi có nguồn dinh dưỡng dồi dào từ thức ăn dư, chất thải của cá

Hình 4.6 cho thấy mỗi điểm thu mẫu có tỉ lệ phần trăm số lượng các nhóm động vật nổi khác nhau

Trang 33

Hình 4.6 Tỉ lệ % mật độ các nhóm động vật nổi tại các điểm thu mẫu

Ở điểm đối chứng ngoài sông, kết quả cho thấy ấu trùng nauplius chiếm tỉ lệ cao (67%) Nauplius chiếm tỉ lệ cao hơn Copepoda, điều này chứng tỏ môi trường thuận lợi cho Copepoda phát triển Thực tế cho thấy nước sông có chế độ nước chảy, khả năng khuyếch tán oxy cao

Xét về thành phần nhóm loài trong ao, Rotatoria là nhóm chiếm tỉ lệ cao nhất 63% ở

ao 1 và 57% ở ao 2 Điều này cho thấy nước trong ao chứa hàm lượng chất hữu cơ cao

từ thức ăn dư của cá, chất thải của cá, gà (đối với ao 2) Vì vậy, có thể kết luận rằng nước trong ao bẩn hữu cơ Trong đó, Rotatoria thường xuất hiện các loài có mật độ

cao Filinia longiseta, Brachionus calyciflorus, Polyathra sp., …

Sự xuất hiện của hai nhóm Copeoda và Cladocera với số lượng ít cho thấy môi trường nước trong ao không thuận lợi cho sự phát triển của hai nhóm này bởi Copepoda và Cladocera sống trong môi trường tương đối sạch hơn Rotatoria

Số lượng các nhóm loài trong ao có sự biến động khác nhau Kết quả phân tích ao 1 như sau: (hình 4.7)

Trang 34

Hình 4.7 Mật độ (ct/m3) các nhóm động vật nổi qua các đợt thu mẫu trong ao 1

Biểu đồ cho thấy số lượng các nhóm động vật nổi giảm vào những đợt thay nước (đợt

3, 8, 12) vì nguồn nước ngoài sông có hàm lượng chất hữu cơ thấp nên số lượng động vật nổi ít Nhưng khi vào ao, gặp môi trường thuận lợi, giàu nguồn dinh dưỡng hữu nên chúng phát triển nhanh Tiêu biểu là sự gia tăng mật độ của Rotatoria Qua các đợt thu mẫu, Rotatoria luôn chiếm số lượng cao nhất, từ 8.344 – 6.349.200 ct/m3, kế đến là nauplius, Copepoda, Cladocera và Protozoa Điều này phản ánh môi trường nước thuận lợi cho sự phát triển của Rotatoria Số lượng của Rotatoria tăng chứng tỏ hàm lượng hữu cơ trong ao tăng Các nhóm còn lại như Cladocera, Copepoda, Protozoa, ấu trùng nauplius có số lượng thấp và biến động không lớn qua các đợt thu mẫu

Trang 35

Đối với ao 2, hình 4.8 cho thấy sự biến động số lượng các nhóm loài

Hình 4.8 Mật độ (ct/m3) các nhóm động vật nổi qua các đợt thu mẫu trong ao 2

Tương tự như ao 1, số lượng các nhóm động vật nổi trong ao 2 giảm vào những đợt thay nước (đợt 3, 8, 12) Nước trong ao thường xuyên nhận chất thải hữu cơ từ cá, gà

Sự gia tăng hàm lượng hữu cơ trong ao đã thúc đẩy sự phát triển của Rotatoria Vì vậy,

số lượng của Rotatoria luôn cao qua các đợt thu mẫu, từ 25.813 – 5.316.000 ct/m3

Các nhóm như Cladocera, Copepoda, Protozoa, ấu trùng nauplius có số lượng thấp và ít biến động hơn

Trang 36

4.2 Trong một chu kỳ thay nước

4.2.1 Thành phần loài và biến động thành phần loài

Trong một chu kỳ thay nước, có sự khác biệt về số loài giữa các điểm thu (hình 4.9)

Hình 4.9 Số loài tại các điểm thu

Số loài động vật nổi ngoài sông (71 loài) cao hơn so với trong ao (42 và 41 loài) Nguyên nhân là do ngoài sông nước nước lưu thông thường xuyên nên xuất hiện nhiều thành phần loài Đối với ao nuôi, nước không được trao đổi với bên ngoài sau khi kết thúc ngày thay nước Vì vậy trong ao nuôi có thành phần loài ít đa dạng hơn ngoài sông Giữa ao 1 và ao 2, do cùng nhận chung một nguồn nước đầu vào và thời gian thay nước giống nhau Bên cạnh, hai ao này thông với nhau nên số lượng thành phần loài tương đối giống nhau (41 và 42 loài)

Trong một chu kỳ thay nước, giữa các vị trí thu có sự biến động khác nhau về số lượng loài qua các đợt thu (hình 4.10)

Trang 37

Hình 4.10 Biến động số loài tại các điểm qua các đợt thu mẫu

Số loài ở ngoài sông cao hơn trong ao, dao động từ 28 – 46 loài Thành phần loài ngoài sông thường tăng cao vào những ngày nước ròng Khi đó nước cạn, mật độ các loài động vật nổi xuất hiện cao hơn khi nước lớn Thành phần loài trong ao 1 dao động

từ 19 – 28 loài; ao 2 dao động từ 17 – 29 loài Nước trong ao được thay từ ngày thu đợt 1 đến đợt 3 Đây là khoảng thời gian nước trong ao trao đổi với bên ngoài nên số lượng loài chưa ổn định Vào đợt thu mẫu thứ 3, ống bọng được đóng lại, nước trong

ao không còn lưu thông với bên ngoài

Trong một lần thay nước, qua các đợt thu mẫu, mỗi ao có sự biến động thành phần các nhóm động vật nổi (hình 4.11 và hình 4.12)

Trang 38

Hình 4.11 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 1 qua các đợt thu mẫu

Từ đợt 1 đến đợt 3, thành phần các nhóm động vật nổi thường thay đổi vì đây là thời gian thay nước Nước trong ao luôn được lưu thông với bên ngoài Trong 4 nhóm động vật nổi, Rotatoria là nhóm có số lượng và biến động nhiều nhất (từ 10 – 15 loài) Sau khi thay nước, nước trong ao không còn lưu thông với bên ngoài nhưng nước trong mương vườn và ao cá trê bên cạnh có thể chảy vào ao theo lỗ mọi mỗi khi mực nước của chúng cao hơn ao 1 Nước ao cá Trê chứa lượng hữu cơ cao, rất thuận lợi cho sự phát triển của Rotatoria Lượng nước trao đổi này không đáng kể nhưng khi chảy vào

ao 1 đã tăng thêm một số loài Rotatoria tại đây Các nhóm Cadocera, Copepoda, Protoazoa có sự biến động không lớn, tương đối ổn định qua các đợt thu mẫu

Trang 39

Hình 4.12 Biến động các nhóm động vật nổi trong ao 2 qua các đợt thu mẫu

Giống như ao 1, các nhóm động vật nổi có sự biến động vào những ngày thay nước (từ đợt 2 đến đợt 3) Chiếm ưu thế vẫn là nhóm Rotatoria ưa hữu cơ Nhiều hữu cơ là tính chất của nước trong ao, vì vậy Rotatoria phát triển đa dạng hơn so với các nhóm khác (từ 7 – 18 loài) Thành phần loài có sự thay đổi qua các lần thu vì nước trong mương vườn và ao cá trê bên cạnh có thể vào ao 2 Nhóm Cladocera và Copepoda có số loài ít

và biến động không lớn (từ 1 – 2 loài) qua các đợt thu mẫu trong một lần thay nước Riêng nhóm Protozoa có sự biến động thường xuyên, vì ngoài lượng chất hữu cơ từ chất thải, thức ăn dư thừa của cá, ao 2 còn nhận thêm nguồn hữu cơ từ chuồng gà phía trên Điều này gia tăng thêm nồng độ chất ô nhiễm, giúp cho sự phát triển của Protozoa tại đây

Qua kết quả phân tích định tính cho thấy, mỗi vị trí thu mẫu có tỉ lệ các nhóm động vật nổi khác nhau (hình 4.13)

Trang 40

Hình 4.13 Tỉ lệ % của các nhóm động vật nổi tại các điểm thu mẫu

Xét về các nhóm loài thì nhóm Rotatoria xuất hiện với số loài nhiều nhất ở cả 3 điểm

(chiếm 55%, 60%, 63%) với các loài Asplanchna sieboldi, Brachionus caudatus,

Filinia longiseta, Polyathra vulgaris,… Điều này cho thấy nước ở các điểm thu mẫu

có chứa nhiều chất hữu cơ, là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Rotatoria

Kế đến là nhóm Prtozoa xuất hiện từ 17 – 20% trong thành phần loài với các giống

như Centropysis constricta, Centropysis ecornia, Difflugia acuminata, ngoài sông thì xuất hiện thêm Tintinnopsis nucula Đây là nhóm sống trong môi trường hiếm khí và

có nhiều chất hữu cơ

Xuất hiện ít loài hơn là nhóm Cladocera (chiếm 12 – 17%) và Copepoda (chiếm 8 –

10%) Trong đó, Cladocera thường xuất hiện trong ao với loài Moina dubia de Guerne

et Richard, Moinodaphania macleayii Ngoài sông thì có loài Alona cambouei Guerne

et Richard, Bosmina longirostris Riêng Copepoda thường xuất hiện với loài Mesocyclops leuckarti, Thermocylops hyalinus, Tropocyclops prasinus,…

Ngày đăng: 07/11/2020, 09:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm