1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn Cứ Xác Lập Và Biện Pháp Bảo Vệ Quyền Sở Hữu

72 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụ

Trang 1

Huỳnh Thị Trúc Giang Họ và tên: Võ Trường Giang

MSSV: 5075180 Lớp: Luật tư pháp 2 - K33

Cần Thơ, Tháng 4 năm 2011

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

  

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

  

Trang 4

MỤC LỤC

  

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU 1.1 Một số khái niệm chung 3

1.1.1 Khái niệm về sở hữu 3

1.1.2 Khái niệm về quyền sở hữu 5

1.2 Quan hệ pháp luật về quyền sở hữu 6

1.2.1 Chủ thể của quyền sở hữu 6

1.2.2 Khách thể của quyền sở hữu 7

1.2.3 Nội dung của quyền sở hữu 16

1.3 Quá trình phát triển của pháp luật về sở hữu ở nước ta 22

1.3.1 Giai đoạn 1945-1959 22

1.3.2 Giai đoạn 1959-1980 24

1.3.3 Giai đoạn 1980 -1992 26

1.3.4 Giai đoạn 1992 đến nay 27

CHƯƠNG 2 CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU 2.1 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu 29

2.1.1 Do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp 29

2.1.2 Do chuyển quyền sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 30

2.1.3 Thu từ hoa lợi, lợi tức 31

2.1.4 Do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến 32

2.1.5 Hưởng thừa kế 34

2.1.6 Chiếm hữu với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, chìm đắm, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên 36

2.1.7 Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu 41

2.2 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu 45

2.2.1 Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu 45

2.2.2 Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu 47

CHƯƠNG 3

Trang 5

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU VÀ ĐỀ XUẤT 3.1 Thực trạng xâm phạm và giải quyết tranh chấp quyền sở hữu 53 3.2 Đề xuất 58 KẾT LUẬN 63

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU



Vấn đề sở hữu, đặc biệt là sở hữu về tư liệu sản xuất là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất của bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới, nó là "vấn đề hàng đầu,

"vấn đề cơ bản" trong các cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, là một trong những vấn

đề cơ bản của hệ thống quan hệ sản xuất trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Quan hệ sở hữu là một quan hệ xã hội, là quan hệ giữa người với người, là một thể thống nhất mang tính lịch sử và tương ứng với một giai đoạn nhất định của lực lượng sản xuất Con người không thể tự do lựa chọn các quan hệ sở hữu một cách chủ quan duy ý chí Việc xác định các hình thức sở hữu trong chủ nghĩa xã hội, nhất là trong giai đoạn quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội cần phải tính đến những sự thay đổi về trình độ của lực lượng sản xuất, của sự phân công lao động và đến lợi ích của người lao động nhằm tạo ra động lực cho quá trình phát triển sản xuất, phát triển xã hội

Sở hữu đang là một vấn đề nhạy cảm trong công cuộc đổi mới toàn diện ở nước

ta, đang là nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân Thực tiễn của công cuộc đổi mới, đặc biệt là trong đổi mới về kinh tế đã chứng minh tính đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về nhận thức và xử lý đối với các vấn đề sở hữu Việc xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang đòi hỏi phải có sự xem xét và giải quyết một cách đúng đắn những vấn đề sở hữu Hơn nữa, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng đòi hỏi phải có những chủ sở hữu thật sự và cụ thể; những chủ sở hữu đó không chỉ là Nhà nước, tập thể mà còn là cá nhân công dân Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta

là phát triển nền kinh tế thị trường, đặt con người vào vị trí trung tâm, phát huy sức mạnh của từng cá nhân con người và cũng tất cả vì con người.Do đó, cần phải chú trọng nghiên cứu xây dựng một hệ thống pháp luật, bảo đảm được sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với sự phát triển và thỏa mãn những yêu cầu về mặt xã hội giữa

cá nhân và cộng đồng

Chế định về tài sản và quyền sở hữu là chế định quan trọng, được xác định như một chế định nền tảng, trung tâm chi phối các chế định khác của bộ luật dân sự như hợp đồng, thừa kế Đây cũng chính là cơ sở để quy định các vấn đề về quyền sở hữu trong các đạo luật khác của hệ thống pháp luật nước ta như luật đất đai, luật thương mại Chính vì tầm quan trọng như vậy nên chúng ta cần phải tìm hiểu rõ hơn để áp dụng vào thực tiễn cho phù hợp Người viết chọn đề tài “căn cứ xác lập và biện pháp

Trang 7

bảo vệ quyền sở hữu” với mong muốn làm rõ hơn chế định tài sản và quyền sở hữu trong hệ thống pháp luật nước ta, giúp chúng ta có cai nhìn cẵn kẽ và thấu đáo hơn về vấn đề này Từ đó tìm ra được những giải pháp, khắc phục những hạn chế , vướng mắc còn tồn tại

Trên cơ sở đề tài “căn cứ xác lập và biện pháp bảo vệ quyền sở hữu”, người viết chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề về lý luận và phân tích khái quát những quy định của pháp luật xung quanh đề tài, đồng thời so sánh với việc thực hiện pháp luật trong thực tế để tìm ra những hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật ở nước ta Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như: phương pháp so sánh, phương pháp suy luận khoa học và phương pháp nghiên cứu luật viết để tìm hiểu và nắm bắt nội dung của đề tài Đồng thời, vận dụng những nội dung và những quy định của pháp luật vào những trường hợp, giả thuyết khác nhau để tìm hiểu vấn đề Ngoài ra còn tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu từ sách, báo, tạp trí để làm sáng tỏ nội dung của đề tài

Theo hướng dẫn của giảng viên, đề tài được trình bài theo bố cục sau:

Lời nói đầu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu

Chương 2: Các căn cứ xác lập và biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền sở hữu và đề xuất

Kết luận

Trang 8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm về sở hữu

Con người – với tư cách là một thực thể xã hội – chỉ có thể tồn tại và phát triển

khi có những cơ sở vật chất nhất định Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, ý

thức về xã hội, về cộng đồng còn hạn chế nhưng người nguyên thủy đã biết chiếm giữ

hoa quả tự nhiên, chim thú săn bắt được, những công cụ lao động đơn giản để phục vụ

cho nhu cầu của mình Sở hữu được hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vât tự

nhiên, những thành quả lao động (ngày nay bao gồm cả những tư liệu sản xuất) của xã

hội loài người Nhiều công trình khoa học nghiên cứu lịch sử, xã hội, triết học… đều

đã thống nhất rằng: sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện

và phát triển song song với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên,

ở thời kỳ lúc bấy giờ của xã hội loài người chưa phân biệt rõ khái niệm sở hữu đối với

tư liệu sản xuất và sức lao động

Con người muốn tồn tại phải thông qua các mối quan hệ xã hội Mối quan hệ

giữa người với người trong quá trình chiếm hữu và sản xuất ra của cải vật chất là quan

hệ sở hữu Quan hệ sở hữu phản ánh sự chiếm hữu các tư liệu sản xuất, các vật phẩm

tiêu dùng giữa người này với người khác, giữa tập đoàn này với tập đoàn khác, giữa

giai cấp này với giai cấp khác trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Trên cơ

sở phân tích các hình thái kinh tế - xã hội, C.Mac đã chỉ ra rằng, bất cứ nền sản xuất

nào cũng là việc con người chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong phạm vi

một hình thái xã hội nhất định Vì vậy, sở hữu là một hình thái kinh tế

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, do tính chất cộng đồng xã hội cao nên cuộc

sống của mỗi cá nhân hầu như hoàn toàn hòa tan vào cuộc sống cộng đồng Vì vậy đã

tồn tại chế độ sở hữu cộng đồng về tư liệu sản xuất Trong xã hội cổ sơ này, con người

đã bắt đầu chiếm giữ và làm chủ các đối tượng tự nhiên, hoa quả, thú rừng săn bắt

được Với một nền sản xuất và tổ chức xã hội đơn giản, nên sở hữu trong thời kỳ

nguyên thủy chỉ là một khái niệm để phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhau

trong việc chiếm giữ những vật phẩm của tự nhiên mà họ thu được

Qua quá trình lao động sản xuất với những kinh nghiệm đã tích lũy được, trình

độ lao động của con người dần dần được nâng cao Cùng với sự phân công lao động xã

hội, chăn nuôi và trồng trọt ngày càng phát triển, năng xuất lao động được nâng lên và

đã xuất hiện sự dư thừa sản phẩm Do năng xuất lao động ngày càng cao, hàng hóa

Trang 9

trao đổi ngày càng nhiều đã làm cho lượng của cải trong xã hội tăng nhanh Trong xã hội đã bắt đầu có sự tích lũy

Quá trình phân hóa tài sản bắt đầu hình thành và dẫn đến kẻ giàu, người nghèo trong xã hội Những người có quyền hành trong thị tộc, bộ lạc chiếm đọat số của cải

dư thừa làm của riêng Tính chất cộng đồng trong xã hội dần bị phá vỡ Quan hệ bóc lột xuất hiện và đã có sự phân chia đẳng cấp

Mâu thuẫn giữa những người bị bóc lột và những kẻ áp bức bóc lột ngày càng quyết liệt và không thể điều hòa được Sự phân chia giai cấp ngày càng sâu sắc Nhằm bảo vệ lợi ích của mình và để duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho mình, giai cấp bóc lột với tỉ lệ thấp trong xã hội thấy cần có một bộ máy bạo lực để đàn áp sự phản kháng của giai cấp bị áp bức bóc lột Từ đây, xã hội phân chia thành các giai cấp đối lập nhau và Nhà nước xuất hiện

Khi xã hội phân chia thành giai cấp thì vấn đề sở hữu có một vai trò quan trọng trong việc khẳng định địa vị của mỗi giai cấp Giai cấp nào sở hữu những tư liệu sản xuất sẽ chiếm địa vị đặc biệt trong xã hội và trở thành những người người có quyền quyết định vân mệnh của số đông người lao động, tổ chức sản xuất và phân phối các lợi ích vật chất trong xã hội theo ý trí của mình Vì vậy giai cấp nắm tư liệu sản xuất trong tay sẽ là giai cấp quyết định chế độ xã hội, là giai cấp nắm quyền thống trị về chính trị và tư tưởng đối với xã hội

Toàn bộ những quan hệ sở hữu trong một xã hội hợp thành chế độ sở hữu của

xã hội đó, mặt khác mỗi một nhóm quan hệ sở hữu có cùng một tính chất lại tạo thành một hình thức sở hữu Do vậy, tương ứng với một phương thức sản xuất có một chế độ

sở hữu thích ứng phù hợp với phương thức sản xuất đó và hình thái kinh tế xã hội đó Mỗi một chế độ sở hữu có thể tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các hình thức sở hữu này có vai trò và vị trí khác nhau như thế nào là tùy thuộc vào tính chất của từng chế độ xã hội

Tóm lại khái niệm sở hữu vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù pháp lý Dưới góc độ là phạm trù kinh tế, sở hữu thể hiện các quan hệ sản xuất xã hội, phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế - xã hội nhất định Sở hữu là việc tài sản, tư liệu sản xuất và thành quả lao động thuộc về ai, do đó nó thể hiện quan

hệ giữa người với người trong quá trình tạo ra và phân phối các thành quả vật chất Với nội dung kinh tế như vậy, sở hữu là quan hệ kinh tế khách quan Một khi được điều chỉnh, nội dung của quá trình xác lập và vận động của các quyền năng kinh tế đối với tài sản trở thành các quyền năng pháp lý hợp thành phạm trù về quyền sở hữu

Trang 10

1.1.2 Khái niệm về quyền sở hữu

Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp luật dân sự Nó là một trong những tiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu chính là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản Mức

độ xử sự ấy qui định giới hạn và khả năng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia lao động sản xuất, kinh doanh… Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế

Khi các quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố khách quan và xuất hiện chế độ

tư hữu, thì những người giàu có và quyền thế thấy rằng, nếu chỉ điều hành quan hệ xã hội bằng phong tục tập quán sẽ không có lợi cho họ Muốn bảo vệ quyền lợi cho mình, nhất là việc bảo đảm các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, thì giai cấp thống trị phải đặt ra cái gì đó khác với tập quán và chỉ giữ lại những gì của tập quán có lợi cho mình Mặt khác, những quan hệ phức tạp mới phát sinh trong xã hội có giai cấp đòi hỏi phải có những phương tiện, công cụ đặc biệt để Nhà nước thực hiện sự thống trị giai cấp

Cơ sở kinh tế để bảo đảm cho sự thống trị về chính trị và tư tưởng chính là các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị Giai cấp thống trị phải dùng tới một bộ phận của pháp luật về sở hữu để thể hiện ý chí giai cấp của mình Là một hình thái của thượng tầng kiến trúc, pháp luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, ghi nhận lơi ích của giai cấp thống trị đối với việc đọat giữ các của cải vật chất trước các giai cấp khác trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông Do đó, trong bất kỳ một Nhà nước nào, luật pháp về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một công cụ có hiệu quả của giai cấp nắm chính quyền để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai cấp đó

Vì vậy, quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ sở hữu trong xã hội Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đọat tài sản

Với tư cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu chỉ ra đời khi xã hội có sự phân chia giai cấp và có Nhà nước Pháp luật về sở hữu và Nhà nước có cùng nguồn gốc và không thể tồn tại tách rời nhau, do đó nó sẽ mất đi khi không còn Nhà nước Pháp luật về sở hữu luôn luôn mang tính chất giai cấp rõ rệt Vì vậy, pháp luật

về sở hữu bao giờ cũng nhằm mục đích:

Trang 11

- Xác nhận và bảo vệ bằng pháp luật việc chiếm giữ những tư liệu sản xuất chủ

yếu của giai cấp thống trị

- Bảo vệ những quan hệ sở hữu phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị

- Tạo điều kiện pháp lý cần thiết bảo đảm cho giai cấp thống trị khai thác được

nhiều nhất những tư liệu sản xuất đang chiếm hữu để phục vụ sự thống trị Đồng thời

xác định mức độ xử sự cà các ranh giới hạn chế cho các chủ sở hữu trong phạm vi các

quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đọat

Với ý nghĩa này, khái niệm quyền sở hữu có thể được hiểu là luật pháp về sở

hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định Vì vậy, quyền sở hữu là “tổng hợp một hệ

thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã

hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đọat tài sản”1 Đây là khái

niệm quyền sở hữu theo nghĩa rộng Còn theo nghĩa hẹp, “quyền sở hữu được hiểu là

mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện các quyền năng chiếm

hữu, sử dung, định đoạt trong những điều kiện nhất định 2 Theo nghĩa này, có thể nói

quyền sở hữu chính là những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu

nhất định đối với một tài sản cụ thể, được xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm

pháp luật về sở hữu

Ngoài ra, quyền sở hữu còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự - quan

hệ pháp luật dân sự về sở hữu Vì rằng, bản thân nó chính là hệ quả của sự tác động

của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu) Vì vậy, theo

nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ

thể, khách thể, nội dung như mọi quan hệ pháp luật dân sự khác

1.2 Quan hệ pháp luật về quyền sở hữu

1.2.1 Chủ thể của quyền sở hữu

Chủ thể của quyền sở hữu là những người tham gia quan hệ pháp luật dân sự về

sở hữu Chủ sở hữu trong luật dân sự rất đa dạng tương ứng với các hình thức sở hữu

được quy định trong điều 172 Bộ luật dân sự 20053 Theo đó, điều 164 Bộ luật dân sự

năm 2005 quy định:

“Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền

chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản”

Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, các hình thức sở hữu bao gồm sở hữu nhà

nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, sở

hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp

Trang 12

Theo quy định trên thì những chủ thể nào có đầy đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đọat thì sẽ trở thành chủ sở hữu Đây là một quy định mở, chỉ cần thỏa mãn các tiêu chỉ trên thì sẽ trở thành chủ thể của quỳên sở hữu

Do đó, chủ thể của quyền sở hữu trong xã hội rất đa dạng: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, các tổ chức, Nhà nước…

Chủ sở hữu là người có tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình, do đó khi xem xét một tài sản nào đó có phải là tài sản thuộc sở hữu của chủ sở hữu hay không phải dựa trên các căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định

Tuy nhiên, không phải chủ thể nào cũng có thể sở hữu một loại tài sản nhất đinh Nếu pháp luật quy định chỉ có những chủ thể nào đó mới có quyền sở hữu một loại tài sản thì chủ thể đó mới có quyền sở hữu loại tài sản đó Ví dụ: Chỉ có Nhà nước mới có quyền sở hữu đất đai, núi, sông hồ…mà không một chủ thể nào khác ngoài Nhà nước có quyền sở hữu

Trong một số trường hợp, nếu pháp luật quy định việc xác lập quyền sở hữu của chủ thể phải thông qua một trình tự, thủ tục nhất định thì việc xác định chủ sở hữu cũng phải dựa theo trình tự thủ tục này Ví dụ: đối với một số đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp ), đối tượng của giống cây trồng thì việc xác định chủ sở hữu các đối tượng này trước hết phải dựa vào các văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, trong đó ghi tên chủ sở hữu

1.2.2 Khách thể của quyền sở hữu

Khách thể là một trong ba yếu tố cấu thành quan hệ pháp luật dân sự về chiếm hữu Quyền sở hữu là quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối nên chủ sở hữu muốn thỏa mãn quyền của mình phải bằng hành vi tác động vào tài sản Khách thể của quyền sở hữu chính là các lợi ích vật chất, được thể hiện dưới dạng tài sản

1.2.2.1 Khái niệm tài sản

Tài sản – với tư cách là khách thể quyền sở hữu – đã được điều 172 bộ luật dân

sự xác định: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.”

Theo ngôn ngữ thông dụng, chúng ta có thể hiểu tài sản là của cải vật chất được con người tạo ra hoặc sử dụng trong quá trình sống, lao động Khái niệm của cải luôn

có sự thay đổi và hoàn thiện cùng với sự phát triển của loài người Theo ngôn ngữ pháp lý, tài sản với tư cách là đối tượng của sở hữu được đề cập đầu tiên trong các quy định về tài sản và quyền sở hữu tài sản của Bộ luật dân sự Việt Nam Bộ luật Dân

sự năm 1995 trước đây cũng như bộ luật Dân sự năm 2005 hiện hành dựa vào tiêu chí

Trang 13

tài sản là đối tượng của quyền sở hữu phải giá trị được bằng tiền và có thể đưa vào giao lưu dân sự Trên tinh thần đó, điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 đã liệt kê các loại tài sản là đối tượng của quyền sở hữu bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản

Vật

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, bao gồm cả động vật, thực vật, vật với

ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí) Vật được coi là tài sản phải là vật hữu hình, cảm nhận được bởi năm giác quan của con người và chiếm giữ một phần trong không gian Vật được coi là tài sản khi vật đó đáp ứng được một nhu cầu nào đó về vật chất hoặc tinh thần của con người Tuy nhiên, không phải bộ phận nào của thế giới vật chất cũng đều được coi là vật có những bộ phận của thế giới vật chất ở dang này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật Ví dụ: oxy là một bộ phận của thế giới vật chất, đáp ứng được một nhu cầu rất quan trọng của con người là

để thở, nhưng nếu oxy còn ở dạng không khí chung thì chưa thể xem là đối tượng của quyền sở hữu Chỉ khi oxy được nén vào bình, tức là con người có thể nắm giữ, quản

lý được thì mới có thể đưa vào giao dịch dân sự và mới có thể trở thành một tài sản được pháp luật điều chỉnh

Tuy nhiên, khác với bộ lụât dân sự năm 1995 trước đây, Bộ luật dân sự năm

2005 không chỉ hạn chế vật có thực mới được xem là tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, mà còn mở rộng tài sản là đối tượng của quyền sở hữu còn có thể là vật được hình thành trong tương lai Trong các giao dịch dân sự diễn ra trong thực tế, người ta không chỉ dùng vật có thực mà con người đang có quyền sở hữu là đối tượng của giao dịch, mà còn có thể dùng chính tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng giao dịch Điều này thể hiện ở việc các chủ thể dùng chính đối tượng vật sẽ mua được để thể chấp, cầm cố nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng mua bán tài sản đó Như vậy, vật muốn trở thành tài sản phải thỏa mãn những điều kiện sau:

- Là bộ phận của thế giới vật chất

- Con ngừơi có thể chiếm hữu được và phải mang lại lợi ích cho chủ thể

- Có thể tồn tại họăc hình thành trong tương lai

Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch được giao kết ) nhưng chắc chắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai,

ví dụ: tiền lương sẽ được hưởng, vụ mùa sẽ được thu hoạch, tàu đang đóng…ngoài ra,

Trang 14

tài sản hình thành trong tương lại còn bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết tài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên,

ví dụ tài sản có được do mua bán, trao đổi, tặng cho nhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao

Còn một vấn đề hiện nay rất được xã hội quan tâm đó là vấn đề về “tài sản ảo” Tài sản ảo là các tài sản được hình thành trong các trò game online, hiểu theo nghĩa rộng hơn thì tài sản ảo bao gồm cả tên miền, địa chỉ mail, các tài khoản…Việc công nhận tài sản ảo có phải là tài sản hay không hiện nay vẫn còn có nhiều luồn ý kiến

khác nhau Theo ông Trần Thanh Hải, vụ trưởng Vụ Thương Mại Điện Tử, Bộ Thương Mại, tài sản ảo là dữ liệu do các chương trình, phần mềm tạo ra (không phải là chính các chương trình phần mềm đó) Ông Hải đặc biệt chú ý tới những sản phẩm ảo trong các trò chơi trực tuyến (game online) và cho rằng chúng có những đặc tính của tài sản như: có thể chiếm hữu; là kết quả của sự đầu tư công sức, thời gian và tiền bạc; có thể định giá bằng tiền; có thể chuyển giao được theo thoả thuận Vì vậy, cần xem tài sản

ảo là một dạng tài sản và pháp luật cần công nhận quyền sở hữu tài sản ảo

Ngược lại, bà Nguyễn Thị Thu Vân, chuyên viên Vụ Pháp Luật Dân Sự – Kinh Tế-bộ Tư Pháp lại cho rằng tài sản ảo không phải là tài sản Theo Điều 163 của Bộ luật dân sự, tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản Tài sản ảo không phải

là tiền, không phải là giấy tờ có giá, không phải là vật có thực, cũng không phải là tài sản vô hình Theo bà Vân, các tài sản vô hình như sáng chế, tên thương mại, biển hiệu, tên miền, địa chỉ email, khả năng thu hút khách hàng v.v… tồn tại trong thế giới thực, không hình ảnh (ý niệm), thuộc sở hữu người bán, người đưa tài sản vào giao dịch Trong khi đó, tài sản ảo có hình ảnh, không tồn tại trong thế giới thực, và không thuộc

sở hữu của người bán (game thủ) Tài sản ảo cũng không phải là quyền tài sản Trong

3 thuộc tính của quyền tài sản là quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng, thì người chơi không có quyền chiếm hữu (tài sản ảo nằm ở máy chủ của nhà cung cấp, máy chủ có thể bị hack, bị hỏng, người chơi có thể bị khóa nick nếu vi phạm), không có quyền định đoạt tài sản ảo (có thể bị khoá nick, tuổi thọ trò chơi không phụ thuộc người chơi)

Nếu không là tài sản thì tài sản ảo là gì? Bà Vân cho rằng, trong quan hệ giữa nhà cung cấp với game thủ, thì đó là một loại dịch vụ Còn khi game thủ bán tài sản

ảo là họ bán quyền sử dụng phần tính năng cao của trò chơi, và đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản ảo giữa 2 người chơi là quyền yêu cầu thực hiện một công việc (chuyển giao quyền sử dụng dịch vụ trò chơi) Tóm lại, bà Vân nhận xét khái niệm “tài

Trang 15

sản” trong “tài sản ảo” không cùng nội hàm với khái niệm “tài sản” trong bộ luật dân sự hiện hành 4

Do có nhiều luồn ý kiến khác nhau như vậy nên tài sản ảo hiện nay vẫn chưa được công nhận là tài sản Theo ý kiến của người viết thì nên công nhận tài sản ảo là tài sản, vì để hình thành nên một tài sản người chơi game cũng cần phải bỏ ra công sức (lao động) và tiền bạc để hình thành nên một tài sản có giá trị Chơi game tuy có cái hại của nó nhưng ta phải công nhận nó là một phần của cuộc sống, phục vụ nhu cầu giải trí của con người Chính vì vậy, pháp luật cần công nhận và bảo hộ các tài sản đó

Tiền và giấy tờ có giá

Tiền theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng làm thước

đo giá trị của các loại tài sản khác Một tài sản được xem là tiền hiện nay khi nó đang

có giá trị lưu thông trên thực tế (có nghĩa là còn có giá trị thanh toán, nếu không còn giá trị thanh toán thì tiền đã hết hạn chỉ được xem là vật chứ không phải là tiền nữa) Với việc bộ luật dân sự 2005 đã bỏ quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại Bộ luật dân sự 1995 thì về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là nội tệ hoặc ngoại tệ

Được xác định là những loại tài sản, thuật ngữ “giấy tờ có trị giá được bằng

tiền” trong bộ luật dân sự năm 1995 đã được thay thế bằng “giấy tờ có giá” trong bộ

luật dân sự năm 2005 Thuật ngữ giấy tờ có giá quy định như vậy là do muốn nhấn mạnh rằng không phải mọi giấy tờ có giá trị đều được coi là tài sản mà chỉ những giấy

tờ trị giá được bằng tiền mới được coi là tài sản Bởi vì, chỉ những giấy tờ trị giá được bằng tiền mới đáp ứng được yêu cầu là đưa được vào giao dịch dân sự Giấy tờ có giá

là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong

các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua” 5 Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều thức khác nhau như séc, cổ phiếu, tính phiếu, trái phiếu, công trái Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, công ty cổ phần Nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị của những loại tài sản khác nhau, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có

Trang 16

mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn

sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền

Quyền tài sản

Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá thì quyền tài sản cũng được coi là tài sản Các

quyền tài sản được quy định tại điều 181 Bộ luật dân sự năm 2005: “Quyền tài sản là những quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể

cả quyền sở hữu trí tuệ” Đây là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện

những quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tài sản Đó là quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…

Để đáp ứng yêu cầu của một tài sản, quyền tài sản phải đáp ứng được hai yêu cầu:

- Quyền tài sản trị giá được bằng tiền

- Có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự

Giá trị các quyền tài sản có được thông qua các hình thức pháp lý khác nhau như:

- Thông qua giao kết hợp đồng dân sự như quyền đòi nợ, quyền sử dụng tài sản thuê

- Được cơ quan nhà nước giao quyền sử dụng như quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản…

- Bằng trí tuệ của mình sáng tạo ra tác phẩm hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sở hữu công nghiệp

Quyền tài sản có thể được phân chia thành hai loại: quyền đối nhân và quyền đối vật Quyền đối vật được biểu hiện như quyền cầm cố, quyền thế chấp Quyền đối nhân của một người thường tương ứng với nghĩa vụ tài sản của người khác Ví dụ: quyền yêu cầu người khác phải làm một việc hoặc không làm một việc…

Khác với vật – là một tài sản hữu hình, quyền tài sản là một loại tài sản vô hình

Để tồn tài với ý nghĩa là một tài sản vô hình thì ngoài việc đáp ứng hai điều kiện đựơc quy định tại điều 181 Bộ luật dân sự năm 2005 thì quyền tài sản cần phải có một số đặc điểm

- Tài sản vô hình cần phải nhận dạng được Việc nhận dạng tài sản vô hình có thể thông qua một số chứng cứ hữu hình để có thể mô tả tài sản vô hình đó Ví dụ:

Trang 17

quyền sử dụng đất hay quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề được đăng ký tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các quyền tài sản khác như quyền đòi nợ đựơc ghi trong hợp đồng

- Cũng như việc người ta có thể nhận biết được điểm bắt đầu sự tồn tại của tài sản đó, các chủ thể cũng có thể nhận biết được sự kết thúc Ví dụ: quyền đòi nợ kết thúc khi người có nghĩa vụ thanh toán xong khoản nợ

- Chủ sở hữu tài sản vô hình được pháp lụât bảo vệ khi quyền sở hữu bị xâm phạm, thì ngược lại, chủ sở hữu cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý khi thực hiện quyền sở hữu các tài sản vô hình này

Khái niệm quyền tài sản trong bộ luật dân sự năm 1995 cũng như trong bộ luật dân sự năm 2005 đều không xác định rõ quyền tài sản là bất động sản hay động sản Việc xác định quyền tài sản là bất động sản hay là động sản phải dựa vào đặc điểm của đối tượng mang quyền

1.2.2.2 Các cách phân loại tài sản

Tài sản trên thực tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt, cần thiết phải có quy chế pháp lý điều chỉnh riêng Rõ ràng, ở mỗi góc độ khác nhau, một sự vật hiện tượng,

sẽ được nhìn nhận, đánh giá một cách khác nhau Do đó, ở mỗi tiêu chí khác nhau, tài sản cũng sẽ được phân thành các loại cụ thể khác nhau Mỗi tài sản ở tiêu chí này sẽ tồn tại ở dạng này nhưng khi phân loại theo tiêu chí khác nó sẽ tồn tại ở dạng khác Do

đó, khi phân biệt được từng loại tài sản theo từng tiêu chí khác nhau ta sẽ dễ dàng hơn trong việc xác định quyền sở hữu

Động sản và bất động sản

Có nhiều cách thức khác nhau để phân loại tài sản, nhưng quan trọng nhất là cách phân loại truyền thống chia tài sản thành bất động sản và động sản Theo quy định tại điều 174 Bộ luật Dân sự 2005 thì phân loại động sản và bất động sản như sau:

“1 Bất động sản là các tài sản bao gồm:

a) Ðất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó;

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Các tài sản khác do pháp luật quy định

Trang 18

2 Ðộng sản là những tài sản không phải là bất động sản”

Cũng giống như cách định nghĩa tài sản, Bộ luật dân sự đã sử dụng phương thức liệt kê để định nghĩa bất động sản Căn cứ vào quy định đó thì hiện nay đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai như nhà, công trình xây dựng, cây cối, tài nguyên sẽ được coi là bất động sản

Bộ luật dân sự chỉ liệt kê một số tài sản là bất động sản theo thuộc tính tự nhiên

và dựa trên sự gắn liền của các tài sản này với tài sản trung tâm là đất đai, mà không liệt kê toàn bộ các tài sản được coi là bất động sản Quy định tại điểm d khoản 1 điều

174 thực chất là một quy phạm quét, trong đó dự liệu rằng, trong trường hợp có quy phạm pháp luật khác xác đinh cụ thể một tài sản là bất động sản mà không dựa vào các điểm nêu trên của khoản 1 điều 174 thì tài sản đó cũng được xem là bất động sản

Từ các tài sản được quy định là bất động sản ta có thể suy ra các tài sản khác là động sản, tuy nhiên có một số trường hợp tài sản ban đầu là một bất động sản nhưng lại có thể chuyển thành động sản và ngược lại, có những tài sản là động sản nhưng lại

có thể chuyển thành bất động sản Ví dụ, các thiết bị trong nhà hay công trình xây dựng khi được gắn chặt với ngôi nhà thì các thiết bị hay công trình xậy dựng này được coi là bất động sản Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu rằng, đây là một khối bất động sản, bởi vì các tài sản này luôn luôn được gắn chặt với đất đai, nhà ở hoặc công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai Khi tháo rời các thiết bị này ra khỏi ngôi nhà hoặc công trình xây dựng, chúng mất đi tính chất của một bất động sản là không thể di dời được, vì vậy chúng lại trở thành động sản

Hoa lợi, lợi tức

Điều 175 Bộ luật dân sự quy định:

“1 Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại

2 Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”

Việc phân chia hoa lợi, lợi tức dựa trên phương thức có được tài sản Hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản được sinh ra (hay thu được) từ một tài sản khác (tài sản gốc) Dựa vào căn cứ khác nhau trong việc gia tăng tài sản mà có thể phân chia thành hoa lợi hay lợi tức

Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản đem lại, ví dụ: trứng do gia cầm đẻ ra, hoa màu có được khi trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, hoa quả có được từ trồng cây ăn trái Ngay sau khi hoa lợi tách khỏi vật gốc, hoa lợi trở thành vật độc lập Từ

Trang 19

thời điểm đó, hoa lợi thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu, trừ khi trong giao dịch dân

sự có thỏa thuận khác

Lợi tức là các khoản thu được từ việc khai thác tài sản Thông thường, lợi tức được tính thành một số tiền nhất định Ví dụ: khoản tiền có được từ cho thuê nhà, lãi thu được từ cho vay tài sản

Một số trường hợp, việc phân định tài sàn gốc và hoa lợi, lợi tức không rõ ràng được bởi một số trường hợp hoa lợi, lợi tức được tiêu dùng, biến mất hoặc được tích lũy để trở thành tài sản đầu từ và tiếp tục sinh lợi Như vậy, tài sản gốc được hiểu như tài sản để bảo tồn và sản xuất ra những lợi ích vật chất

Với công dụng là phục vụ trực tiếp cho việc khai thác công dụng của vật chính nên về nguyên tắc, vật chính và vật phụ là đối tượng thống nhất có cùng chủ sở hữu Nếu các bên không có thỏa thuận khác thì vật phụ sẽ đi kèm với vật chính khi thực hiện nghĩa vụ giao vật chính Tuy nhiên vì vật chính và vật phụ có thể tồn tại độc lập với nhau, trong trường hợp các bên có thỏa thuận khác chỉ giao vật chính mà không giao vật phụ, thì có thể tuân theo thỏa thuận đó

Vật chia được và vật không chia đựơc

Điều 177 bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

“1 Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên tính chất và tính năng

Trang 20

chất và tính năng sử dụng ban đầu thì gọi là vật không chia được Ví dụ giường, tủ là những vật không chia được

Việc phân loại này đặc biệt có ý nghĩa khi cần phải phân chia tài sản là vật Nếu cần phân chia vật chia được thì người ta sẽ chia luôn bằng hiện vật để tạo thuận tiện và đảm bảo sự khách quan, công bằng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nếu chia bằng hiện vật thì sài sản sẽ mất giá trị và không có khả năng sử dụng Do đó, đối với vật không chia được thì phải trị giá thành tiền để phân chia

Vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Dựa vào đặc tính, giá trị của tài sản sau khi sử dụng người ta chia vật ra thành hai loại là vật tiêu hao và vật không tiêu hao

Đối với những vật mà qua một lần sử dụng mà mất đi tính chất và tính năng sử dụng ban đầu (vật có thể giảm về số lượng, chất lượng, trọng lượng hoặc biến đổi sang vật khác) thì vật đó được gọi là vật tiêu hao Ví dụ: xà phòng qua một lần sử dụng nó

bị giảm trọng lượng, thực phẩm qua một lần sử dụng sẽ mất đi

Vật không tiêu hao là vật khi đã qua nhiều lần sử dụng mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban dầu: Ví dụ: ngôi nhà, xe máy, ô tô

Về phương diện vật lý, mọi vật khi sử dụng đều bị hao mòn Chính vì vậy, việc phân chia vật tiêu hao và vật không tiêu hao chỉ mang tính tương đối

Đối với vật tiêu hao, chủ sở hữu có thể cho, hoặc bán tài sản này, tức là chuyển quyền sở hữu cho người khác Tuy nhiên, vật tiêu hao không thể là đôi tượng của hợp đồng cho mượn hoặc cho thuê Bởi vì bản chất của hợp đồng cho thuê hay cho mượn tài sản thì chủ cho thuê, cho mượn tài sản vẫn là chủ sở hữu đối với tài sản Người thuê, mượn tài sản chỉ được quyền sử dụng tài sản trong thời gian thuê, mượn tài sản, sau khi hết hợp đồng, người thuê, mượn có nghĩa vụ phải trả lại vật đã thuê, mượn đúng với hình dáng, tính chất và tính năng sử dụng như ban đầu đã thuê mượn

Vật cùng loại và vật đặc định

Việc phân chia vật cùng loại và vật đặc định dựa vào hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng của vật

Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường Ví dụ như gạo, muối, xăng cùng loại Vật đặc định là những vật có đặc điểm riêng về kí hiệu, màu sắc, hình dáng, chất liệu, đặc tính, vị trí và với đặc điểm đó có thể phân biệt với vật khác

Trang 21

Có những vật mới đầu là vật cùng loại nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà con người đã đặc đính hóa nó bằng các ký hiệu, dấu hiệu riêng, làm cho nó có thể phân biệt được với vật khác Ví dụ gạo được đóng vào bao rồi đánh số

Trong giao lưu dân sự, việc phân loại tài sản thành vật cùng loại và vật đặc định

có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định có chuyển giao đúng vật hay không Nếu vật cùng loại, có cùng chất lượng thì có thể thay thế cho nhau trong giao lưu dân sự Còn đối với vật đặc định có những đặc điểm riêng biệt để có thể phân biệt vật đó với vật khác, thì khi chuyển giao vật đặc định thì người có nghĩa vụ phải chuyển giao đúng vật đặc định đó cho người có quyền như đã thỏa thuận

Vật đồng bộ

Trong thực tế cuộc sống, có vật được hợp thành một chỉnh thể bởi nhiều bộ phận khác nhau, có mối liên hệ và sự ăn khớp với nhau giữa các bộ phận đó tạo thành một vật có giá trị sử dụng và có giá trị nghệ thuật nhất định Nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì vật

đó không những bị giảm về giá trị sử dụng mà còn có thể giảm về giá trị văn hóa, nghệ

thuật Theo điều 180 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì vật không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút" Vật đồng

bộ thường được thể hiện tên gọi dưới dạng bộ, đôi hoặc cặp Ví dụ như bộ máy vi tính, đôi giầy, đôi khuyên tai

Vật đồng bộ chỉ có thể khai thác công dụng một cách toàn diện nhất khi có đầy

đủ các phần, các bộ phận trong một chỉnh thể Do đó, theo quy định của pháp luật khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

1.2.3 Nội dung của quyền sở hữu

Theo quy định tại 182 Bộ luật dân sự 2005 thì: “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản”

Việc nắm giữ, quản lý tài sản có thể được thực hiện bởi bất kỳ chủ thể nào, có thể là chủ sở hữu nắm giữ tài sản, người được chủ sở hữu ủy quyền nắm giữ tài sản, cũng có thể là người được chủ sở hữu chuyển giao tài sản thông qua một giao dịch dân

sự nhưng không được chuyển giao quyền sở hữu hay cũng có thể do chủ thể khác chiếm hữu mà không theo ý chí của chủ sở hữu (như trong trường hợp chủ sở hữu

Trang 22

đánh rơi, bỏ quên, thất lạc tài sản mà một chủ thể khác tìm được tài sản mà không trao lại tài sản cho chủ sở hữu) Đối với các chủ thể này trong một chừng mực nào đó vẫn được pháp luật công nhận vì sự chiếm hữu này được pháp luật ghi nhận Còn đối với

sự chiếm hữu bất hợp pháp như trộm, cắp thì pháp luật không thừa nhận

Tuy nhiên, pháp luật chỉ bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể chiếm hữu nếu việc chiếm hữu đó dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật quy định Xuất phát từ lý do này, Bộ luật dân sự 2005 quy định về chiếm hữu có căn cứ pháp luật và theo nguyên tắc loại trừ thì những trường hợp chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật quy định sẽ bị coi là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

- Chiếm hữu có căn cứ pháp luật: Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu dựa trên cơ sở pháp lý do pháp luật quy định Theo quy định tại điều 183 Bộ luật dân sự năm 2005 thì chiếm hữu có căn cứ pháp luật bao gồm:

+ chủ sở hữu chiếm hữu tài sản:

Chủ sở hữu là người có quyền sở hữu đối với một tài sản đó dựa trên căn cứ xác lập quyền sở hữu do pháp luật quy định, nên chủ sở hữu có toàn quyền tự mình bằng các hành vi cụ thể thực hiện quyền chiếm hữu tài sản

Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu được hình thành từ hai yếu tố:

Yếu tố khách quan được thể hiện bằng việc chủ sở hữu kiểm soát vật chất đối với tài sản (thực hiện việc nắm giữ tài sản) Ví dụ: chủ sở hữu cất giữ tài sản, sử dụng tài sản của mình Đây là trường hợp chủ sở hữu tự mình sử dụng tài sản, kiểm soát thực tế tài sản Trường hợp khác, chủ sở hữu không thực tế kiểm soát tài sản, nhưng cũng có thể kiểm soát sự tồn tại và việc sử dụng tài sản Đây là trường hợp chủ sở hữu giao quyền chiếm hữu thực tế tài sản cho người khác, còn mình thì chỉ thực hiện quyền quản lý tài sản

Yếu tố chủ quan được thể hiện bằng thái độ tâm lý của chủ sở hữu đối với tài sản hoặc thái độ của chủ sở hữu tài sản đối với người không phải là chủ sở hữu chiếm hữu tài sản (đòi lại tài sản, không cho người khác sử dụng tài sản )

Thực tế việc xác định chủ sở hữu cũng không hề đơn giản Đối với trường hợp tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì có thể xác định chủ sở hữu thông qua các giấy tờ xác nhận chủ sở hữu, còn đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì việc xác định chủ sở hữu chỉ thông qua suy đoán: ai là người chiếm hữu thực tế thì người đó được xem là chủ sở hữu tài sản Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch dân sự đối với các loại tài sản này đòi hỏi các chủ thể xác lập giao dịch phải thận trọng, tránh trường hợp xác lập

Trang 23

giao dịch liên quan đến tài sản không đăng ký quyền sở hữu nhưng lại không do người

có quyền định đoạt tài sản thực hiện

+ Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản:

Chủ sở hữu có thể trực tiếp chiếm hữu tài sản nhưng cũng có thể ủy quyền cho người khác chiếm hữu tài sản Việc ủy quyền chiếm hữu có thể thực hiện thông qua hợp đồng ủy quyền

Người được ủy quyền quản lý tài sản của chủ sở hữu chỉ thực hiện việc quản lý tài sản nhưng có thể thực hiện các hành vi khác nếu được chủ sở hữu đồng ý

Về phạm vi ủy quyền Người được ủy quyền quản lý tài sản chỉ được chiếm hữu thực tế đối với tài sản, chứ không có quyền chiếm hữu pháp lý, và chỉ có quyền sử dụng, định đoạt tài sản khi được chủ sở hữu đồng ý

Cách thức quản lý tài sản: Mỗi tài sản có những cách thức quản lý, bảo quản nhất định Người được ủy quyền quản lý tài sản có nghĩa vụ phải bảo vệ, giữ gìn tài sản đã được chủ sở hữu ủy quyền quản lý như đã thỏa thuận với chủ sở hữu

Thời hạn quản lý tài sản Thời hạn quản lý do các bên thỏa thuận Khi hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng thì người được ủy quyền giao tài sản lại cho chủ sở hữu hoặc người mà chủ sở hữu chỉ định và sẽ được hưởng thù lao nếu có thỏa thuận

+ Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật:

Giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch Tuy nhiên, việc chuyển giao quyền chiếm hữu phải phù hợp với ý chí của chủ sở hữu

Trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều trường hợp chủ sở hữu giao quyền chiếm hữu tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự Ví dụ: A gửi B trông giữ xe đạp, C cho D mượn xe Trong các trường hợp này, chủ sở hữu chỉ giao quyền chiếm hữu thực tế hoặc quyền quyền chiếm hữu và sử dụng đối với tài sản, chứ không giao quyền sở hữu đối với tài sản

Khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch

Trang 24

+ Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ

sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều kiện do pháp luật quy định

Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời lần đầu tiên quy định một cách cụ thể việc chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu Trước đây những quy định trên thuộc về phạm trù đạo đức, phụ thuộc vào ý chí của người phát hiện được tài sản chứ chưa được điều chỉnh bằng pháp luật Cho đến nay nội dung chủ yếu của quy định về quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ

sở hữu vẫn được bộ luật dân sự năm 2005 kế thừa

Kể từ khi phát hiện ra tài sản bị đánh đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không phát hiện được ai là chủ sở hữu, người phát hiện có quyền chiếm hữu tài sản đó cho đến khi trả lại cho chủ sở hữu hoặc cho đến khi giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Người phát hiện tài sản bị đánh đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không phát hiện được ai là chủ sở hữu phải quản lý, bảo quản tài sản trong phạm vi quyền chiếm hữu của mình Trong thời gian chiếm hữu, người phát hiện tài sản phải thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết theo quy định của pháp luật để tìm ra chủ sở hữu của tài sản Ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn ở phần sau + Người phát hiện vật nuôi dưới nước, gia súc, gia cầm thất lạc phù hợp với quy định của pháp luật

Việc quy định về chiếm hữu tài đối với gia súc, gia cầm, vật nuôi là một quy định mới trong luật dân sự Việt Nam Xuất phát từ nhu cầu thực tế cuộc sống ở nông thôn Việt Nam Gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước là những động vật được nuôi phổ biến ở vùng nông thôn nước ta Ở nhiều địa phương việc nuôi gia súc, gia cầm còn thả rong Chính vì vậy việc lẫn lộn giữa gia súc, gia cầm của người dân với nhau là chuyện có thể xảy ra thường xuyên Người phát hiện gia súc, gia cầm, vật nuôi của người khác thì phải trả lại cho chủ sở hữu nếu biết được chủ sở hữu là ai, còn không biết thì phải thông báo công khai để tìm chủ sở hữu đích thực Trong thời gian tìm kiếm chủ sở hữu thì người phát hiện có quyền chiếm hữu đối với những vật nuôi mà mình phát hiện được

- Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật:

Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản không dựa trên các căn cứ pháp lý do pháp luật quy định Điều 189 Bộ luật dân sự 2005 quy

Trang 25

định: “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại điều 183 của Bộ luật này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ”

Căn cứ vào ý thức chủ quan của người chiếm hữu, căn cứ vào quy định của pháp luật mà chiếm hữu không có căn cứ pháp luật được chia thành hai loại:

+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình: Điều 189 Bộ luật dân

sự 2005 quy định: “ Người chiếm hữu tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản

đó là không có căn cứ pháp luật.”

Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng người chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật Thông thường, việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là do sự chuyển giao đối với tài sản không có đăng

ký quyền sở hữu Người được chuyển giao tài sản không biết người chuyển giao tài sản cho mình không có quyền sở hữu đối với tài sản Ví dụ: A mua chiếc xe đạp mới trong cửa hàng với đúng giá thị trường A không biết chiếc xe đó bị ăn trộm và chủ cửa hàng mua từ người ăn trộm Trong trường hợp này A là người chiếm hữu không

có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình

+ Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình: Việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không ngay tình là việc người chiếm hữu biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp hoặc không biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp nhưng được xác định là có thể biết việc chiếm hữu là bất hợp pháp (pháp luật buộc phải biết) Ví dụ như mua tài sản là đồ trộm cắp, mua xe máy không có giấy tờ, mua nhà được xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm

Về nguyên tắc, pháp luật chỉ bảo vệ việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật theo quy định tại điều 183 Bộ luật dân sự nhưng trong một số trường hợp cụ thể, pháp luật dân sự cũng bảo vệ quyền lợi cho những người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình Ví dụ khi chủ sở hữu đòi lại vật, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình có quyền yêu cầu người đã chuyển dịch tài sản trả lại cho mình những gì họ đã nhận (quy định tại điều 602 Bộ luật dân sự 2005)

1.2.3.2 Quyền sử dụng

Điều 192 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản”

Trang 26

Quyền khai thác công dụng của tài sản là việc khai thác lợi ích từ tài sản theo công dụng của tài sản (xe máy dùng để đi, nhà dùng để ở ) Hưởng hoa lợi từ tài sản là hưởng những sản vật tự nhiên do vật mang lại như hưởng hoa quả từ cây, trứng do gia cẩm đẻ , hưởng lợi tức là hưởng lợi ích từ tài sản được đưa vào khai thác như hưởng tiền thuê nhà…

Quyền sử dụng tài sản có thể được chủ sở hữu trực tiếp thực hiện nhưng cũng

có thể thực hiện thông qua người khác Theo quy định tại điều 194 Bộ luật Dân sự

2005 thì người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp sau:

- Người không phải chủ sở hữu được sử dụng tài sản thông qua hợp đồng với chủ sở hữu Đối với nhiều loại tài sản, việc chuyển giao quyền sử dụng cho người khác

sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn cho chủ sở hữu Chính vì thế, thông qua hợp đồng dân sự, chủ sở hữu giao tài sản cho một người khác để sử dụng, còn bản thân chủ sở hữu thì hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Khi sử dụng những tài sản này, người được chuyển giao quyền sử dụng phải sử dụng đúng tính năng, công dụng, đúng phương thức đã thỏa thuận với chủ sở hữu, ngoài ra người sử dụng tài sản phải tuân theo các quy định của pháp luật trong sử dụng tài sản

- Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản trong thời gian chiếm hữu Trong trường hợp chủ sở hữu đòi lại tài sản, thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình phải trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu

- Người không phải chủ sở hữu được sử dụng tài sản của người khác theo quy định của pháp luật: Đây là trường hợp mà pháp luật quy định cho phép chủ thể nhất định có quyền sử dụng tài sản Ví dụ: khoản 1 điều 68 Bộ luật Dân sự 2005 cho phép người giám hộ có quyền sử dụng tài sản của người giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ

Trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình, chủ sở hữu có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Tuy nhiên, việc sử dụng tài sản của chủ sở hữu cũng có những giới hạn nhất định, đó

là không được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng

và lợi ích của người khác Ví dụ: không được xây nhà làm ảnh hướng đến an toàn lưới

điện, không được xây nhà lấn chiếm diện tích đất của người khác

Trang 27

1.2.3.3 Quyền định đọat

Quyền định đọat là một quyền năng quan trọng trong nội dung quyền sở hữu

Theo quy định tại điều 195 Bộ luật Dân sự 2005 thì: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó”

Là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu, quyền định đoạt tài sản được hiểu là quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản Sở dĩ nói như vậy vì người có quyền định đoạt tài sản thì có thể thực hiện các hành vi để quyết định sự tồn tại của vật Tuy nhiên, việc thực hiện các hành vi này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép Quyền này được thể hiện ở dưới hai góc độ:

Thứ nhất là định đọat về số phận thực tế của vật, tức là chủ thể có quyền định đọat vật làm cho vật không còn trên thực tế nữa như: tiêu dùng hết, hủy bỏ, hoặc từ bỏ quyền sở hữu (vứt bỏ hoặc tiêu hủy tài sản) Bằng hành vi của mình, các chủ thể tác động trực tiếp lên tài sản, làm cho tài sản không còn tồn tại nữa Như đã phân tích ở trên, việc thực hiện hành vi phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép

Thứ hai là định đọat số phận pháp lý của vật là việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Thông thường, việc định đoạt pháp lý của vật phải thông qua giao dịch dân sự phù hợp với ý chí của chủ sở hữu Các hình thức định đọat số phận pháp lý rất đa dạng, có thể định đoạt đối với tài sản như bán, trao đổi, tặng cho…

Về chủ thể có quyền định đọat tài sản thông thường là chủ sở hữu nhưng các chủ thể khác vẫn có thể định đọat tài sản khi được chủ sở hữu ủy quyền Việc định đoạt tài sản phải tuân theo những điều kiện nhất định tài điều 196 Bộ luật Dân sự

đã ký sắc lệnh 90/SL quy định về việc tạm thời sử dụng các luật cũ hiện hành ở Việt Nam Theo tinh thần của sắc lệnh này các bộ luật của chính quyền cũ (gồm bộ Dân

6

Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó

Trang 28

luật Giản yếu Nam kỳ ban hành năm 1883, bộ Dân luật Bắc kỳ ban hành 1931 và bộ Hoàng Việt trung kỳ hộ luật thường gọi là bộ Dân luật Trung ban hành 1936) vẫn có hiệu lực thi hành dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong khi chờ đợi việc ban hành pháp luật mới

Sau khi Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua bản Hiến pháp mới ngày 9/11/1946, thì các nguyên cơ bản về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, quy định về sở hữu đã được chính thức ghi nhận Hiến pháp 1946 đã tạo cơ sở pháp lý và

từ đây quyền sở hữu tài sản riêng của công dân đã trở thành quyền hiến định

Cùng với việc ban hành hiến pháp mới và ghi nhận quyền sở hữu hợp pháp của công dân, thì một trong những nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ là phải xóa bỏ quyền sở hữu với các tư liệu sản xuất quan trọng của thực dân Pháp, của các đế quốc khác, các thế lực phản động và thù nghịch, của giai cấp địa chủ phong kiến Mọi đặc quyền, đặc lợi của các thành phần phản động, bóc lột, ngoại kiều cũng bị xóa bỏ Việc xây dựng một cở sở kinh tế mới tập trung trong tay Nhà nước chính là cơ sở vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển cuả thể chế chính trị mới

Để thực hiện được nhiệm vụ đó, Nhà nước ta đã thực hiện hàng loạt các biện pháp thích ứng và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để chuyển các tư liệu sản xuất quan trọng vào tay Nhà nước Thông qua nhiều sắc lệnh như: Sắc lệnh ngày 22/9/1945

về việc bãi bỏ các nghiệp đoàn của chế độ cũ trên toàn cõi Việt Nam Sắc lệnh ngày 15/11/1945 về việc bãi bỏ quyền khai trương tuyến đường hỏa Hải Phòng – Vân Nam; Sắc lệnh ngày 22/1/1950 quy định về quyền phân phối các nguồn khoáng chất trong nước; Sắc lệnh ngày 30 /5/1950 quy định về việc trưng thu, trưng dụng và trưng tập trong thời kỳ kháng chiến Trên thực tế Nhà nước ta đã chuyển các xí nghiệp, hầm mỏ,

hệ thống giao thông, bưu điện, các nguồn khoáng sản thành sở hữu của Nhà nước Đặc biệt bằng biện pháp kiên quyết, Nhà nước ta đã ban hành và thực hiện trên quy mô rộng lớn luật cải cách ruộng đất (ngày 19/12/1953) Tiến trình cách mạng trong những năm đầu của thập niên 50 đã từng bươc thực hiện thành công khẩu hiệu

“Người cày có ruộng” Đây là một kết qủa có ý nghĩa vô cùng quan trọng của cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Bước đầu đã xóa bỏ quyền quyền sở hữu của các địa chủ phong kiến về đất đai, đồng thời xác lập nên quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân lao động

Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm xóa bỏ triệt để các hình thức

sở hữu của chính quyền thực dân phong kiến thì trong giai đoạn này, trên cở sở quy định của Hiến pháp 1946 Nhà nước ta cũng ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo

Trang 29

vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân: Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 về việc sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật; Sắc lệnh 85/SL ngày 20/2/1952 ban hành thể lệ trước bạ về việc mua bán, cho và đổi nhà, ruộng đất; Nghị định 47/NĐ ngày 12/6/1958 của Bộ Giao thông và Bưu điện ban hành quy định điều lệ tạm thời về việc đăng ký cá phương tiện vận tải đường sông, thuyền buồm đi biển

Nhìn chung “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”7, nhưng theo một tinh thần hoàn toàn mới Đó là: Người ta chỉ được hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không thiệt hại đến quyền lợi của người khác

Pháp luật về sở hữu giai đoạn 1945 – 1959 đã tạo ra những tiền đề quan trọng trong việc xác lập quan hệ sở hữu mới dưới chính quyền nhân chủ nhân dân

Ngày 31 tháng 12 năm 1959 bản hiến pháp mới được thông qua Cách mạng của nước ta cũng bước vào một giai đoạn mới Từ đó vấn đề về sở hữu cũng có những biến đổi

1.3.2 Giai đoạn 1959-1980

Sau khi kết thúc thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong điều kiện mới

Ở miền Nam, dưới các chính thể ngụy quyền Sài Gòn, pháp luật dân sự nói chung và pháp luật sở hữu nói riêng vẫn áp dụng hai bộ dân luật cũ tại Nam Kỳ và Trung Kỳ Năm 1972 chnh quyền Nguyễn Văn Thiệu có ban hành bộ Dân luật, thực chất của bộ Dân luật năm 1972 cũng là việc rút tỉa những nguyên tắc đại cương của bộ Dân luật Pháp năm 1804 Quyền tư hữu tài sản trong bộ Dân luật năm 1972 cũng đựơc coi là quyền tuyệt đối

Ở miền Bắc cùng với việc ban hành hiến pháp mới (Hiến pháp 1959), Nhà nước

ta đã hoàn thành một cách căn bản công cuộc cải tạo xã hội chù nghĩa đối với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn này là: Xác lập và hoàn thiện chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Điều 12 Hiến pháp

1959 đã khẳng định: “kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân, giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được Nhà nước bảo đảm phát triển ưu tiên

Các hầm mỏ, sông ngòi và những rừng cây, đất hoang, tài nguyên khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”

7

Điều 12 Hiến pháp 1946

Trang 30

Trong giai đoạn này, bên cạnh hình thức sở hữu Nhà nước còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác như: Sở hữu các nhà ta sản dân tộc, của những người tiểu thương, thợ thủ công, hộ nông dân cá thể… Chính vì vậy Hiến pháp 1959 đã xác nhận

và bảo hộ những hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất là: Hình thức sở hữu Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc

Mục đích cơ bản của chính sách kinh tế của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

là “phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội” (điều 9 Hiến

pháp 1959) Để thực hiện chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn này là: Cải tạo xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ trương xóa bở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tiến hành công hữu hóa tư liệu sản xuất dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, xóa bỏ hoàn toàn việc “người bóc lột người” thông qua các hoạt động tư hữu… Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật để thực hiện các mục tiêu niêu trên: Nghị định 19/CP ngày 29/6/1960 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với việc thuê nhà của tư nhân ở các tỉnh, thành phố và thị xã; Nghị định 115/CP ngày 29/7/1964 quy định về điều lệ cho thuê nhà ở thành phố, thị xã; Quyết định số 118/CP

về chính sách xóa bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam Việt Nam; Nghị đinh 111/CP ngày 14/4/1977 về chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất cho thuê ở các đô thị ở các tỉnh phía Nam… Cùng với các văn bản pháp luật nhằm cải tạo và công hữu hóa tư liệu sản xuất, Nhà nước ta còn ban hành pháp luật nhằm bảo vệ chế độ sở hữu chế độ

xã hội chủ nghĩa đã được xác lập (Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa)

Do bối cảnh lịch sử giai đoạn 1854 – 1975 đất nước bị phân chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, nên pháp luật về sở hữu ở miền Bắc giai đoạn này

có tính mềm dẻo trong một số mặt để thực hiện chính sách mặt trận, đoàn kết dân tộc Tính chưa triệt để trong pháp luật về sở hữu thời kỳ này thể hiện: khi chúng ta thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa thì trong một chừng mực nhất định Nhà nước vẫn bảo hộ quyền sở hữu ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của các hộ nông dân cá thể, người làm thợ thủ công và những người lao động riêng lẻ Trong qua trình thực hiện chính sách này, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Thông tư số 48/TTg ngày 3/6/1963 hướng dẫn việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật bảo đảm quyền tư hữu về tư liệu sản xuất

ở nông thôn

Trang 31

Pháp luật về sở hữu trong giai đoạn này chưa xác nhận việc công hữu hóa toàn dân đất đai (theo quy định của Hiến pháp 1959) nên quyền tư hữu của các hộ nông dân

cá thể vẫn được Nhà nước bảo hộ cùng với những quyền sở hữu tài sản khác Tuy nhiên, Nhà nước nghiêm cấm việc lợi dụng tài sản tư hữu để làm rối loạn nền kinh tế của xã hội, phá hoại kế hoạch kinh tế Nhà nước

Mặc dù còn có những hạn chế do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ nhưng pháp luật

về sở hữu vẫn là một công cụ pháp lý quan trọng và có hiệu quả để Nhà nước thực hiện các chủ trương xóa bỏ tư hữu về tư liệu sản xuất, thực hiện chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa và công hữu tư liệu sản xuất

ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng và các tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng…đều thuộc sở hữu toàn dân

Bản Hiến pháp 1980 đã ghi nhận các chế độ sở hữu đang tồn tại ở nước ta bao gồm các hình thức sở hữu: sở hữu Nhà nước hay còn gọi là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu của công dân Hiến pháp 1980 còn quy định một cách cụ thể về các loại khách thể của những hình thức sở hữu nhất định và ưu tiên cho hai hình thức sở

hữu được xác định là then chốt Điều 18 của hiến pháp 1980 đã quy định: “Nhà nước tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, hướng dẫn, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa

về tư liệu sản xuất nhằm thực hiện một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động”

Nhằm cụ thể hóa việc thực hiện Hiến pháp 1980 nên các văn bản pháp luật về

sở hữu trong những năm đầu của thập niên 80 vẫn tiếp tục thực hiện chính sách cải tạo

xã hội chủ nghĩa trong việc thiết lập và củng cố chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa Theo quy định của Hiến pháp, các văn bản pháp luật đã quy định việc giao quyền sử dụng đất đai cho người sử dụng để khai thác giá trị của đất nhưng phải đảm bảo quyền quản

lý của Nhà nước: Quyết định số 201/CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng chính phủ về

Trang 32

việc thống nhất quản lý ruộng đất trong cả nước; Quyết định số 184/HĐBT ngày 6/11/1982 của Hội đồng bộ trưởng về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể

và nhân dân trồng cây, gây rừng

Đặc biệt, từ khi thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về sở hữu Pháp luật về sở hữu giai đoạn này đã quy định rõ các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu trong các trường hợp cụ thể; đã xử lý đúng đắn các vấn đề về lợi ích nên đã trở thành động lực thúc đẩy giao lưu dân sự trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước phóa triển mạnh mẽ

1.3.4 Giai đoạn 1992 đến nay

Dưới ánh sáng của Nghị quyết đại hội VI Đảng cộng sản Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện ở đất nước ta đã đạt được những thành tựu bước đầu vô cùng quan trọng, nhất là những năm đầu của thập niên 90 Để đáp ứng nhu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay, Quốc hội đã ban hành bản hiến pháp mới năm

1992 Hiến pháp 1992 đã kế thừa những quy định của các bản hiến pháp trước đây và

đã xác nhận chế độ kinh tế của nước ta bao gồm ba hình thức sở hữu chủ yếu Điều 15

–Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh

đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, ở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”

Với xu thế phát triển của một nền kinh tế đa dạng, Hiến pháp 1992 đã xác nhận

sự tồn tại của hình thức sở hữu tư nhân, nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại và phát triển Để tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, Nhà nước chủ trương cho các thành phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân phát triển với nhiều hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng Mức độ và phạm vi của sở hữu tư nhân ngày

càng được mở rộng Điều 21 của Hiến pháp 1992 quy định: “kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh , được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh”

Tuy nhiên, Nhà nước vẫn luôn luôn xác định vai trò nền tảng của hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể; xác định nền kinh tế quốc doanh (thuộc sở hữu toàn dân) phải là thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Trang 33

Đối với việc sở hữu tư liệu sản xuất quan trọng là đât đai, Hiến pháp 1992 vẫn

tiếp tục khẳng định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và

pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và hiệu quả”8 So với Hiến pháp 1980,

Hiến pháp 1992 có quy định cụ thể về việc sử dụng đất Đó là: Nhà nước giao đất cho

tổ chức, các nhân sử dụng ổn định lâu dài; người sử dụng đất được chuyển quyền sử

dụng đất được Nhà nước giao theo quy định

Theo tinh thần của Hiến pháp 1992 quy định về pháp luật sở hữu, Quốc hội đã

cho ra đời Bộ luật dân sự năm 1995 và sau này được thay thế bằng Bộ luật năm 2005

Các nhà lập pháp nước ta đã có cách nhìn nhận và quy định một cách cụ thể vè quyền

sở hữu gồm ba quyền năng là: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt

Trong Bộ luật dân sự 1995 “tài sản và quyền sở hữu” được quy định ở phần thứ

hai Có thể thấy rằng, trên cở sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 về

phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với các hình

thức kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, sở hữu tư

nhân; đồng thời có tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ luật dân sự năm 2005 đã quy

định khá tập trung về vấn đề tài sản và quyền sở hữu: từ những vấn đề có tính nguyên

tắc đến các vấn đề cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở

hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để tòa án,

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về sở hữu

8

Điều 18 hiến pháp 1992

Trang 34

CHƯƠNG 2 CÁC CĂN CỨ XÁC LẬP

VÀ BIỆN PHÁP BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU 2.1 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu

2.1.1 Do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp

Quyền sở hữu được xác lập do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp được xem là căn cứ phổ biến làm phát sinh quyền sở hữu của các chủ thể Điều 233 Bộ luật

dân sự năm 2005 quy định: “người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó”

Tài sản có được do lao động, sản xuất, kinh doanh hợp pháp là tài sản được hình thành trong quá trình con người lao động, sản xuất, kinh doanh, đó có thể là tiền công, tiền lương hay quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ hay các động sản, bất động sản Các tài sản đó có được là do con người tác động vào thế giới vật chất thông qua lao động để tạo ra Con người có thể lao đông dưới nhiều hình thức khác nhau ví dụ như kinh doanh, làm công nếu những cách thức đó hợp pháp thì những tài sản được làm ra họ có quyền sở hữu đối với nó

Vấn đề là phải xác định thế nào là lao động hợp pháp, là sản xuất, kinh doanh hợp pháp, có như vậy, mới xác định được tài sản của người đó có hợp pháp hay không,

để từ đó công nhận quyền sở hữu của người đó đối với tài sản có được Hiến pháp năm

1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) xác định rõ: “ Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh

tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và

sở hữu tập thể là nền tảng" (Điều 15 Hiến pháp) Trên cơ sở đó điều 5 Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi năm 2002,2006,2007) quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ” Như vậy Nhà nước khuyến

khích người dân lao động trên tất cả các nghành, nghề, các hình thức, tuy nhiên các ngành, các nghề, các hình thức này phải phù hợp với quy định của pháp luật và không thuộc vào các đối tượng mà pháp luật cấm Điều này đồng nghĩa với việc các tài sản

có được do các hoạt động đó sẽ được công nhận là hợp pháp và sẽ được công nhận

Trang 35

quyền sở hữu Và người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, sản xuất kinh doanh hợp pháp kể từ thời điểm có được tài sản đó

2.1.2 Do chuyển quyền sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nứơc có thẩm quyền

Chuyển quyền sở hữu là một trong những căn cứ thông dụng và phổ biến nhất trong việc xác lập quyền sở hữu Chuyển quyền sở hữu có thể được xác lập thông qua

sự thỏa thuận, thể hiện qua các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay Điều

234 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay có quyền sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm chuyển giao tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác”

Theo quy định tại điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Trong

đó, đối với các hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay tài sản là các hợp đồng

có sự chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này, sang chủ thể khác (từ người bán sang người mua, từ người cho vay sang người vay, từ người tặng cho sang người được tặng cho, từ các chủ thể trao đổi với nhau) Để hợp đồng có hiệu lực thì đối tượng của hợp đồng phải là những tài sản không bị cấm và được phép giao dịch và phải tuân thủ theo quy định tại điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.”

Ngoài ra còn phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về giao dịch dân sự

và hợp đồng dân sự

Về nguyên tắc, kể từ thời điểm chuyển giao tài sản, người mua tài sản, người vay tài sản, người được tặng cho tài sản, các chủ thể trao đổi tài sản cho nhau được quyền sở hữu tài sản đó Tuy nhiên trên nguyên tắc tự nguyện giao kết hợp đồng, các bên có quyền tự do thoả thuận về các điều khoản trong hợp đồng, do vậy pháp luật tôn trọng các thỏa thuận của các bên về thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và các thỏa thuận đó sẽ có hiệu lực thi hành Ví dụ: A bán cho B một con trâu với giá 5 triệu đồng,

Trang 36

B trả trước cho A 4 triệu đồng và A sẽ giao trâu cho B để B sử dụng, nhưng thỏa thuận B chỉ có quyền sở hữu con trâu khi B trả hết số tiền còn lại Như vậy B chỉ có quyền sở hữu con trâu khi B trả hết số tiền cho A

Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được xác lập khi các chủ thể hoàn tất thủ tục đăng ký hay chuyển quyền sở hữu Bên cạnh đó, quyền sở hữu cũng có thể xác lập thông qua bản án, quyết định của tòa án hoặc theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong các trường hợp này chủ thể được xác lập quyền sở hữu và tài sản được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền Kể từ thời điểm bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền có hiệu lực thì chủ thể được xác định có quyền sở hữu đối với tài sản thì có quyền sở hữu đối với tài sản đó Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì chủ sở hữu vẫn phải thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật

2.1.3 Thu từ hoa lợi, lợi tức

Điều 235 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ khi thu được hoa lợi, lợi tức đó" Hoa lợi, lợi tức là những tài sản phái sinh

từ tài sản gốc, tức là những tài sản có được dựa trên cơ sở là một tài sản trước đó Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại Ví dụ trứng gia cầm, sữa động vật, hoa, quả Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác, sử dụng tai sản Lợi tức có thể là một khoản tiền hay tài sản khác Ví dụ: tiền cho thuê nhà, tiền lãi do cho vay Hoa lợi, lợi tức không tự nhiên sinh ra mà do quá trình con người tác động vào tài sản để tạo ra sản phẩm cho xã hội, từ đó mà chúng có được Do vậy, con người cũng đương nhiên được hưởng thành quả của những gì mà mình tạo ra Về nguyên tắc, ngay từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền

sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức đó theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Có nghĩa là ngay từ thời điểm hoa lợi tách khỏi tài sản gốc trở thành vật độc lập, lợi tức thu được thì từ thời điểm đó, hoa lợi, lợi tức thuộc quyền sở hữu của người nhận hoa lợi, lợi tức Ví dụ A cho B thuê nhà với giá 5 triệu đồng/tháng, thời điểm B trả tiền cho

A thì A có quyền sở hữu đối với số tiền đó Trong thực tế, có một số giao dịch dân sự, quyền sở hữu hoa lợi được xác lập trên cơ sở tự nhiên đã có, nhưng chưa tách khỏi vật

Ví dụ A ký hợp đồng với B mua toàn bộ số xoài trong vườn của B kể từ thời điểm xoài vừa kết trái Như vậy kể từ thời điểm ký hợp đồng thì A đã có quyền sở hữu đối với số

Ngày đăng: 07/11/2020, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Thiên Long - Chính sách pháp luật về sở hữu: Vẫn còn nhiều... bất cập http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=5&ID=1749 Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.doisongphapluat.com.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=
13. Thụy Anh - Tài sản ảo và phương án “không hành động” http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/12/04/4131/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: không hành động”
1. Nguyễn Thị Tuyết - Bảo vệ quyền sở hữu thông qua phương thức kiện dân sự những ưu điểm và hạn chế so với các phương thức kháchttp://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/01/03/12416/ Link
2. Bùi Thị Huyền - Bảo vệ quy ền sở hữu tài sản thông qua thủ tục tố tụng dân sự http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/01/03/1414/ Link
3. Nguyễn Minh Khuê - Án dân sự xử đi xử lại: Căn bệnh khó chữa http://www.anninhthudo.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=37160&ChannelID=80 Link
5. Thành Tâm - Thuê giết người vì tranh chấp tài sản http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/Phap-luat/376039/thue-giet-nguoi-vi-tranh-chap-tai-san.htm Link
7. Nguyễn Như Quỳnh - Kiện đòi lại tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tìnhhttp://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/01/03/3412/ Link
8. Vương Thanh Thúy - Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại http://www.luatviet.org/Home/nghien-cuu-trao-doi/dan-su-to-tung-dan-su/2009/7729/Kien-yeu-cau-boi-thuong-thiet-hai.aspx Link
9. Ngô Huy Cương - Những bất cập về khái niệm tài sản, phân loại tài sản của bộ luật dân sự và định hướng cải cáchhttp://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/12/04/4130/ Link
10. Trần Thị Huệ - Quyền sở hữu và quyền năng của chủ sở hữu http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/01/03/35325/ Link
11. Hồ Tấn Phong - Quan hệ sở hữu: một số vấn đề lý luận và thực tiễn http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/10/29/1888-2/ Link
12. Đức Minh - Sửa đổi bộ luật dân sự năm 2005: vướng Hiến pháp http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/03/09/4690-2/ Link
14. Bùi Đăng Hiếu - Tiền – một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự - http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/06/26/26620088/ Link
17. Lê Việt Long - Xâm phạm Sở hữu Trí tuệ: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp http://diendan.az24.vn/hoi-dap-tu-van-phap-luat/126020-xam-pham-so-huu-tri-tua-thuc-trang-nguyen-nhan-va-giai-phap.html Link
1. Hiến pháp năm 1945, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007) 2. Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007) Khác
7. Quyết định 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 ban hành quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng Khác
8. Thông tư 16/2009/TT-NHNH sửa đổi, bổ sung một số điều quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo quyết định 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24 tháng 3 năm 2008 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Khác
9. Nghị định 96/2009/NĐ-CP ngày ngày 30 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn xử lý tài sản bị chìm đắm, chôn giấu Sách Khác
1. Đinh Trung Tụng – Bình luận những nội dung mới của Bộ luật Dân sự năm 2005– NXB Tư pháp Khác
2. Hoàng Thế Liên – Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005 – tập 1- NXB Chính trị quốc gia Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w