1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện Pháp Cấm Đi Khỏi Nơi Cư Trú, Bảo Lĩnh, Đặt Tiền Hoặc Tài Sản Có Giá Trị Để Bảo Đảm

64 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 894,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương tự với biện pháp bảo lĩnh, thì việc cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cũng sẽ góp phần cải thiện tinh thần cho bị can, bị cáo, g

Trang 1

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Mạc Giáng Châu Trần Thị Tuyết Trinh

Trang 2

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Ths Mạc Giáng Châu Trần Thị Tuyết Trinh

Trang 3

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 5

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP CẤM ĐI KHỎI NƠI CƯ TRÚ, BẢO LĨNH, ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 3

1.1 Khái niệm chung về các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự Việt Nam 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.1.1 Cấm đi khỏi nơi cư trú 3

1.1.1.2 Bảo lĩnh 4

1.1.1.3 Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 5

1.1.2 Đặc điểm 6

1.1.2.1 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 6

1.1.2.2 Biện pháp bảo lĩnh 7

1.1.2.3 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 9

1.1.3 Căn cứ áp dụng 9

1.2 Tầm quan trọng của các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 15

1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 15

1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đối với bị can, bị cáo 16

1.2.3 Ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đối với cộng đồng 18

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP CẤM ĐI KHỎI NƠI CƯ TRÚ, BẢO LĨNH, ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM 20

2.1 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 20

2.1.1 Đối tượng áp dụng và trường hợp áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 20

2.1.2 Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 21

2.1.3 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 23

Trang 6

2.2.2 Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo lĩnh 30

2.2.3 Trình tự và thủ tục áp dụng biện pháp bảo lĩnh 31

2.3 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 33

2.3.1 Đối tượng áp dụng và trường hợp áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 33

2.3.2 Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 34

2.3.3 Trình tự thủ tục áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 36

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 39

3.1 Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú 39

3.1.1 Về mặt pháp lý 39

3.1.1.1 Tồn tại 39

3.1.1.2 Giải pháp đề xuất 42

3.1.2 Về mặt thực tiễn 43

3.1.2.1 Tồn tại 43

3.1.2.2 Giải pháp đề xuất 43

3.2 Đối với biện pháp bảo lĩnh 44

3.2.1 Về mặt pháp lý 44

3.2.1.1 Tồn tại 44

3.2.1.2 Giải pháp đề xuất 45

3.2.2 Về mặt thực tiễn 46

3.2.2.1 Tồn tại 46

3.2.2.2 Giải pháp đề xuất 47

3.3 Đối với biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 48

3.3.1 Về mặt pháp lý 48

3.3.1.1 Tồn tại 48

3.3.1.2 Giải pháp đề xuất 51

3.3.2 Về mặt thực tiễn 53

3.3.2.1 Tồn tại 53

3.3.2.2 Giải pháp đề xuất 54

KẾT LUẬN 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự Việt Nam thì các biện pháp ngăn chặn nói chung và các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nói riêng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Bởi

lẽ, việc áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn này sẽ giúp các cơ quan tiến hành

tố tụng có các điều kiện thuận lợi để giải quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan, kịp thời ngăn chặn các hành vi phạm tội đang xảy ra hoặc có thể xảy ra

Từ đó, có thể bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người

vô tội Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm còn thể hiện sự tôn trọng, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân Tuy nhiên, việc áp dụng ba biện pháp là cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong thực tiễn hiện nay còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng các biện pháp này

Do đó, với mong muốn tìm hiểu một cách đầy đủ và toàn diện hơn về các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Tác giả

quyết định chọn đề tài “Biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc

tài sản có giá trị để bảo đảm trong Tố tụng hình sự Việt Nam” để nghiên cứu

nhằm tìm ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện hơn những quy định của pháp luật về ba biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Từ đó góp phần khắc phục những khó khăn, thiếu sót trong công tác xây dựng và thực hành pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

2 Phạm vi nghiên cứu

Do có sự hạn chế về tài liệu cũng như thời gian hoàn thành luận văn, nên trong

phạm vi nghiên cứu đề tài “Biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các căn cứ, chủ

thể có thẩm quyền và trình tự thủ tục áp dụng cho từng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Còn các vấn đề về việc quản

lý người bị áp dụng biện pháp này của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị

Trang 8

cáo cư trú; vấn đề về trách nhiệm của cá nhân hoặc tổ chức khi nhận bảo lĩnh; trình

tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để đảm bảo, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt tác giả không nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài “Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm” nhằm giúp người viết tìm hiểu rõ hơn về

các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Từ đó, tác giả mong muốn có thể tìm ra những giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tình hình hiện nay, giúp cho việc áp dụng các biện pháp này đạt hiệu quả cao hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài “Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên

cứu phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp Cụ thể tác giả dựa trên các văn bản pháp luật, giáo trình, sách báo, tạp chí chuyên ngành, trang tin điện tử, để phân tích, tổng hợp để hoàn thiện đề tài này

5 Bố cục đề tài

Đề tài gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết luận

Trong đó, phần nội dung chính gồm có ba Chương:

- Chương 1: Khái quát chung về các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự Việt Nam

- Chương 2: Những quy định của pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành về các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

- Chương 3: Một số tồn tại và giải pháp đề xuất

Đề tài nghiên cứu về “Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm” còn tồn tại nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập

Do đó nó đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm bắt được các vấn đề cốt lõi để từ đó tìm

ra những nguyên nhân, giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Tuy nhiên, lần đầu tiên được tiếp cận một đề tài nghiên cứu khoa học mà thời gian nghiên cứu cũng như vốn kiến thức của tác giả còn hạn chế Vì vậy, khó tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô, các nhà nghiên cứu pháp luật và các bạn sinh viên

Trang 9

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP CẤM ĐI KHỎI NƠI CƯ

TRÚ, BẢO LĨNH, ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm chung về các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền

hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Cấm đi khỏi nơi cư trú

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật

Tố tụng hình sự Việt Nam Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy

định: “Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị

can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập

của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án”

Theo quy định của pháp luật thì cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa

điểm thuộc xã, phường, thị trấn dưới hình thức thường trú, hoặc tạm trú Còn nơi cư

trú của công dân là chổ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống, là nơi họ

thường trú hoặc tạm trú1

Bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là vì nhằm mục đích

bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi cơ quan có thẩm quyền cần triệu tập để điều

tra, giải quyết vụ án Khi bị cấm đi khỏi nơi cư trú thì bị can, bị cáo chỉ đi lại, sinh

hoạt và cư trú trong phạm vi nơi họ thường trú hoặc tạm trú nên việc triệu tập bị can,

bị cáo sẽ được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn do đã biết rõ nơi bị can, bị cáo

cư trú

Cấm đi khỏi nơi cư trú được gọi là biện pháp ngăn chặn vì thông qua biện pháp

này sẽ cấm bị can, bị cáo đi khỏi nơi cư trú của mình trong một thời gian nhất định

Theo đó người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (chủ thể có thẩm quyền trong Cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho

chính quyền xã, phường, thị trấn để tiện cho việc quản lý, theo dõi họ Từ đó giúp

cho việc điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn Nên

thực chất của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn nhưng không

cách ly người bị áp dụng với gia đình và xã hội mà chỉ hạn chế quyền tự do đi lại, tự

1 Điều 1, Điều 12 Luật cư trú năm 2006

Trang 10

do cư trú của người bị áp dụng và buộc người đó không được tự ý đi khỏi nơi cư trú của mình nếu như không có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm

sự có mặt của họ khi Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án có yêu cầu triệu tập họ để phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết vụ án

Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú chỉ hạn chế quyền tự do cư trú, tự do đi lại của

bị can, bị cáo, vì khi bị áp dụng biện pháp này bị can bị cáo vẫn được sinh sống trong phạm vi nơi cư trú của mình thông qua sự giám sát của chính quyền địa phương Và khi có nhu cầu đi khỏi nơi cư trú của mình thì người bị áp dụng vẫn có thể tạm thời

đi khỏi nơi cư trú nếu được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền

Vậy, cấm đi khỏi nơi cư trú là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy

định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, do Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm hạn chế quyền tự

do đi lại, tự do cư trú của bị can, bị cáo để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền

1.1.1.2 Bảo lĩnh

Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự

Việt Nam Khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Bảo lĩnh

là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh"

Theo từ điển Tiếng Việt2 thì bảo lĩnh là việc một người dùng tư cách, uy tín của mình để bảo đảm cho người khác thực hiện một nghĩa vụ và chịu trách nhiệm nếu người đó không thực hiện nghĩa vụ đã cam đoan Còn theo quy định của pháp luật thì bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra bảo lĩnh cho họ

Bị can, bị cáo có thể bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân của bị can, bị cáo,

cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải cách ly bị can, bị cáo với gia đình và xã hội thì quyết định cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam Trong trường hợp này, khi cho bị can, bị cáo được

áp dụng biện pháp bảo lĩnh sẽ tạo điều kiện cho bị can, bị cáo có cơ hội hòa nhập với

xã hội, giúp cho bị can, bị cáo có ý thức trân trọng sự tự do của mình hơn Ngoài ra,

2 Từ điển Tiếng Việt - Ngôn ngữ học Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Hóa, năm 1998, tr 56

Trang 11

việc cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam còn giúp giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội, góp phần làm giảm tình trạng quá tải trong các trại tạm giam và nhà tạm giữ

Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải đảm bảo các điều kiện do pháp luật quy định Cụ thể khoản 4 Điều 92 Bộ luật Tố

tụng hình sự năm 2003 quy định: "Cá nhân nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là

người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc Đối với tổ chức nhận bảo lĩnh thì việc bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức" Bên cạnh đó thì khi nhận bảo lĩnh, cá nhân

hoặc tổ chức phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án3

Vậy, bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong

pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức đứng ra bảo lĩnh cho họ để thay thế biện pháp tạm giam nhằm bảo đảm không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội

và có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền

1.1.1.3 Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Tương tự như biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và biện pháp bảo lĩnh, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cũng là biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam Khoản 1 Điều 93 bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2003 quy định: “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn

chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập”

Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng thay thế cho biện pháp tạm giam Đây là biện pháp khá linh hoạt trong tố tụng hình sự nhằm ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của

bị can, bị cáo để bảo đảm sự có mặt của họ khi cơ quan có thẩm quyền cần triệu tập

3 Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003

Trang 12

Bị can, bị cáo có thể được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy không cần thiết phải tạm giam bị can, bị cáo

mà vẫn có thể đảm bảo bị can, bị cáo không gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và cũng sẽ không tiếp tục phạm tội mới Vì vậy, khi áp dụng biện pháp này cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị can, bị cáo đã gây ra để xem xét là có cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam hay không Bên cạnh đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án còn căn cứ vào nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo để quyết định

là có cho họ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam Tương tự với biện pháp bảo lĩnh, thì việc cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cũng sẽ góp phần cải thiện tinh thần cho bị can, bị cáo, góp phần giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội và làm giảm tình trạng quá tải trong các trại tạm giam và nhà tạm giữ trong tình hình hiện nay

Vậy, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một trong những biện pháp

ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo để thay thế cho biện pháp tạm giam và bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền

1.1.2 Đặc điểm

1.1.2.1 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú

Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, có các đặc điểm như sau:

- Thứ nhất, cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với

bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng

Điều 52 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "1 Nơi cư trú của cá nhân là nơi

người đó thường xuyên sinh sống 2 Trường hợp không xác định được nơi cư trú của

cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sống" Vậy nơi cư trú của bị can, bị cáo là nơi bị can, bị cáo thường xuyên sinh sống

hoặc là nơi bị can, bị cáo đang sinh sống Do đây là biện pháp "cấm đi khỏi nơi cư trú'' nên việc xác định nơi cư trú của bị can, bị cáo là rất quan trọng Vì chỉ khi biết rõ nơi cư trú của bị can, bị cáo thì việc quản lý bị can, bị cáo mới thuận lợi, từ đó đảm

Trang 13

bảo được mục đích của việc áp dụng biện pháp này là bảo đảm sự có mặt của bị can,

bị cáo khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có yêu cầu triệu tập họ Còn các đối tượng là bị can, bị cáo mà không có nơi cư trú rõ ràng sẽ không được áp dụng biện pháp này, vì khi áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, cơ quan có thẩm quyền ra lệnh cấm bị can, bị cáo đi khỏi nơi cư trú sẽ thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú để quản lý, theo dõi họ Do đó, nếu bị can, bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng thì việc quy định giao cho chính quyền

xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú để quản lý bị can, bị cáo sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì nếu không xác định được nơi cư trú của bị can, bị cáo được rõ ràng thì việc quản lý của chính quyền địa phương sẽ không được đảm bảo, từ đó làm cho việc

áp dụng biện pháp này không đạt được hiệu quả Chính vì vậy, chỉ áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng

- Thứ hai, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn không cách

ly người bị áp dụng với gia đình và xã hội

Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú khác với biện pháp tạm giữ, tạm giam ở chỗ là không cách ly người bị áp dụng với gia đình và xã hội vì khi bị áp dụng biện pháp này người bị áp dụng chỉ tạm thời bị hạn chế một số quyền tự do cư trú, tự do đi lại trong một thời gian nhất định để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành thuận lợi Lý do có sự khác biệt giữa biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú với biện pháp tạm giữ, tạm giam là vì khi bị can, bị cáo bị tạm giữ, tạm giam thì chắc chắn rằng quyền tự do đi lại, tự do cư trú của bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế rất nhiều Trong khi đó, nếu bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì quyền tự do đi lại, tự do cư trú của bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế ít hơn do bị can, bị cáo vẫn được sống với gia đình và xã hội trong phạm vi địa phương nơi mình cư trú

Trang 14

biện pháp này, bị can, bị cáo được bảo lĩnh không bị hạn chế các quyền tự do đi lại,

tự do cư trú như người bị áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi

cư trú Vì khi được bảo lĩnh, bị can, bị cáo sẽ được tại ngoại ở bên ngoài, có cuộc sống, sinh hoạt với gia đình và xã hội bình thường, trong khi đó nếu bị can, bị cáo bị

áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ bị hạn chế một số quyền tự do đi lại, tự do cư trú nhất định Mặt khác, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh không bị cách ly khỏi gia đình, xã hội và cũng không bị hạn chế quyền

tự do cư trú hay tự do đi lại mà họ chỉ cần được chủ thể nhận bảo lĩnh bảo đảm rằng

họ sẽ không gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và có mặt khi có yêu cầu triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng Chính vì vậy mà biện pháp bảo lĩnh

là biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc hơn so với các biện pháp tạm giữ, tạm giam

và cấm đi khỏi nơi cư trú

- Thứ hai, bảo lĩnh là một biện pháp ngăn chặn được áp dụng để thay thế cho biện pháp tạm giam

Trong trường hợp xét thấy việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo là không cần thiết nhưng đồng thời vẫn bảo đảm bị can, bị cáo sẽ không tiếp tục phạm tội hoặc không cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử và có mặt khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án yêu cầu triệu tập thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ cho áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam Việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam khi có chủ thể dùng uy tín của mình đứng ra bảo lĩnh cho bị can, bị cáo được tại ngoại ở bên ngoài với điều kiện chịu sự ràng buộc về trách nhiệm bảo đảm rằng bị can, bị cáo sẽ không tiếp tục phạm tội và

có mặt theo đúng giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền Bên cạnh đó, việc cho áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam cũng sẽ góp phần giảm tải tình trạng giam giữ người khi chưa có đủ chứng cứ chắc chắn để định tội bị can, bị cáo được chính xác, khách quan, từ đó sẽ góp phần làm giảm tình trạng oan sai trong thực tiễn xét xử hiện nay

Ngoài các đặc điểm nêu trên thì biện pháp bảo lĩnh còn có đặc điểm là thể hiện

rõ sự thu hút quần chúng nhân dân trong quá trình tham gia đấu tranh phòng và chống tội phạm Khi nhận bảo lĩnh, cá nhân, tổ chức sẽ bảo đảm bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội, không gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

Do đó thông qua nghĩa vụ này quần chúng nhân dân sẽ có sự đóng góp rất lớn trong

Trang 15

việc đấu tranh phòng và chống tội phạm

1.1.2.3 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Tương tự như biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và biện pháp bảo lĩnh, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm cũng là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, có đặc điểm là biện pháp được dùng để thay thế cho biện pháp tạm giam

Có thể dùng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam nếu như xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo mà vẫn có thể đảm bảo bị can, bị cáo sẽ không tiếp tục phạm tội hoặc cản trở các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo để xem xét, quyết định cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam Việc cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam với mục đích bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án trong trường hợp không cần tạm giam các bị can,

bị cáo đó Ngoài ra, việc thay thế này còn góp phần giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội và làm giảm tình trạng quá tải của các trại tạm giam và nhà tạm giữ trong tình hình hiện nay

1.1.3 Căn cứ áp dụng

Các biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam là một trong những chế định rất quan trọng Việc quy định và áp dụng các biện pháp này một cách đúng đắn sẽ đảm bảo cho quá trình tố tụng được tiến hành một cách nhanh chóng và thuận lợi, giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Bên cạnh đó các biện pháp ngăn chặn này còn giúp ngăn chặn không cho người phạm tội tiếp tục phạm tội mới, đồng thời vẫn bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên việc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn cũng sẽ ít nhiều làm hạn chế một số quyền nhất định của công dân, vì vậy khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần phải đảm bảo tính chính xác, khách quan Để đạt được điều này Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2003 quy định: "Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị

can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm

Trang 16

tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm" Theo quy định tại Điều luật trên, có các căn cứ sau:

- Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm

Kịp thời ngăn chặn tội phạm là ngăn ngừa không cho tội phạm đang chuẩn bị thực hiện được thực hiện hành vi phạm tội của mình hoặc không cho tội phạm đang thực hiện được tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đó Ngăn chặn kịp thời được hành

vi phạm tội có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm bớt hậu quả do tội phạm gây ra

Khoa học luật hình sự đã xác định tội phạm phải được thực hiện thông qua hành

vi cụ thể, còn những gì mà con người suy nghĩ, toan tính, tưởng tượng ra thì đó không phải là tội phạm Khi một hành vi tội phạm được thực hiện thì tất yếu sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân, tổ chức, đến trật tự an toàn xã hội4 Để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức cũng như việc đảm bảo an toàn và trật tự xã hội, Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác nhau để ngăn chặn mọi hành vi vi phạm pháp luật Nếu như hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội chưa cao thì Nhà nước chỉ sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhẹ như hành chính hoặc dân sự Nhưng một khi hành vi vi phạm mang tính chất nguy hiểm cao cho xã hội thì Nhà nước phải dùng đến các biện pháp thật nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội của mình Vì vậy, khi có căn cứ cho rằng sẽ có hành vi phạm tội xảy ra, cơ quan

có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn để kịp thời ngăn chặn tội phạm Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn này có ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức, của Nhà nước5 Tuy nhiên, căn cứ này là căn cứ chung cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, và có hiệu quả cao đối với trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang nên việc áp dụng cho các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chưa phát huy được hiệu quả

4 Ths Mạc Giáng Châu - Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 1 - Những

vấn đề chung của Luật Tố tụng hình sự, năm 2010, tr.79

5 Ths Mạc Giáng Châu - Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 1 - Những

vấn đề chung của Luật Tố tụng hình sự, năm 2010, tr.79

Trang 17

- Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều

tra, truy tố, xét xử

Quá trình tố tụng hình sự là một quá trình chứng minh toàn diện vụ án hình sự, chứng minh về việc có hay không có hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm, chứng minh các tình tiết khác liên quan và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự Như vậy, quá trình chứng minh thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự bao hàm cả việc chứng minh theo hướng buộc tội và gỡ tội đối với người thực hiện tội phạm Theo đó khi tiến hành chứng minh với nội dung xác định tội phạm theo hướng buộc tội, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ điều tra, thu thập những chứng cứ xác định cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mức độ thiệt hại, để làm căn cứ định tội, định khung và bồi thường Các hoạt động chứng minh này được thực hiện tốt sẽ là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bị tình nghi6 Chính vì vậy, để hạn chế hoặc loại bỏ những căn cứ mang tính buộc tội mình, người

bị tình nghi thường tìm cách gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử như tìm cách trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc cản trở việc xác định sự thật khách quan của vụ án Và khi đó việc áp dụng biện pháp ngăn chặn để hạn chế trường hợp bị can, bị cáo gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là rất quan trọng

Hành vi trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử thường được bị can, bị cáo thể hiện bằng hành động cố ý rời bỏ nơi họ thường xuyên sinh sống để trốn tránh cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử đối với mình Do

đó, nếu bị can, bị cáo không có mặt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sẽ là một trở ngại lớn cho cơ quan tiến hành tố tụng, lý do là dù cho bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội, nhưng để xác định sự thật của vụ án thì sự

có mặt của họ là vô cùng quan trọng, vì lời khai của bị can, bị cáo là nguồn chứng cứ đặc biệt, có ý nghĩa lớn trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án Chính vì vậy, cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án Tuy nhiên, nếu trong trường hợp bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng với lỗi vô ý hoặc phạm tội lần đầu mà có thái độ khai báo thành khẩn thì việc cho áp dụng biện pháp tạm giam đối với những bị can, bị cáo này là không cần thiết Vì vậy, trong trường hợp này áp dụng biện pháp cấm đi khỏi

6 Ths Mạc Giáng Châu - Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 1 - Những

vấn đề chung của Luật Tố tụng hình sự, năm 2010, tr.79-80

Trang 18

nơi cư trú là hữu hiệu nhất, vì khi áp dụng biện pháp này bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế quyền tự do đi lại, tự do cư trú và phải chịu sự giám sát của chính quyền địa phương trong thời gian bị áp dụng nên việc bị can, bị cáo sẽ có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án sẽ được đảm bảo hơn, và như vậy quá trình điều tra, truy tố, xét xử sẽ được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn

- Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội

Đây là một trong những căn cứ làm cơ sở để áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo Căn cứ này mang tính chất phòng ngừa không để cho tội phạm mới xảy ra Theo đó việc dự báo khả năng bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội phải có

cơ sở chắc chắn, chẳng hạn thông qua việc nghiên cứu tài liệu, chứng cứ mà cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập được để bảo đảm việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn

là chính xác, khách quan

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đã rút ra những dấu hiệu cho phép nhận định

bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội như sau: bị can, bị cáo có ý thức chống đối chế độ sâu sắc, phạm tội chuyên nghiệp, có tổ chức, là phần tử lưu manh, côn đồ, có nhiều tiền án, tiền sự, phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; bị can, bị cáo đã

có những hành vi xảo quyệt, hung hãn như đe dọa người tố cáo, đe dọa trả thù người

bị hại, đe dọa đồng bọn không thực hiện mệnh lệnh của y và có thể thực hiện sự đe dọa đó; bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện bất cứ loại tội phạm nào; bị can, bị cáo đã có hành vi kích động, xúi dục người khác phạm tội7 Vì vậy nếu bị can, bị cáo có những dấu hiệu sẽ tiếp tục phạm tội trên thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn để hạn chế bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội là rất

cần thiết Khi áp dụng căn cứ này cần phải phân biệt với căn cứ để kịp thời ngăn

chặn tội phạm Vì cả hai căn cứ này đều nhằm mục đích là ngăn chặn không cho tội

phạm xảy ra Thực chất hai căn cứ này có điểm khác nhau ở chổ: đối với căn cứ để kịp thời ngăn chặn tội phạm thì nó được áp dụng đối với những người chưa bị khởi tố

về hình sự (họ mới chỉ là những người đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội hoặc đang thực hiện nhưng chưa hoàn thành), còn đối với căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội thì được áp dụng đối với bị can, bị cáo (họ là những người đã

bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử) mà có căn cứ cho

7 Ts Trần Quang Tiệp, Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị

Quốc gia, năm 2005, tr 61-62

Trang 19

rằng họ sẽ tiếp tục phạm tội Nhưng nhìn chung, đây chỉ là căn cứ để làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung nên khi dùng căn cứ này để áp dụng cho các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh hoặc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm chưa phát huy được hiệu quả Nên khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo

sẽ tiếp tục phạm tội Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần phải áp dụng ngay biện pháp ngăn chặn đối với họ và trong trường hợp này biện pháp ngăn chặn hữu hiệu nhất cần áp dụng là biện pháp tạm giam Tuy nhiên khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để thay thế cho biện pháp tạm giam Vì khi áp dụng biện pháp này nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa

vụ đã cam đoan thì số tiền hoặc tài sản dùng để đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nước, còn nếu

bị can, bị cáo thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam đoan thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ được hoàn trả lại cho bị can, bị cáo Do đó, vì không muốn số tiền hoặc tài sản mình

đã đặt không bị mất do sung quỹ Nhà nước mà bị can, bị cáo sẽ có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh hơn nghĩa vụ mà mình đã cam đoan, kể cả việc không thực hiện tội phạm mới

- Thứ tư, để bảo đảm thi hành án

Thi hành án là một giai đoạn quan trọng trong quá trình tố tụng hình sự Theo

đó, quá trình tố tụng hình sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn tố tụng hợp lại thành một thể thống nhất Trải qua các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình

sự, bị can ngày càng bị chứng minh theo hướng bất lợi Tại giai đoạn xét xử, nếu tại phiên tòa Tòa án kết án bị cáo theo hướng có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự thì bản án đó phải được đảm bảo thi hành khi có hiệu luật pháp luật bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, bản án kết tội được Tòa án đưa

ra chưa có hiệu lực thi hành ngay mà phải có một khoảng thời gian chờ ý kiến của Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng có liên quan Nếu xét thấy việc xét xử có sai lầm, thiếu sót, việc đưa ra bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là thiếu chính xác, khách quan, không đúng người đúng tội hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị và người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo để bản án sơ thẩm được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm chỉnh sửa khắc phục những thiếu sót, sai lầm nếu có, đảm bảo bản án được đưa ra là chính xác, khách quan, phù hợp với quy định của pháp luật Trong khoảng thời gian

Trang 20

chờ này, bản án chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa được đưa ra thi hành, hình phạt

mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo chưa thể thực hiện được, chưa thể đưa bị cáo đi chấp hành hình phạt8 Do đó nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm không thể đạt được nếu chỉ dừng lại ở việc phát hiện, xử lý nhanh chóng và kịp thời các hành vi phạm tội bằng bản án của Tòa án mà quan trọng là bản án của Tòa án đó

có được thi hành trên thực tế hay không Vì vậy, để công tác thi hành án được bảo đảm thi hành trên thực tế là rất quan trọng Muốn đạt được yêu cầu trên, thì sự có mặt của người bị kết án mang yếu tố quyết định nhất, do đó việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong trường hợp này là rất cần thiết Khi đó, nếu có căn cứ cho rằng người bị kết án sẽ không trốn tránh việc thi hành bản án của Tòa án thì có thể áp dụng những biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc như là cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để bảo đảm cho công tác thi hành án được thực thi có hiệu quả trên thực tế Vì khi áp dụng, ba biện pháp này đều mang lại hiệu quả trong việc bảo đảm bị can, bị cáo sẽ có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu triệu tập họ để phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi Đặc biệt, đối với các vụ án mà hành vi phạm tội có liên quan đến tiền hoặc tài sản thì việc cho áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sẽ giúp cho hoạt động thi hành án được thực thi thuận lợi hơn Vì trong trường hợp này, hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác nên bị can, bị cáo phải có trách nhiệm trong việc hoàn trả hoặc bồi thường lại số tiền hoặc tài sản cho những người bị thiệt hại này Mặt khác, khi cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của mình khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thì bị can, bị cáo đã phải nộp một khoản tiền tương ứng với mức độ của hành vi phạm tội và nếu bị can, bị cáo thực hiện đúng các nghĩa vụ

đã cam đoan thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ được hoàn trả lại cho bị can, bị cáo Và khi đó nếu bản án buộc bị can, bị cáo phải bồi thường cho người bị thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền có thể dùng số tiền hoặc tài sản mà bị can, bị cáo đã đặt để bồi thường cho người bị thiệt hại, do đó giúp cho hoạt động thi hành án được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi

8 Ths Mạc Giáng Châu - Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 1 - Những

vấn đề chung của Luật Tố tụng hình sự, năm 2010, tr.80-81

Trang 21

1.2 Tầm quan trọng của các biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm bảo vệ an ninh Quốc gia, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội thì việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung

và các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nói riêng có vai trò rất quan trọng Vì khi áp dụng những biện pháp này không những góp phần nâng cao năng lực quản lý của Nhà nước, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội có thể xảy

ra, bên cạnh đó vẫn đảm bảo tính dân chủ và khả năng thực tế của việc tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Cụ thể, thông qua việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm mang lại ý nghĩa thiết thực như sau:

1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong quá trình giải quyết vụ

án hình sự

Việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trước hết là nhằm thỏa mãn các mục tiêu ngăn chặn Cụ thể

tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định: "Để kịp thời ngăn chặn tội

phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm" Do đó, việc áp dụng các biện

pháp ngăn chặn nói chung và các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nói riêng là nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm có thể xảy ra hoặc không cho tội phạm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội của mình Bên cạnh đó, việc áp dụng các biện pháp này còn góp phần hạn chế việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án

Từ đó, giúp cho việc điều tra, giải quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi

Tuy việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc

Trang 22

tài sản có giá trị để bảo đảm không nghiêm khắc bằng biện pháp tạm giữ, tạm giam nhưng việc áp dụng các biện pháp này vẫn đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị cáo khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án cần triệu tập Cụ thể, khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị can, bị cáo sẽ bị cấm đi khỏi nơi cư trú của mình,

bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế một số quyền tự do đi lại, tự do cư trú nhất định và khi đó

bị can, bị cáo sẽ được cơ quan có thẩm quyền giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú để quản lý, theo dõi nhằm bảo đảm sự có mặt của bị can,

bị cáo theo giấy triệu tập Khi áp dụng biện pháp bảo lĩnh, bị can, bị cáo sẽ được cá nhân hoặc tổ chức dùng uy tín của mình đứng ra bảo lĩnh cho bị can, bị cáo được tại ngoại Bên cạnh đó, cá nhân hoặc tổ chức đứng ra bảo lĩnh sẽ đảm bảo bị can, bị cáo

sẽ không tiếp tục phạm tội và có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền Còn khi áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, bị can, bị cáo

sẽ phải đặt một số tiền hoặc trị giá tài sản để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo khi

cơ quan có thẩm quyền cần triệu tập Do đó, việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm vẫn đảm bảo được sự

có mặt của bị can, bị cáo khi cơ quan có thẩm quyền cần triệu tập Từ đó hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, giúp cho quá trình giải quyết vụ án được tiến hành nhanh chóng, thuận lợi và đạt hiệu quả cao

Ngoài ra, nếu lúc nào cũng áp dụng biện pháp tạm giam thì sẽ có trường hợp làm kéo dài thêm thời gian giải quyết vụ án Vì có nhiều trường hợp do sợ áp dụng biện pháp tạm giam là sai nên Tòa án rất hạn chế tuyên bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam là vô tội mà thường trả hồ sơ để điều tra bổ sung Từ đó làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án không được nhanh chóng và thuận lợi Do đó, trong trường hợp này, việc cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm có ý nghĩa trong việc hạn chế sức ép về tâm lý trong việc xét xử của Tòa án Từ đó đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng và thuận lợi hơn

1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đối với bị can, bị cáo

Việc quy định và áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

Trang 23

2003: "Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra

viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa" Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng phải tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong quá trình tố tụng hình sự nói chung và việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm nói riêng Do đó, việc quy định và áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, thuận lợi và hiệu quả mà còn bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (chẳng hạn như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cư trú, quyền tự do

đi lại, ) Điều này thể hiện ở việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm không những xuất phát từ việc tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án được thuận lợi mà còn xuất phát từ sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo (đối tượng bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm)

Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự chỉ được áp dụng khi thật sự cần thiết Do đó trong những trường hợp xét thấy không cần thiết phải tạm giam bị can,

bị cáo mà vẫn đảm bảo được rằng bị can, bị cáo sẽ không tiếp tục phạm tội hoặc không có biểu hiện có hành vi gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử thì cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho bị can, bị cáo được áp dụng một trong các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền Tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được tiếp tục cuộc sống sinh hoạt với gia đình và xã hội, được tiếp tục lao động, học tập hoặc chữa trị bệnh (nếu có) Từ đó góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân - những người chưa bị kết án Bên cạnh đó, việc không giam giữ bị can, bị cáo mà cho bị can,

bị cáo được áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài

Trang 24

sản có giá trị để bảo đảm còn thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta dành cho

bị can, bị cáo Có ý nghĩa trong việc hỗ trợ về mặt tâm lý cho bị can, bị cáo, tạo điều kiện cho bị can, bị cáo ăn năn hối cải, từ đó có thái độ khai báo thành khẩn, không gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

Ngoài ra, việc cho bị can, bị cáo áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thay cho biện pháp tạm giam còn

có ý nghĩa trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong giai đoạn xét xử Vì có nhiều trường hợp Tòa án rất hạn chế cho bị cáo đã bị tạm giam được hưởng án treo hoặc áp dụng các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù như là cải tạo, không giam giữ, phạt tiền hoặc cảnh cáo (mặc dù những bị cáo này có thể được cho áp dụng những hình phạt này) mà khi đó Tòa án thường xử những bị cáo đó hình phạt tù bằng với thời hạn mà bị cáo đã bị tạm giam9 Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền

và lợi ích chính đáng của người bị kết án Do đó, nếu trong những trường hợp này mà cho bị can, bị cáo áp dụng một trong các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm thay cho biện pháp tạm giam thì sẽ hạn chế được trường hợp nêu trên, giúp đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân

1.2.3 Ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đối với cộng đồng

Quy định và áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và các biện pháp cấm

đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nói riêng xuất phát từ nguyên tắc phòng ngừa chung, để từ đó răn đe, giáo dục cộng đồng, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra

Bên cạnh đó, việc không giam giữ bị can, bị cáo mà cho bị can, bị cáo được áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm để bị can, bị cáo được tại ngoại bên ngoài thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta, tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được tiếp tục sinh hoạt với gia đình và

xã hội Mặt khác, khi bị can, bị cáo được tại ngoại bên ngoài, bị can, bị cáo vẫn có thể tiếp tục làm việc, tạo thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần tạo ra của cải vật chất cho xã hội Ngoài ra, việc cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp cấm

đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm còn góp phần làm tăng lòng tin, sự ủng hộ của quần chúng nhân dân trong công tác đấu tranh

9 Lại Văn Trình, Tăng cường bảo đảm các quyền tự do dân chủ của công dân trong áp dụng các biện pháp

ngăn chặn ở giai đoạn xét xử, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 10, năm 2006

Trang 25

phòng và chống tội phạm, từ đó có thể lôi kéo quần chúng nhân dân tham gia vào công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả

Ngoài ra, việc không giam giữ bị can, bị cáo mà cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm còn

có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong công tác giam giữ người phạm tội (như phải xây dựng cơ sở giam giữ, thuê mướn lực lượng quản lý và phục vụ cho người bị giam giữ) và góp phần làm giảm tình trạng giam giữ người quá tải trong các trại tạm giam và nhà tạm giữ trong tình hình hiện nay

Trang 26

CHƯƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP CẤM ĐI KHỎI NƠI CƯ TRÚ, BẢO LĨNH,

ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM

2.1 Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

2.1.1 Đối tượng áp dụng và trường hợp áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm đảm bảo sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 91) Vậy, đối tượng áp dụng của biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng Việc quy định đối tượng áp dụng của biện pháp này phải là bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng là vì khi bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ tạm thời cấm bị can, bị cáo đi khỏi nơi cư trú của mình trong một thời gian nhất định (thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú), và khi đó bị can, bị cáo sẽ được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú giao cho chính quyền

xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú để quản lý, theo dõi họ Do đó, quy định

bị can, bị cáo phải có nơi cư trú rõ ràng là rất cần thiết nhằm bảo đảm cho việc quản

lý bị can, bị cáo được thuận lợi Khi bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị can, bị cáo phải làm giấy cam đoan là không đi khỏi nơi cư trú của mình và có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Và trong thời gian bị

áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị can, bị cáo phải chịu sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương nơi bị can, bị cáo cư trú về việc đi lại và cư trú Theo quy định trên, thì việc quy định đối tượng áp dụng cho biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú còn chung chung, vì chỉ quy định đối tượng áp dụng là bị can, bị cáo

có nơi cư trú rõ ràng mà không quy định rõ loại tội mà bị can, bị cáo thực hiện, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như điều kiện về nhân thân của bị can, bị cáo

ra sao Do đó, có thể hiểu biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có thể được áp dụng đối với tất cả các bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, dù phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng thì cũng sẽ được áp dụng Tuy nhiên, qua thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú chỉ thường được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng và tội

Trang 27

nghiêm trọng10 Theo đó, khi bị can, bị cáo có các điều kiện như là có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu với loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có thái độ thành khẩn khai báo về các hành vi phạm tội của mình và có căn cứ cho rằng

bị can, bị cáo sẽ không gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi

cư trú Chẳng hạn như: trong vụ án phát tán clip "nóng" của diễn viên đóng vai Vàng Anh, bốn đối tượng gồm: Võ Thanh Hiệp (25 tuổi), trú tại Đầm Trấu, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, sinh viên Trường Đại học FPT - Arena; Nguyễn Hữu Tài (23 tuổi), trú tại phường Định Công, quận Hoàng Mai, sinh viên Trường Đại học FPT

- Arena; Nguyễn Thu Linh (21 tuổi), trú tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, sinh viên Học viện Thời trang Luân Đôn và Vũ Thị Thùy Linh (21 tuổi), trú tại phường Văn Chương, quận Đống Đa, sinh viên Trường Đại học dân lập Thăng Long là những đối tượng có nơi cư trú rõ ràng, có hành vi phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra thì các đối tượng trên đã có thái độ khai báo thành khẩn giúp cho cơ quan điều tra truy tìm được đối tượng phát tán đoạn phim đầu tiên nên được cơ quan

có thẩm quyền cho áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú11

Việc cơ quan có thẩm quyền xem xét cho các đối tượng Võ Thanh Hiệp, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Thu Linh và Vũ Thị Thùy Linh áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú khi có các điều kiện nêu trên là hoàn toàn hợp lý, vì đây là biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc, chỉ cấm bị can, bị cáo tạm thời không đi khỏi nơi cư trú của mình trong thời gian bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt khi

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần triệu tập Nên khi áp dụng biện pháp cấm

đi khỏi nơi cư trú cần phải xem xét đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị can, bị cáo sau khi phạm tội để việc áp dụng đạt hiệu quả

2.1.2 Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú

Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật

Tố tụng hình sự Việt Nam Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định:

"Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân

10 Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2005, tr.181

11 Xem: Báo Công an nhân dân, Cho tại ngoại bốn đối tượng phát tán clip “nóng” của diễn viên đóng vai

Vàng Anh, Đào Minh Khoa, http://ca.cand.com.vn/viVN/anninhtrattu/tinANTT/2007/11/117417.cand?

SearchTerm=c%E1%BA%A5m%20%C4%91i%20kh%E1%BB%8Fi%20n%C6%A1i%20c%C6%B0%20t r%C3%BA

Trang 28

công chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" Do đó, theo quy

định trên thì những người sau đây sẽ có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân

sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp;

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;

- Hội đồng xét xử;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

- Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa

Các chủ thể trên được quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú vì đây là

những chủ thể được Nhà nước giao thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử vụ án hình sự nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, xử lý công minh và kịp thời các hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Khi thực hiện các nhiệm vụ này, các chủ thể có thẩm quyền sẽ nhân danh cơ quan quyền lực Nhà nước áp dụng các biện pháp hợp lý (trong đó có biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú) do pháp luật quy định để giải quyết các vụ án được chính xác, khách quan, kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân Khi đó, tùy từng trường hợp vụ án đang ở giai đoạn nào sẽ có chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú phù hợp Chẳng hạn, nếu vụ án đang ở trong giai đoạn điều tra, mà cần xem xét, quyết định cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì sẽ do Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định áp dụng, còn khi hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra đã được chuyển sang Viện Kiểm Sát thì việc quyết định cho áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ do Viện Trưởng hoặc Phó Viện Trưởng Viện Kiểm Sát quyết định, hoặc nếu vụ án đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sẽ do Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa quyết định áp dụng Ví dụ như trường hợp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với chủ vũ trường New Century như sau: ngày 7/5/2007, Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Nguyễn Đại Dương (chủ vũ trường New Century, thường trú tại phố Lê Thánh Tông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội) về hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma

Trang 29

túy”12 Và đến ngày 23/11/2007, chỉ 2 ngày sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - C17, Bộ Công an chuyển kết luận điều tra và hồ sơ sang đề nghị truy tố chín bị can trong vụ án vũ trường New Century, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ký quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn, cho phép bị can Nguyễn Đại Dương, giám đốc vũ trường New Century được tại ngoại và áp dụng biện pháp cấm

đi khỏi nơi cư trú trong thời gian chờ truy tố, vì xét thấy bị can Nguyễn Đại Dương mắc bệnh lao giác mạc mắt (đang trong thời gian điều trị)13 Qua đó cho thấy, tùy từng trường hợp vụ án đang ở giai đoạn nào thì sẽ có chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tương ứng với giai đoạn đó, cụ thể trong trường hợp này khi hồ sơ vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát ra quyết định

áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Đại Dương là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật

2.1.3 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú

Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là qui trình thực hiện các thủ tục cần thiết để áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo

Thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được tiến hành từ khi bị can,

bị cáo làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú của mình và sẽ có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập (khoản 2 Điều 91) và gửi tới cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú Sau khi xem xét giấy cam đoan của

bị can, bị cáo, chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú sẽ căn

cứ vào hồ sơ vụ án rồi ra một trong hai quyết định là cho áp dụng hoặc không cho áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo đó Nếu chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì quyết định đó sẽ được thể hiện thông qua "lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ, tên, chức vụ của người ra lệnh; họ, tên, nơi cư trú của người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú Ngoài ra, thì lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải có chữ ký của người ra

Trang 30

lệnh và có đóng dấu Khi đó, người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo đó cư trú để quản lý, theo dõi họ Trong trường hợp bị can, bị cáo

có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú của mình thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn đang quản lý bị can, bị cáo và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp này (khoản 2 Điều 91) Còn nếu bị can, bị cáo vi phạm lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú thì sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Và trong trường hợp này, biện pháp ngăn chặn thường được áp dụng nhất là biện pháp tạm giam, khi đó người ra lệnh áp dụng biện pháp ngăn chặn khác phải thông báo cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú biết về việc thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo đó

Sơ đồ 1 Quy trình, thủ tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Giấy cam đoan của bị can, bị cáo Cơ quan có thẩm quyền

Quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Quyết định không áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú

Trang 31

Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 92 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 cho thấy rằng không phải bất kỳ bị can, bị cáo nào cũng có thể bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh Vì thực chất, biện pháp bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được áp dụng để thay thế cho biện pháp tạm giam Do đó mà đối tượng áp dụng của biện pháp này chỉ có thể là bị can, bị cáo thuộc những trường hợp có thể bị tạm giam hoặc bị can, bị cáo đang bị tạm giam mà khi căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và căn cứ vào nhân thân của bị can, bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ nhưng vẫn đảm bảo rằng bị can, bị cáo đó sẽ không tiếp tục phạm tội và không gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ cho họ được áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam Khi đó, nếu bị can, bị cáo thuộc trường hợp có thể bị tạm giam thì cơ quan tiến hành tố tụng ra ngay quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo

đó Ví dụ: ngày 26/2/2011 ông Nguyễn Đan Quế bị bắt quả tang khi đang lưu trữ, phát tán nhiều tài liệu có nội dung kêu gọi lật đổ chế độ, chính quyền nhân dân Nhưng do từ khi bị bắt, ông Quế có thái độ thành khẩn khai báo, hợp tác tốt với Cơ

Trang 32

quan điều tra nên đến ngày 27/2/2011 ông Nguyễn Đan Quế được Cơ quan điều tra cho bảo lĩnh14 Trong trường hợp này, ông Quế chính là đối tượng có thể bị tạm giam nên khi Cơ quan điều tra quyết định cho bảo lĩnh thì chỉ ra ngay quyết định cho bảo lĩnh là phù hợp với quy định của pháp luật Còn nếu bị can, bị cáo thuộc trường hợp đang bị tạm giam mà được xem xét cho áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp tạm giam và thay vào đó là việc ra quyết định áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo đó

Do đó, trong trường hợp xét thấy không cần thiết phải tạm giam bị can, bị cáo nữa thì phải áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội hoặc có các hành vi gây cản trở cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và đồng thời vẫn đảm bảo được sự có mặt của bị can, bị cáo khi cơ quan có thẩm quyền cần triệu tập để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử Khi bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam, bị can, bị cáo sẽ được tại ngoại bên ngoài, từ đó tạo điều kiện cho bị can, bị cáo có sự ổn định về mặt tâm lý, giúp cho quá trình giải quyết vụ án được thuận lợi Bên cạnh đó còn góp phần giảm tải tình trạng giam giữ người khi chưa có đủ chứng cứ chứng minh người đó phạm tội Ngoài ra thì việc cơ quan tiến hành tố tụng cho bị can, bị cáo áp dụng biện pháp bảo lĩnh để được tại ngoại bên ngoài, còn tạo điều kiện cho bị can, bị cáo được tiếp tục sinh hoạt, học tập hoặc làm việc để nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần tạo thêm thu nhập cho xã hội

* Trường hợp áp dụng

Đối với những bị can, bị cáo có hành vi phạm tội mang tính chất ít nguy hiểm cho xã hội mà xét thấy không cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giam nhưng vẫn đảm bảo bị can, bị cáo đó sẽ không tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét cho bị can, bị cáo

đó được áp dụng biện pháp bảo lĩnh để thay thế cho biện pháp tạm giam Theo đó chủ thể có thể bảo lĩnh cho bị can, bị cáo có thể là cá nhân hoặc là tổ chức

Ngày đăng: 07/11/2020, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
2. Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
3. Bùi Quang Thạch, Cần tham khảo Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga 2006 để sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam 2003, Tạp chí Kiểm sát, số 23, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần tham khảo Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga 2006 để sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam 2003
4. Đỗ Văn Đương, Về áp dụng biện pháp “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong luật Tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 19, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về áp dụng biện pháp “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong luật Tố tụng hình sự”
5. Hoàng Thế Anh, Những khó khăn vướng mắc, bất cập trong việc nhận thức và áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về những quy định chung, Tạp chí Kiểm sát, số 24, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn vướng mắc, bất cập trong việc nhận thức và áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về những quy định chung
6. Mạc Giáng Châu - Nguyễn Chí Hiếu, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 1 - Những vấn đề chung của Luật Tố tụng hình sự, Khoa luật - Trường Đại Học Cần Thơ, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, học phần 1 - Những vấn đề chung của Luật Tố tụng hình sự
7. Mai Bộ, Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về những biện pháp ngăn chặn, Tạp chí Kiểm sát, số 20, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về những biện pháp ngăn chặn
8. Minh Hương - Đức Trung, Hỏi đáp Bộ luật Tố tụng hình sự và những văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà xuất bản Lao động, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp Bộ luật Tố tụng hình sự và những văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
9. Phạm Ngọc Ánh, Những khó khăn vướng mắc khi áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khó khăn vướng mắc khi áp dụng biện pháp ngăn chặn “ Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”
10. Phạm Việt Hưng, Cần sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”, Tạp chí Kiểm sát, số 7, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn chặn “ Cấm đi khỏi nơi cư trú”
11. Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề về biện pháp bảo lĩnh quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Tạp chí Kiểm sát, số 15, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về biện pháp bảo lĩnh quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
12. Trần Quang Tiệp, Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự, sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế Tố tụng hình sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
13. Trịnh Tiến Việt, Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và hướng sửa đổi, bổ sung, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, số 2(163), năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và hướng sửa đổi, bổ sung
14. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
1. Báo Công an nhân dân, Cho tại ngoại bốn đối tượng phát tán clip “nóng” của diễn viên đóng vai Vàng Anh, Đào Minh Khoa, http://ca.cand.com.vn/viVN/anninhtrattu/tinANTT/2007/11/117417.cand?SearchTerm=c%E1%BA%A5m%20%C4%91i%20kh%E1%BB%8Fi%20n%C6%A1i%20c%C6%B0%20tr%C3%BA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho tại ngoại bốn đối tượng phát tán clip “nóng” "của diễn viên đóng vai Vàng Anh
2. Báo Công an nhân dân, Vượt biên để trốn tội, Nguyễn Thái, http://ca.cand. com. vn/vi-VN/anninhkinhte/tinANKT/2010/8/167711.cand Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vượt biên để trốn tội
3. Báo điện tử VnExpress, Ông Nguyễn Đan Quế được tại ngoại, Vũ Mai, http://v nexpress.net/gl/phap-luat/2011/03/ong-nguyen-dan-que-duoc-tai-ngoai/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ông Nguyễn Đan Quế được tại ngoại
4. Công an nhân dân online, Cán bộ địa chính “làm tiền” được tại ngoại,http://w ww.cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2008/5/92118.cand?SearchTerm=%C4%91%E1%BA%B7t%20ti%E1%BB%81n%20%C4%91%E1%BB%83%20t%E1%BA%A1i%20ngo%E1%BA%A1i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cán bộ địa chính “làm tiền” được tại ngoại
5. Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, Trại tạm giam và Nhà tạm giữ đều đang trong tình trạng quá tải nghiêm trọng, Sĩ Tiến, http://hdnd.dongnai.gov.vn/anpham/copy2_of_mlnewsfolder.2008-04-25.8590723099/mlnews.2008-07-27.3288898497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trại tạm giam và Nhà tạm giữ đều đang trong tình trạng quá tải nghiêm trọng
6. Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, Đặt tiền để tại ngoại: không biết níu kéo ai để lấy lại, Bùi Trần Hồng Châu,http://phapluattp.vn/207336p1015c1074/dat-tien-de-tai-ngoai-khong-biet-niu-ao-ai-de-lay-lai.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặt tiền để tại ngoại: không biết níu kéo "ai để lấy lại

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm