Do vậy, nghiên cứu những kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi nước này gia nhập WTO sẽ có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn đối với Việt Nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là khu vực kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nó không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩm
cho nhu cầu đời sống con người, mà còn cung cấp nguồn nguyên liệu và nguồn nhân
lực cho hoạt động phi nông nghiệp Sự phát triển của khu vực nông nghiệp sẽ tạo ra
thị trường rộng lớn cho công nghiệp và dịch vụ; đồng thời nó còn đóng vai trò tích
cực làm tăng nguồn thu ngoại tệ trong xuất khẩu và nền nông nghiệp phát triển bền
vững sẽ góp phần bảo vệ môi trường
Ở các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, mặc dù nông nghiệp chỉ còn
chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong GDP (1-5%), nhưng các nước này vẫn rất chú trọng
đến sự phát triển của nông nghiệp và thực hiện phát triển theo hướng hiện đại, bền vững
Sau bốn thập kỷ cải cách và mở cửa (kể từ 1978), cùng với đà tăng trưởng
chung của nền kinh tế, nông nghiệp Trung Quốc đạt được những thành tựu quan
trọng Nông nghiệp Trung Quốc từ trạng thái tự cấp tự túc đã chuyển sang sản xuất
hàng hóa và phát triển hướng ra thị trường thế giới và trở thành một trong những
nước sản xuất lương thực lớn nhất thế giới Mặc dù chỉ chiếm hơn 7% diện tích canh
tác thế giới, nhưng Trung Quốc có thể cân đối lương thực cho hơn 1/5 (tức 22%) dân
số thế giới (Trình Quốc Cường, 2008)1
Trung Quốc không những có thể đáp ứng được phần lớn nhu cầu lương thực, thực phẩm trong nước, mà còn đạt được những
kết quả tích cực trong hoạt động xuất khẩu nông sản2
Ngày nay, phát triển nền nông nghiệp theo hướng bền vững là yêu cầu cần thiết
và trở thành nhiệm vụ khó khăn với Việt Nam, khi đặt trong bối cảnh hội nhập Một mặt phải
đối diện với áp lực cạnh tranh hàng hóa nông sản trên thị trường thế giới, đồng thời phải tuân
thủ những quy định từ sản xuất đến xuất khẩu các loại nông sản theo quy định của WTO
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia nằm ở vùng châu Á, tuy quy mô và vị thế
của hai nước trong nền kinh tế thế giới có sự khác nhau, song sự phát triển nông nghiệp của
hai nước có một số điểm tương đồng về con đường phát triển Đồng thời, Trung Quốc và
Việt Nam còn có nhiều điểm tương đồng về thể chế, chính sách phát triển kinh tế nói chung,
nông nghiệp nói riêng khi gia nhập WTO Bên cạnh đó, thể chế kinh tế của Trung Quốc và
Việt Nam có nhiều điểm giống nhau nên những kinh nghiệm của Trung Quốc trong cả quá
trình chuẩn bị gia nhập, khi đàm phán và đối sách sau khi gia nhập WTO sẽ là những bài
học tham khảo bổ ích đối với Việt Nam (Lê Hữu Tầng và Lưu Hàm Nhạc, 2002)
Do vậy, nghiên cứu những kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông
nghiệp Trung Quốc sau khi nước này gia nhập WTO sẽ có ý nghĩa thiết thực cả về lý
luận và thực tiễn đối với Việt Nam trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, lợi
thế so sánh của ngành nông nghiệp cũng như hàng hóa nông sản mà Việt Nam đang
và sẽ xuất khẩu ra thị trường thế giới theo hướng bền vững
1 Các chuyên gia cho biết Trung Quốc có thể nuôi sống hơn 20% dân số thế giới, trong khi chỉ sở hữu 9% quỹ đất màu mỡ và
6,6% trữ lượng nước ngọt thế giới Điều này trở nên khả thi do năng suất của nhiều loại cây trồng tăng lên, ví dụ như năng suất
lúa ở Trung Quốc cao hơn 50% so với mức trung bình toàn cầu và năng suất lúa mì là 55%
2 Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, năm 2010 tổng giá trị xuất khẩu nông sản đạt 35,6 tỷ USD (gấp 3 lần 2001),
năm 2011 đạt 60,75 tỷ USD, năm 2012 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản của Trung Quốc đạt 175,77 tỷ USD (tăng
12,9% so với 2011), trong đó xuất khẩu đạt 63,29 tỷ USD (tăng 4,2% so với 2011)
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Luận giải khả năng vận dụng những kinh nghiệm trong
chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đối với Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển nông nghiệp
ở các nước sau khi gia nhập WTO
- Đánh giá những thành công, hạn chế; phân tích ảnh hưởng của chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đối với nông nghiệp và rút ra bài học kinh nghiệm
- Luận giải khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách phát triển nông nghiệp Trung
Quốc sau khi gia nhập WTO
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu nội dung chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Tuy nhiên, luận án không nghiên cứu toàn bộ các chính sách (gồm các chính sách đối nội và đối ngoại), mà lựa chọn và tập trung vào một số chính sách có liên quan đến hoạt động đối ngoại, cụ thể:
- Chính sách thuế quan và các rào cản phi thuế
- Chính sách trợ cấp xuất khẩu
- Chính sách hỗ trợ trong nước
- Chính sách thiết lập và hoàn thiện hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT)
4 Câu hỏi nghiên cứu
(i) Gia nhập WTO ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình nông nghiệp và chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc như thế nào?
(ii) Những thay đổi căn bản của chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO là gì? Ảnh hưởng của nó đối với ngành nông nghiệp của Trung Quốc ra sao? lĩnh lực nào chịu ảnh hưởng nhiều nhất và bài học kinh nghiệm rút ra là gì? (iii) Khả năng vận dụng những kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO vào Việt Nam đến đâu?
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Từ lý luận đến thực tiễn Tiếp cận hệ thống, xây dựng khung nghiên cứu để phân tích các nội dung luận án
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và suy luận để tìm ra những mặt đạt được và chưa được của chính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc; tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, điểm tương đồng và khác biệt trong việc thực hiện các cam kết WTO Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp so sánh để luận giải
Trang 2khả năng vận dụng kinh nghiệm trong chính sách để phát triển nông nghiệp Trung
Quốc gắn với thực tiễn Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với phương pháp logic Cụ thể, theo
phương pháp nghiên cứu lịch sử, tác giả nhìn nhận sự vật hiện tượng theo tiến trình
lịch sử diễn ra trong quá khứ (qua các mốc thời gian), và phương pháp logic giúp cho
tác giả sâu chuỗi các sự kiện để thấy được mặt bản chất của vấn đề cần nghiên cứu
Phương pháp phân kỳ lịch sử cũng được tác giả sử dụng để tìm hiểu sâu hơn thấy
được các đặc trưng của sự vật hiện tượng trong các giai đoạn lịch sử cụ thể
Phương pháp mô hình hoá cũng được sử dụng kết hợp trong việc xây dựng
khung nghiên cứu của luận án, đồng thời phân tích mối quan hệ nguyên nhân – kết
quả của các chính sách phát triển nông nghiệp đối với những thành tựu mà nền nông
nghiệp Trung Quốc đã đạt được thời gian qua
5.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Số liệu của Trung Quốc được thu thập từ: Bộ Nông nghiệp, Tổng cục Thống kê,
Tổng cục Hải Quan, Niên giám thống kê Trung Quốc
Số liệu của Việt Nam được thu thập từ: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài Chính, Bộ
Kế hoạch & Đầu tư, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Niêm giám thống kê Việt Nam
Xử lý số liệu: bằng phương pháp thống kê mô tả, xây dựng biểu, hình
6 Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
(i) Xây dựng khung nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp trên trong bối
cảnh gia nhập WTO Cụ thể, cơ sở lựa chọn chính sách, triển khai chính sách, kết
quả chính sách và điều kiện vận dụng chính sách được nghiên cứu
(ii) Kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn, giữa phương pháp nội suy và ngoại
suy, nghiên cứu biến động của nông nghiệp Trung Quốc, đánh giá hiện trạng
nông nghiệp Việt Nam và khả năng vận dụng có chọn lọc những kinh nghiệm từ
chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt
Nam
Những đóng góp mới về phương diện thực tiễn, những phát hiện, đề xuất mới rút
ra từ kết quả nghiên cứu của luận án:
Thứ nhất, chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc có sự điều chỉnh linh
hoạt để thích ứng với những cam kết WTO, các chính sách được phối hợp đồng bộ đã
đem lại hiệu ứng tích cực với sản xuất và xuất nhập khẩu nông sản của Trung Quốc
có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam Hội nhập WTO với những cơ hội và thách
thức trong bối cảnh mới, Việt Nam có thể tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của
Trung Quốc để xây dựng các chính sách, áp dụng biện pháp điều chỉnh hiệu quả, đảm
bảo thích ứng tốt nhất yêu cầu của WTO cùng với phát huy lợi thế so sánh của nền
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự linh hoạt trong thực thi chính sách
sách phát triển nông nghiệp hậu WTO: (i) Chính sách phát triển nông nghiệp của Việt
Nam tập trung vào các công cụ phi thuế quan được WTO cho phép; (ii) Gia nhập thị
trường nông sản thế giới, Việt Nam cần đưa ra những cảnh báo sớm để ứng phó với hàng rào kỹ thuật thương mại của nước đối tác, đồng thời hoàn thiện hàng rào kỹ thuật thương mại trong nông nghiệp; (iii) Chính sách hỗ trợ trong nước theo hướng tăng cường các công cụ theo phân loại của WTO để đưa nông nghiệp Việt Nam hội nhập bền vững
và bước lên tầm cao mới; (iv) Thực thi chính sách phát triển nông nghiệp cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ban ngành; các địa phương chú trọng hoàn thiện quy hoạch sản xuất và hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật; khuyến khích các hình thức liên kết trong sản xuất, chế biến
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, hình, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả có liên quan đến đề tài luận án và phụ lục, luận án được chia thành 4 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO
Chương 3: Thực trạng chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Chương 4: Khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam
8 Hạn chế của luận án
- Chính sách nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO là phạm trù rất rộng lớn, bao hàm nhiều vấn đề Do vậy ở một vài khía cạnh hay ở từng vấn đề lớn, luận án phân tích chưa được sâu sắc
- Trung Quốc là đất nước rộng lớn, ở mỗi vùng có sự phát triển ở những trình độ khác nhau, rất đa dạng Do không có điều kiện khảo sát thực tiễn nên còn có một số hạn chế khi nghiên cứu và đánh giá kết quả thực thi chính sách
- Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cũng ảnh hưởng đến chính sách nông nghiệp của Trung Quốc, nhưng nội dung luận án chưa đề cập hết được
- Thời gian và những điều kiện của cá nhân tác giả, nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu
Nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO, có rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã công bố những công trình của mình Với những nội dung đã được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, từng mảng chính sách đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả
J Huang và cộng sự (1999, 2001, 2002, 2004, 2006, 2007, 2011, 2013, 2014,
2015, 2017, 2018) là những tác phẩm nghiên cứu về những thay đổi trong chính sách
Trang 3phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Trong mỗi nghiên cứu,
các nhóm tác giả đã xem xét một hay một số khía cạnh khác nhau liên quan đến các
mảng chính sách nông nghiệp của Trung Quốc
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh cụ thể như Ni (2013), F
Cheng (2008) nghiên cứu chính sách trợ cấp nội địa, cải cách trong nông nghiệp;
Martin (1999) tập trung phân tích chính sách thương mại nông nghiệp Chen (2002)
phân tích những thành tựu của nông nghiệp; Liu (2002) nêu các mục tiêu và phân tích
một số điều chỉnh chính sách nông nghiệp gắn với WTO Phạm Thị Thanh Bình
(2018) nghiên cứu một số chính sách phát triển nông nghiệp bền vững
Các nhà nghiên cứu về chính sách nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập
WTO, điển hình: Nguyễn Tiến Dũng (2010), Trịnh Thị Ái Hoa (2007), Ngô Thị
Tuyết Mai (2011), Nguyễn Vĩnh Thanh (2010), Vũ Văn Hùng (2013) Trong mỗi tác
phẩm, các tác giả cùng cộng sự nghiên cứu một mảng đề tài cụ thể như chính sách
xuất khẩu nông sản, chính sách tiêu thụ hàng nông sản, điều chỉnh chính sách thuế
quan và trợ cấp nông nghiệp hay OECD cũng có những đánh giá rà soát chính sách
nông nghiệp của Việt Nam
1.2 Một số nhận xét rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước được đề cập
chưa phân tích một cách toàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách
phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Các nghiên cứu chủ yếu phân
tích khía cạnh thực tiễn thực thi chính sách hay điều chỉnh một số nội dung của chính sách
Thực tế, có rất nhiều nghiên cứu về nông nghiệp của Trung Quốc trước và sau
khi nước này gia nhập WTO (năm 2001) Tuy nhiên:
i Các công trình đi vào nghiên cứu, phân tích một số khía cạnh, vấn đề của chính
sách trong thực tiễn (như nội dung một số chính sách, kết qủa của các chính sách
đó, không thực hiện một cách tổng thể các vấn đề của chính sách liên quan đến
việc gia nhập WTO) Trong mỗi nghiên cứu, các tác giả chưa đề cập một cách
đầy đủ, toàn diện, có hệ thống từ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát
triển nông nghiệp Trung Quốc trong hội nhập WTO; chưa đề cập cơ sở lý thuyết
của chính sách; chưa đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng tích cực, hạn chế của những
thay đổi trong chính sách đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu nông sản cũng
như mức sống của nông dân
ii Các nghiên cứu trên cũng chưa đề cập, phân tích những điểm tương đồng, khác
biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam về quá trình cải cách, đổi mới kinh tế; về nền
sản xuất nông nghiệp và việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp khi 2
nước gia nhập WTO;
iii Chưa được đánh giá một cách tổng thể dưới góc nhìn của lịch sử kinh tế, tức là
nghiên cứu nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công, hạn chế của
chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi ra nhập WTO, đồng thời
luận giải khả năng vận dụng những bài học đó với Việt Nam
Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển nông nghiệp Trung
Quốc sau khi gia nhập WTO: Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng với
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP Ở CÁC NƯỚC SAU KHI GIA NHẬP WTO 2.1 Cơ sở lý luận của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO
2.1.1 Khái quát về chính sách phát triển nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm Khái niệm chính sách
Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các tài liệu, các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội Mọi chủ thể kinh tế xã hội đều có những chính sách của mình Cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, Đảng, quốc gia, liên minh các nước hay tổ chức quốc tế đều có các chính sách riêng
Chính sách phát triển nông nghiệp Chính sách phát triển nông nghiệp là tổng thể các biện pháp kinh tế và các biện pháp khác của Nhà nước (từ trung ương đến địa phương) tác động đến nông nghiệp và các ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định, với những điều kiện thực hiện nhất định và trong một thời hạn xác định (Phạm Văn Khôi, 2007)
2.1.1.2 Vai trò của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO
Thứ nhất, tạo lập môi trường pháp lý và kinh tế để khuyến khích nông nghiệp phát triển phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn
- Thứ hai, điều tiết, hạn chế sự phát triển không phù hợp, xoá bỏ những xu hướng
có tính tiêu cực trong những ngành và trong những thời điểm nhất định – những hạn chế của kinh tế thị trường (sự tự phát trong sản xuất kinh doanh, huỷ hoại môi trường, )
- Thứ ba, phát huy vai trò dân chủ, kết hợp giữa phát triển nông nghiệp với kinh tế, văn hoá, xã hội
2.1.1.3 Mục tiêu của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO
- Nhằm thực hiện các cam kết gia nhập WTO
- Nhằm khai thác những yếu tố mang lại lợi ích cho quốc gia
- Hướng tới nền nông nghiệp bền vững trong hội nhập quốc tế
2.1.2 Cơ sở lý thuyết của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO
Lý thuyết lợi thế so sánh
Lý thuyết phát triển bền vững
2.2 Cơ sở thực tiễn của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO
2.2.1 Quy định của WTO đối với nông nghiệp
a Chính sách mở cửa thị trường
b Chính sách hỗ trợ trong nước
c Chính sách trợ cấp xuất khẩu
d Hàng rào kỹ thuật thương mại nông nghiệp
Trang 4e Kiểm dịch động, thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm
2.2.2 Tình hình phát triển nông nghiệp ở mỗi quốc gia, xu hướng và triển
vọng của thị trường nông sản thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Tình hình phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia trong hội nhập kinh tế
quốc tế
Việc xây dựng và thực thi chính sách phát triển nông nghiệp của quốc gia trong
từng giai đoạn dựa trên mục tiêu của ngành cũng như điều kiện cơ sở vật chất của mỗi
quốc gia
- Những xu hướng lớn của thị trường nông sản thế giới
Hiện nay, tăng trưởng dân số đang là thách thức rất lớn đối với nền kinh tế toàn
cầu Nó không chỉ tác động đến an ninh lương thực thế giới nói chung mà còn ảnh
hưởng đến an ninh lương thực của một số không nhỏ quốc gia nói riêng
Thứ hai, thị trường hàng nông sản thế giới đang có xu hướng chuyển dần về
các nước đang phát triển, nhất là các nước thuộc khu vực châu Á Các nước này ngày
càng chiếm tỷ trọng cao trong chuỗi giá trị TMQT hàng nông sản
Thứ ba, trên thị trường nông sản thế giới đang diễn ra xu thế tăng nhanh chóng giá trị
xuất nhập khẩu các sản phẩm thịt chế biến, dầu mỡ, sữa, của các nước đang phát triển
Thứ tư, sự phát triển của thị trường nông sản thế giới trong tương lai sẽ chịu
tác động lớn của các cuộc đàm phán thương mại quốc tế
Thứ năm, sự dao động về giá cả các sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thế
giới luôn ở mức cao
- Triển vọng thị trường nông sản thế giới
Nhận thức và nắm bắt rõ triển vọng của thị trường nông sản thế giới, sẽ là cơ
sở cho các nước xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp của mình, dựa trên triển
vọng đó để đưa ra các quyết sách phù hợp trong chiến lược phát triển chung của nền
kinh tế Chính sách phát triển nông nghiệp cụ thể của các quốc gia phải được hoạch
định một cách rõ ràng, chặt chẽ đảm bảo cho quá trình phát triển sản xuất, đáp ứng
nhu cầu nội địa và mở rộng ra thị trường thế giới
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO 3.1 Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp và những vấn đề đặt ra
khi Trung Quốc gia nhập WTO
3.1.1 Một số chính sách phát triển nông nghiệp chủ yếu của Trung Quốc
trước khi gia nhập WTO
3.1.1.1 Chính sách khoán hộ trong nông nghiệp
Cải cách kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc bắt đầu từ cuối năm
1978, được thiết lập dựa trên trách nhiệm hộ gia đình (HRS) Những cải cách HRS
tháo gỡ rào cản đất đai và khoán đất nông nghiệp cho hộ gia đình, chủ yếu dựa trên cơ
sở quy mô gia đình và số người lao động trong các hộ gia đình
3.1.1.2 Chính sách giá đầu ra trong nước và tự do hóa thị trường
Trung Quốc đã thực hiện từng bước thay đổi cơ chế khuyến khích sản xuất
bằng quyết định phi tập thể hóa và thay đổi chính sách giá Điều chỉnh giá đầu tiên
được thực hiện vào năm 1979 Sau đó, giá thu mua nông sản đã tăng đáng kể từ năm
1980 Nhiều nghiên cứu như Lin (1992), Fan (1991), Huang và Rozelle (1996), Fan
và Pardey (1997) khẳng định tác động mạnh mẽ từ những thay đổi về giá cả và sản lượng trong những năm đầu và cuối của quá trình chuyển đổi Trung Quốc đã loại bỏ tất cả các kế hoạch thu mua sản phẩm nông nghiệp như gạo, lúa mì, ngô và bông Tất
cả các sản phẩm đó chỉ có thể mua và bán thông qua thị trường
3.1.1.3 Chính sách phát triển nông thôn và thị trường lao động
Dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực thành thị là trọng tâm trong nỗ lực hiện đại hóa của một quốc gia Tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp nông thôn (các doanh nghiệp Hương trấn) vào GDP đã tăng từ dưới 4% (những năm 1970) lên trên 30% vào năm 1999 Doanh nghiệp Hương trấn chiếm ưu thế trong lĩnh vực xuất khẩu trong suốt những năm 1990 (NBSC, 2001) Các doanh nghiệp này đã thu hút khoảng 35% lao động nông thôn ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp Ngoài công ăn việc làm được trả lương ở nông thôn, một lượng đáng kể lao động nông thôn tự làm chủ ngày càng gia tăng, tăng từ 8% vào năm 1990 lên 13% vào năm 2000 (De Brauw và cộng sự, 2002)
3.1.1.4 Chính sách thương mại nông nghiệp
Bên cạnh những thay đổi quan trọng trong chính sách ngoại hối, Trung Quốc
đã tiến hành một số cải cách cơ bản cho hệ thống TMQT Các mức thuế suất thấp hơn và gỡ bỏ các rào cản xuất nhập khẩu đã bắt đầu có những ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động thương mại các sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc trong thập niên 1980 Đầu tiên là giảm dần mức bảo hộ hàng hóa nông nghiệp do nhà nước và các doanh nghiệp quốc doanh kiểm soát (Huang và Chen, 1999)
3.1.1.5 Chính sách phát triển khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn
Trước cải cách kinh tế, đầu tư nông nghiệp của Trung Quốc tập trung vào việc xây dựng mạng lưới tưới tiêu và hạ tầng nông nghiệp, nông thôn Sau thập niên 1970, Trung Quốc đầu tư nhiều hơn vào khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước ngầm của họ3 (Wang và cộng sự, 2006)
Nghiên cứu nông nghiệp ở Trung Quốc phần lớn do nhà nước thực hiện và tập trung vào chính sách lương thực Hầu hết các chương trình nhân giống cây trồng tập trung vào ngũ cốc (lúa gạo và lúa mì) Với phương châm tự túc lương thực quốc gia, mục tiêu chủ yếu của các chương trình nghiên cứu ở Trung Quốc là hướng tới sản lượng cao
3.1.2 Khái quát tình hình sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO
3.1.2.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc trước gia nhập WTO
Đối với một quốc gia với khoảng 1,4 tỷ người tiêu dùng với tài nguyên thiên nhiên hạn chế, nhập khẩu thực phẩm của Trung Quốc trước khi gia nhập WTO vẫn tương đối thấp Trung Quốc gần như tự túc lương thực và là một nước xuất khẩu ròng một số sản phẩm nông nghiệp, bao gồm thực phẩm và đồ uống, sản phẩm động vật, rau,
cá và hải sản, chè, và các loại trái cây
3
Ở khu vực nông thôn, đến năm 2005, Trung Quốc đã có số lượng giếng khoan gần như nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới Ban đầu, khoản đầu tư này do chính quyền địa phương thực hiện cùng với sự trợ giúp từ cấp trên Đây là chương trình giúp Trung Quốc tận dụng hiệu quả nguồn nước ngầm để phục vụ đời sống cư dân cũng như phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trang 5Bảng 3.1 Tình hình xuất nhập khẩu nông nghiệp của Trung Quốc trước
khi gia nhập WTO (Đơn vị: Tỷ USD)
Nhóm hàng nông sản Xuất khẩu Nhập khẩu Xuất khẩu ròng Thương mại hằng năm, 1995-2000
Ngũ cốc, thức ăn, và sản phẩm xay 3 1,4 2,6 -1,3
Hạt có dầu, chất béo và các loại dầu 1,3 2,9 -1,6
Ghi chú: 1 sản phẩm bánh, thực phẩm và đồ uống được bảo quản;
2 Động vật sống, thịt, sữa, trứng, mật ong, và các sản phẩm động vật khác;
3 Ngũ cốc, thức ăn và phụ phẩm, bột mì và các sản phẩm xay xát;
4 Tơ lụa, lông động vật, bông sợi và vải, da và thuộc da
Nguồn: ERS analysis of China customs statistics reported in Hsin-Hui Hsu and
Fred Gale, China: Agriculture in Transition, USDA/ERS Agriculture and Trade
Report WRS-01-2, November 2001, appendix tables 5 and 6.
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp hạn chế, Trung Quốc duy trì sản xuất lương
thực ở mức cao nhờ kỹ thuật thâm canh cao, từ hai đến ba vụ một năm, và sử dụng
một lượng lớn phân bón cũng như lao động Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp ở Trung
Quốc cho thấy sự thiếu bền vững do Trung Quốc canh tác dựa vào thâm dụng lao động
và tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, nền kinh tế trang trại của Trung Quốc còn
tương đối nhỏ và chủ yếu là canh tác hộ gia đình
3.1.2.2 Tăng trưởng và cơ cấu nông nghiệp của Trung Quốc trước gia nhập WTO
Tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong nền kinh tế Trung Quốc đã giảm
đáng kể Các xu hướng trong cơ cấu kinh tế và thương mại nông nghiệp của Trung
Quốc trong hai thập kỷ cũng tương đồng với các quốc gia đang phát triển khác trước khi
gia nhập WTO Nông nghiệp Trung Quốc đã di chuyển theo hướng phù hợp hơn với
nguồn lực và tài nguyên của họ Những cam kết trong Nghị định thư gia nhập WTO của
chính phủ Trung Quốc cũng phù hợp với kế hoạch cải cách dài hạn của quốc gia này
3.1.3 Một số vấn đề đặt ra đối với khu vực nông nghiệp Trung Quốc khi gia nhập WTO
Thứ nhất, ngành nông nghiệp Trung Quốc ngày càng hội nhập sâu rộng vào
nền nông nghiệp thế giới, và việc đảm bảo phát triển ngành sản xuất nội địa của
Trung Quốc ngày càng trở nên quan trọng
Thách thức thứ hai đối với nền kinh tế Trung Quốc đó là sự mất cân đối cung
cầu và vấn đề thiếu hụt sản phẩm ngày càng nghiêm trọng
Thách thức thứ ba là, chi phí đầu vào và các loại phí sản xuất nông nghiệp
khác có xu hướng gia tăng nhanh.
Thách thức thứ tư là sự mất cân đối trong cơ cấu lao động và việc làm ở khu vực nông thôn, nhất là vấn đề dư thừa lao động nông thôn và sự thiếu hụt cơ cấu nguồn lao động nông nghiệp
nghiệp không theo kịp với công nghiệp hóa và đô thị hóa
Bên cạnh đó, năng suất nông nghiệp gia tăng chậm
Áp lực gia tăng thu nhập cho người nông dân ngày càng lớn
3.2 Thực trạng chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
3.2.1 Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Thứ nhất, các nguồn lực nông nghiệp của Trung Quốc tương đối hạn chế
Thứ hai, nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính của hàng triệu nông dân và cũng là phương tiện sinh kế chính của nông dân Trung Quốc
Thứ ba, một tỷ lệ lớn nông dân Trung Quốc vẫn sống dưới mức chuẩn nghèo tính theo chỉ tiêu thu nhập ròng bình quân đầu người hàng năm là 2.300 NDT (khoảng 339 USD) Thu nhập ròng bình quân đầu người của nông dân Trung Quốc năm 2010 là 5.919 NDT (khoảng 874 USD), nhỏ hơn 1/3 lần thu nhập khả dụng của người dân đô thị
Thứ tư, với dân số khoảng 1,42 tỷ người4, Trung Quốc đặc biệt quan tâm tới vấn đề an ninh lương thực trong nước
Thứ năm, công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Trung Quốc diễn ra rất nhanh thúc đẩy năng suất công nghiệp tăng cao làm cho nền kinh tế Trung Quốc phân cực rõ ràng
Thứ sáu, cơ sở hạ tầng nông thôn và hạ tầng xã hội tụt hậu đáng kể so với khu vực thành thị và các thành phố lớn (Ni, 2013)
3.2.2 Chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
3.2.2.1 Chính sách thuế quan và hàng rào phi thuế (i) Chính sách thuế quan
Trung Quốc đã thực hiện cắt giảm thuế quan cùng với các biện pháp miễn thuế để đạt được một loạt các mục tiêu chính sách Việc giảm thuế, miễn thuế cụ thể được do Quốc hội quyết định và tất cả các cắt giảm thuế và miễn giảm thuế được áp dụng trên cơ
sở của nguyên tắc tối huệ quốc (MFN)
(ii) Các rào cản phi thuế
4 Số liệu năm 2019
Trang 6Các rào cản phi thuế bao gồm: Hạn ngạch thuế quan, giấy phép nhập khẩu,
3.2.2.2 Chính sách trợ cấp nông nghiệp của Trung Quốc
Bảng 3.14 Chi tiêu chính phủ cho nông nghiệp của Trung Quốc
giai đoạn 2000 – 2014 (Đơn vị: tỷ nhân dân tệ)
Năm Chi tiêu
chung
Tỷ trọng
chi tiêu
tài khóa
Chi cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Chi xây dựng cơ sở
hạ tầng
Chi KH&CN
Chi cứu trợ thiên tai
Chi phúc lợi xã hội và phát triển NN-NT
2013 1.300
2014 1.400
Nguồn: China Statistical Yearbook on the Countryside and China Rural Statistical
Yearbook 2011
• Chính sách trợ cấp thuộc “hộp xanh lá cây” của Trung Quốc
- Chính sách trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng ngũ cốc
- Chính sách hỗ trợ bảo vệ môi trường
- Quy mô và mức độ trợ cấp hộp xanh lá cây của Trung Quốc (Bảng 3.15)
• Chính sách trợ cấp thuộc “hộp hổ phách” của Trung Quốc
- Chính sách trợ cấp đầu vào nông nghiệp toàn diện
- Chính sách trợ cấp mua máy nông nghiệp
- Chính sách trợ cấp giống và đa dạng hóa cây trồng
- Chính sách giá thu mua tối thiểu
- Quy mô và mức độ trợ cấp hộp hổ phách của Trung Quốc (Bảng 3.19a,b)
Theo Thông cáo của WTO về Trung Quốc, chi ngân sách hỗ trợ “hộp hổ
phách” của Trung Quốc tăng lên tới 78,86 tỷ NDT năm 2008, chiếm khoảng 1,5%
tổng sản lượng nông nghiệp Hỗ trợ “hộp hổ phách” cho sản phẩm cụ thể đối với 7 sản phẩm nông nghiệp chính gồm lúa mì, gạo, ngô, đậu tương, bông, cải dầu và thịt lợn
Hỗ trợ hộp hổ phách được đo lường và khái niệm hóa thông qua đo lường chỉ
số tổng lượng hỗ trợ tính gộp (AMS) Cam kết ràng buộc AMS cuối cùng của Trung Quốc bằng không Do đó, mức hỗ trợ hộp hổ phách tối đa được phép của Trung Quốc
là ở mức độ tối thiểu (de minimis) Cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc thiết lập mức tối thiểu là 8,5% giá trị sản xuất đối với các khoản hỗ trợ gây bóp méo thương mại
3.2.2.3 Chính sách trợ cấp xuất khẩu của Trung Quốc
Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc cung cấp các khoản trợ cấp xuất khẩu đối với ngô và gạo ngô tương ứng là 368 NDT mỗi tấn vào năm 1999 và 378 NDT mỗi tấn vào năm 2001 Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO Trung Quốc buộc phải ngừng áp dụng các gói trợ cấp xuất khẩu để phù hợp với các cam kết của tổ chức này
3.2.2.4 Chính sách thiết kế và hoàn thiện hàng rào kỹ thuật thương mại trong nông nghiệp (TBT)
TBT đã trở thành phương tiện chủ yếu và hình thức bảo hộ cao cấp đối với thương mại hàng hóa trong nước Trung Quốc gia nhập WTO phải đối mặt với nhiều thách thức trong những bước đột phá về các rào cản kỹ thuật nước ngoài và việc bảo
vệ thị trường trong nước
Các rào cản kỹ thuật thương mại chủ yếu đối xuất khẩu của Trung Quốc
(1) Rào cản tiêu chuẩn kỹ thuật (2) Đóng gói và dán nhãn (3) Rào cản “màu xanh lá cây”
• Các biện pháp ứng phó của Trung Quốc để vượt qua các rào cản kỹ thuật đối với
thương mại
Thứ nhất, Trung Quốc xây dựng, xác lập chiến lược thực hiện tiêu chuẩn hóa, xây dựng một quy chuẩn kỹ thuật và hệ thống tiêu chuẩn vững chắc để đảm bảo phát triển bền vững Thứ hai, chủ động thiết lập và cải tiến cơ chế cảnh báo sớm TBT Các nước phát triển lớn và một số nước đang phát triển đều coi trọng việc theo dõi và nghiên cứu các biện pháp TBT của các đối tác thương mại và một số nước đã thiết lập cơ chế cảnh báo sớm cho mình Thứ ba, tập trung vào các cơ chế hợp tác song phương, đa phương và khu vực để tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại
Trang 7Bảng 3.15 Trợ cấp hộp xanh lá cây của Trung Quốc
Đơn vị: Tỷ NDT
Năm Dịch vụ chung Dự trữ an ninh lương thực thực trong nước Trợ cấp lương thu nhập Hỗ trợ Cứu trợ thiên tai trình hưu Chương
trí
Các chương trình môi trường
Các chương trình trợ cấp vùng
Tổng trợ cấp hộp xanh lá cây
Nguồn: China’s notification to the WTO (1999-2001, 2002-2004, 2005-2008, 2009-2010, 2011-2016).
Bảng 3.19b Trợ cấp hộp hổ phách của Trung Quốc (Triệu NDT)
AMS Giá trị SX AMS Giá trị SX AMS Giá trị SX AMS Giá trị SX AMS Giá trị SX AMS Giá trị SX
AMS cho sản phẩm cụ thể (PS AMS) Tổng PS AMS
Ngô 7.324 376.390 9.109 442.450 51.970 475.520 75.077 479.170 107.701 431.490 57.166 433.720 Bông 18.820 157.450 40.609 147.780 40.440 142.200 31.212 130.930 30.528 104.140 16.844 79.010
Bò 474 229.900 460 265.360 462 318.470 468 351.970 471 362.360 119 298.700 Lạc 415 97.490 415 112.530 416 112.500 416 107.020 416 106.100 - - Lợn 4.598 1.222.540 5.088 1.243.590 1.037 1.256.060 770 1.229.760 765 1.285.970 73 1.413.340 Cải dầu 7.063 64.940 8.834 80.960 12.040 83.060 6.812 85.780 2.001 80.240 2 66.170 Gạo 8.103 526.010 10.628 571.490 41.745 601.460 37.935 619.300 38.350 612.910 27.793 627.100 Khoai tây 363 134.910 374 137.690 404 141.320 365 148.580 346 154.130 59 141.360 Cừu 255 171.320 259 201.000 547 229.470 261 237.770 261 208.690 60 219.170 Đậu tương 3.581 65.350 5.789 64.080 2.660 61.690 7.583 60.210 6.580 53.760 7.347 53.390 Đường 3.911 64.490 6.543 68.590 - - - - Lúa mỳ 5.049 248.250 12.990 264.100 9.644 289.160 22.298 307.690 19.025 313.150 19.539 300.560
AMS phi sản phẩm cụ thể (NPS AMS) Tổng NPS AMS 103.697 132.449 133.346 134.592 133.532 25.759
Trợ cấp đầu vào 84.596 109.146 109.124 10.910 107.996 97
Hỗ trợ mua máy
NN 19.101 23.303 24.222 25.482 25.536 25.662 Phụ phí (-)
TỔNG AMS
Nguồn: China’s notification to the WTO 2011-2016
Trang 8Một số điểm chung trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc
Chính sách phát triển nông nghiệp và những điều chỉnh chính sách phát triển
nông nghiệp của Trung Quốc có thể tóm tắt trong một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống quản lý nông nghiệp mới dựa trên sự kết
hợp các hoạt động hộ gia đình, tập thể, hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp
Thứ hai, về chính sách khoán Hộ nông dân sẽ được giao quyền sở hữu Họ
được khuyến khích phát triển một hệ thống sản xuất mà trách nhiệm, lợi ích gắn bó
chặt chẽ với kết quả của mình
và nông thôn, hạn chế khoảng cách và sự phân hóa giàu nghèo
Thứ tư, điều chỉnh mục tiêu an ninh lương thực quốc gia Bên cạnh mục tiêu
trọng tâm là là cải thiện thu nhập cho nông dân trong những năm gần đây, nền tảng của
chính sách nông nghiệp là sự tập trung mạnh mẽ của chính phủ vào việc tự cung cấp
lương thực và đảm bảo an ninh lương thực của quốc gia
Thứ năm, chính sách thuế quan cũng như trợ cấp nông nghiệp đã được thực hiện theo
cam kết gia nhập khi Trung Quốc là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO
Thứ sáu, những thay đổi trong chính sách phát triển nông nghiệp hướng tới việc
hiện thực hóa giấc mơ nông nghiệp công nghệ cao
xuất và phát triển bền vững
3.3 Đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia
nhập WTO và ảnh hưởng của nó đối với nông nghiệp
Sau khi gia nhập WTO vào năm 2001, sự thịnh vượng của thương mại đối ngoại
đã đóng vai trò rất quan trọng đối với sự “cất cánh” của nền kinh tế Trung Quốc, đưa
Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, sau Mỹ
3.3.1 Đánh giá việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc
sau khi gia nhập WTO
3.3.1.1 Những mặt tích cực
(i) Trung Quốc đã thực hiện tốt các cam kết gia nhập, đáp ứng yêu cầu của WTO
Lộ trình cắt giảm thuế quan của Trung Quốc đã đáp ứng đúng yêu cầu của
WTO, tỷ lệ cắt giảm thuế quan cũng được thực hiện theo đúng cam kết khi Trung
Quốc gia nhập Trợ cấp xuất khẩu đã được xóa bỏ sau khi Trung Quốc chính thức trở
thành thành viên của WTO kể từ 2001
triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp và linh hoạt sử dụng các công cụ hộp “hổ phách”
Số liệu từ trợ cấp “Hộp xanh lá cây” và chương trình tam nông của Trung Quốc cho
thấy, sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc luôn tăng cường đầu tư khá đồng bộ đối với
CSHT nói chung, CSHT nông nghiệp nói riêng Hệ thống giao thông đường bộ, giao thông nông thôn, hệ thống tưới tiêu, thủy lợi luôn được quan tâm chú trọng
(iii) Trung Quốc đã đạt được thành tựu đáng kể trong quản lý và tổ chức sản xuất nông nghiệp
Các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp đã phát triển đa dạng hơn cả trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp… Quản lý ngành dọc trong sản xuất nông nghiệp tăng nhanh và quy mô cũng được mở rộng (Zhen & Xiangzhi, 2014)
Hệ thống dịch vụ nông nghiệp cũng đã được cải thiện đáng kể
3.3.1.2 Những mặt hạn chế (i) Giá trị các biện pháp hỗ trợ trong nước đối với nông nghiệp còn thấp (ii) Một số chính sách đã gây bóp méo thị trường
(iii) Trong quá trình thực hiện, Trung Quốc vẫn còn vi phạm một số cam kết WTO (iv) Thiết kế hệ thống chính sách nông nghiệp vẫn còn những hạn chế
3.3.2 Ảnh hưởng của chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đối với nông nghiệp
3.3.2.1 Ảnh hưởng tích cực
i Các chính sách trợ cấp trong nước đã góp phần gia tăng nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, đóng góp vào tăng trưởng chung, thúc đẩy khoa học kỹ thuật và công nghệ nông nghiệp phát triển
ii Các chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Trung Quốc đã tác động tích cực làm tăng giá trị sản lượng nông nghiệp, Trung Quốc có thể cung cấp lương thực cho 1/5 dân số thế giới
Bảng 3.21 Một số kết quả của chính sách phát triển nông nghiệp
Trung Quốc giai đoạn 2000-2018
Năm
Chi tiêu cho nông nghiệp (109 NDT)
Tổng sản lượng lương thực (106 tấn)
Thu nhập ròng bình quân đầu người của nông dân (NDT)
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp (109 USD)
2000 462,18 2.253 26,95
2001 452,64 2.366 27,90
2002 457,06 2.476 30,59
2003 214,42 430,70 2.622 40,36
2004 262,62 469,47 2.936 51,42
2005 297,53 484,02 3.255 56,29
2006 351,72 498,04 3.587 63,48
2007 431,83 501,60 4.140 78,10
Trang 92008 595,55 528,71 4.761 99,16
2009 725,31 530,82 5.153 92,13
2010 857,97 546,48 5.919 121,96
2011 1.049,77 571,21 6.977 155,62
2012 1.228,66 589,57 7.917 175,70
2013 1.379,9 601,94 8.896 186,69
2014 1.517,8 607,03 10.488 236,0
2015 1.758,8 621,44 11.421 226,6
2016 1.877,6 616,25 12.363 225,1
2017 1.908,9 661,60 13.432 262,0
2018 - 657,89 - 172,2
Nguồn: Chinese Agricultural Yearbook; Statistical tables, chapter 8, WTO, FAO STAT
iii Các chính sách thuộc nhóm “hộp xanh”, đặc biệt là sự gia tăng đầu tư cho KHCN
cùng với quá trình đô thị hoá đã thúc đẩy chuyển dịch cấu nông nghiệp Trung Quốc, hình
thức tổ chức sản xuất chuyển biến theo hướng tích cực, hiện đại
iv Việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế của Trung Quốc đối với các thị trường
trên thế giới đã giúp Trung Quốc mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, thúc đẩy kim ngạch xuất
nhập khẩu tăng
v Các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, chương trình trợ cấp thu nhập và tăng cường
đầu tư chi tiêu cho nông nghiệp ở Trung Quốc đã có tác dụng góp phần xóa đói, giảm nghèo
và cải thiện thu nhập của nông dân
vi Các chính sách đầu tư phát triển khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thiết
kế và hoàn thiện hàng rào kỹ thuật thương mại nông nghiệp (TBT) đã thúc đẩy nâng cao
năng lực cạnh tranh và phát huy lợi thế so sánh của nông nghiệp Trung Quốc
vii Các chính sách bảo vệ môi trường và quá trình hoàn thiện hàng rào kỹ thuật thương
mại nông nghiệp (TBT) đã khiến thói quen, tập quán sản xuất nông nghiệp Trung Quốc thay
đổi theo hướng tích cực
Có thể rút ra một số nhận xét về các chính sách phát triển nông nghiệp Trung
Quốc sau khi gia nhập WTO, các biện pháp trợ cấp trong nước thuộc nhóm “hộp xanh
lá cây” là nhóm có ảnh hưởng, có tác động lớn nhất đối với kết quả sản xuất và những
thành tựu của nền nông nghiệp nước này Trong các biện pháp thuộc nhóm “hộp
xanh”, thì chính sách nghiên cứu và phát triển KHCN, chính sách phát triển cơ sở hạ
tầng đóng vai trò quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến kết quả của nông nghiệp, tiếp đến
là chính sách khuyến nông và tư vấn Bên cạnh đó, nhóm các biện pháp nhóm hộp hổ
phách, cụ thể như chính sách trợ cấp đầu vào, chính sách trợ cấp máy nông nghiệp hay
trợ giá cũng góp phần vào thành tựu của nông nghiệp ở Trung Quốc
Đồng thời, các chính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đã chú trọng đến phát huy lợi thế so sánh và gắn với mục tiêu phát triển bền vững Lợi thế so sánh của nông nghiệp Trung Quốc nằm ở lĩnh vực thâm dụng lao động Họ có thể tăng cường xuất khẩu sản phẩm từ ngành thâm dụng lao động như thủy sản, trái cây, rau củ và tơ tằm Đây cũng là những sản phẩm mà Trung Quốc có xuất siêu trong nhiều năm Đồng thời nhập khẩu những sản phẩm ít có lợi thế so sánh hơn như các loại hạt có dầu và dầu thực vật (J Huang et al, 2018)
Thực tế cũng cho thấy, các chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO đã hướng tới nền nông nghiệp bền vững Điều này được thể hiện rõ qua các chính sách như: phát triển cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và phát triển KHCN, các chính sách môi trường Những chính sách này đã khiến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của Trung Quốc trong nông nghiệp khá cao, chiếm trung bình khoảng 83% tăng trưởng nông nghiệp (so với Thái Lan khoảng 83% và Malaysia 92%) (thống kê của Viện Chiến lược và chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn - IPSARD Việt Nam và Ngân hàng thế giới – WB)
3.3.2.2 Những hạn chế
(i) Các chương trình trợ cấp, đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ không đồng đều giữa các lĩnh vực, các vùng sản xuất đã dẫn đến sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng và nhóm dân cư, gia tăng bất bình đẳng thu nhập (ii) Nhiều thách thức vẫn tồn tại trong nền kinh tế
(iii) Trong nền kinh tế, có sự mất cân đối cung cầu các sản phẩm nông nghiệp
3.4 Bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
3.4.1 Chính sách phát triển nông nghiệp cần sự linh hoạt và thích ứng với những cam kết WTO
Sự linh hoạt được thể hiện ở những thay đổi, những điều chỉnh trong chính sách thuế quan, các rào cản phi thuế hay các biện pháp trợ cấp của chính phủ đối với nông nghiệp Ví dụ, Trung Quốc cam kết sẽ không trợ cấp xuất khẩu dưới bất kỳ hình thức nào sau khi gia nhập WTO Thay vào đó, chính phủ nước này gia tăng trợ cấp nội địa thông qua các chương trình bảo hiểm thu nhập, hưu trí nông dân, trợ cấp lãi suất hoặc các chương trình có lợi cho tam nông, nhằm hạn chế những tổn thương đối với lĩnh vực yếu thế khi gia nhập sân chơi toàn cầu
3.4.2 Chính sách phát triển nông nghiệp phải hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập
Sau khi gia nhập WTO, các chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc luôn hướng tới phát triển bền vững Các chính sách cụ thể như đầu tư phát triển KHCN, nông nghiệp xanh, và các chính sách cải thiện thu nhập cho nông dân hay các chính sách bảo vệ môi trường Đồng thời, các chính sách cũng hướng đến nâng cao năng lực cạnh tranh thông
Trang 10qua tăng năng suất lao động nông nghiệp hay đẩy mạnh công nghiệp hoá nông nghiệp,
nông thôn
3.4.3 Chính sách phát triển nông nghiệp phải góp phần thúc đẩy tự do hoá
thị trường nông sản và phát huy lợi thế so sánh trong hội nhập kinh tế quốc tế
Thực hiện cam kết mở cửa thị trường nông sản theo quy định của WTO đối với
tất cả các thành viên, Trung Quốc đã thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan và các rào cản
phi thuế Hàng hoá ở các nước trên thế giới, đặc biệt là thành viên WTO thâm nhập vào thị
trường Trung Quốc trở nên đa dạng, tạo nên một nguồn cung lớn đối với thị trường đông
dân nhất thế giới này Và trong xu thế tự do thương mại cùng quá trình hội nhập sâu rộng
vào nền kinh tế thế giới, Trung Quốc hết sức chú trọng lợi thế so sánh của mình
3.4.4 Chính sách phát triển nông nghiệp cần chú trọng giảm thiểu hạn chế,
tiêu cực phát sinh trong hội nhập WTO
Các ưu đãi đặc biệt của WTO đối với các quốc gia đang phát triển để giúp
những nước này có thể giảm nghèo, tạo việc làm và hoà nhập vào hệ thống thương mại
toàn cầu Ở Trung Quốc cũng đã xảy sự hiện tượng mất cân đối cung cầu lương thực
Đó là điều không mong đợi ở các nước Để khắc phục tình trạng này, chính sách nông
nghiệp của Trung Quốc gần đây đã có sự dịch chuyển, từ cung sang đáp ứng cầu trong
nước tốt hơn Sự thay đổi này đã giảm thiểu áp lực cho nền nông nghiệp Trung Quốc
(Huang và cộng sự, 2017) Trung Quốc cũng chủ trương dựa vào KHCN để khắc phục
những hạn chế tồn tại trong sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy ngành này phát triển
mạnh mẽ trước bối cảnh mới
CHƯƠNG 4 KHẢ NĂNG VẬN DỤNG NHỮNG KINH NGHIỆM
TRONG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRUNG QUỐC
SAU KHI GIA NHẬP WTO GẮN VỚI VIỆT NAM
4.1 Một số chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO
4.1.1 Bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO
4.1.1.1 Nông nghiệp với sản xuất nhỏ còn rất phổ biến
4.1.1.2 Khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế
giới rất thấp
4.1.1.3 Ứng dụng khoa học công nghệ và cơ giới hoá nông nghiệp còn hạn chế
4.1.1.4 Đối diện với trợ cấp ở các nước phát triển trên thế giới
4.1.1.5 Nhóm đối tượng thu nhập thấp, yếu thế trong xã hội có xu hướng ảnh
hưởng tiêu cực
4.1.1.6 Nông nghiệp Việt Nam phát triển thiếu bền vững
4.1.2 Khái quát một số chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia
nhập WTO
4.1.2.1 Chính sách thuế quan
Việt Nam đã công bố lịch trình cắt giảm thuế quan và chính phủ Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh mức thuế quan hàng năm theo lộ trình Đến nay, điều chỉnh chính sách thuế quan trong ngành nông nghiệp cơ bản đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
4.1.2.2 Chính sách trợ cấp nông nghiệp
(i) Chính sách trợ cấp xuất khẩu
Trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO, chúng ta đã có những điều chỉnh căn bản để dần dần phù hợp với các cam kết gia nhập Ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã xoá bỏ tất cả các dạng trợ cấp
(ii) Chính sách hỗ trợ trong nước
- Nhóm chính sách “Hộp xanh lá cây”
So với thời kỳ trước thì cơ cấu các biện pháp hỗ trợ đã có sự thay đổi Chẳng hạn, trước đây dịch vụ cơ sở hạ tầng thường chiếm tỷ trọng lớn thì nay đã giảm xuống Điều đó cho thấy các biện pháp khác đã được chú trọng hơn, vận dụng linh hoạt hơn
- Chính sách trợ cấp hộp hổ phách
Là nhóm các “biện pháp trợ cấp có điều kiện”, các quốc gia phải thực hiện theo đúng nghĩa vụ như đã cam kết và theo quy định chung của WTO Kể từ khi gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đã có những hỗ trợ tích cực cho nhóm chính sách này Từ
2007 đến 2013, đặc biệt từ 2009 trợ cấp hộp hổ phách đã tăng vượt bậc: từ 712 tỷ đồng lên 1.632 tỷ đồng (2008), 9.972 tỷ đồng (2009), 10.609 tỷ đồng (2010), 14.914 (2011)
và đạt 20.500 tỷ đồng (2013)