1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tính dễ bị tổn thương và kết quả sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông cửu long tt

13 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu chỉ dừng lại ở việc tính toán LVI thì chưa đủ, cần phải đưa ra bức tranh tổng thể hơn về ảnh hưởng của các thành phần dễ bị tổn thương mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

HOÀNG THỊ HUỆ

TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ KẾT QUẢ SINH KẾ

TRONG BỐI CẢNH XÂM NHẬP MẶN

VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Kinh tế lao động

Mã số: 9340404

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI – 2020

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Hoàng Ngân

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án cấp Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Vào hồi:… giờ, ngày …… tháng …… năm 2020

Có thể tìm hiểu Luận án tại

- Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 2

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xây dựng chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế được cho là cần thiết để phân loại mức độ dễ

bị tổn thương cho mỗi quốc gia, khu vực và cộng đồng Các chỉ số này đóng vai trò là cơ sở

cho các nỗ lực can thiệp trực tiếp đến các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất (Alam, 2017;

Bhuiyan và cộng sự, 2017; Jacobson và cộng sự, 2018) Khẳng định lại điều này, Perch

(2011) cho thấy các chính sách thích ứng (như kế hoạch hành động thích ứng quốc gia)

được xây dựng mà không xem xét sinh kế của các nhóm dễ bị tổn thương thì khó có thể

thành công Do vậy, đã có nhiều phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương của sinh kế

Trong đó, phương pháp đánh giá chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế (LVI – Livelihood

Vulnerability Index) được đề xuất bởi Hahn và cộng sự (2009) đã được nhiều học giả sử

dụng (Sarker và cộng sự, 2019; Zhang và cộng sự, 2019; Peng và cộng sự, 2019; Tjoe,

2016; Adu và cộng sự, 2018; Hương và cộng sự, 2019) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu

áp dụng LVI đều sử dụng phương pháp trọng số cân bằng, phương pháp này bị chỉ trích vì

các trọng số giống nhau được áp dụng cho các thành phần khác nhau (Beccari, 2016; Miller

và cộng sự, 2013; Abeje và cộng sự, 2019) Do vậy, cần thiết phải phát triển một phương

pháp tính toán LVI phù hợp hơn để đưa ra kết quả thuyết phục hơn

Việc xây dựng LVI để phân loại mức độ dễ bị tổn thương cho mỗi quốc gia, khu vực

và cộng đồng là việc làm quan trọng, tuy nhiên các nghiên cứu hầu như chỉ dừng lại ở việc

tính toán LVI mà chưa chú trọng xem xét vai trò tổng thể của các thành phần dễ bị tổn

thương ảnh hưởng như thế nào đến kết quả sinh kế Nếu chỉ dừng lại ở việc tính toán LVI

thì chưa đủ, cần phải đưa ra bức tranh tổng thể hơn về ảnh hưởng của các thành phần dễ bị

tổn thương (mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng) đến kết quả sinh kế,

đồng thời tìm hiểu các yếu tố làm giảm tác động tiêu cực của bối cảnh tổn thương đến kết

quả sinh kế để đưa ra các chính sách thích ứng/ứng phó hiệu quả Do vậy, rất cần những

đóng góp sâu hơn để cung cấp một bức tranh rõ ràng hơn về tác động của tổng thể các thành

phần dễ bị tổn thương đến kết quả sinh kế đồng thời xem xét vai trò điều tiết của năng lực

thích ứng trong bối cảnh đó

Sự cần thiết của đề tài không chỉ xuất phát từ khoảng trống tri thức mà còn xuất phát

từ nhu cầu thực tiễn Nhận thấy, biến đổi khí hậu đã tác động xấu đến nền kinh tế thế giới

thông qua tần suất gia tăng của các sự kiện cực đoan như hạn hán, lũ lụt, bão, nước biển dâng

(Anik và cộng sự, 2018) Mặc dù nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn

cầu, nhưng tác động lớn nhất sẽ xảy ra đối với các nước dựa vào sản xuất nông nghiệp

(Mendelsohn, 2008) Việt Nam, một nền kinh tế nông nghiệp dựa trên lúa gạo sẽ bị ảnh

hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) -

cung cấp khoảng 50% sản lượng của cả nước sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai đặc biệt là xâm

nhập mặn (Vu và cộng sự, 2018) Trên thực tế, ĐBSCL được xác nhận là một trong những

2 khu vực trên thế giới dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu (Nguyen và cộng sự, 2019) và hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng xâm nhập mặn là một trong những vấn đề lớn ở ĐBSCL,

nó có xu hướng trở lên trầm trọng hơn trong tương lai do mực nước biển dâng, lưu lượng từ thượng nguồn suy giảm (Trần Quốc Đạt và cộng sự, 2012; Trần Hồng Thái và cộng sự, 2014) Điều này tạo nên nguy cơ là sản lượng lúa của khu vực sẽ giảm đi ít nhất một nửa và Việt Nam có thể sẽ là quốc gia không có lúa xuất khẩu (Trần Quốc Đạt và cộng sự, 2012) Mối đe doạ an ninh lương thực, hiện tượng suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên, thu hẹp diện tích canh tác dẫn đến sinh kế của người dân ngày càng bấp bênh… đó là những thách thức rất lớn của ĐBSCL khi ứng phó với xâm nhập mặn để phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, đã có nhiều công trình, dự án nghiên cứu về sinh kế bền vững, đánh giá mức

độ dễ bị tổn thương vùng ĐBSCL (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2016; Nguyễn Thanh Bình, 2012; Trần Hồng Thái và cộng sự, 2014; ADB, 2011; Dinh và cộng sự, 2012; Birkmann và cộng sự, 2012; Miller, 2014; Trung và Thanh, 2013; Can và cộng sự, 2013; Phung và cộng sự, 2016 ) Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các kịch bản biến đổi khí hậu (thay đổi nhiệt độ, lượng mưa) nhưng không nêu rõ sinh kế nào dễ bị tổn thương trong bối cảnh xâm nhập mặn Hơn nữa, các nghiên cứu này không cố gắng định lượng tác động của xâm nhập mặn đến sinh kế hộ gia đình cũng như xem xét các yếu tố giúp giảm thiểu ảnh hưởng của xâm nhập mặn Định lượng được các tác động này sẽ cung cấp những hiểu biết quan trọng về việc chi bao nhiêu cho việc giảm thiểu, đồng thời sẽ giúp định hướng việc tiến hành thích ứng ở đâu, khi nào và như thế nào (Mendelsohn, 2008) Như vậy rất cần các nghiên cứu tiếp theo xem xét sinh kế nào dễ bị tổn thương trong bối cảnh xâm nhập mặn cũng như các yếu tố làm giảm tác động của xâm nhập mặn vùng ĐBSCL, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp

Do vậy, xuất phát từ khoảng trống tri thức và từ nhu cầu thực tiễn, tác giả nhận thấy

việc nghiên cứu “Tính dễ bị tổn thương và kết quả sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long” là cần thiết và có ý nghĩa

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chung: Đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng ĐBSCL nhằm chỉ ra khu vực nào, đối tượng nào dễ bị tổn thương hơn Đồng thời đánh giá tác động của các thành phần dễ bị tổn thương sinh kế (mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm, năng lực thích ứng) đến kết quả sinh kế, xem xét vai trò điều tiết của năng lực thích ứng trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế vùng ĐBSCL

Mục tiêu cụ thể:

Hoàn thiện mô hình lý thuyết về đánh giá tác động của các thành phần dễ bị tổn thương sinh kế đến kết quả sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng ĐBSCL

Trang 3

3

Đo lường mức độ dễ bị tổn thương sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng

ĐBSCL theo địa phương và đặc điểm hộ dựa trên phân tích mức độ phơi lộ, mức độ nhạy

cảm và năng lực thích ứng bằng việc sử dụng trọng số bất cân bằng

Đánh giá tác động của các thành phần dễ bị tổn thương sinh kế đến kết quả sinh kế

trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng ĐBSCL, xem xét vai trò điều tiết của năng lực thích ứng

trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế vùng ĐBSCL

Câu hỏi nghiên cứu:

- Dễ bị tổn thương sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng ĐBSCL thường xảy ra

ở nhóm đối tượng nào? và mức độ dễ bị tổn thương sinh kế của các nhóm đối tượng đó là

bao nhiêu?

- Các thành phần dễ bị tổn thương sinh kế (mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm, năng

lực thích ứng) ảnh hưởng như thế nào đến kết quả sinh kế vùng ĐBSCL?

Năng lực thích ứng có vai trò như thế nào trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của xâm

nhập mặn đến kết quả sinh kế vùng ĐBSCL?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu tính dễ bị tổn thương sinh kế (bao gồm: mức độ phơi lộ, mức độ

nhạy cảm và năng lực thích ứng), kết quả sinh kế và ảnh hưởng của các thành phần dễ bị tổn

thương đến kết quả sinh kế của hộ gia đình trong bối cảnh xâm nhập mặn

Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Theo Phụ lục 06 tại “Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12 tháng 01

năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc tài

nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” Tính đến đầu

năm 2016 toàn vùng ĐBSCL có 35 trạm đo mặn đặt trên 8 tỉnh, bao gồm: Long An, Tiền

Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau Do vậy, luận án sẽ tập

trung nghiên cứu các hộ gia đình bị ảnh hưởng xâm nhập mặn tại địa bàn 8 tỉnh nói trên, với

giả định các hộ gia đình sống trên cùng một địa bàn chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn là như

nhau

- Về thời gian: Tập trung xem xét mức độ dễ bị tổn thương sinh kế và đánh giá tác

động của các thành phần dễ bị tổn thương sinh kế đến kết quả sinh kế trong bối cảnh xâm

nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2014-2018

4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu về sinh kế

Tác giả tiến hành tổng quan 3 phương pháp tiếp cận về sinh kế bền vững: (1) Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme–UNDP), (2) tổ chức nhân đạo và hỗ trợ phát triển quốc tế - Cooperative for American Remittances to Europe -CARE và (3) Bộ phát triển Quốc tế của Anh (Department for International Development–DFID) Cả ba tổ chức đều sử dụng sinh kế bền vững làm cách tiếp cận chiến lược cho mục tiêu giảm nghèo, họ cũng sử dụng những định nghĩa tương tự nhau về sinh kế bền vững Mặc dù vậy, UNDP và CARE sử dụng sinh kế bền vững và khung sinh kế bền vững để lập kế hoạch và xây dựng các chương trình, dự án Trong khi DFID lại sử dụng sinh kế bền vững như một bộ khung cơ bản để phân tích Ngoài ra, CARE hỗ trợ an ninh sinh kế hộ gia đình ở cấp độ cộng đồng, trong khi UNDP và DFID không chỉ tiếp cận ở cấp

độ cộng đồng mà còn chú trọng đến việc giải quyết các chính sách về môi trường, cải cách kinh tế vĩ mô và luật pháp để giảm nghèo hiệu quả Do vậy, sau khi tổng quan nghiên cứu tác giả khẳng định tiếp cận sinh kế bền vững theo DFID là phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luận án

1.2 Tổng quan nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu

1.2.1 Cách tiếp cận tính dễ bị tổn thương

Nhìn chung tính dễ bị tổn thương trong điều kiện biến đổi khí hậu được củng cố bởi nhiều nghiên cứu dẫn tới sự đa dạng trong khái niệm Có thể rút ra ba quan điểm khái quát

về tính dễ bị tổn thương: các quan điểm về lý sinh, xã hội và tích hợp Trong đó quan điểm tích hợp được coi là mô hình hiện đại trong việc phân tích tính dễ tổn thương của biến đổi khí hậu Nó cung cấp một nền tảng khái niệm và phân tích rộng bằng cách cho phép tích hợp và áp dụng các bối cảnh khái niệm khác nhau cũng như một loạt các phương pháp và công cụ có khả năng bổ sung cho nhau

1.2.2 Các thành phần chính của dễ bị tổn thương

Như trên đã phân tích, trong ba quan điểm thì quan điểm tích hợp được coi là mô hình hiện đại trong việc phân tích tính dễ tổn thương của biến đổi khí hậu Do vậy việc tiếp cận các thành phần chính của tính dễ bị tổn thương theo quan điểm tích hợp (mức độ phơi

lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng) cũng được nhiều tác giả ưu ái sử dụng hơn (Hahn và cộng sự, 2009; Shah và cộng sự, 2013; Zhang và cộng sự, 2019 )

1.2.3 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương

Trong số các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương, phương pháp chỉ số được xem là tối ưu và được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu Việc ưu tiên sử dụng các chỉ số

để mô tả và định lượng các vấn đề được giải thích vì ba lý do chính Thứ nhất, chúng đưa ra một điểm tham khảo để đánh giá các khuôn khổ cho chính sách phát triển (Kelly và Adger,

Trang 4

5

2000, Eriksen và Kelly, 2007) Thứ hai, chúng có thể cung cấp thông tin để xây dựng các kế

hoạch thích ứng và giảm nhẹ (Gbetibouo và cộng sự, 2010) Thứ ba, chúng có thể cung cấp

một phương tiện chuẩn hoá đo lường tính dễ bị tổn thương, do đó cho phép so sánh các bối

cảnh khác nhau Điều này sẽ cung cấp một phương án nhằm thiết lập các ưu tiên trong phân

bổ nguồn lực cho thích ứng và giảm nhẹ (Preston và cộng sự, 2011; Heltberg và Siegel,

2009) Do vậy, trong phạm vi luận án này NCS cũng sử dụng phương pháp chỉ số để đo

lường mức độ dễ bị tổn thương sinh kế

1.2.4 Khung phân tích tính dễ bị tổn thương

Theo tổng hợp của Nguyễn Thị Vĩnh Hà (2016), hiện nay trên thế giới có khoảng 7

khung được sử dụng để phân tích, đánh giá tính dễ bị tổn thương do thiên tai bao gồm (1)

Mô hình cấu trúc kép, (2) Mô hình rủi ro tai biến, (3) Mô hình áp lực và nới lỏng (Pressure

and Release model), (4) Mô hình giảm rủi ro tai biến của UNISDR, (5) Khung sinh kế bền

vững, (6) Mô hình BBC và (7) Mô hình phân tích khả năng tính dễ bị tổn thương của Tuner

và cộng sự (2003) Tùy theo quan điểm của từng tác giả/tổ chức, khả năng dễ bị tổn thương

có thể phụ thuộc vào xác suất xảy ra tai biến, và/hoặc mức độ phơi lộ hay khả năng thích

ứng, phòng chống, ứng phó và phục hồi của hệ thống môi trường Do vậy, tùy thuộc vào

mục tiêu đánh giá khác nhau sẽ sử dụng các mô hình đánh giá khác nhau Theo Nguyễn Thị

Vĩnh Hà (2016), trong điều kiện nghiên cứu ở Việt Nam, cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu

thường hạn chế và không dễ thu thập, thì khung mô hình cấu trúc kép của Bohle (2001),

khung mô hình đánh giá tổn thương của Turner và cộng sự (2003), khung mô hình BCC

(2006) và khung sinh kế bền vững của DFID (2001) có thể ứng dụng để đánh giá tổn thương

do thiên tai ở Việt Nam

Tuy nhiên, khung sinh kế bền vững của DFID (2001) đặc biệt phù hợp để hiểu tính

dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu bởi nó cung cấp một khung phân tích tất cả các

thành phần chính tạo nên sinh kế và các yếu tố bối cảnh ảnh hưởng đến chúng Cả hai điều

này liên quan chặt chẽ đến các yếu tố khiến hộ gia đình hoặc cộng đồng trở nên nhạy cảm

hơn và ảnh hưởng đến khả năng đối phó với thay đổi môi trường (Eakin và Luers, 2006)

1.3 Tổng quan nghiên cứu phương pháp chỉ số để đo lường tính dễ bị tổn thương

sinh kế trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Sau khi tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể khẳng định phương pháp

chỉ số được xem là tối ưu và được sử dụng nhiều để đo lường tính dễ bị tổn thương sinh kế

trong bối cảnh biến đổi khí hậu Phương pháp này được Hahn và cộng sự (2009) phát triển

và được nhiều nghiên cứu áp dụng hoặc áp dụng có điều chỉnh (Sarker và cộng sự, 2019;

Zhang và cộng sự, 2019; Peng và cộng sự, 2019; Tjoe, 2016; Adu và cộng sự, 2018; Hương

và cộng sự, 2019) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu áp dụng LVI đều sử dụng phương

pháp trọng số cân bằng, phương pháp này bị chỉ trích vì các trọng số giống nhau được áp

dụng cho các thành phần khác nhau của LVI (Beccari, 2016; Miller và cộng sự, 2013; Abeje

6

và cộng sự, 2019) Do vậy, cần thiết phải phát triển một phương pháp tính toán mức độ dễ

bị tổn thương phù hợp hơn để đưa ra kết quả thuyết phục hơn

1.4 Tổng quan tác động của các thành phần dễ bị tổn thương đến kết quả sinh

kế trong bối cảnh xâm nhập mặn

Trong quá trình tổng quan, nhận thấy không có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng trực tiếp của dễ bị tổn thương đến kết quả sinh kế Tuy nhiên các nghiên cứu thường tập trung vào ảnh hưởng của một trong số các thành phần dễ bị tổn thương đến kết quả sinh kế

Thứ nhất, tổng quan tác động của mức độ phơi lộ đến kết quả sinh kế: Đã có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến kết quả sinh kế hộ gia đình, nó thường tác động làm giảm thu nhập, chi tiêu và là nguyên nhân của tình trạng nghèo đói và bẫy nghèo dai dẳng Tuy nhiên vẫn còn thiếu các bằng chứng thực tế khi xem xét riêng ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế hộ gia đình vùng ĐBSCL - nơi được xác nhận

là một trong những khu vực trên thế giới dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu đặc biệt là xâm nhập mặn (Nguyen và cộng sự, 2019; Vu và cộng sự, 2018; Trần Quốc Đạt và cộng sự,

2012; Trần Hồng Thái và cộng sự, 2014)

Thứ hai, tổng quan tác động của mức độ nhạy cảm đến kết quả sinh kế: nhận thấy chưa có các nghiên cứu cụ thể về mức độ nhạy cảm đến kết quả sinh kế hộ gia đình, có chăng chỉ là xem xét dưới từng dạng nhạy cảm như sức khỏe, nguồn thực phẩm hoặc nguồn nước Và hầu hết các kết quả chỉ ra rằng, khi các gia đình nhạy cảm với chúng sẽ làm giảm năng suất cây trồng, thu nhập, chi tiêu hộ gia đình

Thứ ba, tổng quan tác động của năng lực thích ứng đến kết quả sinh kế: Tác động của năng lực thích ứng đến kết quả sinh kế đã được chứng minh bởi nhiều học giả Các học giả thường xem xét năng lực thích ứng dưới dạng các nguồn vốn (tự nhiên, con người, xã hội, tài chính, vật chất) đều nhận thấy các nguồn vốn này đóng vai trò tích cực trong cải thiện kết

quả sinh kế hộ gia đình

Thứ tư, tổng quan vài trò điều tiết của năng lực thích ứng: Tổng quan cho thấy mặc

dù các nghiên cứu trước đó đã khẳng định vai trò quan trọng của năng lực thích ứng trong việc giảm tác động tiêu cực từ các bối cảnh tổn thương song các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ vĩ mô, có một số nghiên cứu dưới góc độ vi mô nhưng chưa xem xét thấu đáo vai trò điều tiết này, có chăng chỉ đi tìm hiểu vai trò điều tiết của một số thành phần nhỏ trong năng lực thích ứng mà chưa nghiên cứu cụ thể vai trò điều tiết của năng lực thích ứng trong tổng thể bối cảnh tổn thương nói chung và xâm nhập mặn nói riêng Do vậy, việc xem xét vai trò điều tiết của năng lực thích ứng đối với mối quan hệ của xâm nhập mặn và kết quả

sinh kế còn bỏ ngỏ, rất cần các nghiên cứu tiếp theo lấp đầy/một phần khoảng trống này

1.5 Khoảng trống nghiên cứu

Như vậy khi xem xét dễ bị tổn thương và kết quả sinh kế hộ gia đình vẫn còn một số khoảng trống nghiên cứu, cụ thể:

Trang 5

7

(1) Hầu hết các nghiên cứu áp dụng LVI đều sử dụng phương pháp trọng số cân bằng,

song phương pháp này bị chỉ trích vì các trọng số giống nhau được áp dụng cho các thành

phần khác nhau của LVI Do vậy, cần thiết phải phát triển một phương pháp tính toán mức độ

dễ bị tổn thương phù hợp hơn để đưa ra kết quả thuyết phục hơn

(2) Khi xem xét mức độ dễ bị tổn thương sinh kế, các nghiên cứu trong và ngoài nước

thường tập trung vào các kịch bản biến đổi khí hậu (thay đổi nhiệt độ, lượng mưa) để tính

toán chỉ số LVI nhằm chỉ ra vùng nào và đối tượng nào bị ảnh hưởng mà chưa nghiên cứu

sâu bối cảnh xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long - nơi được xác nhận là một

trong những khu vực trên thế giới dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu đặc biệt là xâm

nhập mặn

(3) Các nghiên cứu hầu như chỉ dừng lại ở việc tính toán LVI mà chưa chú trọng xem

xét vai trò tổng thể của các thành phần dễ bị tổn thương ảnh hưởng như thế nào đến kết quả

sinh kế

(4) Các nghiên cứu trước đó mới chỉ đi tìm hiểu vai trò điều tiết của một số thành

phần nhỏ trong năng lực thích ứng mà chưa nghiên cứu cụ thể vai trò điều tiết của năng lực

thích ứng trong tổng thể bối cảnh xâm nhập mặn

Do vậy, mục tiêu chính của luận án là đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh kế trong

bối cảnh xâm nhập mặn vùng ĐBSCL với việc áp dụng trọng số bất cân bằng theo đề xuất

của Iyengar và Sudarshan (1982), đánh giá đồng thời tác động của các thành phần dễ bị tổn

thương sinh kế (mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm, năng lực thích ứng) đến kết quả sinh kế,

chỉ rõ vai trò điều tiết của năng lực thích ứng trong việc giảm nhẹ ảnh hưởng của xâm nhập

mặn đến kết quả sinh kế vùng ĐBSCL Với mục tiêu trên, tác giả hi vọng sẽ lấp thêm

khoảng trống nghiên cứu từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm giảm thiểu mức độ dễ bị

tổn thương sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn vùng ĐBSCL

8

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Sinh kế và khung sinh kế bền vững

2.1.1 Sinh kế và sinh kế bền vững

Khái niệm về sinh kế thường xuyên được sử dụng và trích dẫn trong các nghiên cứu sau này đều dựa trên ý tưởng về sinh kế của Chambers và Conway (1992), trong đó, sinh kế, theo cách hiểu đơn giản nhất, là phương tiện để kiếm sống Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway về sinh kế là bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Tương tự, Scoones (1998) định nghĩa sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người Phát triển từ các định nghĩa trên, DFID (2001) cũng cho rằng sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người Tóm lại, có thể hiểu sinh kế là việc sử dụng các nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các kết quả mong muốn (Vũ Thị Hoài Thu, 2013)

2.1.2 Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)

Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh - DFID (2001) là một công cụ được xây dựng nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của con người, đặc biệt là những yếu tố gây khó khăn hoặc tạo cơ hội trong sinh kế (Twigg, 2001) Theo đó, các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (hoạt động sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế sẵn có (5 loại nguồn lực) trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt, hạn hán, xâm nhập mặn… và các tác động mang tính thời vụ Sự lựa chọn hoạt động sinh kế của hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này

Hình 2.1: Khung sinh kế bền vững của DFID (2001)

Trang 6

9 Mục đích của khung sinh kế bền vững giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà

nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực, cùng tham gia vào cuộc thảo luận về những yếu tố ảnh hưởng

đến kết quả sinh kế, tầm quan trọng và cách thức tương tác của những yếu tố này Điều đó

giúp xác định những điểm phù hợp để hỗ trợ sinh kế dựa trên phân tích từng nhân tố một

cách rõ ràng Do vậy, đã có nhiều học giả khẳng định sử dụng khung sinh kế bền vững của

DFID (2001) để phân tích về kết quả sinh kế và tính dễ bị tổn thương trước thảm họa dường

như là hữu ích nhất (Twigg, 2001; Nguyễn Đức Hữu, 2016) Đây cũng là khung lý thuyết

tác giả tiếp cận để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu trong luận án của mình

2.2 Tính dễ bị tổn thương của sinh kế trong bối cảnh xâm nhập mặn

2.2.1 Tính dễ bị tổn thương

Phần tổng quan nghiên cứu đã rút ra ba quan điểm khái quát về tính dễ bị tổn thương:

các quan điểm về lý sinh (Biophysical), xã hội và tích hợp Tổng quan nghiên cứu cũng

khẳng định quan điểm tích hợp về tính dễ bị tổn thương được coi là mô hình hiện đại trong

việc phân tích tính dễ tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu Do vậy trong luận án này,

tính dễ bị tổn thương được tiếp cận theo quan điểm tích hợp, cụ thể khái niệm dễ bị tổn

thương được định nghĩa theo Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC, 2001) là

khái niệm được trích dẫn thường xuyên nhất (Hà Hải Dương, 2014; Abeje và cộng sự, 2019

; Parry, 2007) Theo đó, dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hay xã hội có thể

bị tổn thương hoặc không thể ứng phó với các tác động bất lợi do các hình thái thời tiết cực

đoan và biến đổi khí hậu) IPCC đã chỉ rõ tính dễ bị tổn thương là một hàm số của 3 yếu tố:

mức độ phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng

2.2.2 Tính dễ bị tổn thương của sinh kế

Như trên đã đề cập, sinh kế được coi là bền vững nếu nó có thể đối phó và phục hồi

sau những căng thẳng và chấn động, duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản của nó, trong

khi không làm suy yếu cơ sở tài nguyên thiên nhiên Do đó, Scoones (1998) đã đề xuất rằng

nếu sinh kế không thể tham gia vào việc đối phó (điều chỉnh tạm thời) hoặc thích nghi (thay

đổi dài hạn) thì nó được coi là dễ bị tổn thương Do đó, tính dễ bị tổn thương được sử dụng

như một thuộc tính của sinh kế và do đó nhấn mạnh đến con người và cách họ quản lý cuộc

sống của họ (Murungweni và cộng sự, 2011)

Như vậy trong bối cảnh xâm nhập mặn, tính dễ bị tổn thương sinh kế đề cập đến

mức độ các cộng đồng/hộ gia đình có thể bị tổn thương hoặc không thể ứng phó khi đối

mặt với những tác động do xâm nhập mặn Nó cũng là một hàm số của 3 yếu tố: mức độ

phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng, trong đó:

Mức độ phơi lộ (exposure ) (hay còn gọi là mức độ tiếp xúc, mức độ biểu hiện, mức độ

phơi bày, phơi nhiễm): là sự biểu hiện của cá thể, hộ gia đình, cộng đồng, quốc gia hoặc hệ

sinh thái bị ảnh hưởng bởi một yếu tố bất lợi nào đó về môi trường hay chính trị xã hội được

10 đặc trưng bởi tần suất, cường độ, thời gian và không gian xuất hiện của sự kiện (Turner và cộng sự, 2003; Adger, 2006)

Mức độ nhạy cảm (sensitivity): là mức độ mà ở đó một hệ thống bị ảnh hưởng (có thể tích cực hoặc tiêu cực) bởi một hay nhiều tác động, những tác động này có thể ngay bên trong hệ thống hay tác động từ bên ngoài (IPCC, 2001)

Năng lực thích ứng (adaptive capacity), cũng được gọi là năng lực ứng phó (Turner

và cộng sự, 2003) hoặc khả năng phản ứng (Gallopín, 2006): là tiềm năng để ứng phó và làm giảm tính dễ bị tổn thương của một hệ thống nào đó Năng lực thích ứng phụ thuộc nhiều vào sự hiện hữu và khả năng tiếp cận các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, năng lực tài chính, cơ sở hạ tầng, thể chế chính trị, tài nguyên con người và mối quan hệ xã hội (Brooks và Adger, 2004)

2.2.3 Đo lường dễ bị tổn thương của sinh kế do tác động của xâm nhập mặn

Đo lường mức độ phơi lộ của xâm nhập mặn: Như trên đã đề cập, mức độ phơi lộ là

sự biểu hiện của cá thể, hộ gia đình, cộng đồng, quốc gia hoặc hệ sinh thái bị ảnh hưởng bởi một yếu tố bất lợi nào đó về môi trường hay chính trị xã hội được đặc trưng bởi tần suất, cường độ, thời gian và không gian xuất hiện của sự kiện (Turner và cộng sự, 2003; Adger, 2006; ) Do vậy trong bối cảnh xâm nhập mặn và nghiên cứu ở đơn vị hộ gia đình thì mức

độ phơi lộ là sự biểu hiện của hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn được đặc trưng bởi tần suất, cường độ, thời gian và không gian xuất hiện của xâm nhập mặn Dựa trên tổng quan nghiên cứu và số liệu mặn của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu long, nghiên cứu này lựa chọn 3 chỉ tiêu để đo lường mức độ phơi lộ của xâm nhập mặn, cụ thể: (1) độ mặn trung

bình trong năm; (2) Độ mặn trên 4‰; (3) Biến động độ mặn của tháng mặn nhất (tháng 4)

Đo lường mức độ nhạy cảm: Để đo lường mức độ nhạy cảm hầu hết các các tác giả đều sử dụng chủ yếu 3 yếu tố phụ bao gồm: (1) sức khỏe; (2) nguồn thực phẩm và (3) nguồn nước Mỗi yếu tố phụ bao gồm một trong các chỉ số thành phần Luận án này cũng

đo lường mức độ nhạy cảm dựa trên 3 thành phần trên và các thành phần của mức độ nhạy cảm được đo lường thông qua: Nguồn nước chính cho sinh hoạt; Nguồn nước sinh hoạt không được xử lý; Chỉ số đa dạng hóa cây trồng; Chỉ số đa dạng hóa vật nuôi; Tỷ

lệ tháng trung bình không đủ 2 bữa ăn/ngày; Tỷ lệ thành viên có bệnh/chấn thương nặng phải có người chăm sóc, nghỉ việc/học/không hoạt động bình thường; Số ngày bị

bệnh/chấn thương bình quân đầu người

Đo lường năng lực thích ứng: Năng lực thích ứng được đo lường thông qua 5 tài sản sinh kế (vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội), cách tiếp cận cũng được nhiều tác giả sử dụng (Pandey và cộng sự, 2015; Gerlitz và cộng sự, 2017; Zhang

và cộng sự, 2019) Dựa trên tổng quan nghiên cứu và dựa trên sự sẵn có trong dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình các năm 2014, 2016, 2018 luận án này đo lường vốn tự nhiên thông qua: Diện tích đất nông lâm nghiệp bình quân đầu người; Chỉ số đa dạng loại đất;

Trang 7

11 Diện tích gieo trồng lúa bình quân đầu người; Diện tích gieo trồng cây lương thực thực

phẩm bình quân đầu người Đo lường vốn con người thông qua: Tỷ lệ thành viên hộ có

việc làm; Chủ hộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT); Chủ hộ tốt nghiệp tiểu học

trở lên Đo lường vốn vật chất thông qua: Chỉ số đa dạng đồ dùng lâu bền; Giá trị tài sản

còn lại bình quân; Diện tích ở bình quân đầu người; Loại ngôi nhà chính Đo lường vốn tài

chính thông qua: Tiếp cận tiết kiệm; Tiếp cận vốn vay bằng tiền và hàng hóa; Chỉ số đa

dạng nguồn sinh kế Đo lường vốn xã hội thông qua: Tỷ lệ thành viên hộ tham gia hội đoàn;

Số hình thức hỗ trợ; Số phương tiện thông tin

Đo lường LVI

Như phần tổng quan nghiên cứu đã trình bày hầu hết các nghiên cứu trên đều sử dụng

phương pháp trọng số cân bằng, phương pháp này bị chỉ trích vì các trọng số giống nhau

được áp dụng cho các thành phần khác nhau của LVI (Beccari, 2016; Miller và cộng sự,

2013; Abeje và cộng sự, 2019) Do vậy, luận án sẽ áp dụng trọng số bất cân bằng theo đề

xuất của Iyengar và Sudarshan (1982) Theo đó, LVI được tính như sau:

LVI=E*W e + S*W s + A*W a (iv)

LVI nằm trong khoảng từ 0 (tổn thương ít nhất) đến 1 (tổn thương nhất)

wE, wS, wAlần lượt là trọng số của các chỉ số phơi nhiễm, nhạy cảm và năng lực thích

ứng Trong đó wE + wS + wA = 1

Việc tính toán LVI theo công thức (iv) sẽ được giải thích chi tiết trong chương 3 –

Phương pháp nghiên cứu

2.3 Kết quả sinh kế hộ gia đình

Các nghiên cứu đều có điểm chung chỉ ra rằng kết quả sinh kế đại diện cho đầu ra

của chiến lược sinh kế thông qua việc sử dụng các tài nguyên Đây cũng chính là cách tiếp

cận tác giả lựa chọn để thực hiện trong luận án này Theo đó, kết quả sinh kế là những thành

tựu hoặc đầu ra của các chiến lược sinh kế, như gia tăng thu nhập, tăng phúc lợi, giảm thiểu

tổn thương, cải thiện an ninh lương thực và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững hơn

Các tác giả thường sử dụng các chỉ số khác nhau để đo lường kết quả kinh tế, tuy nhiên thu

nhập được công nhận rộng rãi là chỉ số quan trọng nhất và đóng vai trò chính trong kết quả

sinh kế bền vững (Ojong, 2011; Albert và cộng sự, 2007) Do vậy, luận án này cũng sử dụng

chỉ tiêu thu nhập để đo lường kết quả sinh kế

2.4 Ảnh hưởng của các thành phần dễ bị tổn thương đến kết quả sinh kế hộ

gia đình

thấy xâm nhập mặn được coi là một vấn đề nghiêm trọng không chỉ làm giảm tiềm năng

nông nghiệp mà còn tạo ra các ảnh hưởng bất lợi đến kết quả sinh kế của người dân (Haider và

Hossain, 2013) Do vậy, luận án đề xuất giả thuyết nghiên cứu: H1: Mức độ phơi lộ của xâm

nhập mặn có tác động ngược chiều đến kết quả sinh kế của hộ dân vùng ĐBSCL

12

Ảnh hưởng của mức độ nhạy cảm đến kết quả sinh kế hộ gia đình: Như trên đã đề cập, mức độ nhạy cảm được đo lường thông qua 3 thành phần phụ gồm: Sức khỏe, nguồn nước và nguồn thực phẩm Các nghiên cứu cho thấy khi hộ gia đình có vấn đề về sức khỏe, không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh và không được tiếp cận đủ nguồn thực phẩm

sẽ ảnh hưởng bất lợi đến kết quả sinh kế Do vậy, luận án đề xuất giả thuyết nghiên cứu: H2 (a1-a7): 7 chỉ số thành phần của mức độ nhạy cảm (Nguồn nước chính cho sinh hoạt; Nguồn nước sinh hoạt không được xử lý; Chỉ số đa dạng hóa cây trồng; Chỉ số đa dạng hóa vật nuôi; Tỷ lệ tháng trung bình không đủ 2 bữa ăn/ngày; Tỷ lệ thành viên có bệnh/chấn thương nặng phải có người chăm sóc, nghỉ việc/học/không hoạt động bình thường; Số ngày

bị bệnh/chấn thương bình quân đầu người) có tác động ngược chiều đến kết quả sinh kế của

hộ dân vùng ĐBSCL

Ảnh hưởng của năng lực thích ứng đến kết quả sinh kế hộ gia đình: Như trên đã đề cập, luận án tiếp cận theo khung sinh kế bền vững của DFID (2001) do vậy cách phân chia năng lực thích ứng theo các nguồn vốn là phù hợp Theo đó, năng lực thích ứng được đo lường thông qua 5 tài sản sinh kế (vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội) Kết quả cho thấy vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn

xã hội có tác động cùng chiều tới kết quả sinh tế hộ gia đình Khi nông hộ có thể gia tăng các nguồn vốn này đồng thời áp dụng hiệu quả vào các hoạt động kinh tế, nó sẽ làm gia tăng kết quả sinh kế và ngược lại, khi hộ gia đình không đầu tư cho các nguồn vốn thì kết quả sinh kế sẽ không đạt được như kỳ vọng Do vậy, luận án đề xuất giả thuyết nghiên cứu: H3 (a1-a17): 17 chỉ số thành phần của năng lực thích ứng (Diện tích đất nông lâm nghiệp bình quân đầu người; Số lượng loại đất nông nghiệp; Diện tích gieo trồng lúa bình quân đầu người; Diện tích gieo trồng cây lương thực thực phẩm bình quân đầu người; Tỷ lệ người có việc làm; Chủ hộ không có CMKT; Chủ hộ chưa tốt nghiệp tiểu học; Số đồ dùng lâu bền; Giá trị tài sản còn lại bình quân; Diện tích ở bình quân đầu người;Loại ngôi nhà chính của hộ;Tiếp cận tiết kiệm; Tiếp cận vốn vay bằng tiền và hàng hóa; Số nguồn sinh kế; Tỷ lệ thành viên hộ không tham gia hội đoàn; Số hình thức hỗ trợ; Số phương tiện thông tin) có tác động cùng chiều đến kết quả sinh kế của hộ dân vùng ĐBSCL

2.5 Vai trò điều tiết của năng lực thích ứng trong việc giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế hộ gia đình

Tương tự xem xét ảnh hưởng của năng lực thích ứng đến kết quả sinh kế hộ gia đình Khi xem xét vai trò điều tiết của năng lực thích ứng trong việc giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế hộ gia đình tác giả cũng sẽ tập trung phân tích vai trò điều tiết của lần lượt 5 nguồn vốn Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hộ gia đình có thể làm giảm thiểu thiệt hại từ các cú sốc, thảm họa tự nhiên bằng cách tăng sức đề kháng của những tài sản bị phơi bày trước tác động của cú sốc, thảm họa đó Điều này ngụ ý rằng để giảm thiểu tác động tiêu cực của thảm họa, hộ gia đình có thể tập trung nâng cao các nguồn tài sản sinh kế

Trang 8

13 của mình Do vậy, luận án đề xuất giả thuyết nghiên cứu: H4 (a1-a17): 17 chỉ số thành phần

của năng lực thích ứng (Diện tích đất nông lâm nghiệp bình quân đầu người; Số lượng loại

đất nông nghiệp; Diện tích gieo trồng lúa bình quân đầu người; Diện tích gieo trồng cây

lương thực thực phẩm bình quân đầu người; Tỷ lệ người có việc làm; Chủ hộ không có

CMKT; Chủ hộ chưa tốt nghiệp tiểu học; Số đồ dùng lâu bền; Giá trị tài sản còn lại bình

quân; Diện tích ở bình quân đầu người;Loại ngôi nhà chính của hộ;Tiếp cận tiết kiệm; Tiếp

cận vốn vay bằng tiền và hàng hóa; Số nguồn sinh kế; Tỷ lệ thành viên hộ không tham gia

hội đoàn; Số hình thức hỗ trợ; Số phương tiện thông tin) có vai trò điều tiết làm giảm thiểu

tác động của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế của hộ dân vùng ĐBSCL

2.6 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa vào những mối quan hệ trong phần cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu, tác

giả đưa ra mô hình sau:

Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả xây dựng dựa trên DFID (2001), Hahn và cộng sự (2009)

Giả thuyết nghiên cứu:

H1: Mức độ phơi lộ của xâm nhập mặn có tác động ngược chiều đến kết quả sinh kế

của hộ dân vùng ĐBSCL

H2 (a1-a7): 7 chỉ số thành phần của mức độ nhạy cảm (Nguồn nước chính cho sinh

hoạt; Nguồn nước sinh hoạt không được xử lý; Chỉ số đa dạng hóa cây trồng; Chỉ số đa

dạng hóa vật nuôi; Tỷ lệ tháng trung bình không đủ 2 bữa ăn/ngày; Tỷ lệ thành viên có

bệnh/chấn thương nặng phải có người chăm sóc, nghỉ việc/học/không hoạt động bình

thường; Số ngày bị bệnh/chấn thương bình quân đầu người) có tác động ngược chiều đến

kết quả sinh kế của hộ dân vùng ĐBSCL

14 H3 (a1-a17): 17 chỉ số thành phần của năng lực thích ứng (Diện tích đất nông lâm nghiệp bình quân đầu người; Số lượng loại đất nông nghiệp; Diện tích gieo trồng lúa bình quân đầu người; Diện tích gieo trồng cây lương thực thực phẩm bình quân đầu người; Tỷ lệ người có việc làm; Chủ hộ không có CMKT; Chủ hộ chưa tốt nghiệp tiểu học; Số đồ dùng lâu bền; Giá trị tài sản còn lại bình quân; Diện tích ở bình quân đầu người;Loại ngôi nhà chính của hộ;Tiếp cận tiết kiệm; Tiếp cận vốn vay bằng tiền và hàng hóa; Số nguồn sinh kế;

Tỷ lệ thành viên hộ không tham gia hội đoàn; Số hình thức hỗ trợ; Số phương tiện thông tin)

có tác động cùng chiều đến kết quả sinh kế của hộ dân vùng ĐBSCL

H4 (a1-a17): 17 chỉ số thành phần của năng lực thích ứng (Diện tích đất nông lâm nghiệp bình quân đầu người; Số lượng loại đất nông nghiệp; Diện tích gieo trồng lúa bình quân đầu người; Diện tích gieo trồng cây lương thực thực phẩm bình quân đầu người; Tỷ lệ người có việc làm; Chủ hộ không có CMKT; Chủ hộ chưa tốt nghiệp tiểu học; Số đồ dùng lâu bền; Giá trị tài sản còn lại bình quân; Diện tích ở bình quân đầu người;Loại ngôi nhà chính của hộ;Tiếp cận tiết kiệm; Tiếp cận vốn vay bằng tiền và hàng hóa; Số nguồn sinh kế;

Tỷ lệ thành viên hộ không tham gia hội đoàn; Số hình thức hỗ trợ; Số phương tiện thông tin)

có vai trò điều tiết làm giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn đến kết quả sinh kế của hộ dân vùng ĐBSCL

Trang 9

15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp tiếp cận

Như phần tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận đã đề cập, để thỏa mãn các mục tiêu

nghiên cứu, tiếp cận khung sinh kế bền vững của DFID (2001) (Hình 2.1) được sử dụng để

khám phá các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở nông hộ xây dựng và thực hiện chiến lược sinh

kế để đạt được kết quả sinh kế kỳ vọng Trên cơ sở khung nghiên cứu sinh kế bền vững của

DFID (2001) và khung lý thuyết đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh kế được phát triển

bởi Hahn và cộng sự (2009), nội dung chỉ số đánh giá mức độ phơi lộ (E), độ nhạy cảm (S)

và năng lực thích ứng (A) được chọn theo hàm: V = f(E, S, A) Việc xác định các chỉ số

thành phần được dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trước

3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng chủ yếu 02 bộ dữ liệu: (1) dữ liệu đo mặn của 32 trạm do Đài Khí

tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ cung cấp để tính toán mức độ phơi lộ và (2) bộ dữ liệu

Điều tra mức sống hộ gia đình các năm 2014, 2016 và 2018 của Tổng cục Thống kê Việt

Nam để xem xét các đặc điểm hộ gia đình cũng như tính toán mức độ nhạy cảm và năng lực

thích ứng của hộ Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng các dữ liệu khác liên quan đến dân số,

lao động việc làm, tình hình phát triển kinh tế, nghèo đói, thu nhập, chi tiêu, biến đổi khí

hậu, xâm nhập mặn…của cả nước nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng Các dữ liệu được

lấy từ các công trình nghiên cứu; các tổ chức như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Khoa

học thủy lợi miền Nam, Viện Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu, Tổng cục Thống kê,

Thống kê các tỉnh

3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu

3.3.1 Phương pháp tính toán chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế

Có thể tóm tắt quy trình xác định và tính toán chỉ số dễ bị tổn thương sinh kế như

hình 3.2

16

Hình 3.2: Quy trình xác định và tính toán chỉ số tình trạng dễ

bị tổn thương sinh kế

Trang 10

17

3.3.2 Phương pháp ước lượng mô hình hồi quy

Phương pháp ước lượng chính được sử dụng trong nghiên cứu này là hồi quy kinh tế

lượng Với mô hình nghiên cứu tổng quát như sau

ln(Y ijt) = βo + Ejtβ1 + Sijtβ2 + Aijtβ3 + AijtEjtβ4 + Gtβ5 +εijt (7)

Trong đó:

Yijt: thu nhập bình quân hộ gia đình i ở xã j trong năm t;

Ejt: mức độ phơi lộ ở xã j trong năm t;

Sijt: các thành phần mức độ nhạy cảm hộ gia đình i ở xã j trong năm t;

Aijt: các thành phần năng lực thích ứng hộ gia đình i ở xã j trong năm t;

Gt: biến giả của năm;

εijt: các biến không quan sát được

Tác giả sử dụng kiểm định Hausman và cho thấy sử dụng mô hình FEM là phù hợp

hơn Đồng thời, tác giả sử dụng hồi quy tác động cố định cấp xã để loại bỏ các biến cấp xã

không biến đổi theo thời gian mà không quan sát được (như các biến liên quan đến chính

sách, cơ sở hạ tầng…của địa phương)

18

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở phía nam Việt Nam gồm 13 tỉnh; trong đó, 8 tỉnh giáp biển, cụ thể là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau

và Kiên Giang Đặc trưng của vùng là phù sa màu mỡ với khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm Nguồn thủy lợi của ĐBSCL khá phức tạp vì mạng lưới kênh/sông chằng chịt, cũng như sự tác động của dòng chảy sông Mê Kông và hai chế độ thủy triều: thủy triều của Biển Đông

và bán nhật triều của Vịnh Thái Lan Do vậy, trong mùa cạn, khi lưu lượng thượng lưu về giảm, thủy triều ảnh hưởng mạnh lên thượng lưu và hệ thống kênh rạch nội đồng, dẫn theo nước mặn xâm nhập sâu cả trên sông và nội đồng Xâm nhập mặn ảnh hưởng rõ rệt đến đời sống, kinh tế, xã hội và sinh kế của người dân vùng ĐBSCL

4.2 Kết quả đo lường mức độ dễ bị tổn thương sinh kế vùng đồng bằng Sông Cửu Long do xâm nhập mặn

Tác giả đánh giá mức độ dễ bị tổn thương sinh kế vùng đồng bằng Sông Cửu Long do xâm nhập mặn thông qua chỉ số LVI với 5 cấp độ: từ 0 – <=0,20 là mức độ dễ bị tổn thương rất thấp; >0,2-<=0,4 là mức độ dễ bị tổn thương thấp, >0,4-<=0,6 là mức độ dễ bị tổn thương trung bình, từ >0,6-<=0,8 là mức độ dễ bị tổn thương cao, từ >0,8-<=1 là mức độ dễ

bị tổn thương rất cao

Xét trong cả giai đoạn nghiên cứu, năm 2014 và 2016 chỉ số LVI đạt 0,472 điểm (trong khoảng 0,4 – 0,6) nằm trong ngưỡng mức độ dễ bị tổn thương sinh kế trung bình, năm 2018 chỉ số này đạt mức tổn thương thấp do LVI = 0,390 (nằm trong khoảng từ 0,2 đến 0,4) Trong cả giai đoạn 2014-2018, mức độ dễ bị tổn thương cao hơn ở các tỉnh ven biển, đặc biệt Bến Tre, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau có giá trị LVI cao nhất (nằm trong trong khoảng 0,445-0,612) Kết quả chỉ ra rằng có sự khác biệt về mức độ dễ bị tổn thương vùng ven biển với vùng thượng nguồn và vùng giữa với mức ý nghĩa 10%, tuy nhiên ở cùng mức

ý nghĩa chưa chứng minh được sự khác biệt của LVI giữa tiểu vùng giữa và thượng nguồn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các hộ gia đình càng nghèo thì mức độ tổn thương càng cao, bởi các nhóm này thường phải đối mặt với mức độ phơi lộ cao trong khi năng lực thích ứng của họ lại thấp Xét theo nguồn thu nhập chính từ các hộ gia đình, kết quả cho thấy các hộ gia đình có nguồn thu chính từ thủy sản có mức độ tổn thương cao nhất Kết quả cũng cho thấy có sự khác biệt về mức độ dễ bị tổn thương rõ ràng giữa chủ hộ có trình độ CMKT và chủ hộ không có trình độ CMKT Chủ hộ không có CMKT dễ bị tổn thương cao gấp khoảng 1,36 lần so với chủ hộ có trình độ CMKT Tương tự, chủ hộ là nữ

có mức độ dễ bị tổn thương cao hơn so với nam chủ hộ, tuy nhiên khoảng cách này nhỏ hơn

so với trình độ CMKT Chủ hộ là dân tộc Kinh thì mức độ dễ bị tổn thương thấp hơn so với các dân tộc khác nhưng chưa tìm thấy sự khác biệt theo dân tộc của chủ hộ Xem xét theo

Ngày đăng: 07/11/2020, 06:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w