Khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triểnnông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam...164 KẾT LUẬN...181 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-NGUYỄN THỊ VI
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG
VẬN DỤNG VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH KINH TẾ HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-NGUYỄN THỊ VI
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG
VẬN DỤNG VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: LỊCH SỬ KINH TẾ
Mã số: 9310101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS BÙI VĂN HƯNG
2 TS NGÔ TUẤN ANH
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng, luận án này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu thu thập được hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi
tự chịu trách nhiệm về những vấn đề đã được nêu ra trong nội dung luận án.
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Vi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự trợ giúp của rất nhiềuthầy cô, anh chị em, bạn bè và đồng nghiệp Tôi bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tớiPGS.TS Bùi Văn Hưng - người trực tiếp hướng dẫn khoa học cho tôi
Tôi chân thành cảm ơn TS Phạm Huy Vinh, TS Ngô Tuấn Anh, TS TrầnKhánh Hưng, bộ môn LSKT cùng Khoa Kinh tế học đã có những góp ý thiết thực chotôi trong quá trình hoàn thành luận án
Tôi bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các thầy cô của Viện đào tạo Sau đạihọc - Trường Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là các thầy cô trực tiếp giúp tôi cácthủ tục hành chính trong quá trình học tập và nghiên cứu
Để hoàn thành luận án này, tôi biết ơn người thân và gia đình đã động viêntrong suốt quá trình nghiên cứu Và tôi dành một tình yêu đặc biệt cho 2 con gái nhỏ -
đó là động lực lớn nhất giúp tôi vượt qua những khó khăn trong giai đoạn này
Một lần nữa, tôi chân thành cảm ơn tất cả
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Vi
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 11
1.1 Khái lược chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc trước khi gia nhập WTO 11
1.2 Tổng quan các chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO 14
1.2.1 Chính sách thương mại nông nghiệp 14
1.2.2 Chính sách trợ cấp xuất khẩu 17
1.2.3 Chính sách hỗ trợ trong nước 17
1.2.4 Về hàng rào kỹ thuật thương mại nông nghiệp (TBT) 22
1.3 Tổng quan những nghiên cứu chủ yếu về chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO 23
1.4 Một số nhận xét rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu 24
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở CÁC NƯỚC SAU KHI GIA NHẬP WTO 29
2.1 Cơ sở lý luận của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO 29
2.1.1 Khái quát về chính sách phát triển nông nghiệp 29
2.1.2 Cơ sở lý thuyết của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO 34
2.2 Cơ sở thực tiễn của chính sách phát triển nông nghiệp ở các nước sau khi gia nhập WTO 43
Trang 62.2.1 Quy định của WTO đối với nông nghiệp 432.2.2 Tình hình phát triển nông nghiệp của từng quốc gia, xu hướng và triển vọngcủa thị trường nông sản thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 49
Tiểu kết chương 2 56 CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO 57 3.1 Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra khi Trung Quốc gia nhập WTO 57
3.1.1 Một số chính sách phát triển nông nghiệp chủ yếu của Trung Quốc trước khigia nhập WTO 573.1.2 Khái quát tình hình sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc trước khi gianhập WTO 603.1.3 Một số vấn đề đặt ra đối với khu vực nông nghiệp Trung Quốc khi gia
3.3 Đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO và ảnh hưởng của nó đối với nông nghiệp 111
3.3.1 Đánh giá việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc saukhi gia nhập WTO 1113.3.2 Ảnh hưởng của chính sách phát triển nông nghiệp sau khi gia nhập WTOđối với nông nghiệp Trung Quốc 115
3.4 Bài học kinh nghiệm từ chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO 129
3.4.1 Chính sách phát triển nông nghiệp cần sự linh hoạt và thích ứng với nhữngcam kết WTO 1293.4.2 Chính sách phát triển nông nghiệp phải hướng tới mục tiêu phát triển bềnvững và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập 1323.4.3 Chính sách phát triển nông nghiệp phải góp phần thúc đẩy tự do hoá thịtrường nông sản và phát huy lợi thế so sánh trong hội nhập kinh tế quốc tế 134
Trang 73.4.4 Chính sách phát triển nông nghiệp cần chú trọng giảm thiểu hạn chế, tiêucực phát sinh trong hội nhập WTO 135
Tiểu kết chương 3 137 CHƯƠNG 4 KHẢ NĂNG VẬN DỤNG NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRUNG QUỐC SAU KHI GIA NHẬP WTO VỚI VIỆT NAM 138 4.1 Một số chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO 138
4.1.1 Bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO 1384.1.2 Khái lược một số chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gianhập WTO 141
4.2 Đánh giá chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO và ảnh hưởng của nó đối với nông nghiệp 148
4.2.1 Đánh giá việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khigia nhập WTO 1484.2.2 Ảnh hưởng của chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gianhập WTO đối với nông nghiệp 153
4.3 Khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam 161
4.3.1 Một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam khi gianhập WTO 1614.3.2 Khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triểnnông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam 164
KẾT LUẬN 181 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 184 TÀI LIỆU THAM KHẢO 185 PHỤ LỤC 198
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TT Từ viết tắt Nghĩa tếng Anh Giải nghĩa tiếng Việt
1 AMS Aggregate Measurement of Support Tổng lượng hỗ trợ tính gộp
3 ASEAN Association of South East Asian Hiệp hội các quốc gia Đông
Description and Coding System hàng hóa
9 MOFCOM Ministry of Commerce (China) Bộ Thương mại Trung Quốc
11 NBSC National Bureau of Statistics of China Cục thống kê quốc gia Trung Quốc
12 NTB Non-tariff barriers to trade Hàng rào phi thuế quan
16 OECD Organization for Economic Tổ chức hợp tác và phát triển
Cooperation and Development kinh tế
Trang 9Standards dịch động, thực vật
nước
Trang 10TT Từ viết tắt Nghĩa tếng Anh Giải nghĩa tiếng Việt
21 TBT Technical barriers to trade Hàng rào kỹ thuật thương mại
25 VASEP Vietnam Association of Seafood Hiệp hội chế biến và xuất khẩu
Exporters and Producers thủy sản Việt Nam
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Lợi thế tuyệt đối - số lượng đơn vị lao động sử dụng 37Bảng 2.2 Lợi thế so sánh - số lượng đơn vị lao động sử dụng 37Bảng 2.3 Lợi thế so sánh: sản lượng và tiêu dùng trong điều kiện tự cung tự cấp vàkhi có thương mại 39Bảng 2.4 Các dạng hỗ trợ trong nước theo Hiệp định Nông nghiệp của WTO 44Bảng 2.5 Thị phần xuất nhập khẩu nông sản của các nước OECD 54Bảng 3.1 Sản lượng và Năng suất nông nghiệp của Trung Quốc so với thế giới trướckhi gia nhập WTO 61Bảng 3.2 Tình hình xuất nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc trướckhi gia nhập WTO 63
Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng hằng năm của nền kinh tế Trung Quốc giai đoạn 1970 - 2000 64
Bảng 3.4 Cơ cấu kinh tế Trung Quốc trước khi gia nhập WTO 65Bảng 3.5 Cam kết cắt giảm thuế quan của Trung Quốc 75Bảng 3.6 Thay đổi thuế suất MFN đối với một số mặt hàng nông nghiệp quan trọngcủa Trung Quốc 1992-2002 78Bảng 3.7 Thuế MFN trung bình giản đơn của một số sản phẩm nông nghiệp TrungQuốc, 2001 - 2017 79Bảng 3.8 Cơ cấu thuế quan của Trung Quốc giai đoạn 2011-2015 80Bảng 3.9 Hạn ngạch thuế quan và tỷ lệ lấp đầy hạn ngạch của Trung Quốc 2002-2003 82Bảng 3.10 Hạn ngạch thuế quan và thuế suất một số sản phẩm nông nghiệp quan trọngcủa Trung Quốc giai đoạn 2013-2015. 83Bảng 3.11 Hạn ngạch thuế (TRQ) đối với nhập khẩu ngũ cốc năm 2018 của Trung Quốc
84Bảng 3.12 Các sản phẩm nông nghiệp thuộc diện chịu hạn ngạch xuất khẩu và cần cógiấy phép của Trung Quốc năm 2016 84Bảng 3.13 Chi tiêu chính phủ cho các chương trình hỗ trợ nông nghiệp của TrungQuốc giai đoạn 2011-2015 86Bảng 3.14 Chi tiêu chính phủ cho nông nghiệp của Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2014 87Bảng 3.15 Trợ cấp hộp xanh lá cây của Trung Quốc 91
Trang 12Bảng 3.16 Tài trợ cho “Bốn chương trình trợ cấp” nông nghiệp của Trung Quốc giai
đoạn 2004-2012 92
Bảng 3.17 Thanh toán trợ cấp giống theo loại cây trồng qua các tỉnh ở Trung Quốc 2012 94
Bảng 3.18 Giá tối thiểu của một số sản phẩm nông nghiệp chính 2004 - 2013 96
Bảng 3.19a Trợ cấp hộp hổ phách của Trung Quốc 99
Bảng 3.19b Trợ cấp hộp hổ phách của Trung Quốc 100
Bảng 3.20 Tỷ trọng hỗ trợ trong nước tính theo tổng sản lượng nông nghiệp của một số thành viên lớn của WTO 101
Bảng 3.21 Một số kết quả của chính sách phát triển nông nghiệp 118
Bảng 3.22 Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của nông nghiệp và dân số 119ở Trung Quốc, 1952 – 2016 119
Bảng 3.23 Cơ cấu kinh tế Trung Quốc sau khi gia nhập WTO 120
Bảng 4.1 Thuế quan nhập khẩu nông sản của Việt Nam 142
Bảng 4.2 Trợ cấp hộp xanh lá cây của Việt Nam 146
Bảng 4.3 Trợ cấp hộp Hổ phách của Việt Nam 147
Bảng 4.4 Các biện pháp miễn cam kết cắt giảm - chương trình phát triển 148
Bảng 4.5 Tổng sản lượng và lượng tiêu thụ nội địa một số mặt hàng nông sản của Việt Nam 156 trước và sau khi gia nhập WTO (2002 - 2015) 156
Bảng 4.6 Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 2004 - 2018. 158
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Mối quan hệ giữa chính sách, lý thuyết và thực tiễn 6
Hình 2 Khung nghiên cứu của luận án 6
Hình 2.1: Tương tác giữa ba hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội và phát triển bền vững 41
Hình 2.2 Mô hình “quả trứng” phản ánh tính bền vững 43
Hình 2.3 Mô hình trình tự đánh giá tiến bộ về bền vững 43
Hình 2.4 Xuất khẩu một số nông sản giai đoạn 2010-2012 và 2022 55
Hình 2.5 Xuất khẩu sản phẩm từ gia súc và hải sản giai đoạn 2010-2012 và 2022 56
Hình 3.1 Diện tích đất bình quân đầu người của một số quốc gia lớn (ha/người) 73
Hình 3.2 Nguồn đất sẵn có của các hộ gia đình nông thôn ở các tỉnh sản xuất ngũ cốc lớn của Trung Quốc (2009) 73
Hình 3.3 Thuế suất tối huệ quốc (MFN) trung bình của Trung Quốc giai đoạn 1992-2005 77
Hình 3.4 Phân bố thuế suất áp dụng MFN của Trung Quốc giai đoạn 2011-2015 81
Hình 3.5 Trợ cấp hộp xanh lá cây của Trung Quốc (1999 - 2016) 90
Hình 3.6 Khung khổ chính sách nông nghiệp của Trung Quốc 109
Hình 3.7: Ảnh hưởng tích cực của chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc 127
Hình 4.1 Cơ cấu trợ cấp hộp xanh lá cây của Việt Nam năm 2013 144
Hình 4.2 Vốn đầu tư phát triên nông, lâm nghiệp, thủy sản giai đoạn 2003-2013 150
Hình 4.3 So sánh mức hỗ trợ nông dân của Việt Nam và các nước 151
Hình 4.4 Tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam và một số nước trong khu vực 154
Hình 4.5 Cán cân thương mại chung và cán cân thương mại nông nghiệp 155
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nông nghiệp là khu vực kinh tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Nó không chỉ cung cấp lương thực, thực phẩmcho nhu cầu đời sống con người, mà còn cung cấp nguồn nguyên liệu và nguồn nhânlực cho hoạt động phi nông nghiệp Sự phát triển của khu vực nông nghiệp sẽ tạo ra thịtrường rộng lớn cho công nghiệp và dịch vụ; đồng thời nó còn đóng vai trò tích cựclàm tăng nguồn thu ngoại tệ trong xuất khẩu và nền nông nghiệp phát triển bền vững sẽgóp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Ở các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, mặc dù nông nghiệp chỉ cònchiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong GDP (1-5%), nhưng các nước này vẫn rất chú trọng đến
sự phát triển của nông nghiệp và thực hiện phát triển theo hướng đa dạng, hiện đại, bềnvững Điều này không chỉ liên quan đến an ninh kinh tế quốc gia trong xu thế kinh tế thếgiới có nhiều biến động, mà còn gắn với môi trường sinh thái và những vấn đề chung củacác quốc gia trong thế giới đương đại hiện nay Đối với các nước đang phát triển, vị trí vàvai trò của nông nghiệp lại càng được chú ý hơn vì ở các nước này phần lớn cư dân vàlao động chủ yếu sống ở khu vực nông thôn Nông nghiệp cho đến nay vẫn là nòng cốt, làtrụ cột của nền kinh tế Thực tế cho thấy, sự phát triển của nông nghiệp sẽ tạo hậu thuẫnvững chắc cho tiến trình công nghiệp hóa đang diễn ra tại các nước này
Mấy thập kỷ gần đây, toàn cầu hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ Nó vừa là cơhội vừa là thách thức với tất cả các nước trong phát triển Hội nhập kinh tế quốc tếđang lan tỏa sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia.Trong xu thế hội nhập và mở rộng trao đổi thương mại quốc tế, sản xuất nông nghiệpcũng chịu ảnh hưởng từ các hiệp định nông nghiệp mà WTO quy định như các vấn đề
về xuất nhập khẩu nông sản, hàng rào kỹ thuật thương mại, an toàn thực phẩm Dovậy, việc đáp ứng những quy định ngày càng “khắt khe” của các nước phát triển khôngphải là điều dễ dàng, đặc biệt với các nước chậm phát triển khi gia nhập WTO Thực
tế, các tranh chấp thương mại trên thị trường nông sản đã diễn ra ở nhiều nước Vì vậy,các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cần có những thay đổi phù hợp trong bối cảnh hộinhập, khi là thành viên của WTO
Trung Quốc sau bốn thập kỷ cải cách và mở cửa (kể từ 1978 đến nay), cùng với
đà tăng trưởng chung của nền kinh tế, nông nghiệp đạt được những thành tựu quantrọng Nông nghiệp Trung Quốc từ trạng thái tự cấp tự túc đã chuyển sang sản xuất
Trang 15hàng hóa và phát triển hướng ra thị trường thế giới và trở thành một trong những nướcsản xuất lương thực lớn nhất thế giới Mặc dù chỉ chiếm hơn 7% diện tích canh tác thếgiới, nhưng Trung Quốc có thể cân đối lương thực cho hơn 1/5 (tức 22%) dân số thếgiới (Trình Quốc Cường, 2008)1.
Theo "Nhân dân Nhật báo" Trung Quốc, thống kê về sản lượng lương thựctrong cả nước do Cục Thống kê Nhà nước Trung Quốc công bố, sản lượng lương thực
cả nước năm 2018 đạt hơn 657,9 triệu tấn (tăng gấp 4,8 lần so với năm 1949 và đạtmức tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 2,6%) Như vậy, sản lượng lương thựcTrung Quốc liên tục đạt mức "tăng 15 năm liên tiếp"2 Đặc biệt, Trung Quốc có nhiềumặt hàng nông sản đứng đầu thế giới về sản lượng như: thịt lợn (46% sản lượng thếgiới), bông sợi (24%), trà (23%), lê (70%), táo (48%), đào (32%) (Ngô Thị Tuyết Mai,2011) Điều đó cho thấy, năng lực sản xuất tổng hợp lương thực của Trung Quốc đã cóbước đột phá về lượng và chất, đồng thời có sự đóng góp vào tăng trưởng chung củanền kinh tế
Trung Quốc không những có thể đáp ứng được phần lớn nhu cầu lương thực,thực phẩm trong nước, mà còn đạt được những kết quả tích cực trong hoạt động xuấtkhẩu nông sản3 Điều quan trọng hơn, sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, nước này
đã đưa nền nông nghiệp từ kém cạnh tranh dần trở thành “nông trại của thế giới” HiệnTrung Quốc đứng thứ 8 trên thế giới và đứng đầu châu Á về xuất khẩu nông sản Đạtđược kết quả này, một mặt Trung Quốc đã thực hiện những thay đổi, điều chỉnh một sốchính sách phát triển nông nghiệp để phù hợp quy định của WTO, đồng thời thực hiệnchiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững
Ở Việt Nam, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội.Với sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếquốc tế, tư duy về phát triển nông nghiệp đã có những thay đổi Ngày nay, phát triểnnông nghiệp theo hướng bền vững trong hội nhập WTO là yêu cầu cần thiết và là nhiệm
vụ không dễ đối với Việt Nam Một mặt, phải đối diện với áp lực cạnh tranh
1 Các chuyên gia cho biết Trung Quốc có thể nuôi sống hơn 20% dân số thế giới, trong khi chỉ sở hữu 9% quỹ đất màu
mỡ và 6,6% trữ lượng nước ngọt thế giới Điều này trở nên khả thi do năng suất của nhiều loại cây trồng tăng lên, ví dụ như năng suất lúa ở Trung Quốc cao hơn 50% so với mức trung bình toàn cầu và năng suất lúa mì là 55%.
2 Năm 2012, sản lượng lương thực Trung Quốc đạt xấp xỉ 580 triệu tấn, tăng 18,3 triệu tấn so với năm 2011, liên tiếp 5 năm (2008-2012) Trung Quốc duy trì sản lượng lương thực ổn định ở mức trên 520 triệu tấn.
3 Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, năm 2010 tổng giá trị xuất khẩu nông sản đạt 35,6 tỷ USD (gấp 3 lần 2001), năm 2011 đạt 60,75 tỷ USD, năm 2012 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản của Trung Quốc đạt 175,77 tỷ USD (tăng 12,9% so với 2011), trong đó xuất khẩu đạt 63,29 tỷ USD (tăng 4,2% so với 2011).
Trang 16Gia nhập WTO mang đến cho ngành nông nghiệp Việt Nam triển vọng về một
“sân chơi” lớn, đồng thời cũng phải đối diện với những “luật chơi” hết sức chặt chẽ, đó
là các quy định về an toàn thực phẩm, chất lượng, giá cả Thực tế này đòi hỏi chínhsách phát triển nông nghiệp Việt Nam cần có sự thay đổi cho phù hợp với khuôn khổpháp lý của WTO đồng thời hướng nền nông nghiệp phát triển bền vững
Trong suốt thế kỷ 20, nông nghiệp thế giới đã có những bước tiến vượt bậc,phát triển từ sản xuất truyền thống sang giai đoạn hiện đại hóa Đặc biệt, trong nhữngnăm đầu của thế kỷ 21, với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KHCN, toàn cầuhóa và hội nhập, kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức; tư duy về phát triển nôngnghiệp ở các nước đã có sự thay đổi
Việc ban hành chính sách nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp nóiriêng ở mỗi quốc gia, người ta thường dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn trong nước,
có tham khảo kinh nghiệm của các nước đi trước trên thế giới Do đó, việc thiết kế vàđiều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO, ngoàicăn cứ cơ sở lý luận chung và thực tiễn nước ta thì việc học tập, tham khảo kinhnghiệm của nước ngoài là hết sức cần thiết và ý nghĩa Việt Nam và Trung Quốc là haiquốc gia nằm ở vùng châu Á, tuy quy mô và vị thế của hai nước trong nền kinh tế thếgiới có sự khác nhau, song hai nước có một số điểm tương đồng về con đường pháttriển, chính sách phát triển kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng khi gia nhậpWTO Vì vậy, những kinh nghiệm của Trung Quốc trong cả quá trình chuẩn bị gianhập, đàm phán và đối sách sau khi gia nhập WTO sẽ là những bài học tham khảo bổích đối với Việt Nam (Lê Hữu Tầng và Lưu Hàm Nhạc, 2002)
4 Theo vietnameconomy và VASEP
Trang 17Trao đổi thương mại của Trung Quốc rất lớn Trung Quốc đã trở thành nhà nhậpkhẩu đứng thứ nhì thế giới (nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc tăng từ 243,6 tỷ USDnăm 2001 lên 1.840 tỷ USD năm 2017, tăng trưởng trung bình 13,5%/năm) TrungQuốc là quốc gia có giá trị xuất nhập khẩu rất lớn và xứng đáng để Việt Nam học hỏinhững kinh nghiệm trong phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển nông nghiệp Do vậy,nghiên cứu những kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốcsau khi gia nhập WTO sẽ có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn với Việt Namtrong quá trình phát triển ngành nông nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huylợi thế so sánh của hàng hóa nông sản mà Việt Nam đang và sẽ xuất khẩu ra thị trườngthế giới theo hướng bền vững.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Luận giải khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm
trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam
- Luận giải khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách phát
triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu nội dung chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốcsau khi gia nhập WTO Tuy nhiên, luận án không nghiên cứu toàn bộ các chính sách(gồm các chính sách đối nội và đối ngoại), mà lựa chọn và tập trung vào một số chínhsách có liên quan đến hoạt động đối ngoại, cụ thể:
- Chính sách sách thuế quan và các rào cản phi thuế
- Chính sách trợ cấp xuất khẩu
Trang 18- Chính sách hỗ trợ trong nước
- Chính sách thiết lập và hoàn thiện hàng rào kỹ thuật thương mại (TBT)
Đây là những chính sách chịu sự ràng buộc bởi các quy tắc do WTO đặt ra khicác quốc gia tham gia vào tổ chức thương mại thế giới Chúng liên quan trực tiếp tớihoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp khi hội nhập thịtrường toàn cầu Tham gia vào WTO, Trung Quốc và các nước thành viên khác phảituân thủ đúng các quy định mà tổ chức này đặt ra
+ Phạm vi thời gian: 2001 - nay (đối với Trung Quốc khi là thành viên của
WTO) và 2007 đến nay (đối với Việt Nam)
+ Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu 2 quốc gia: Trung Quốc và Việt
Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu
(i) Gia nhập WTO ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình nông nghiệp và chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc như thế nào?
(ii) Những thay đổi căn bản của chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc saukhi gia nhập WTO là gì? Ảnh hưởng của nó đối với ngành nông nghiệp của Trung Quốc?lĩnh lực nào chịu ảnh hưởng nhiều và bài học kinh nghiệm rút ra là gì?
(iii) Khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sách phát triển nôngnghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam đến đâu?
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận - khung nghiên cứu của luận án
Khi tham vấn xây dựng chính sách cho chính phủ, các nhà hoạch định chínhsách thường dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chính sách đó Khung lýthuyết là cơ sở khoa học cho việc hoạch định, trong khi đó những khía cạnh về điềukiện cơ sở vật chất kỹ thuật, môi trường là cơ sở thực tiễn để hoạch định cũng nhưthực thi chính sách
Vì vậy, nghiên cứu của luận án cũng được tiếp cận dựa trên mô hình này Đểđạt mục tiêu nghiên cứu, khung nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
Lý thuyết (Theories)
Tương tác giữa các yếu tố thúc đẩy sự điều chỉnh, thích nghi và hoàn thiện Chính sách
(Policies)
Trang 19Nguyên tắc
Thực tiễn quốc tế và quan
Hình 1 Mối quan hệ giữa chính sách, lý thuyết và thực tiễn
Nguồn: Phùng Xuân Nhạ và nhóm tác giả (2009)
Cơ sở lý thuyết và thực tiễn
- Mở cửa thị trường (hàng rào thuế
quan và phi thuế)
- Trợ cấp nông nghiệp
- Thiết lập và hoàn thiện hàng rào
kỹ thuật thương mại
Chính sách phát triển
nông nghiệp
Đánh giá
Tích cực Hạn chế
- Kỹ thuật canh tác, sản xuất, chế biến
- Năng suất nông nghiệp, năng suất lao động
Luận giải khả năng vận dụng kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc với Việt Nam.
Điểm tương đồng và khác biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam
Hình 2 Khung nghiên cứu của luận án
Nguồn: Tác giả luận án xây dựng
5.2 Cơ sở lý thuyết của chính sách phát triển nông nghiệp trong thương mại quốc tế
• Lý thuyết lợi thế so sánh
Lý thuyết lợi thế so sánh được sử dụng làm cơ sở khoa học cho phân tích trongluận án vì theo lý thuyết này các nước khi tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầuđều phải khai thác lợi thế này nhằm mang lại lợi ích cho quốc gia mình
Để phát triển nông nghiệp, các quốc gia đều muốn khai thác lợi thế so sánh Nóicách khác là khai thác lợi thế, tạo dựng năng lực cạnh tranh cho quốc gia mình Trung
Trang 20Quốc là quốc gia đông dân nhất thế giới, mục tiêu lớn của họ là vấn đề đảm bảo anninh lương thực Tuy vậy, trao đổi thương mại quốc tế cho phép mang lại những kếtquả quan trọng khi họ tận dụng tối đa lợi thế so sánh Lợi ích đó không chỉ đối với nềnkinh tế nói chung, mà ngay cả với khu vực nông nghiệp khi độ “mở cửa” chưa lớn nếu
so sánh giá trị xuất khẩu nông nghiệp với quy mô kinh tế Lợi thế so sánh trong thươngmại quốc tế không chỉ mang lại sự đa dạng về chủng loại, chất lượng hàng hoá, mà còn
có tác dụng kích thích tăng trưởng, nâng cao mức sống của cư dân toàn thế giới
• Lý thuyết phát triển bền vững
Phát triển bền vững được hiểu trên ba giác độ cơ bản:
- Phát triển đạt mục tiêu về kinh tế
- Phát triển đảm bảo mục tiêu xã hội, như xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập
- Bảo vệ môi trường sinh thái
Đối với một quốc gia đông dân (1,42 tỷ người), Trung Quốc luôn đặt mục tiêuquan trọng là đảm bảo an ninh lương thực và khả năng tự cung cấp lương thực trongnước, đáp ứng nhu lương thực của 1,42 tỷ người Tuy nhiên, nguồn cung còn nhiềuhạn chế, tiềm năng và năng suất đất đai có giới hạn, lại có xu hướng giảm dần do côngnghiệp hoá và đô thị hoá Vì vậy, nâng cao năng suất nông nghiệp trong nhiều nămtrước đây đã được thực hiện thông qua tăng cường sử dụng các loại phân bón hoá học.Điều này cũng khiến cho chất lượng đất đai, chất lượng môi trường bị ảnh hưởngnghiêm trọng Trong khi đó, phát triển bền vững là yêu cầu bức thiết đặt ra trong pháttriển kinh tế hiện nay nên Trung Quốc phải kết hợp vừa khai thác tiềm năng, lợi thếtrong nước và các cơ hội quốc tế để phát triển nông nghiệp bền vững
5.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
- Thu thập dữ liệu: số liệu sử dụng cho luận án chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, được tác giả thu thập từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau đã được công bố chính thức, có nguồn
- Niên giám thống kê các năm của Trung Quốc và Việt Nam, tổ chức FAO, OECD
- Trích dẫn từ các nghiên cứu của các học giả, các nhà khoa học, các chuyên gia
Trang 21trong và ngoài nước được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế
- Số liệu thống kê được đăng tải trên các trang web của các đơn vị đã nêu ở trên (bằng tiếng Việt, Tiếng Anh)
- Cách thức xử lý số liệu: Các số liệu sau khi thu thập được tác giả tập hợp, phân
nhóm theo phương pháp thống kê mô tả và được thể hiện qua các bảng, biểu và hình vẽ,phản ánh tình hình phát triển nông nghiệp của Trung Quốc và Việt Nam theo tiến trìnhthời gian
5.4 Các phương pháp nghiên cứu
Để phân tích và đánh giá các tác động của chính sách phát triển nông nghiệpTrung Quốc tới nền nông nghiệp ở nước này, tác giả luận án sử dụng các phương phápnghiên cứu phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế xã hội như: phương pháp phântích, tổng hợp, so sánh và suy luận để tìm ra những mặt đạt được và hạn chế của chínhsách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc; tìm ra những điểm tương đồng và khácbiệt về nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam, điểm tươngđồng và khác biệt trong việc thực hiện các cam kết WTO Trong nghiên cứu, tác giả sửdụng chủ yếu phương pháp so sánh để luận giải khả năng vận dụng kinh nghiệm trongchính sách để phát triển nông nghiệp Trung Quốc gắn với thực tiễn Việt Nam
Do đề tài luận án nghiên cứu theo chuyên ngành Lịch sử kinh tế, nên tác giảluận án đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với phương pháp logic Cụthể, theo phương pháp nghiên cứu lịch sử, tác giả nhìn nhận sự vật hiện tượng theo tiếntrình lịch sử diễn ra trong quá khứ (qua các mốc thời gian), và phương pháp logic giúpcho tác giả sâu chuỗi các sự kiện để thấy được mặt bản chất của vấn đề cần nghiêncứu Phương pháp phân kỳ lịch sử cũng được tác giả sử dụng để tìm hiểu sâu hơn thấyđược các đặc trưng của sự vật hiện tượng trong các giai đoạn lịch sử cụ thể
Phương pháp mô hình hoá cũng được sử dụng kết hợp trong việc xây dựngkhung nghiên cứu của luận án, đồng thời phân tích mối quan hệ nguyên nhân – kết quảcủa các chính sách phát triển nông nghiệp đối với những thành tựu mà nền nôngnghiệp Trung Quốc đã đạt được thời gian qua
Để đánh giá ảnh hưởng của chính sách lên nền nông nghiệp của Trung Quốcsau WTO (do hạn chế về thu thập số liệu), tác giả không sử dụng phương pháp nghiêncứu định lượng (tức là dùng mô hình kinh tế lượng để xác định các tác động của cácchính sách tới nền nông nghiệp), thay vào đó tác giả sử dụng các phương pháp nghiêncứu định tính bằng việc phân tích, tổng hợp và lý giải các những nhận xét, đánh giá
Trang 22của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách trong nước cũng nhưnước ngoài về mối quan hệ giữa chính sách của Trung Quốc đối với nông nghiệp nóiriêng, nền kinh tế nói chung
6 Đóng góp của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận:
(i) Xây dựng khung nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp trên trong bối cảnhgia nhập WTO Cụ thể, cơ sở lựa chọn chính sách, triển khai chính sách, kết quả chínhsách và điều kiện vận dụng chính sách được nghiên cứu
(ii) Kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và thực tiễn, giữa phương pháp nội suy và ngoạisuy, nghiên cứu biến động của nông nghiệp Trung Quốc, đánh giá hiện trạng nông nghiệpViệt Nam và khả năng vận dụng có chọn lọc những kinh nghiệm từ chính sách phát triểnnông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam
Những đóng góp mới về phương diện thực tiễn, những phát hiện, đề xuất mới rút
ra từ kết quả nghiên cứu của luận án:
Thứ nhất, chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc có sự điều chỉnh linh
hoạt để thích ứng với những cam kết WTO, các chính sách được phối hợp đồng bộ đãđem lại hiệu ứng tích cực với sản xuất và xuất nhập khẩu nông sản của Trung Quốc
Thứ hai, chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO có
ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam Hội nhập WTO với những cơ hội và thách thứctrong bối cảnh mới, Việt Nam có thể tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của TrungQuốc để xây dựng các chính sách, áp dụng biện pháp điều chỉnh hiệu quả, đảm bảothích ứng tốt nhất yêu cầu của WTO cùng với phát huy lợi thế so sánh của nền sản xuấtnông nghiệp, đặc biệt là sự linh hoạt trong thực thi chính sách
Thứ ba, luận án đề xuất khả năng vận dụng vào Việt Nam để xây dựng chính
sách phát triển nông nghiệp hậu WTO: (i) Chính sách phát triển nông nghiệp của ViệtNam tập trung vào các công cụ phi thuế quan được WTO cho phép; (ii) Gia nhập thịtrường nông sản thế giới, Việt Nam cần đưa ra những cảnh báo sớm để ứng phó vớihàng rào kỹ thuật thương mại của nước đối tác, đồng thời hoàn thiện hàng rào kỹ thuậtthương mại trong nông nghiệp; (iii) Chính sách hỗ trợ trong nước theo hướng tăngcường các công cụ theo phân loại của WTO để đưa nông nghiệp Việt Nam hội nhậpbền vững và bước lên tầm cao mới; (iv) Thực thi chính sách phát triển nông nghiệp cần
có sự phối hợp giữa các cơ quan, bộ, ban ngành; các địa phương chú trọng hoàn thiệnquy hoạch sản xuất và hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật; khuyến khích các hình thức liênkết trong sản xuất, chế biến
7 Kết cấu của luận án
Trang 23Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, hình, danh mục các từ viếttắt, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả cóliên quan đến đề tài luận án và phụ lục, luận án được chia thành 4 chương với kết cấunhư sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận ánChương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách phát triển nông nghiệp ởcác nước sau khi gia nhập WTO
Chương 3: Thực trạng chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khigia nhập WTO
Chương 4: Khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trong chính sáchphát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO với Việt Nam
Trang 24CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Nông nghiệp Trung Quốc là mảng đề tài được rất nhiều học giả, các nhà nghiêncứu trong và ngoài nước quan tâm Đây là một quốc gia đất rộng người đông với dân
số hơn 1,4 tỷ người Hơn nữa, nền nông nghiệp Trung Quốc bị chi phối bởi các môhình phát triển kinh tế ở các thời kỳ trước và sau cải cách, mở cửa Gần đây, sau khigia nhập WTO, nông nghiệp Trung Quốc có nhiều thay đổi Do đó, an ninh lương thực
và những lợi thế trong trao đổi thương mại cũng là nội dung có tầm quan trọng đặc biệttrong các nghiên cứu của các chuyên gia, nhà khoa học và các học giả trong và ngoàinước
1.1 Khái lược chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc trước khi gia nhập WTO
Giai đoạn trước 1978
Sau kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953-1957), trong giai đoạn 1958 - 1978,Trung Quốc đã thực hiện nhiều phong trào: Đại nhảy vọt, Đại cách mạng văn hóa, Bốnhiện đại hóa “Đại nhảy vọt” (1958 - 1965) là một chiến dịch của Đảng Cộng sảnTrung Quốc, trong đó yêu cầu tất cả người dân Trung Quốc phải tham gia sản xuấtthép, nông dân buộc phải dồn sức vào nhiệm vụ này nên sao nhãng việc đồng ruộngvốn là công việc chủ đạo của họ, dẫn tới nông dân bỏ hoang mùa vụ Về nông nghiệp,Trung Quốc đã tiến hành xây dựng các “công xã nhân dân” (quy mô mỗi công xã nhândân rất lớn: phạm vi một huyện, khoảng 5.000 hộ nông dân) Năm 1958, phần lớn các
hộ nông dân đã được đưa vào các công xã Đây là giai đoạn khắp nông thôn TrungQuốc tiến hành tập trung tư liệu sản xuất của nông dân, kinh tế phụ gia đình bị xóa bỏ
và thực hiện chính sách “phân phối bình quân” theo phương châm “cả nước ăn chungmột nồi cơm to, cả nước cùng quá độ nghèo đi lên chủ nghĩa xã hội, càng nghèo càngcách mạng” Tư tưởng “tả khuynh” trong phát triển đã khiến cho nền kinh tế TrungQuốc đứng trước những hậu quả nghiêm trọng
Sản lượng lương thực năm 1960 sụt giảm xuống còn 160 triệu tấn, hàng năm TrungQuốc phải nhập một khối lượng lương thực bằng khoảng hơn 30% tổng giá trị hàng hóanhập khẩu Đây là một thảm họa kinh tế dẫn tới “nạn đói lớn”, một nạn đói toàn quốc đãlấy đi khoảng 40 triệu sinh mạng Từ năm 1966 đến 1976, Trung Quốc thực hiện phong
trào “Đại cách mạng văn hóa vô sản”, công nghiệp nặng lại tiếp tục được tập trung
Trang 25phát triển Sản xuất nông nghiệp ngày càng trì trệ, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, năngsuất và thu nhập của người lao động thấp Tốc độ tăng trưởng hàng năm giảm bình quân0,4% So với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1953 - 1957) sản xuất ngũ cốc chỉ còn 15%.
Chính sách “Bốn hiện đại hóa” trong giai đoạn 1976 - 1978, dẫn đến hàng năm
Trung Quốc phải nhập khẩu một lượng lương thực và thực phẩm chiếm tới 20% tổnggiá trị hàng hóa nhập khẩu Có thể thấy, trong các chính sách này, tư tưởng “tảkhuynh”, chủ quan, nóng vội đã không mang lại kết quả mong muốn Cuối cùng, nềnkinh tế rơi vào tình trạng bế tắc, khủng hoảng trầm trọng mà người Trung Quốc đã đúckết lại trong ba từ “Tử - lãn - cùng” Đứng trước tình hình đó, Trung Quốc đã nhậnthức, đánh giá lại thực trạng nền kinh tế và chủ trương cải cách, mở cửa năm 1978 Kể
từ đó, Trung Quốc bước sang giai đoạn mới của sự phát triển5
Giai đoạn 1978 – trước khi gia nhập WTO
Đề cập đến nông nghiệp và phát triển nông nghiệp của Trung Quốc sau khi nướcnày tiến hành chính sách cải cách và mở cửa từ năm 1978, có rất nhiều công trình nghiêncứu của các học giả, các nhà nghiên cứu trên thế giới và của Trung Quốc Tất cả cácnghiên cứu này đều xoay quanh chủ đề về đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp,nông thôn và nông dân (gọi là Tam nông) ở Trung Quốc Nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu
về lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, các phương pháp nâng cao năng suất lao động
và chuyên môn hóa Nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế chính sách chuyển đổi nềnnông nghiệp Trung Quốc từ sản xuất tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hànghóa, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về những thay đổi trong cơ chế chính sách nhằmxóa bỏ các rào cản trong nông nghiệp để giải phóng sức sản xuất, nghiên cứu về chế độkhoán tới hộ nông dân trong thập niên 80 của thế kỷ trước Tiêu biểu như các tác giả cócác công trình nghiên cứu được đề cập dưới đây:
Yiphing Huang (1997) đã phân tích nhiều khía cạnh trong công cuộc cải cách nềnnông nghiệp Trung Quốc từ sau khi thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân TrungHoa (1949) cho đến những năm 1990 Cải cách nông nghiệp ở Trung Quốc bắt đầu từ cuốinăm 1978 Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khóa XI (1978), Trung Quốc đã coi “Nôngnghiệp là cơ sở của nền kinh tế quốc dân và nhiệm vụ hàng đầu đặt ra trước mắt là tậptrung tinh lực làm cho nền nông nghiệp lạc hậu mau chóng phát triển” Với tinh thần ấy,Hội nghị Trung ương lần thứ 3 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhấn mạnh phải quantâm đầy đủ tới lợi ích vật chất của người lao động, phải trả thù lao cho xã viên theo sốlượng và chất lượng lao động, kiên quyết chống “chủ nghĩa bình quân” trong phân
5 Dẫn theo giáo trình Lịch sử kinh tế, chủ biên: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng (2013).
Trang 26phối
Trong nông nghiệp, chế độ công xã nhân dân được xóa bỏ, thay vào đó TrungQuốc đã thực hiện “chế độ khoán hộ” trong sản xuất nông nghiệp Chế độ khoán thựcchất là hình thức lao động hợp đồng, được ký kết giữa 3 bên: nhà nước, tập thể, hộ haynhóm hộ nông dân Sau khi ký kết, các đội sản xuất căn cứ vào kế hoạch của nhà nước
và điều kiện cụ thể để giao ruộng đất và các tư liệu sản xuất cho các hộ hoặc nhóm hộnhận khoán kinh doanh Chế độ khoán ở nông thôn Trung Quốc là hình thức cụ thể củaviệc tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng ruộng đất Nhờ đó, người nông dân đãphát huy được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, sức sản xuất trong nông nghiệpnông thôn được giải phóng Từ 1979 đến 1984 sản phẩm nông nghiệp tăng 7,4 %/năm
và sản lượng ngũ cốc tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 5% Từ 1982 đến 1984,sản lượng ngũ cốc tăng trưởng khá “ngoạn mục”, trung bình khoảng 8%/năm
Cải cách trong nông nghiệp Trung Quốc được đánh giá là rất thành công với kỷlục tăng trưởng cao trong sự trỗi dậy của giai đoạn đầu cải cách được gọi là "điều kìdiệu" (Huang, 1997) Tuy nhiên, sau năm 1985 khi chính phủ thúc đẩy cải cách thịtrường, các vấn đề bức thiết lại nằm ở chính lĩnh vực nông nghiệp Tỷ lệ tăng trưởngnông nghiệp giảm (trở lại mức dưới 4%) Tăng trưởng trung bình hàng năm là 3,8%trong suốt thời kỳ 1985-1994 Mặc dù tỷ lệ này không thấp so với tiêu chuẩn quốc tế,nhưng ở Trung Quốc nó được coi là sự sụt giảm đáng kể Sản lượng ngũ cốc chỉ tăng0,9% mỗi năm, giảm lần đầu tiên vào năm 1985 sau đó thấp hơn ở các năm 1988,
1991, 1994 Giá cả trong nông nghiệp tăng lên và sản lượng ngũ cốc giảm đã gây ravấn đề kinh tế vĩ mô nghiêm trọng
Theo Cục thống kê Trung Quốc, giá thực phẩm tăng khoảng 32% năm 1994 Áplực lạm phát cao tác động đến chi phí tiêu dùng, làm tăng chi phí sản xuất đã ảnhhưởng đến ngân sách nhà nước Sự đối lập sâu sắc giữa nền nông nghiệp giai đoạntrước và sau năm 1985 là do chính sách cải cách nông nghiệp Các nhà nghiên cứu chỉ
ra rằng, chính phủ giảm đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp Mặc dù vậy,chúng ta vẫn phải ghi nhận, những cải cách quyết liệt từ cuối năm 1978 đã giúp hàngtriệu người dân Trung Quốc thoát nghèo Tỷ lệ nghèo của Trung Quốc đã giảm từ 53%(năm 1981) xuống còn 8% vào năm 20016
Giai đoạn đàm phán, chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, Trung Quốc đã cónhững thay đổi trong chính sách thuế quan và các rào cản phi thuế Thuế nhập khẩunông sản giảm dần để phù hợp với lộ trình gia nhập (Martin, 2001; J Huang and S
6 Cục Thống kê Trung Quốc.
Trang 27Rozelle, 2001, 2007) Họ cũng sử dụng hệ thống hạn ngạch thuế quan như một công cụchủ yếu để điều tiết việc xuất, nhập khẩu đối với một số mặt hàng “nhạy cảm” như lúa
mì, ngô, gạo, dầu đậu nành, bông, len, đường, dầu cọ (W Martin, 1999)
Trước khi gia nhập WTO, mức độ tham gia thị trường thế giới của nông nghiệpTrung Quốc ở mức độ rất thấp Trung Quốc vẫn cân nhắc tự giải quyết vấn đề lươngthực quốc gia Đồng thời, họ cũng hạn chế các doanh nghiệp có quyền hợp pháp thamgia vào thương mại quốc tế Các loại ngũ cốc, bông, dầu thực vật chỉ được nhập khẩuthông qua các doanh nghiệp thương mại nhà nước (Martin, 1999; Huang và Rozelle,2001)
Mức độ đầu tư của chính phủ Trung Quốc cho phát triển nông nghiệp, nhưchính sách khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn cònnhiều hạn chế về các nguồn lực Nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận, việc thay đổi “côngnghệ dẫn đầu” là động cơ chủ yếu trong tăng trưởng nông nghiệp (J Huang andRozelle, 1996; Fan and Pardey, 1997) Tuy nhiên, J Huang và S Rozelle (2002) chỉ rarằng, đầu tư nghiên cứu nông nghiệp của Trung Quốc đã giảm từ đầu những năm 1980
và xuống mức thấp báo động, chỉ 0,44% so với tổng sản phẩm nông nghiệp vào năm
1999 (một trong những mức thấp nhất thế giới) Giai đoạn từ 1970 đến đầu những năm
1990, tỷ lệ đầu tư nông nghiệp so với tổng sản phẩm nông nghiệp trong nước (AGDP)cũng có sự giảm sút (năm 1978: 7,65% giảm xuống 3,6% năm 1995)
1.2 Tổng quan các chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Khi toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành trào lưu trên toàn thếgiới, mỗi quốc gia là một thực thể và tồn tại độc lập trong mối liên hệ phụ thuộc, có tácđộng qua lại với nhau Trong xu thế chung của thế giới, mở rộng quan hệ kinh tế quốc
tế và tự do hóa thương mại đặt ra là một tất yếu khách quan Bước vào thập niên 90,khi Trung Quốc chuyển sang giai đoạn nhìn ra thế giới và bắt đầu khởi động gia nhậpWTO, nhiều nghiên cứu về mảng chủ đề này đã được công bố Tiêu biểu cho cácnghiên cứu về mảng đề tài nông nghiệp, thương mại và WTO lần lượt được giới thiệu,trong đó có các tác phẩm tiêu biểu như:
1.2.1 Chính sách thương mại nông nghiệp
Trong giai đoạn đàm phán gia nhập WTO từ cuối những năm 1980, Trung Quốc
đã có một số cải cách căn bản trong chính sách thương mại quốc tế: thuế quan giảm,xuất nhập khẩu tăng đã có tác động đến các điều khoản thương mại Từ năm
Trang 281992 đến 1998, biểu thuế nhập khẩu nông sản đã giảm từ 42,2% xuống 23,6%, năm
2001 là 21% (J Huang and S Rozelle, 2002) Để chuẩn bị cho việc gia nhập WTO,Trung Quốc đã thực hiện những bước cải cách đáng kể ở tất cả các lĩnh vực Cải cáchchính sách thương mại theo Vòng đàm phán Urugoay về nông nghiệp bao gồm 3 lĩnhvực chủ yếu: tiếp cận thị trường (thuế quan, hạn ngạch thuế quan và các rào cảnthương mại khác), hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu (Hunter và cộng sự, 2001;Huang và Rozelle, 2001, 2002, 2007)
Theo Martin (2002), phản ứng chính sách của Trung Quốc khi gia nhập WTO
có 2 hình thức chủ yếu: thực hiện các cam kết gia nhập và điều chỉnh một số chínhsách trong nước để phù hợp với những quy tắc của WTO Giao thức gia nhập WTO đãdẫn đến những thay đổi quan trọng Pháp luật là một trong những lĩnh vực có nhiềuthay đổi Khung pháp lý mới được Trung Quốc phổ biến rộng rãi trong toàn quốc7.Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong cải cách, nhưng vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện để
Trung Quốc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình theo Nghị định thư gia nhập WTO (J.
Huang và S Rozelle, 2001, 2007)
Cụ thể, những thay đổi cho phù hợp cam kết gia nhập WTO của Trung Quốcđược thấy rõ trong chính sách mở cửa thị trường (chính sách thuế quan và rào cản phithuế) Song, từ khi gia nhập WTO, mức độ gia nhập thị trường thế giới tăng đáng kể(Huang và Rozelle, 2007)
Rào cản thuế quan
Gia nhập WTO, Trung Quốc giảm các rào cản thương mại, giúp quá trình tiếpcận thị trường được cải thiện (Martin, 1999, 2001; Huang và Rozelle, 2001) Sau khikết thúc bước quá độ thực hiện cam kết với WTO, thị trường nông sản Trung Quốctừng bước được mở rộng Trung Quốc đã cam kết thực hiện cắt giảm hàng rào thuếquan thương mại một cách đáng kể Thực hiện các cam kết WTO về mức thuế trungbình, thuế nhập khẩu nông sản 23,1% trước khi gia nhập WTO (2001) đã giảm xuốngcòn 17% năm 2004; 15,3% năm 2005 (Nguyễn Xuân Trình và Lê Xuân Sang, 2007;Chen G, 2011) và chỉ còn 15,1% năm 20088 Trước năm 2000, thuế nhập khẩu đậutương rất cao (114%) nhưng đã giảm xuống còn 3% trong năm 2000 và sau đó hạnngạch nhập khẩu dần được xóa bỏ (Huang và Rozelle, 2002, 2007) Sự giảm mạnh nàythể hiện, Trung Quốc rất linh hoạt trong việc áp dụng thuế MFN đối với các sản phẩm
để tối đa hoá lợi ích
7 Nhà nước đã bãi bỏ một số quy định về phát triển doanh nghiệp nông nghiệp (ban hành năm 1983) để hỗ trợ sự phát triển của các trang trại tập thể và sự phát triển của các Xí nghiệp Hương trấn (ban hành năm 1979) để hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc sở hữu tập thể.
8 Dẫn theo Nguyễn Vĩnh Thanh: Nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO: Thời cơ và thách thức (2011)
Trang 29Một câu hỏi đặt ra, việc cắt giảm thuế quan nhập khẩu nông sản có ảnh hưởnglớn đến nguồn thu của Chính phủ Trung Quốc hay không? Nghiên cứu của H Colby,
X Diao và F Tuan (2001) cho biết, việc cắt giảm thuế quan của Trung Quốc khôngtạo ra sự xung đột, mâu thuẫn trực tiếp với các chính sách nông nghiệp hiện có trước đó,
và hầu như cũng không tác động lớn đến nguồn thu của Chính phủ Bởi Trung Quốc cóthể dễ dàng bù đắp sự sụt giảm trong doanh thu thuế nông nghiệp bằng các nguồn thukhác Tại Trung Quốc, nguồn thu từ thuế nhập khẩu chiếm một phần rất nhỏ trong tổngthu thuế của chính phủ
Vũ Văn Hùng (2013) chỉ ra rằng, cam kết thuế quan của Trung Quốc cũng có sựkhác nhau giữa các đối tác Đối với Mỹ, Trung Quốc và Mỹ cùng giảm mức thuếchung đối với nhập khẩu nông sản từ mức 45% xuống còn 17% và 14,4% (15% đốivới các sản phẩm ưu tiên, ví dụ, thịt bò từ 45% xuống 12%, cam quýt từ 40% xuống12%) Đối với EU, thuế quan đối với nhiều loại nông sản giảm mạnh: dầu cải từ 85%xuống 9%, bơ từ 30% xuống 10%, quýt từ 42% xuống còn 12% EU và Trung Quốccòn ký hiệp định về vệ sinh thực vật theo tinh thần Hiệp định SPS
Các rào cản phi thuế quan
Cam kết lớn thứ 2 của Trung Quốc là các rào cản phi thuế quan Một số tác giảtrong và ngoài nước (Du Ying, 2001; Hunter và cộng sự, 2001; Huang và Rozelle,
2001, 2002; Nguyễn Xuân Trình và Lê Xuân Sang, 2007; Vũ Văn Hùng, 2013) nêu rõ,rào cản phi thuế quan trọng nhất đó là hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu
Trước khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã sử dụng hệ thống hạn ngạch thuếquan như một công cụ chủ yếu để điều tiết việc xuất, nhập khẩu đối với một số mặthàng “nhạy cảm” như lúa mì, ngô, gạo, dầu đậu nành, bông, len, đường, dầu cọ (W.Martin, 1999), các sản phẩm này được đăng ký thuế suất dưới 10% đối với nhập khẩumột khối lượng nhỏ, trên 10% đối với khối lượng lớn Sau khi ra nhập WTO, hạnngạch nhập khẩu đối với nhiều nông sản đều tăng lên, chẳng hạn so sánh năm 2000 với
2004, mức hạn ngạch nhập khẩu lúa mì tăng từ khoảng 7 triệu tấn lên gần
10 triệu tấn; ngô từ trên 4 triệu tấn lên hơn 7 triệu tấn; dầu đậu nành từ gần 2 triệu tấn lên hơn 3 triệu tấn
Trong khi đó, hạn ngạch nhập khẩu nhiều mặt hàng được xóa bỏ từ tháng12/2004, dầu đậu nành được loại bỏ vào năm 2005 (Nguyễn Xuân Trình và Lê XuânSang, 2007; Vũ Văn Hùng, 2013) Các mặt hàng khác nhau được bảo hộ theo nhữngmức khác nhau Ngoại trừ đường (20%) và các loại dầu ăn (9%), mức thuế trong hạnngạch chỉ 1% đối với gạo, lúa mỳ, ngô và len (Hunter và cộng sự, 2001; Huang và
Trang 30Rozelle, 2002, 2007) Trung Quốc cũng đồng ý loại bỏ hạn ngạch thuế quan cho các loạidầu ăn sau năm 2006 (Huang và Rozelle, 2007) Các công cụ hạn ngạch, giấy phép nhậpkhẩu có tác dụng bảo hộ hàng hoá trong nước Mặc dù gia nhập “sân chơi lớn” và toàn cầuhoá sẽ mở ra sự đa dạng phong phú về chủng loại, song, việc bảo vệ lợi ích quốc gia làđiều Trung Quốc luôn đặc biệt quan tâm Đến nay, Trung Quốc vẫn linh hoạt sử dụngcông cụ hạn ngạch đối với các mặt hàng có tính “nhạy cảm” trong hội nhập
1.2.2 Chính sách trợ cấp xuất khẩu
Về trợ cấp xuất khẩu nông sản, nhiều học giả đã phân tích, trong đó J Huang và
S Rozelle (2002), Nguyễn Tiến Dũng (2010), Vũ Văn Hùng (2013), Trung Quốc camkết xóa bỏ tất cả trợ cấp xuất khẩu nông sản ngay sau khi gia nhập WTO và không giớithiệu thêm bất kỳ khoản trợ cấp nào cho các sản phẩm nông nghiệp trong tương lai Trợcấp này đã đóng vai trò đáng kể trong hỗ trợ xuất khẩu ngô, bông và các sản phẩm nôngnghiệp khác, và theo cách này đã gián tiếp hỗ trợ giá trong nước Thực tế, sau khi loại bỏdần trợ cấp xuất khẩu, một số nông sản của Trung Quốc sẽ có thể chịu áp lực cạnh tranhmạnh mẽ từ nguồn nhập khẩu Nghiên cứu của Fuzhi Cheng (2008) hay Vũ Văn Hùng(2013), bên cạnh việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu, các cam kết gia nhập WTO còn yêu cầuvới việc kiểm soát chặt chẽ các dạng đầu tư hay một số dạng hỗ trợ nhất định
1.2.3 Chính sách hỗ trợ trong nước
1.2.3.1 Nhóm chính sách hộp xanh lá cây, hộp hổ phách
Nhận thức rõ những thách thức mới của tiến trình hội nhập, Trung Quốc đã thựchiện một loạt các biện pháp hỗ trợ trong nước mạnh mẽ Đáng chú ý là các cam kếtchính trị đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Hàng năm, từ 2004 đến 2016,
Ủy ban Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc ban hành “Văn kiện số 1” Đây là tàiliệu quan trọng bậc nhất về vấn đề này (J Huang và G Yang, 2016)
Với chính sách hỗ trợ trong nước, Du Ying (2000) đã đề xuất một số lựa chọnđối với Trung Quốc khi gia nhập WTO, đó là: luật và quy định trong nước về thươngmại cần phải được sửa đổi theo quy định của WTO; tăng mức độ hỗ trợ của “Hộp xanh
lá cây” (hộp hỗ trợ thuộc dạng không phải cam kết cắt giảm) trong tổng giá trị sảnlượng nông nghiệp (vì giá trị còn rất nhỏ, thấp hơn so với các nước phát triển như Mỹ,Liên minh châu Âu và Nhật Bản)
Những nghiên cứu tiếp theo của J Huang và cộng sự (2011, 2013, 2015, 2016,2018) hay Ni, H (2013) cũng cho thấy, chính phủ Trung Quốc đã tăng trợ cấp nông
Trang 31nghiệp, tăng chi phí nghiên cứu và phát triển nông nghiệp (Huang và Rozelle, 2014;Bubu et al, 2016), tăng giá nông sản và hỗ trợ thu nhập cho nông dân (OECD, 2013).Trung Quốc không ngừng gia tăng giá trị hỗ trợ trong nhóm chính sách “Hộp xanh lácây” (Ni H, 2013; Chen Guoqiang, 2011) Chẳng hạn, năm 1997, giá trị hộp xanh mớiđạt 131,3 tỷ NDT; năm 2001 đạt 242,3 tỷ NDT nhưng đến 2005 đã tăng lên 309,6 tỷNDT; năm 2013 đạt 766,23 tỷ NDT (Fuzhi, 2008; Ni H, 2013) Trong nhóm hỗ trợnày, Trung Quốc chuyển từ hỗ trợ sản xuất trong khâu lưu thông sang trợ cấp trực tiếp,đầu tư cho hạ tầng nông thôn.
Trong khi những thành tựu trong quá khứ của Trung Quốc rất ấn tượng, họ đãđến giai đoạn phát triển nông nghiệp khi thách thức trước đó gia tăng và xuất hiệnthêm những thách thức mới Sản xuất thực phẩm tăng lên đã phải trả giá bằng môitrường cũng như phát triển bền vững (Zhang và cộng sự, 2013; Ni, 2013; Lu và cộng
sự, 2015) Và do vậy, các chương trình bảo vệ môi trường cũng ngày càng được quantâm chú trọng Với chính sách “Hộp xanh da trời”, Trung Quốc cũng gia tăng hỗ trợcho sản xuất theo nhóm này như hỗ trợ trực tiếp cho nông dân, giảm và tiến tới xóa bỏcác loại thuế đánh vào nông nghiệp (Tao và Qin, 2007; Liu và cộng sự, 2012), tăngcường các dịch vụ tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu, bảo vệ môi trường (Ni, 2013;
Vũ Văn Hùng, 2013)
Hỗ trợ “Hộp hổ phách”, Trung Quốc là quốc gia đang phát triển, nhưng hỗ trợtrong nước cam kết ở ngưỡng cho phép chỉ tương đương 8,5% tổng giá trị sản lượngnông nghiệp, thấp hơn mức 10% đối với các quốc gia đang phát triển khác nhưng ởtrên mức 5% ở các nước phát triển (Huang và Rozelle, 2007; Nguyễn Xuân Trình và
Lê Xuân Sang, 2007; Fuzhi, 2008; Vũ Văn Hùng, 2013) Mấy năm trở lại đây, TrungQuốc rất linh hoạt trong việc sử dụng công cụ này, với việc gia tăng trợ cấp cho cácsản phẩm, đặc biệt là ngũ cốc
1.2.3.2 Chính sách phát triển khoa học và công nghệ
Khi nông nghiệp đã đạt những thành tựu căn bản, Trung Quốc đã chú trọng hơnđến chính sách phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ Đây là biện pháp có tínhchiến lược lâu dài, bởi nó không chỉ giúp tăng năng suất nông nghiệp, cải thiện nănglực cạnh tranh, mà còn góp phần quan trọng cho sự phát triển của một nền nông nghiệphàng hoá theo hướng bền vững trước những thách thức của hội nhập và áp lực tăng dânsố
Trước khi gia nhập WTO, đầu tư của chính phủ Trung Quốc cho KHCN rất hạnchế Nhưng đến nửa cuối những năm 1990, khi Trung Quốc chuẩn bị cho việc gia
Trang 32nhập WTO thì đầu tư cho nông nghiệp, đặc biệt là KHCN đã tăng lên đáng kể (J.Huang và S Rozelle, 2001) Trung Quốc đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát triểnKHCN nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trong nước ngày càng cao về các sản phẩmnông nghiệp của một quốc gia đông dân nhất trên thế giới Trung Quốc có khát vọngtrở thành nông xưởng của thế giới với tiềm lực phát triển mạnh mẽ Họ không ngừngđầu tư vào KHCN nông nghiệp, đặc biệt là công nghệ cao Babu et al (2015) đã chỉ ra,Trung Quốc có hệ thống khuyến nông lớn nhất thế giới Bên cạnh đó, nghiên cứu của
Hu và Huang (2011); Babu et al (2015); Huang và Rozelle (2014, 2018) cho thấy,chính phủ Trung Quốc đã tăng cường chi tiêu cho KHCN, nghiên cứu và phát triển;đồng thời định hướng các doanh nghiệp tham gia sâu, rộng vào hoạt động KHCN
Ngay từ những năm 1990, Trung Quốc đã chú trọng phát triển các khu nôngnghiệp công nghệ cao Giai đoạn 1998-2006, Trung Quốc đã phát triển được hơn 400khu nông nghiệp công nghệ cao Bên cạnh đó, còn rất nhiều cơ sở sản xuất nôngnghiệp ứng dụng công nghệ cao trong cả nước Thực tế cho thấy, các khu công nghệcao đóng góp trên 40% giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp Rõ ràng, những môhình nông nghiệp công nghệ cao đã và đang đẩy mạnh hiện đại hoá nông nghiệp TrungQuốc, đóng góp quan trọng trong phát triển nền nông nghiệp hiện đại cũng như pháttriển kinh tế xã hội Trung Quốc (Phạm Thị Thanh Bình, 2018) Hiện nay, Trung Quốc
đã có tới hơn 6.000 khu nông nghiệp công nghệ cao được xây dựng9
Với quan điểm phát triển nông nghiệp hiện đại là mục tiêu chính trong chuyểnđổi tính chất của tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc chủ trương: Tăng cường đầu tư côngnghệ, hiện đại hoá nông nghiệp, nghiên cứu các loại giống mới, hỗ trợ chương trìnhbiến đổi gien, đầu tư cho hệ thống tưới tiêu Trung Quốc đổi mới các chính sáchnghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp nhằm thực hiệnchiến lược trở thành một “siêu cường nông nghiệp” và “kho lương thực toàn cầu” Cáckhu nông nghiệp công nghệ cao được xem là hạt nhân trong hệ thống áp dụng rộng rãicác kỹ thuật nông nghiệp, là căn cứ đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược sản xuấtnông sản chất lượng cao, phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Đó còn là những đầu tàuphát triển sản xuất nông nghiệp hiệu quả, bền vững và thân thiện môi trường (Babu et
al, 2015; Phạm Thị Thanh Bình, 2018)
1.2.3.3 Chính sách lương thực và an ninh lương thực
9 Trong đó có một khu quản lý cấp Quốc gia (khu Dương Lân, Thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây), 36 khu được Chính phủ quyết định thành lập, giao cho địa phương quản lý, hơn 600 khu gọi là khu thị phạm nông nghiệp hiện đại Quốc gia, khu trình diễn phát triển khoa học công nghệ nông nghiệp tổng hợp, còn lại là các khu nông nghiệp công nghệ cao do cấp tỉnh, thành phố và cấp huyện xây dựng.
Trang 33Du Ying (2000), C Xiwen (2002) và J Huang and S Rozelle (2002, 2007,
2014, 2018), Phạm Thị Thanh Bình (2018), nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới kháchay J Huang và G Yang (2016) nghiên cứu chính sách nông nghiệp, chính sách lươngthực gần đây của Trung Quốc; các học giả đều ghi nhận, thời kỳ cải cách và mở cửa từnăm 1978, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được những thành tựu quan trọng về sảnlượng cũng như thay đổi cơ cấu kinh tế Theo thời gian, tỷ trọng của nông nghiệp trongGDP có xu hướng giảm (trước 1980 nông nghiệp đóng góp hơn 30% GDP, năm 2000giảm xuống 16%, đến 2011 còn 10%10) - nhưng giá trị tuyệt đối thì không ngừng tănglên11 Bên cạnh đó, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giai đoạn 1980 - 2000 cũnggiảm từ 81% xuống còn khoảng 50% (Jikun và Rozelle, 2002) và năm 2010 chỉ còn39,5%12 Mặc dù diện tích đất canh tác giảm, đồng thời Trung Quốc phải đối mặt với
sự khan hiếm nước ở phía Bắc, nhưng tốc độ tăng trưởng nông nghiệp cao hơn so vớitốc độ tăng dân số nên Trung Quốc vẫn có thể tự giải quyết vấn đề lương thực trongnước
An ninh lương thực - một trong những vấn đề quan trọng trong hoạch địnhchính sách ở Trung Quốc - cũng đã được cải thiện đáng kể từ cuối những năm 1970.Vấn đề này đã minh chứng điều ngược lại với dự đoán của nhiều nhà phân tích kinh tếcho rằng Trung Quốc sẽ gây áp lực lên an ninh lương thực toàn cầu trong quá trìnhcông nghiệp hóa (J Huang et al, 2007, 2013, 2017) Bên cạnh đó, tình trạng dinhdưỡng, sinh kế, diện tích nhà ở, thu nhập bình quân đầu người và mức sống của ngườidân cũng được nâng cao; được đảm bảo và cải thiện đáng kể nhờ sự thay đổi trongnăng lực sản xuất ngũ cốc do tác động tích cực của tiến bộ của khoa học kỹ thuật, khíhậu thuận lợi, tăng giá thu mua đầu ra, chính sách giao đất lâu dài cho nông dân vàthực hiện chế độ khoán đến hộ/nhóm hộ gia đình (J Huang, 1997; C Xiwen, 2002;Huang và Rozelle, 2007, 2014, 2018) Có thể thấy, động lực cá nhân và giải quyết mốiquan hệ thành thị, nông thôn luôn là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sản xuất
Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng chỉ ra rằng, có sự gia tăng trong chênh lệchthu nhập giữa các nhóm người, giữa các vùng cũng như giữa thành thị và nông thôn
Do những thay đổi của mô hình cung, cầu trong giai đoạn kế hoạch 5 năm lần thứ 9(1996-2000), ở hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đều tồn tại tình trạng cung vượt cầudẫn đến sự sụt giảm về giá Năm 1996, thu nhập ròng của nông dân tăng 9%,
10 Viện nghiên cứu Trung Quốc: http://vnics.org.vn
11 Kinh tế Trung Quốc, Giáo trình Lịch sử kinh tế, chủ biên: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh
12 Kinh tế Trung Quốc, Giáo trình Lịch sử kinh tế, Chủ biên: Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Huy Vinh, Trần Khánh Hưng.
Trang 34nhưng tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 4,6% năm 1997; năm 1998 là 4,3%; năm
1999 là 3,8% và chỉ còn 2,1% năm 2000 (Zhenwei Liu, 2002, Huang and Rozelle,
2002, 2007) Hệ quả của tình trạng này là sự sụt giảm trong chi tiêu của nông dân, gây
ra những tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường nội địa và có thể gây nênnguy cơ mất ổn định xã hội khu vực nông thôn
Vì vậy, khó khăn thách thức lớn của Trung Quốc khi gia nhập WTO chính làviệc nâng cao thu nhập của nông dân và khẳng định vấn đề này phải được nhấn mạnhtrong toàn bộ hoạt động kinh tế (Xiwen, 2002; Liu, 2002, Huang và Rozelle, 2007,2014) Các chuyên gia dự đoán rằng, gần như tất cả lợi nhuận trong sản lượng nôngnghiệp sẽ phải đến từ công nghệ mới có thể cải thiện đáng kể năng suất nông nghiệp(J Huang and Rozelle, 2002, 2010; J Huang et al, 2001, 2011)
1.2.3.4 Sự thay đổi trong trong cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp
W Martin (1999) đã nhấn mạnh, Trung Quốc chuẩn bị gia nhập WTO là một sựkiện quan trọng đối với chính họ và cả các quốc gia xuất khẩu nông sản trên toàn thếgiới Vấn đề nông nghiệp luôn chiếm vị trí quan trọng trong câu chuyện Trung Quốcchuẩn bị gia nhập WTO và gia nhập WTO sẽ đòi hỏi một số thay đổi trong chính sáchphát triển nông nghiệp Những thuận lợi, khó khăn và thách thức của Trung Quốc trongviệc thúc đẩy xuất khẩu nông sản có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể trong quan điểmchính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc sau này, đặc biệt là phát triển nôngnghiệp công nghệ cao Để nông sản Trung Quốc tham gia vào môi trường cạnh tranhquốc tế và chia sẻ lợi ích từ thương mại quốc tế khi gia nhập WTO, Du Ying (2000) đềxuất, Trung Quốc cần điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong nước dựa vào lợi thế
so sánh của mình
Trước hết, Trung Quốc cần tích cực phát triển các sản phẩm nông nghiệp mà ngành
đó có lợi thế so sánh (các sản phẩm chăn nuôi, thủy sản, hoa quả, và một số nông sản đặcbiệt khác), nâng cao chất lượng cũng như tăng thị phần các sản phẩm này tại các thịtrường xuất khẩu Đồng thời, giảm sản xuất các sản phẩm mà Trung Quốc không có lợithế so sánh Thứ hai, Trung Quốc cần tích cực phát triển các sản phẩm chế biến, chế biếnsâu, đặc biệt là những sản phẩm có giá trị gia tăng cao thông qua phát triển khoa học côngnghệ Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩychuyên môn hóa và nâng cao chất lượng cũng như giá trị các loại nông sản Thứ ba, TrungQuốc phải điều chỉnh và tối ưu hóa mô hình sản xuất theo vùng trong nông nghiệp Ở khuvực ven biển phía đông, sản xuất ngũ cốc và một số sản phẩm nông nghiệp khác không cólợi thế so sánh nên giảm và cần chú trọng phát triển các sản phẩm
Trang 35có giá trị gia tăng cao và các sản phẩm định hướng xuất khẩu Ở các khu vực phía Tây,nên trả lại đất canh tác cho lâm nghiệp, thảo nguyên để cải thiện môi trường sinh thái
và tăng cường sản xuất các nông sản đặc biệt Còn ở khu vực trung tâm, nơi có lợi thế
so sánh cho các loại nông sản quan trọng, cần giảm chi phí sản xuất trên cơ sở ổn địnhnăng lực sản xuất (Du Ying, 2000; Martin, 2001; RCRE, 2011)
Điều quan trọng nữa là nâng cao năng suất và hiệu quả trong nông nghiệp bởi vìnăng suất nông nghiệp thấp là một trong những nguyên nhân chính hạn chế khả năngcạnh tranh Do đó, việc Trung Quốc gia nhập WTO đã thúc đẩy đáng kể chiến lượcđiều chỉnh cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp của mình Trung Quốc đã chú ý hơn đếnviệc tăng năng suất, chất lượng nông sản và hiện thực hoá giấc mơ nông nghiệp côngnghệ cao (Du Ying, 2000; Martin, 2001; RCRE, 2011)
1.2.4 Về hàng rào kỹ thuật thương mại nông nghiệp (TBT)
Trong quá trình hội nhập, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), các biệnpháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (SPS) cũng như thể chế để thực hiện các thỏathuận về thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) là những vấn đề quantrọng mà Trung Quốc phải đối mặt Khi gia nhập WTO, thủ tục kiểm dịch động thựcvật có thay đổi về quy mô và mức độ khắt khe lớn hơn Trung Quốc đã và đang kiệntoàn hệ thống kiểm dịch động thực vật theo tiêu chuẩn quốc tế để quản lý việc sử dụngcác hình thức bảo hộ trong nước Trung Quốc đã chắc chắn phải vất vả trong nỗ lựccủa mình để tạo ra một môi trường thương mại minh bạch và cởi mở đối với các hàngrào phi thuế quan (Huang và Rozelle, 2007; Vũ Văn Hùng, 2013)
Để thực hiện chiến lược phát triển nền nông nghiệp bền vững sau khi gia nhậpWTO, Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp, cải cách nhằm phát huy tối đa lợi thếcủa hội nhập, đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực đối với nông nghiệp Nghiêncứu điển hình về TBT nông nghiệp Trung Quốc, đó là Xiaohua Bao và cộng sự (2012);Yaxing Zhang và cộng sự (2008), Lê Quốc Bảo (2018) Các học giả chỉ ra, TBT có vaitrò quan trọng đối với hoạt động thương mại quốc tế Nó có thể thúc đẩy, cũng có thểkìm hãm sự phát triển của thương mại, do đó việc xây dựng và hoàn thiện TBT nôngnghiệp là đặc biệt quan trọng ở các quốc gia Bởi trong xu thế hội nhập, các nước pháttriển trên thế giới ngày càng gia tăng bảo vệ hàng nội địa
Đồng thời, yêu cầu về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng khắtkhe, đặc biệt là thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: (i)TBT của một nước đang phát triển có tác động đáng kể đến xuất khẩu của các nướcđang phát triển khác, nhưng không ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu của các nước phát
Trang 36triển, (ii) TBT của nước phát triển có tác động đáng kể đến xuất khẩu của cả nước pháttriển và đang phát triển; và (iii) xuất khẩu từ các nước phát triển bị ảnh hưởng bởi TBTcủa một quốc gia phát triển nghiêm trọng hơn TBT của một quốc gia đang phát triển(Xiaohua Bao, 2012; Lê Quốc Bảo, 2018) Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của YaxingYang (2008) cũng đi sâu phân tích thực trạng TBT ở Trung Quốc sau khi gia nhậpWTO và kinh nghiệm của chính phủ cũng như doanh nghiệp trong thiết kế, hoàn thiện
và ứng phó với TBT nước ngoài
1.3 Tổng quan những nghiên cứu chủ yếu về chính sách phát triển nông nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Gia nhập WTO, một sân chơi lớn đối với nền kinh tế Việt Nam khi chúng tacòn ở điểm xuất phát thấp Nông nghiệp là khu vực nhạy cảm và dễ bị tổn thươngtrước bối cảnh toàn cầu hoá Do vậy, đây là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu vàcác chuyên gia quan tâm
Những nghiên cứu trong nước về chính sách nông nghiệp Việt Nam củaNguyễn Vĩnh Thanh (2010), Nguyễn Xuân Trình và Lê Xuân Sang (2007); NguyễnTiến Dũng (2010); Chu Tiến Quang (2011); Vũ Văn Hùng (2013) và OECD (2015)phân tích một số điều chỉnh chính sách của Việt Nam sau khi gia nhập WTO và tácđộng của nó đến nền kinh tế Việt Nam nói chung, nông nghiệp Việt Nam nói riêng.Các tác giả phân tích một số kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá trình thực hiệncác cam kết gia nhập WTO, đồng thời nêu ra những điều chỉnh trong chính sách nôngnghiệp Việt Nam để thực hiện các cam kết đó
Trịnh Thị Ái Hoa (2007); Ngô Thị Tuyết Mai (2011) và Vũ Văn Hùng (2013)
đề cập cơ sở lý luận và phân tích thực trạng chính sách tiêu thụ nông sản, xuất khẩunông sản của Việt Nam trong quá trình thực hiện các cam kết gia nhập WTO Đồngthời các tác giả này cũng đề xuất một số giải pháp cơ bản để hoàn thiện chính sách tiêuthụ nông sản hay xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới trong thời gian tới
OECD (2015) rà soát chính sách nông nghiệp Việt Nam, phân tích bối cảnh, xuhướng đánh giá chính sách cũng như môi trường đầu tư cho nông nghiệp để thực hiệncác mục tiêu trong chính sách phát triển nông nghiệp của Việt Nam giai đoạn tiếp theo
Nguyễn Vĩnh Thanh, Lê Sĩ Thọ (2010) trình bày những cơ hội, thách thức vànhững điều chỉnh chính sách nông nghiệp Việt Nam Việt Nam khi gia nhập WTO.Trong nghiên cứu này, tác giả phân tích khái lược về cam kết thuế quan, các rào cảnphi thuế cũng như vấn đề trợ cấp nông nghiệp giai đoạn chuẩn bị gia nhập và
Trang 37sau khi gia nhập WTO, tập trung nghiên cứu cơ hội và thách thức của Việt Nam cùngvới việc đề xuất, kiến nghị giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nông nghiệp Việt Namtrong bối cảnh mới.
Nguyễn Tiến Dũng (2010) đi sâu nghiên cứu những cam kết của Việt Nam khi gianhập WTO, điển hình là chính sách thuế quan và chính sách trợ cấp nông nghiệp Đồngthời, tác giả làm rõ những điều chỉnh trong chính sách này để phù hợp với cam kết WTO
và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách nông nghiệp Việt Nam như: hỗtrợ thu nhập, tín dụng, đầu tư, phát triển công nghiệp chế biến và phát triển hạ tầng cơ sở
Tóm lại, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào vấn đề điều chỉnhmột số chính sách trong nông nghiệp của Việt Nam (các cam kết thuế quan và hàngrào phi thuế, một số khía cạnh của trợ cấp nông nghiệp) Các tác giả chưa phân tíchtoàn diện, có hệ thống về cơ sở lý luận, thực tiễn, những điểm tương đồng, khác biệtgiữa hai nước và luận giải khả năng vận dụng kinh nghiệm trong chính sách phát triểnnông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO gắn với Việt Nam về phát huy nhữngthành công cũng như đẩy lùi những hạn chế
1.4 Một số nhận xét rút ra từ tổng quan các công trình nghiên cứu
Có thể nhận thấy, trong mỗi nghiên cứu trên, các tác giả đã mặc dù chọn nôngnông nghiệp làm đối tượng nghiên cứu nhưng có những hướng khác nhau, tùy thuộcvào phạm vi về nội dung nghiên cứu, cụ thể là đi sâu nghiên cứu một số vấn đề nhấtđịnh
Chẳng hạn, nghiên cứu của D Ying (2000) chủ yếu đi sâu phân tích một số khókhăn, thách thức của Trung Quốc khi gia nhập WTO, gợi ý những lựa chọn để pháttriển nông nghiệp thương mại trong nước như: xây dựng cơ sở hạ tầng, thúc đẩyKHCN, cải thiện cơ chế tự vệ, điều chỉnh cơ cấu và bảo vệ môi trường sinh thái.Những nghiên cứu của H Colby và cộng sự (2001); J Huang và S Rozelle (2001,
2002, 2007, 2011, 2013, 2018) phân tích những thành tựu cơ bản của ngành nôngnghiệp Trung Quốc trước khi gia nhập WTO, những thay đổi trong chính sách nôngnghiệp trước và sau khi gia nhập WTO (các khía cạnh trong cam kết gia nhập, cải cáchchính sách thương mại nông nghiệp, chính sách đất đai, chính sách tài chính tín dụng,chính sách đầu tư và hỗ trợ nông nghiệp)
J Huang and Guolei Yang (2016) và Babu et al (2015) đưa đến kết luận khinghiên cứu về chính sách lương thực “phát triển nông nghiệp thông qua cải cách thể chế,đổi mới công nghệ, cải cách thị trường và tăng cường đầu tư vẫn là chìa khoá để
Trang 38đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững của Trung Quốc sau khi gia nhậpWTO” Tuy nhiên, các tác giả chưa đánh giá tác động tích cực cũng như hạn chế củanhững thay đổi, điều chỉnh đó
Chen Xiwen (2002) đơn thuần đề cập đến những thành tựu cơ bản của ngànhnông nghiệp Trung Quốc, cũng như khó khăn mà nước này có thể gặp phải sau khi gianhập WTO đó là vấn đề tăng thu nhập cho nông dân Zhenwei Liu (2002) trình bày cácmục tiêu mới trong nông nghiệp Trung Quốc và những điều chỉnh chính sách như:Quy định đối với nông nghiệp nông thôn, chính sách thị trường và thương mại nôngsản, hỗ trợ nông nghiệp, tăng thu nhập của nông dân Những thay đổi trong chính sáchcủa Trung Quốc mà các học giả phân tích chủ yếu tập trung vào sự phát triển kinh tếnông nghiệp, nông thôn, tập trung hơn vào khía cạnh đối nội Một số học giả khácphân tích cụ thể hơn nội dung một vài chính sách hẹp, chẳng hạn: hàng rào kỹ thuậtthương mại nông nghiệp (Yaxing Zhang và cộng sự, 2008; Lê Quốc Bảo, 2018) haychính sách hỗ trợ nâng cao thu nhập cho nông dân (Zhao Yumin và cộng sự, 2004)…
Phạm Thị Thanh Bình (2018) phân tích một số chính sách phát triển nôngnghiệp bền vững của Trung Quốc như: chính sách quản lý và sử dụng đất, chính sáchthu hút đầu tư, phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ tài chính và bảo hiểmnông nghiệp Tác giả cũng đánh giá kết quả thực thi chính sách của Trung Quốc trongviệc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững
Thực tế, có rất nhiều nghiên cứu về chính sách nông nghiệp Trung Quốc trước
và sau khi nước này gia nhập WTO của các nhà nghiên cứu trong và ngoài TrungQuốc Tuy nhiên:
i Các công trình đi vào nghiên cứu, phân tích một số khía cạnh, vấn đề của chínhsách trong thực tiễn (như nội dung một số chính sách, kết qủa của các chính sách đó,không thực hiện một cách tổng thể các vấn đề của chính sách liên quan đến việc gia nhậpWTO) Trong mỗi nghiên cứu, các tác giả không đề cập một cách đầy đủ, toàn diện, có
hệ thống từ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốctrong hội nhập WTO; chưa đề cập cơ sở lý thuyết của chính sách; chưa đi sâu nghiên cứuảnh hưởng tích cực, hạn chế của những thay đổi trong chính sách đến hoạt động sản xuất,xuất nhập khẩu nông sản cũng như mức sống của nông dân
ii Các nghiên cứu trên cũng chưa đề cập, phân tích những điểm tương đồng, khác biệtgiữa Trung Quốc và Việt Nam về quá trình cải cách, đổi mới kinh tế; về nền sản xuất nôngnghiệp và việc thực thi chính sách phát triển nông nghiệp khi 2 nước
Trang 39gia nhập WTO;
iii Chưa được đánh giá một cách tổng thể dưới góc nhìn của lịch sử kinh tế, tức lànghiên cứu nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm về thành công, hạn chế của chínhsách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi ra nhập WTO, đồng thời xem xét khảnăng vận dụng những bài học đó với Việt Nam
Là một quốc gia láng giềng có một số điểm tương đồng với Trung Quốc, vì vậy,những kinh nghiệm trong cải cách mở cửa của Trung Quốc, đều có giá trị tham khảođối với Việt Nam Với các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi như Trung Quốc
và Việt Nam, thực hiện cải cách mở cửa hay đổi mới, hội nhập quốc tế là điều mới mẻ,chưa có tiền lệ Sự nghiệp cải cách mở cửa ở Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam cónhiều điểm tương đồng, đều do Đảng Cộng sản của hai nước khởi xướng và lãnh đạo.Xây dựng thể chế kinh tế thị trường tại Trung Quốc và Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đều là những việc hoàn toàn mới Vì vậy, những kinhnghiệm từ chính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc trong 40 năm cải cách
mở cửa, nhất là sau khi gia nhập WTO có giá trị tham khảo nhất định cho Việt Nam,đặc biệt trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
Việc nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc và từ đó rút
ra những gợi mở cho Việt Nam trên cơ sở so sánh thực tiễn tương đồng và khác biệtgiữa 2 nước cho thấy có nhiều bài học kinh nghiệm Tuy nhiên, việc vận dụng khôngđơn giản vì còn phụ thuộc vào trình độ phát triển, điều kiện hội nhập, vào các cải cáchthị trường, triết lý phát triển, văn hóa, truyền thống Dẫu vậy, những gợi mở về thiết
kế và triển khai chính sách phát triển nông nghiệp trong hội nhập dựa trên quy hoạchvừa tổng thể, vừa chi tiết, dài hạn, có điều chỉnh theo những biến động khách quan (cơhội hay thách thức, như: biến động của thị trường nông sản toàn cầu, thách thức anninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, môi trường sinh thái, phát triển bền vững) luôn
có ý nghĩa đối với Việt Nam
Do đó, những kinh nghiệm trong giải quyết các vấn đề liên quan đến nôngnghiệp, nông thôn của Trung Quốc sẽ là những gợi ý quý báu cho Việt Nam Hơn nữa,cũng chưa có một nghiên cứu phân tích đầy đủ, hệ thống, chi tiết, cụ thể về những bàihọc kinh nghiệm trong chính sách phát triển nông nghiệp của Trung Quốc sau khi gianhập WTO và luận giải khả năng vận dụng với Việt Nam dưới giác độ nghiên cứu lịch
sử kinh tế Do vậy, tác giả tiếp tục kế thừa có chọn lọc và lựa chọn đề tài “Chính sách phát triển nông nghiệp Trung Quốc sau khi gia nhập WTO: Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng với Việt Nam” làm nội dung nghiên
Trang 4027cứu của luận án.