Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố tác động tới ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn nhằm xác định, c
Trang 1B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O TRƯ NG Đ I H C KINH T QU C DÂN
-Nguy n Th H u Ái
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI
Ý ĐỊNH RỜI BỎ DOANH NGHIỆP CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
LU N ÁN TI N SĨ NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
HÀ N I – 2020
Trang 2B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O TRƯ NG Đ I H C KINH T QU C DÂN
-Nguy n Th H u Ái
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI
Ý ĐỊNH RỜI BỎ DOANH NGHIỆP CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Nghiên cứu sinh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học kinh tế quốc dân, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận án tốt nghiệp Để có được thành quả này, trước hết, tôi vô cùng cảm ơn TS Nguyễn Thị Chính, TS Nguyễn Văn Thành, hai thày cô
đã tận tình, chu đáo giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô Viện đào tạo Sau đại học, Khoa Bảo hiểm – Trường Đại học Kinh tế quốc dân, các quý cơ quan: Cục quản lý và giám sát bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam,… gia đình, người thân, đồng nghiệp
và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản luận án này
Luận án là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc, khoa học của bản thân, nhưng do khả năng có hạn nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp nhiệt tình của quý thày cô, độc giả quan tâm đến đề tài này để tôi hoàn thiện luận án hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1
1.2 Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 5
1.4.1 Nghiên cứu định tính 5
1.4.2 Nghiên cứu định lượng 5
1.5 Đóng góp mới của luận án 8
1.6 Bố cục của luận án 9
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH RỜI BỎ DOANH NGHIỆP CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ 11
2.1 Ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ 11
2.1.1 Bảo hiểm nhân thọ và đại lý bảo hiểm nhân thọ 11
2.1.2 Đại lý bảo hiểm nhân thọ 16
2.1.3 Ý định rời bỏ doanh nghiệp và một số khái niệm 23
2.2 Các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ 27
2.2.1 Mối quan hệ giữa cam kết với tổ chức và ý định rời bỏ doanh nghiệp 28
Trang 62.2.2 Mối quan hệ giữa hài lòng với doanh nghiệp và ý định rời bỏ doanh nghiệp 29
2.2.3 Mối quan hệ giữa công bằng trong tổ chức và ý định rời bỏ doanh nghiệp 33
2.2.4 Mối quan hệ giữa giá trị đạo đức doanh nghiệp và ý định rời bỏ doanh nghiệp 34 2.2.5 Mối quan hệ giữa định hướng nghề nghiệp và ý định rời bỏ doanh nghiệp 36
2.2.6 Mối quan hệ giữa đào tạo và ý định rời bỏ doanh nghiệp 39
2.3 Khoảng trống nghiên cứu, mô hình và giả thuyết nghiên cứu 42
2.3.1 Khoảng trống nghiên cứu 42
2.3.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 45
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50
3.1 Thiết kế nghiên cứu tổng thể 50
3.2 Nghiên cứu định tính 50
3.2.1 Mục tiêu phỏng vấn sâu 50
3.2.2 Bảng hướng dẫn câu hỏi phỏng vấn 51
3.2.3 Đối tượng phỏng vấn sâu 51
3.2.4 Kết quả phỏng vấn chuyên gia và đại lý 52
3.3 Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu 60
3.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 60
3.3.2 Mô hình nghiên cứu 61
3.4 Nghiên cứu định lượng 61
3.4.1 Phương pháp thực hiện đối với số liệu thứ cấp 62
3.4.2 Phương pháp thực hiện đối với số liệu sơ cấp 62
CHƯƠNG 4: ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ TRÊN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIỆT NAM VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73
4.1 Đại lý bảo hiểm nhân thọ và thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 73
4.1.1 Khái quát về thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 73
4.1.2 Tình hình phát triển đại lý bảo hiểm nhân thọ ở thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 79
4.2 Phân tích kết quả điều tra 81
4.2.1 Kiểm định thang đo 81
4.2.2 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 87
Trang 74.2.3 Mức độ đánh giá của đại lý đối với các yếu tố ảnh hưởng tới ý định rời bỏ doanh nghiệp 90
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 109 CHƯƠNG 5: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM GIẢM TỶ LỆ RỜI BỎ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VIỆT NAM 115 5.1 Định hướng phát triển bảo hiểm nhân thọ và đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 115 5.2 Đề xuất nhằm giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 118
5.2.1 Đề xuất nhằm nâng cao cam kết với doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ 119 5.2.2 Đề xuất nhằm gia tăng mức độ hài lòng với công việc của đại lý bảo hiểm nhân thọ 121 5.2.3 Đề xuất nhằm đảm bảo sự công bằng trong doanh nghiệp 126 5.2.4 Đề xuất nhằm nâng cao giá trị đạo đức doanh nghiệp 128 5.2.5 Đề xuất nhằm nâng cao chất lượng định hướng nghề nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ 130 5.2.6 Đề xuất nhằm hoàn thiện công tác đào tạo đại lý bảo hiểm nhân thọ 132
5.3 Một số khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 138
5.3.1 Khuyến nghị với Cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 138
5.3.2 Khuyến nghị đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 140
PHẦN KẾT LUẬN 151 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 154 TÀI LIỆU THAM KHẢO 155 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng
Bảng 2.1: Một số luận điểm cơ bản về các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ
doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm 42
Bảng 2.2: Các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 46
Bảng 3.1: Thông tin về chuyên gia (CG) và đại lý (ĐL) tham gia phỏng vấn 51
Bảng 3.1: Hệ thống thang đo yếu tố cam kết với doanh nghiệp 63
Bảng 3.2: Hệ thống thang đo yếu tố hài lòng với công việc 64
Bảng 3.3: Hệ thống thang đo yếu tố công bằng trong tổ chức 67
Bảng 3.4: Hệ thống thang đo yếu tố giá trị đạo đức doanh nghiệp 67
Bảng 3.5: Hệ thống thang đo yếu tố định hướng nghề nghiệp 68
Bảng 3.6: Hệ thống thang đo yếu tố đào tạo 69
Bảng 3.7: Hệ thống thang đo yếu tố ý định rời bỏ doanh nghiệp 69
Bảng 4.1: Tình hình thị trường Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam (2011-2018) 74
Bảng 4.2: Tình hình phát triển đại lý ở thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 79 Bảng 4.3: Kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha cho các yếu tố 83
Bảng 4.4 Trích bảng phân tích nhân tố khám phá EFA chung cho tất cả thang đo biến độc lập 85
Bảng 4.5: Kết quả ma trận xoay nhân tố 86
Bảng 4.6: Kết quả của mô hình hồi quy đa biến 88
Bảng 4.7: Thống kê mô tả các yếu tố tác dộng đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 90
Bảng 4.8: Mức độ tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ theo hệ số Bê ta 111
Sơ đồ Sơ đồ 1.1 Phương pháp về quy trình nghiên cứu của luận án 8
Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu dự kiến 48
Sơ đồ 3.1: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam 61
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam ĐLBHNTVN
Cục quản lý và giám sát bảo hiểm CQLGSBH
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ DNBHNT Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Việt Nam DNBHNTVN
Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam TTBHNTVN
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Năm 1583, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (BHNT) đầu tiên trên thế giới được tham gia bởi một công dân Luân Đôn Tuy ra đời sau bảo hiểm phi nhân thọ nhưng BHNT phát triển rất nhanh và được khẳng định là loại hình bảo hiểm phát triển nhất Bởi vì, BHNT có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, không chỉ giúp mỗi cá nhân và gia đình bảo vệ những người trong gia đình khỏi những tổn thất về tài chính do mất người thân hoặc tiết kiệm để đáp ứng các nhu cầu về tài chính trong tương lai, mà đối với nền kinh tế - xã hội, BHNT góp phần huy động nguồn vốn lớn đầu tư phát triển kinh tế, góp phần nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng
Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ (SPBHNT) là “lời hứa” của doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) khi sự kiện bảo hiểm xảy ra sẽ chi trả tiền bảo hiểm Hơn nữa, các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm (HĐBH) tương đối phức tạp, khó hiểu và mang tính pháp lý chặt chẽ nên quá trình bán SPBHNT không đơn thuần là quá trình bán hàng như bán các sản phẩm thông thường, mà còn là quá trình tạo nên giá trị cao nhất cho hợp đồng bảo hiểm, tạo niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp, thuyết phục khách hàng
về lợi ích sản phẩm dẫn đến quyết định mua hàng
Với những đăc điểm này của SPBHNT, trên các thị trường bảo hiểm nhân thọ (TTBHNT) thế giới, đại lý bảo hiểm nhân thọ (ĐLBHNT) được coi là kênh phân phối truyền thống và chủ yếu; thông qua các ĐLBHNT, DNBH có thể truyền tải thông điệp trực tiếp đến khách hàng nhằm đáp ứng ngay các nhu cầu cá nhân và giải đáp các mối quan tâm của khách hàng Ngoài ra, ĐLBHNT còn có ưu điểm trong việc tạo dựng và phát triển mối quan hệ giữa khách hàng với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đặc biệt khi mà khách hàng trong lĩnh vực bảo hiểm chưa có mối quan hệ với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ (DNBHNT), điều này rất quan trọng trong việc tạo niềm tin, làm nảy sinh nhu cầu và thuyết phục khách hàng mua sản phẩm
Như vậy, ĐLBHNT đem lại giá trị cao nhất cho khách hàng cũng như DNBH ĐLBHNT vừa làm gia tăng giá trị cho SPBHNT cũng như đem lại nguồn lợi về doanh thu, uy tín và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp Bên cạnh đó, ĐLBHNT
là đại diện cho DNBH nên doanh nghiệp bảo hiểm là người chịu trách nhiệm đối với các hành động hoặc những thiếu sót của các đại lý được ủy quyền Vì vậy, mối quan
hệ giữa ĐLBHNT với DNBH gắn bó không khác gì mối quan hệ giữa người lao động
Trang 11chủ lực trong DNBH
Tuy nhiên, có một thực tế đặt ra là tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp ở TTBHNT thế giới
và Việt Nam rất cao Rusell L Handlon (2009) qua nghiên cứu tổng quan đã khẳng định vấn đề rời bỏ doanh nghiệp của đại lý đang là vấn đề nan giải của nhiều DNBH Theo Rusell L Handlon (2009) mức độ duy trì đại lý trong bốn năm trung bình chỉ đạt
15 - 19% Việc rời bỏ doanh nghiệp tạo chi phí lớn cho các doanh nghiệp như tăng chi phí tuyển dụng và đào tạo, giảm và gây bất ổn chất lượng tư vấn, giảm doanh thu và lợi nhuận Đồng thời, việc rời bỏ doanh nghiệp còn có thể tạo ra áp lực cho quản lý đó
là hậu quả tiếp nối nhau của những người còn lại cũng có ý định rời bỏ doanh nghiệp
Ý định rời bỏ doanh nghiệp và sự rời bỏ doanh nghiệp được khẳng định là trở ngại
chính cho sự thành công của DNBH cũng như bất cứ doanh nghiệp nào trên toàn cầu
Koh and Goh (1995) khẳng định nghiên cứu ý định rời bỏ doanh nghiệp là rất
quan trọng bởi người lao động trải qua quá trình cân nhắc rất nghiêm túc trước khi quyết định cuối cùng rời bỏ doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp cần có các giải pháp hữu hiệu, kịp thời nhằm xóa bỏ dự định rời bỏ của đại lý trong quá trình đại lý có ý định rời bỏ sẽ giúp doanh nghiệp giảm được sự rời bỏ của đại lý, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh
Theo Tổ chức nghiên cứu quốc tế LL global (Stock Biz, 2010), ở Việt Nam khoảng 80% đại lý được tuyển dụng bỏ việc trong vòng 12 tháng, tỷ lệ rời bỏ của đại lý (trong 4 năm) là trên 90% Tỷ lệ duy trì đại lý thấp đã có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động của các DNBHNT kinh doanh tại Việt Nam xét trên nhiều góc độ: sự thiếu ổn định của một kênh phân phối chủ yếu, tăng chi phí tuyển dụng và đào tạo, chất lượng dịch vụ bảo hiểm không đảm bảo, gây áp lực cho vấn đề quản lý, gây bất ổn và giảm hiệu quả kinh
doanh Vì vậy, nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố tác động tới ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” có ý nghĩa cả về lý luận và
thực tiễn nhằm xác định, chỉ rõ các yếu tố, mức độ tác động cụ thể của từng yếu tố ảnh hưởng đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Từ đó, luận án gợi ý một số đề xuất
và khuyến nghị cần thiết nhằm giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT tại TTBHNT Việt Nam
1.2 Mục tiêu, câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo
Trang 12hiểm nhân thọ Việt Nam (ĐLBHNTVN) Từ đó, luận án đề xuất các khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp và tăng tỷ lệ duy trì ĐLBHNTVN
bỏ doanh nghiệp
- Đề xuất các khuyến nghị nhằm giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT
ở TTBHNTVN
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án tập trung nghiên cứu trả lời câu hỏi sau:
- Những yếu tố nào tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam?
- Mức độ tác động của các yếu tố đối với ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Mức độ đánh giá của các ĐLBHNTVN đối với ý định rời bỏ doanh nghiệp và các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp ở TTBHNTVN hiện nay như thế nào?
- Những khuyến nghị nào cần được thực hiện để giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp,
từ đó, tăng tỷ lệ duy trì ĐLBHNT đối với DNBHNT Việt Nam?
1.2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Nghiên cứu tổng quan
Nghiên cứu tổng quan nhằm nghiên cứu các nghiên cứu điển hình trên thế giới và Việt Nam về các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm
để trả lời câu hỏi các yếu tố nào tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ và các yếu tố đó được biểu hiện qua các tiêu thức nào
2) Phỏng vấn chuyên gia và đại lý
Do sự khác biệt về bối cảnh, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, cũng như cần đánh giá toàn diện hơn về tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam, luận án kết hợp nghiên cứu tổng quan và phỏng vấn sâu nhằm tìm ra khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh của TTBHNT Việt Nam
3) Xây dựng mô hình nghiên cứu
Kết hợp các phương pháp tiếp cận khác nhau gồm phỏng vấn sâu chuyên gia và
Trang 13ĐLBHNT và nghiên cứu tổng quan, luận án xác định các yếu tố và tiêu chí, thang đo phù hợp nhất nhằm nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp bảo hiểm của ĐLBHNT trong bối cảnh Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu định tính, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi điều tra và thực hiện điều tra nhằm xác định tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam và các giải pháp thu thập từ ý kiến chuyên gia và đại lý nhằm giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam
4) Nghiên cứu kiểm định các yếu tố tác động
Các số liệu thu thập được từ điều tra sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 để kiểm định các yếu tố có tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam, xác định mức độ tác động mạnh hay yếu nhằm đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các biến; từ đó, xác định mức độ tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam Mức độ đánh giá trung bình của đại lý đối với từng yếu tố được phân tích nhằm đánh giá thực trạng chung các yếu tố này tại Việt Nam
5) Đề xuất các khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu điều tra, đề tài đề xuất các khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của các ĐLBHNT Việt Nam;
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Về nội dung
- Nghiên cứu các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của các ĐLBHNT Việt Nam;
- Nghiên cứu ĐLBHNT cá nhân, không nghiên cứu đại lý tổ chức;
- Chỉ nghiên cứu ý định rời bỏ DNBHNT; không nghiên cứu quyết định bỏ việc, sa
thải và bỏ nghề của ĐLBHNT Việt Nam Do ý định rời bỏ doanh nghiệp là bước cuối
cùng được cân nhắc trước khi một cá nhân quyết định rời bỏ doanh nghiệp, ý định rời bỏ doanh nghiệp tỷ lệ thuận với quyết định rời bỏ doanh nghiệp Vì vậy, luận án nghiên cứu
ý định rời bỏ doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp kịp thời có những giải pháp giảm ý
định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Từ đó, giảm ý định rời bỏ không những giúp ĐLBHNT giảm quyết định rời bỏ, giảm tỷ lệ sa thải do đại lý gắn bó và cống hiến nhiều
hơn doanh nghiệp, giảm tỷ lệ bỏ nghề đối với toàn bộ thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt
Trang 14Nam
1.3.2.2 Về không gian và thời gian
- Nghiên cứu tại TTBHNT Việt Nam
- Nghiên cứu chủ yếu được thực hiện trong giai đoạn 2014-2019 Đây là giai đoạn nghiên cứu gần nhất phù hợp nhằm phân tích chính xác thực trạng thị trường, và tình hình phát triển ĐLBHNTVN, tránh các sai lệch có thể có trong phỏng vấn sâu cũng như điều tra khảo sát
1.4 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu
Luận án tiến hành nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu điển hình trên thế giới
và Việt Nam về các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc kiểm định tác động của một hoặc một vài yếu tố, kiểm định toàn diện các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT; đặc biệt, Việt Nam chưa có nghiên cứu khám phá và nghiên cứu kiểm định đánh giá tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNTVN
Vì vậy, để đạt được mục tiêu và thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu, luận
án sử dụng kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng; trong đó, nghiên cứu định tính được thực hiện trước là phù hợp
1.4.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện phỏng vấn sâu chuyên gia và đại lý Luận
án tiến hành phỏng vấn độc lập 6 chuyên gia trong lĩnh vực BHNT bao gồm nguyên tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam (HHBHVN), một phó tổng giám đốc DNBHNT Việt Nam, giám đốc công ty truyền thông Bạch Kim, một chuyên gia đào tạo, một trưởng ban và một trưởng nhóm quản lý đại lý tại DNBHNT; và phỏng vấn nhóm gồm 5 ĐLBHNTVN
Thông tin thu thập từ phỏng vấn sâu nhằm bổ sung, hoàn thiện mô hình nghiên cứu cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam; phát triển thang đo và tìm ra các tiêu thức phù hợp nhất nhằm xây dựng phiếu điều tra
Luận án kết hợp kết quả nghiên cứu tổng quan, kết quả phỏng vấn chuyên gia và đại lý để thiết kế mô hình nghiên cứu, phát triển hệ thống các tiêu chí đo lường các yếu
tố tác động đến ý định rời bỏ DNBH của ĐLBHNT phù hợp với bối cảnh nghiên cứu
Việt Nam
1.4.2 Nghiên cứu định lượng
- Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xử lý dữ liệu thứ cấp từ các nguồn tài liệu có sẵn trong nước và quốc tế (dữ liệu từ Cục quản lý và giám sát bảo
Trang 15hiểm, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các báo cáo tổng kết của các DNBHNT Việt Nam, chiến lược phát triển ĐLBHNT của các DNBHNT Việt Nam ) nhằm đánh giá thực trạng TTBHNT, tình hình phát triển ĐLBHNT, phân tích thực trạng và xác định nguyên nhân rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam
- Phương pháp điều tra khảo sát được sử dụng trong nghiên cứu định lượng
nhằm kiểm định các yếu tố và xác định mức độ tác động của các yếu tố đến ý định rời
bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam
Để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình lý thuyết được đề xuất trong nghiên cứu của luận án, gắn liền với thực tế trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, luận án sử dụng phương pháp điều tra khảo sát với nội dung sau:
+ Xây dựng các thang đo cho từng biến trong mô hình nghiên cứu đề xuất dựa trên kết quả nghiên cứu định tính;
+ Xây dựng phiếu điều tra phục vụ cho việc điều tra ĐLBHNT ở Việt Nam Phiếu điều tra được thiết kế nhằm thu thập dữ liệu về đánh giá của ĐLBHNT Việt Nam đối với 6 yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT việt Nam Nội dung câu hỏi điều tra được thiết kế trên cơ sở kết hợp kết quả nghiên cứu tổng quan và phỏng vấn sâu nhằm phản ánh chính xác nhất nội dung các biến, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
+ Nhằm đảm bảo tính đại diện của mẫu, luận án tiến hành điều tra 500 mẫu với các ĐLBHNT trên địa bàn Hà Nội, đây cũng là một trong hai khu vực tập trung nhiều nhất ĐLBHNT khai thác cũng như khách hàng tham gia, khách hàng tiềm năng của TTBHNT Việt Nam Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị và văn hóa, kinh tế của cả nước, nơi tất cả các DNBHNT tập trung khai thác
+ Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 để đánh giá mối quan hệ tương quan giữa các biến nhằm xác định mức độ tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ duy trì đại lý của ĐLBHNT ở Việt Nam
Luận án sử dụng phần mềm SPSS 22.0 nhằm tổng hợp và phân tích dữ liệu điều tra với các nội dung:
+ Trước hết, luận án tiến hành xác định độ tin cậy của các thang đo Luận án sử dụng 2 phương pháp bao gồm phân tích hệ số Cronbach’s Alpha nhằm đánh giá sự tương quan giữa các biến quan sát và biến tổng, và phương pháp phân tích yếu tố EFA nhằm kiểm định tính đơn hướng của từng thang đo nhằm loại bỏ các tiêu chí đo lường không phù hợp Dựa trên kết quả phân tích hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích yếu
tố EFA luận án chỉ giữ lại các thang đo có độ tin cậy cao cho các nội dung phân tích
Trang 16tiếp theo
+ Luận án xây dựng phương trình hồi quy nhằm xác định tác động của các yếu
tố và mức độ tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam
+ Luận án tiến hành phân tích thống kê mô tả các biến từ kết quả dữ liệu điều tra nhằm xác định và phân tích mức độ đánh giá trung bình của đại lý đối với từng yếu tố Mức độ đánh giá trung bình của đại lý cũng phản ánh thực trạng chung các yếu tố này tại các DNBHNT Việt Nam
Phương pháp và quy trình nghiên cứu được trình bày tại sơ đồ 1.1 dưới đây:
Tổng quan
nghiên cứu
- Khoảng trống nghiên cứu
- Mô hình nghiên cứu dự kiến
- Thang đo
Nghiên cứu định tính
(phỏng vấn sâu
chuyên gia và đại lý)
- Mô hình nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam
- Hệ thống thang đo
- Bảng hỏi với hệ thống thang đo được hiệu chỉnh, bổ sung
- Kết quả phân tích thực trạng TTBHNVVN, tình hình phát triển ĐLBHNTVN
- Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu
- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến
ý định rời bỏ doanh nghiệp
- Mức độ đánh giá trung bình của ĐLBHNTVN về các yếu tố
Nghiên cứu
định lượng
Đề xuất, khuyến nghị
Phỏng vấn sâu
- Số liệu thứ cấp
- Bảng hỏi -Cronbach’s Anpha, EFA
- Phân tích hồi quy
- Thống kê mô tả
Trang 17Sơ đồ 1.1 Phương pháp về quy trình nghiên cứu của luận án
(Nguồn: Tác giả)
1.5 Đóng góp mới của luận án
Sau khi nghiên cứu, luận án có những đóng góp mới như sau:
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án xây dựng mô hình, kiểm định và kết luận 6 yếu tố cam kết với doanh
nghiệp, hài lòng với công việc, công bằng trong tổ chức, giá trị đạo đức doanh nghiệp, định hướng nghề nghiệp, đào tạo có mối quan hệ tương quan nghịch đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam
Trong đó, các yếu tố cam kết với doanh nghiệp, hài lòng với công việc, công
bằng trong tổ chức được các nghiên cứu trước khẳng định có tác động tương quan nghịch đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhưng trong bối cảnh nghiên cứu khác nhau và chưa có nghiên cứu kiểm định chuyên sâu trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ Luận án kết hợp nghiên cứu tổng quan và phỏng vấn sâu chuyên gia và đại lý bổ sung thêm 3 yếu tố giá trị đạo đức doanh nghiệp, định hướng nghề nghiệp,
đào tạo, kiểm định và kết luận 3 yếu tố này có tác động ngược chiều đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ trong bối cảnh Việt Nam
- Hệ thống đo lường yếu tố định hướng nghề nghiệp, đào tạo được luận án phát
triển mới phù hợp với mục tiêu nghiên cứu tác động của các yếu tố đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
- Luận án xác định và chỉ rõ mức độ tác động cụ thể của từng yếu tố đến ý định
rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam: cam kết với doanh nghiệp, hài lòng với công việc, giá trị đạo đức doanh nghiệp được kết quả kiểm định khẳng định có tác động lớn nhất và sau đó lần lượt là các yếu tố công bằng trong doanh nghiệp, đào tạo và định hướng nghề nghiệp
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án khẳng định tác động của 6 yếu tố tới ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, kết quả nghiên cứu này khẳng định rõ sự cần thiết
cần có các giải pháp kiểm soát và hoàn thiện các yếu tố này nhằm giảm ý định rời bỏ
doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Trang 18- Mức độ đánh giá của đại lý về 6 biến độc lập chưa thực sự được đại lý đánh giá
cao Ý định rời bỏ doanh nghiệp được đánh giá ở mức trung bình tức là đại lý không
khẳng định rõ không có ý định rời bỏ doanh nghiệp Nhóm đại lý toàn thời gian có
mức độ đánh giá đối với các biến độc lập cao hơn khá rõ so với nhóm đại lý bán thời gian và ngược lại đối với kết quả đánh giá về ý định rời bỏ doanh nghiệp, độ lệch chuẩn thường thấp hơn độ lệch chuẩn của nhóm đại lý bán thời gian Kết hợp kết quả phân tích mức độ đánh giá của đại lý đối với các biến, kết quả phân tích thực trạng phát triển đại lý và thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, luận án đề
xuất các khuyến nghị đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và Cơ quan quản lý Nhà nước nhằm tăng tỷ trọng đại lý toàn thời gian và
cải thiện chất lượng đánh giá các biến độc lập của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam nhằm giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp, từ đó hạ thấp tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Năm chương bao gồm những nội dung sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về các yếu tố tức động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Đại lý bảo hiểm nhân thọ trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Một số đề xuất, khuyến nghị nhằm giảm tỷ lệ rời bỏ doanh nghiệp bảo hiểm của đại lý bảo hiểm nhân thọ Việt Nam
Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận án đã giới thiệu về tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt
Trang 19Nam; các nhiệm vụ, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; xác định đối tượng, phạm
vi và quy trình nghiên cứu Luận án cũng nêu rõ các kết quả đạt được, đóng góp của luận án về lý luận và thực tiễn góp phần giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH RỜI BỎ DOANH NGHIỆP
CỦA ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
2.1 Ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ
2.1.1 Bảo hiểm nhân thọ và đại lý bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm nhân thọ là một trong những hoạt động kinh doanh dịch vụ giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, góp phần ổn định kinh
tế, hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển kinh tế nên được nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Vì vậy, một số nội dung như bảo hiểm nhân thọ, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, đại lý bảo hiểm nhân thọ được chú trọng nghiên cứu
2.1.1.1 Khái quát về bảo hiểm nhân thọ
a Khái niệm, đặc điểm, vai trò của bảo hiểm nhân thọ
BHNT đã có bề dày lịch sử ra đời và phát triển, nhưng hiện nay vẫn có nhiều khái niệm khác nhau về BHNT Khái niệm BHNT chủ yếu được nghiên cứu trên hai
phương diện kỹ thuật và pháp lý, một số khái niệm điển hình về BHNT như sau:
Theo Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), bảo hiểm nhân thọ được định nghĩa trên phương diện kỹ thuật: “Bảo hiểm nhân thọ là loại bảo hiểm bao hàm
những cam kết mà sự thực hiện những cam kết đó phụ thuộc vào tuổi thọ của con người”
Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) tại khoản 12 điều 3 nêu định nghĩa về bảo hiểm
nhân thọ “Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được
bảo hiểm sống hoặc chết”
Hai khái niệm trên đều có mối quan tâm chung là đối tượng được bảo hiểm “tuổi
thọ con người", “trường hợp người được bảo hiểm sống hay chết” Tuy nhiên, hai khái
niệm này chưa đề cập đến nội dung cam kết giữa người tham gia bảo hiểm và DNBH
Cam kết này được thể hiện rõ hơn qua các khái niệm sau:
“BHNT là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà
Trang 21trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn” (Nguyễn Văn Định, 2008)
Theo Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), bảo hiểm nhân thọ được định nghĩa trên phương diện pháp lý: “Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các hợp đồng bảo
hiểm được ký kết giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm, theo đó, để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, DNBH cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người bảo hiểm một khoản tiền nhất định hoặc những khoản trợ cấp định kỳ trong trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc tử vong trước một thời điểm nhất định đã được ghi rõ trên hợp đồng bảo hiểm”
Trong công trình nghiên cứu “Giải pháp thỏa mãn nhu cầu tiềm năng về bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam” của tác giả Phí Trọng Thảo (2007) đã đưa ra định nghĩa về
bảo hiểm nhân thọ như sau: “Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và
người tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện
đã định trước xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn.”
Các khái niệm trên cho thấy cam kết trong BHNT chủ yếu bao gồm: cam kết
đóng phí đầy đủ, đúng hạn của người tham gia bảo hiểm và cam kết chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định) DNBH Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu ngày càng cao của người dân, BHNT hiện nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi bảo hiểm cho hai sự kiện sống hoặc tử vong mà còn bảo hiểm cho những sự kiện liên quan đến sức khỏe và khả năng lao động của người được bảo hiểm (bảo hiểm sức khỏe: bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm bệnh hiểm nghèo ) Mặt khác, BHNT còn là công cụ để mỗi cá nhân và gia đình sử dụng như công cụ đầu tư với các dòng sản phẩm liên kết chung và sản phẩm bảo hiểm có chia lãi
Như vậy, dù được hiểu theo cách nào thì BHNT có thể được hiểu là loại hình bảo hiểm bảo hiểm cho những sự kiện bảo hiểm liên quan đến tính mạng, tình trạng sức khỏe gắn liền với tuổi thọ của người được bảo hiểm BHNT là công cụ hữu hiệu giúp người tham gia bảo hiểm hoạch định và thực hiện những kế hoạch tài
Trang 22chính trong tương lai nhằm bảo vệ người thân, gia đình trước những rủi ro hoặc những khó khăn về tài chính liên quan đến tuổi thọ con người
Các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về sản phẩm BHNT và đều được khẳng định hợp đồng bảo hiểm là biểu hiện cụ thể của sản phẩm BHNT Hợp đồng BHNT là bằng chứng pháp lý ghi nhận cam kết về quyền và nghĩa vụ của DNBH
và khách hàng tham gia bảo hiểm
Nguyễn Văn Định (2009), “Sản phẩm bảo hiểm là sự cam kết của DNBH đối với
bên mua bảo hiểm về việc bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra” Sản phẩm BHNT được biểu hiện trên hợp đồng bảo hiểm (trên quy tắc, điều khoản, biểu phí)
Trong sách “Phổ biến kiến thức nghiệp vụ và pháp luật về BHNT”, khái niệm sản
phẩm bảo hiểm được nêu rõ: “Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm dịch vụ tài
chính do doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính hoặc dự phòng về tài chính của người tham gia bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm
để ứng phó trước các rủi ro, sự kiện bảo hiểm hoặc đầu tư sinh lời Sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ là vô hình nên được thể hiện bằng cách diễn đạt bằng văn bản bao gồm:
- Quy tắc và điều kiện bảo hiểm
- Hợp đồng bảo hiểm soạn sẵn để khi giao kết trên cơ sở giấy yêu cầu bảo hiểm đồng ý chấp thuận của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm điền vào chỗ bỏ trống
- Tài liệu minh họa bán hàng bao gồm các quyền lợi người được bảo hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm cam kết, quyền lợi của người được bảo hiểm có thể được hưởng (chưa cam kết) và loại trừ bảo hiểm.” (Phùng Đắc Lộc, 2017)
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được khẳng định là biểu hiện cụ thể của sản phẩm
BHNT và được định nghĩa qua một số nghiên cứu như sau:
Theo Đoàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ (2011), “Hợp đồng BHNT là sự
thỏa thuận giữa hai bên, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, DNBH phải trả tiền bảo hiểm (số tiền bảo hiểm hoặc các khoản trợ cấp) cho người dược bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”
Luật kinh doanh bảo hiểm (2000) tại khoản 1 điều 12 đã nêu rõ: “Hợp đồng bảo
hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó, bên mua phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người
Trang 23hưởng thụ khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”
Sản phẩm bảo hiểm được biểu hiện cụ thể qua hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng
bảo hiểm thực chất là lời hứa, lời cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
Như vậy, BHNT dù được hiểu theo khái niệm nào cũng mang tính nhân văn sâu
sắc bởi BHNT mang đến sự bảo vệ, yên tâm, thịnh vượng không chỉ cho mỗi cá nhân,
gia đình và toàn xã hội Sự gia tăng thu nhập từ chia lợi nhuận đầu tư của doanh nghiệp BHNT và tiền chi trả bảo hiểm nhằm giảm bớt những khó khăn về tài chính đối với người tham gia hoặc người thân hoặc đáp ứng được các nhu cầu đầu tư của người dân khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Nguồn vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của BHNT cũng góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Qua phân tích các khái niệm về BHNT cho thấy BHNT có những đặc điểm như sau:
- Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm “vô hình” chỉ là lời hứa, lời cam kết được ghi trong hợp đồng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra DNBH sẽ chi trả, bồi thường tiền bảo hiểm
- BHNT vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính bảo vệ Thật vậy, khi tham gia bảo hiểm nhân thọ cho dù bên mua bảo hiểm chỉ mới đóng một khoản tiền phí rất nhỏ nhưng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì công ty bảo hiểm sẽ phải chi trả số tiền bảo hiểm rất lớn Tức là, bên mua bảo hiểm đã thực hiện một việc tiết kiệm dài hạn để có một khoản tiền lớn trong tương lai Hoặc họ đã để lại một khoản tiền lớn cho người thân và gia đình khi không may rủi ro xảy đến cho dù họ mới chỉ đóng phí rất nhỏ
- Các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp, các điều khoản trong hợp đồng BHNT cũng rất phức tạp Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có nhiều loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp có hợp đồng 5 năm, 10 năm; hợp đồng tham gia chia lợi nhuận và hợp đồng phi lợi nhuận Mỗi hợp đồng khác nhau thì có những quy định khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, tuổi của người tham gia Bản thân mỗi hợp đồng bảo hiểm cũng hết sức phức tạp với nội dung các điều khoản trong hợp đồng, sự phức tạp và đa dạng bởi mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng
- BHNT thường là loại hình bảo hiểm dài hạn nên quá trình tích lũy rủi ro cao, tính phức tạp của vấn đề thiết kế và quản lý hợp đồng bảo hiểm nên để triển khai mỗi
Trang 24sản phẩm BHNT doanh nghiệp phải tốn rất nhiều chi phí như chi phí thiết lập hợp đồng, chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng, chi phí chi trả bồi thường v.v
- BHNT ra đời và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia
Do kinh tế xã hội có phát triển thì nhận thức và đời sống của người dân mới được nâng cao, tiết kiệm của dân cư mới có để mua bảo hiểm Chính vì vậy, điều kiện kinh tế - xã hội sẽ tác động đến sự phát triển của BHNT Ngoài ra, môi trường pháp lý cũng là cơ
sở để BHNT ra đời và phát triển như các chính sách không đánh thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT, thuế thu nhập cá nhân đối với phần phí của người tham gia
bảo hiểm phải nộp, thuế thu nhập cá nhân đối với hoa hồng nhận được của ĐLBHNT
BHNT ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội,
cũng như góp phần không nhỏ đầu tư phát triển kinh tế Vì vậy, vai trò của bảo hiểm nhân thọ rất được coi trọng:
Đối với các cá nhân và gia đình
BHNT có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp người dân khắc phục được hậu quả rủi ro khi người được bảo hiểm không may bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong nhằm ổn định cuộc sống gia đình và người thân Đồng thời, BHNT còn thoả mãn được các nhu cầu như: tiết kiệm, tích luỹ, đầu tư khi người tham gia bảo hiểm còn sống để hỗ trợ những người sống phụ thuộc có điều kiện để học tập, mua sắm, khởi nghiệp kinh doanh… Ngoài ra, BHNT trợ cấp định kỳ còn giúp những người về hưu hay những người cao tuổi giảm nhẹ gánh nặng phụ thuộc vào con cái, người thân trong gia đình và phúc lợi xã hội
Đối với nền kinh tế quốc dân
BHNT là một trong những kênh huy động vốn hữu hiệu nhất để đầu tư góp phần vào việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Với tính chất kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, các DNBHNT thực hiện chức năng bảo hiểm cho những rủi ro, tiết kiệm và đầu
tư nên quỹ bảo hiểm huy động được lượng tiền nhàn rỗi rất lớn từ các tầng lớp dân cư trong xã hội và các tổ chức Do thời hạn của các hợp đồng BHNT dài, nên nguồn quỹ bảo hiểm ngày càng được tồn tích lại càng lớn, đây chính là nguồn vốn đầu tư lớn cho phát triển nền kinh tế
Bên cạnh vai trò cung cấp vốn để đầu tư, BHNT còn góp phần thực hành tiết kiệm, nâng cao ý thức có trách nhiệm với cộng đồng, chống lạm phát và tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động Ngoài những người làm công ăn lương trong các DNBHNT, đội ngũ đại lý, môi giới BHNT cũng ngày càng đông và thực sự đã góp phần giảm tỷ lệ lao động bị thất nghiệp ở rất nhiều nước trên thế giới
Trang 25Đối với các tổ chức kinh tế - xã hội
BHNT là công cụ giúp các tổ chức khuyến khích, tạo động lực giúp người lao động cống hiến hết mình, phát triển mối quan hệ gắn bó giữa tổ chức và người lao động, đặc biệt đối với những lao động lành nghề và chủ chốt của tổ chức Bởi khi các
tổ chức tham gia BHNT cho các cá nhân hoặc tham gia các hợp đồng BHNT nhóm cho, tổ chức tạo ra sự đảm bảo cho người lao động và những người sống phụ thuộc một cuộc sống ổn định khi gặp phải rủi ro, cung cấp các khoản tiền hưu trí khi hết tuổi lao động hoặc các khoản phúc lợi bổ sung ngoài bảo hiểm xã hội
2.1.2 Đại lý bảo hiểm nhân thọ
2.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm
Đại lý bảo hiểm là trung gian bảo hiểm, là “cầu nối” giữa khách hàng và doanh nghiệp bảo hiểm, mang lại giá trị cao nhất cho hợp đồng bảo hiểm Đại lý bảo hiểm được nhiều nghiên cứu quan tâm nghiên cứu với một số khái niệm tiêu biểu như sau:
Theo Bureau (2008), “Đại lý bảo hiểm là người được cấp phép để bán bảo hiểm
cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm”
"ĐLBH là người làm việc cho DNBH, thay mặt doanh nghiệp bán các sản phẩm bảo hiểm cho người mua" (Nguyễn Văn Định, 2009)
“ĐLBHNT là cá nhân hoặc tổ chức được doanh nghiệp BHNT ủy quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến khai thác, thu phí bảo hiểm và các hoạt động khác trên cơ sở hợp đồng đại lý" (Đ oàn Minh Phụng và Hoàng Mạnh Cừ, 2011)
Theo điều 84 Luật kinh doanh bảo hiểm (năm 2000): “Đại lý bảo hiểm là tổ
chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
Theo Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm (năm 2000), “Hoạt động đại lý bảo hiểm
là hoạt động giới thiệu, chào bán bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng BHNT và các công việc khác nhằm thực hiện hợp đồng bảo hiểm BHNT theo uỷ quyền của
DNBH ”
Như vậy, nhìn chung ĐLBHNT có thể hiểu là cá nhân hoặc tổ chức được DNBH
ủy quyền thực hiện các hoạt động liên quan đến giới thiệu, chào bán các sản phẩm bảo hiểm và các hoạt động khác trên cơ sở hợp đồng đại lý Vì vậy, mối quan hệ giữa
Trang 26ĐLBH với DNBHNT khăng khít, chặt chẽ và có tầm quan trọng như mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp; đại lý là đại diện và được ủy quyền bởi DNBH và DNBH phải chịu trách nhiệm về những sai sót nếu đại lý gây ra
2.1.2.2 Vai trò của đại lý bảo hiểm nhân thọ
Các công trình nghiên cứu đều khẳng định đại lý là một kênh phân phối quan trọng của DNBH, là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tham gia bảo hiểm, ĐLBHNT không chỉ đem lại lợi ích cho DNBH mà còn mang giá trị đến với xã hội và nền kinh tế Vai trò của ĐLBHNT được thể hiện như sau:
- Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý là đại diện cho doanh nghiệp đưa sản phẩm bảo hiểm đến với khách hàng Vì vậy, đại lý bảo hiểm tạo nên hình ảnh, niềm tin
về doanh nghiệp bảo hiểm đối với khách hàng Khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là mua “lời hứa” của doanh nghiệp BHNT, các điều khoản trong hợp đồng tương đối phức tạp, khó hiểu và mang tính pháp lý chặt chẽ nên sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là “sản phẩm được bán và khó bán nhất” chứ không phải sản phẩm được mua, rất khó để người bán gợi mở nhu cầu bảo hiểm, xác định đúng đắn sản phẩm phù hợp và thuyết phục khách hàng về lợi ích sản phẩm và chốt hợp đồng bảo hiểm Quá trình bán sản phẩm bảo hiểm nhân thọ không đơn thuần là quá trình bán hàng như bán các sản phẩm thông thường mà cũng chính là quá trình tạo nên giá trị cao nhất cho hợp đồng bảo hiểm, tạo niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp, thuyết phục khách hàng về lợi ích sản phẩm dẫn đến quyết định mua hàng Đối với SPBHNT không thể phủ nhận được vai trò chủ đạo của đại lý góp phần tạo nên giá trị sản phẩm, giá trị doanh nghiệp đối với khách hàng ĐLBHNT cũng là kênh phân phối chủ đạo giúp tăng doanh thu, nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Đại lý cũng là người trực tiếp tư vấn
và tiếp nhận các thông tin phản hồi của khách hàng về nhu cầu, chất lượng dịch vụ… giúp doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện chất lượng dịch vụ hơn
- Đối với người tham gia bảo hiểm, đại lý tư vấn và lựa chọn cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ phù hợp nhất với nhu cầu khách hàng, đem lại lợi ích lớn nhất cho khách hàng và gia đình họ Đại lý bảo hiểm nhân thọ mang đến sự bảo vệ, sự an tâm và thịnh vượng cho mỗi cá nhân và gia đình Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp của ĐLBHNT cần được đặt lên hàng đầu
- Đối với xã hội và nền kinh tế, đại lý bảo hiểm nhân thọ góp phần đảm bảo sự an
Trang 27toàn và phát triển cho toàn xã hội do mỗi cá nhân và gia đình được an tâm, thịnh vượng góp phần làm cho xã hội tốt đẹp và thịnh vượng hơn Đại lý bảo hiểm nhân thọ giúp người dân nhận thức sâu sắc hơn về ý thức tự bảo vệ mình và gia đình, san sẻ rủi
ro, xây dựng xã hội giàu tính nhân văn, ý thức tiết kiệm có kỷ luật nhằm phát triển kinh tế gia đình cũng như góp phần đầu tư phát triển kinh tế đất nước
2.1.2.3 Phân loại đại lý bảo hiểm nhân thọ
Căn cứ theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu nhất định, ĐLBHNT được phân loại như sau:
- Căn cứ theo quyền hạn của đại lý: DNBH căn cứ theo phạm vi quyền hạn doanh nghiệp ủy quyền cho đại lý, có thể chia đại lý thành 3 loại nhằm giúp doanh
nghiệp quản lý tốt mạng lưới đại lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh:
+ Đại lý toàn quyền: là đại lý được trao quyền hạn rộng nhất gồm nhiều công việc và phải đáp ứng yêu cầu rất cao Vì vậy, đại lý toàn quyền cần có sự am hiểu chuyên sâu về nghiệp vụ và phải có khả năng quản lý
+ Tổng đại lý: tổng đại lý đảm đương việc bán sản phẩm BHNT một cách độc lập
+ Đại lý uỷ quyền: là đại lý hoạt động dưới sự uỷ quyền trong phạm vi nhất định theo hợp đồng đại lý ký kết với DNBH
- Căn cứ theo thời gian hoạt động của đại lý: Phân loại ĐLBHNT theo thời gian hoạt động giúp quản lý tốt hơn hoạt động bán hàng của đại lý, trên cơ sở đó doanh nghiệp có những chính sách hợp lý nhằm khuyến khích đại lý phân phối sản phẩm hiệu quả hơn Theo cách phân loại này, các doanh nghiệp BHNT thường chia đại lý thành đại lý chuyên nghiệp và đại lý bán chuyên nghiệp hay chính là đại lý toàn thời gian và đại lý bán thời gian
+ Đại lý toàn thời gian là đại lý giành toàn bộ thời gian làm việc của mình gắn bó với công việc ĐLBH và nguồn thu nhập chính của họ từ hoa hồng và lương do DNBH trả
+ Đại lý bán thời gian là đại lý chỉ giành một phần thời gian làm việc của mình gắn bó với công việc ĐLBH, thu nhập chính của họ có thể không đến từ hoa hồng hay lương do DNBH trả
- Căn cứ vào nhiệm vụ chủ yếu của đại lý: Phân loại đại lý theo cách này giúp
Trang 28doanh nghiệp thuận tiện hơn trong xác định kết quả kinh doanh của đại lý, làm cơ sở
để thiết lập và điều chỉnh chính sách của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác Dựa trên nhiệm vụ chủ yếu, đại lý được chia làm 2 loại:
+ Đại lý chuyên khai thác là đại lý chỉ chuyên thực hiện nhiệm vụ khai thác hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
+ Đại lý chuyên thu là đại lý chỉ có nhiệm vụ thu phí bảo hiểm
2.1.2.4 Nhiệm vụ của đại lý:
Theo Nguyễn Văn Định (2009), ĐLBH có những nhiệm vụ sau:
- Bán các sản phẩm bảo hiểm
Các ĐLBHNT đều phải gợi mở nhu cầu, cung cấp cho khách hàng các thông tin đầy đủ, chính xác về doanh nghiệp và sản phẩm bảo hiểm, thuyết phục khách hàng về lợi ích của sản phẩm bảo hiểm
- Ký kết hợp đồng
Để ký kết hợp đồng bảo hiểm, trước hết cần xác định đánh giá và phân tích rủi ro đối với yêu cầu tham gia bảo hiểm của khách hàng, từ đó, ĐLBH thuyết phục được khách hàng về phí và phạm vi bảo hiểm Khi khách hàng đồng ý mua bảo hiểm đại lý thực hiện các nghiệp vụ để ký kết hợp đồng bảo hiểm
- Thu phí bảo hiểm, cấp biên lai hoặc các giấy tờ khác theo sự uỷ quyền và hướng dẫn của DNBH
Các đại lý căn cứ theo sự ủy quyền của DNBH có thể lập hoá đơn và thu phí bảo hiểm của khách hàng
- Chăm sóc khách hàng:
Sau khi kí hợp đồng bảo hiểm, đại lý phải thường xuyên giữ quan hệ với khách hàng, tư vấn kịp thời cho khách hàng muốn thay đổi hoặc bổ sung vào hợp đồng bảo hiểm nhằm đảm bảo quyền lợi và thỏa mãn nhu cầu của họ, gửi ý kiến phản hồi giữa doanh nghiệp và khách hàng
Ngoài ra, căn cứ vào cam kết trong hợp đồng đại lý thì đại lý còn có thể cần thực hiện các nhiệm vụ như cùng thực hiện các nhiệm vụ trợ giúp khách hàng và DNBH trong hoạt động khiếu nại bồi thường
Nhằm tăng nguồn khách hàng tiềm năng, giữ được khách hàng cũ, giới thiệu
Trang 29được sản phẩm mới, thuyết phục được khách hàng tái tục hợp đồng, đại lý cần thường xuyên liên hệ và chăm sóc khách hàng
2.1.2.5 Trách nhiệm của đại lý
Nhằm đảm bảo tối đa lợi ích của khách hàng và thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng ĐLBHNT, ĐLBHNT phải đảm bảo các tránh nhiệm nhất định Theo, Nguyễn Văn Định (2009), đại lý bảo hiểm có những trách nhiệm sau:
- Thực hiện đầy đủ và đúng đắn các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng đại lý với DNBH; phải trung thực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà DNBH giao cho Không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho DNBH khác nếu không được sự chấp thuận bằng văn bản của doanh nghiệp mình đang làm đại lý (nếu trong hợp đồng đại lý có khoản này);
-Cung cấp thông tin trung thực cho khách hàng, không hứa hẹn ngoài phạm vi cho phép, nếu sai phải chịu trách nhiệm;
- Nộp phí về cho DNBH trong giới hạn thời gian cho phép; đồng thời chịu sự kiểm tra và giám sát của DNBH, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và bảo mật thông tin theo quy định;
- Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng đại lý trước thời hạn, đại lý phải khai báo chi tiết về tình trạng các hợp đồng bảo hiểm mà mình quản lý (nếu có)”
Bên cạnh đó, Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam quy định về trách nhiệm của ĐLBH tại Điều 88 như sau: “Trong trường hợp ĐLBH vi phạm hoạt động ĐLBH vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động bảo hiểm do ĐLBH thu xếp giao kết; ĐLBH có trách nhiệm bồi hoàn cho DNBH khoản tiền mà DNBH đã bồi thường cho người được bảo hiểm”
Theo đó, các DNBH thường nghiêm cấm các đại lý có các hành vi sau:
- Thông tin, quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động của DNBH, điều kiện và điều khoản bảo hiểm làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
Ngăn cản bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, xúi giục bên mua bảo hiểm kê khai không trung thực hoặc không kê khai các chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm;
Tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
Trang 30Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe doạ nhân viên hoặc khách hàng của DNBH, ĐLBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác; Khuyến mại khách hàng dưới hình thức bất hợp pháp như: hứa hẹn giảm phí; hoàn phí hoặc các quyền lợi khác mà DNBH không cung cấp cho khách hàng
- Xúi giục bên mua bảo hiểm huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hiện đã có để mua hợp đồng bảo hiểm mới;”
2.1.2.6 Đặc điểm và các tố chất cần có để đại lý thành công và đứng vững trong nghề
Trong chương 4 Giáo trình “Quản trị kinh doanh bảo hiểm” (Nguyễn Văn Định,
, 2009) viết về đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm và chương 7 sách “Quản lý đại lý bảo hiểm” (Micheal Curley, 2007) viết về phát triển đại lý bảo hiểm đã đưa ra những nhận định về đặc điểm và các tố chất cần có của một đại lý thành công
Đối với một ngành kinh doanh có đặc thù riêng như BHNT, tố chất cần có để đại
lý BHNT thành công và đứng vững trong nghề được khẳng định đó là bán hàng hiệu quả; tính nhẫn nại; quản lý thời gian hiệu quả; thái độ biểu hiện tích cực Bán hàng hiệu quả thể hiện ở thực hiện tốt việc tìm kiếm khách hàng tiềm năng, tiếp cận khách hàng, nhận biết nhu cầu và mong muốn của khách hàng, xử lý các tình huống để xác định sản phẩm phù hợp nhất, thuyết phục khách hàng, chốt hợp đồng, cung cấp tốt dịch vụ sau bán hàng và duy trì mối quan hệ với khách hàng Tính nhẫn nại thể hiện ở khả năng lấy lại tinh thần nhanh sau những tình huống hay kết quả bán hàng không đạt yêu cầu, duy trì hoạt động với cường độ cao mặc dù kết quả bán hàng mỹ mãn hay không đạt yêu cầu Quản lý thời gian hiệu quả thể hiện ở năng lực tổ chức các hoạt động – lập kế hoạch và theo sát khách hàng, đúng giờ trong các cuộc hẹn gặp, sử dụng điện thoại để thực hiện và kiểm tra các cuộc hẹn, lập sổ ghi thích hợp một cách chính xác, hoàn tất nhanh chóng, kiểm tra hồ sơ để tăng tính hiệu quả cá nhân (phân tích kết quả, rút ra kết luận và điều chỉnh hành vi thích hợp và cung cấp dịch vụ phục vụ khách hàng một cách chuyên nghiệp Thái độ biểu hiện tích cực được thể hiện qua tinh thần trách nhiệm đối với khách hàng và người thụ hưởng của họ thông qua việc bán hàng;
có khả năng làm việc độc lập nhưng cũng có thể liên quan đến các đồng nghiệp và giám sát họ một cách thích hợp; thể hiện sự nhiệt tình thật sự đối với các sản phẩm mà bản thân cung cấp; tuyệt đối trung thực trong các công việc kinh doanh, đặt lợi ích của khách hàng lên trên lợi ích của cá nhân Thái độ tích cực còn thể hiện sự hăng hái nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên nghiệp bằng cách sử dụng có hiệu quả tất cả các cơ hội phát triển phù hợp được cung cấp bởi công ty và văn phòng đại lý và tích cực tìm
Trang 31kiếm sự phát triển tự thân khác Hơn nữa, để đảm bảo quyền lợi của khách hàng, nguyên tắc trung thực tuyệt đối cần được tuân thủ tránh hiện tượng đại lý vì lợi ích riêng của mình muốn tăng doanh thu, hoa hồng mà làm tổn hại đến lợi ích của khách hàng Do đó, đạo đức nghề nghiệp luôn là yếu tố vô cùng quan trọng đối với mỗi đại lý BHNT
Sở dĩ ĐLBHNT muốn thành công và đứng vững trong nghề cần hội đủ các tố chất trên do SPBH là sản phẩm “vô hình”, ngoại trừ yếu tố tiết kiệm thuần túy thì sản phẩm bảo hiểm là “sản phẩm không mong đợi” Các ĐLBHNT bán “lời hứa” của DNBH trong hợp đồng BHNT, đó là trong tương lai chỉ khi sự kiện bảo hiểm xảy ra sẽ được chi trả tiền bảo hiểm Lợi ích của sản phẩm bảo hiểm mà khách hàng được hưởng có độ trễ về mặt thời gian Hơn nữa, khách hàng không muốn gặp rủi ro để được bồi thường Trong khi các đại lý khác bán những sản phẩm hữu hình người mua
có khả năng nhận biết được nhu cầu cũng như khách hàng được hưởng lợi ích ngay sau khi mua Còn đối với sản phẩm BHNT, DNBH cần tư vấn gợi mở nhu cầu khách hàng, lựa chọn sản phẩm bảo hiểm phù hợp và thuyết phục khách hàng mua sản phẩm
là điều rất khó khăn Mặt khác, hợp đồng bảo hiểm có nhiều điều khoản tương đối phức tạp, có tính pháp lý cao gây khó khăn cho khách hàng có thể hiểu thấu đáo các điều khoản mang tính kỹ thuật và phức tạp nên rất cần có sự tư vấn trực tiếp một cách chuẩn xác và thấu đáo Vì vậy, sản phẩm BHNT là sản phẩm “khó bán nhất, sản phẩm được bán chứ không phải được mua” cần có sự tư vấn trực tiếp nên chỉ những đại lý nhiệt huyết, nhẫn nại, có khả năng bán hàng hiệu quả mới có thể phân phối hiệu quả sản phẩm này Để thực hiện tốt các công việc của một đại lý và đứng vững trong nghề, đại lý cần hội đủ các tố chất nhất định, đạt được các điều kiện trên
ĐLBHNT là đại diện cho các công ty bảo hiểm có trách nhiệm giới thiệu, tư vấn, chào bán và thu xếp việc ký kết các hợp đồng BHNT cũng như thực hiện một số nhiệm
vụ khác theo như cam kết trong hợp đồng đại lý Do đặc điểm của sản phẩm BHNT chỉ là “lời hứa” khi sự kiện bảo hiểm xảy ra sẽ chi trả, bồi thường và các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm tương đối phức tạp và khó hiểu nên quá trình bán sản phẩm bảo hiểm không giống như quá trình bán các sản phẩm thông thường mà đây cũng chính là quá trình tạo thêm giá trị cho hợp đồng bảo hiểm Khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm hầu hết là khách hàng cá nhân nên rất cần sự tư vấn, phản hối trực tiếp nên ĐLBH được khẳng định là kênh hữu hiệu và thích hợp đem lại giá trị cao cho khách hàng cũng như DNBHNT
Như vậy, ĐLBH làm gia tăng giá trị cho sản phẩm bảo hiểm cũng như đem lại
Trang 32nguồn lợi về doanh thu, uy tín và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp cũng như TTBH Bên cạnh đó, do đại lý là đại diện cho DNBH nên doanh nghiệp bảo hiểm
là người chịu trách nhiệm đối với các hành động hoặc những thiếu sót của các đại lý
của mình Do đó, mối quan hệ giữa ĐLBHNT và DNBH gắn bó không khác gì mối
quan hệ giữa người lao động chủ lực trong DNBH, ĐLBHNT cũng là kênh chủ lực phân phối sản phẩm cho DNBHNT Với doanh nghiệp, đây cũng là lý do mà luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam với mong muốn giúp các doanh nghiệp nhận biết và kiểm soát được các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT Việt Nam
2.1.3 Ý định rời bỏ doanh nghiệp và một số khái niệm
Đối với các DNBHNT, việc ĐLBHNT gắn bó lâu dài với doanh nghiệp rất có ý nghĩa, giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí tuyển dụng, đào tạo, nâng cao chất lượng dịch vụ, gia tăng doanh thu và lợi nhuận Một số nghiên cứu như (Rusell L
Handton, 2009; Marilyn A Martin, 2016 …) đã khẳng định lý do dẫn tới ý định rời bỏ
doanh nghiệp của ĐLBH cũng chính là các yếu tố tác động đến quyết định rời bỏ doanh nghiệp Hậu quả của việc rời bỏ doanh nghiệp đó là doanh nghiệp giảm sút về doanh thu và lợi nhuận, tăng chi phí, tạo thành vòng quay luẩn quẩn do sự rời bỏ doanh nghiệp gây áp lực công việc lên những người ở lại và áp lực này lại khiến những người ở lại có ý định rời bỏ, thậm chí dẫn đến quyết định rời bỏ nếu doanh nghiệp không có các giải pháp phù hợp và kịp thời Nghiên cứu của (Chiu &
Francesco, 2003) khẳng định ý định rời bỏ doanh nghiệp là bước cuối cùng được cân
nhắc trước khi một cá nhân quyết định rời bỏ doanh nghiệp, ý định rời bỏ doanh nghiệp tỷ lệ thuận với quyết định rời bỏ doanh nghiệp Do đó, ý định rời bỏ doanh nghiệp được chú trọng trong nhiều nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp giúp giảm tỷ
lệ rời bỏ doanh nghiệp
2.1.3.1 Ý định rời bỏ doanh nghiệp
Khái niệm “Ý định rời bỏ doanh nghiệp” được nhiều nghiên cứu quan tâm làm rõ với nhiều quan điểm đồng nhất Sau đây là một số khái niệm tiêu biểu:
Theo Bluedorn, A (1982), “Ý định rời bỏ doanh nghiệp được hiểu là kế hoạch của
người lao động dự định rời bỏ doanh nghiệp hiện thời”
“Ý định rời bỏ doanh nghiệp là ý muốn rời khỏi một tổ chức do các nguyên nhân lợi ích kinh tế, nguyên nhân từ công việc hay những lý do cá nhân” (James Baird, 2006)
Trang 33Theo (anice Blachut, (2012), “Ý định rời bỏ doanh nghiệp là mức độ mong
muốn rời khỏi tổ chức của một người”
Như vậy, các khái niệm đều khẳng định ý định rời bỏ doanh nghiệp là mong
muốn, dự định chủ quan xuất phát từ phía cá nhân mặc dù chưa thực sự rời bỏ doanh
nghiệp nhưng đã có mong muốn, dự định, kế hoạch rời bỏ doanh nghiệp Tuy nhiên, khái niệm được sử dụng trong Bluedorn, A (1982) rõ ràng, dễ xác định và đánh giá mức
độ ý định rời bỏ doanh nghiệp nên khái niệm này được sử dụng trong luận án
2.1.3.2 Một số khái niệm liên quan
(Chiu & Francesco, 2003) khẳng định ý định rời bỏ doanh nghiệp là bước cuối cùng được cân nhắc trước khi một cá nhân quyết định rời bỏ doanh nghiệp Vì vậy, nghiên cứu khái niệm ý định rời bỏ doanh nghiệp, quyết định rời bỏ doanh nghiệp và một số khái niệm có liên quan rất cần thiết làm cơ sở cho nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp:
Quyết định rời bỏ doanh nghiệp
Theo Price & Mueller (1986), "Quyết định rời bỏ doanh nghiệp là quyết định do ý
chí chủ quan cá nhân của người lao động rời bỏ doanh nghiệp đã tuyển dụng" Khái niệm này cho thấy quyết định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT chính là quyết định của đại lý rời bỏ DNBH đang làm việc
Việc quyết định rời bỏ doanh nghiệp có thể xảy ra do nhiều lý do khác nhau:
- Do người lao động thay đổi địa điểm nơi cư trú nên có thể là lý do sẽ phải thay đổi địa điểm làm việc
- Do người lao động nhận thấy công việc đang làm không phù hợp mà họ muốn thay đổi công việc ở một nơi làm việc khác
Sa thải
Sa thải là thuật ngữ chỉ dùng cho mối quan hệ lao động trong nền kinh tế thị
trường Theo đó, sa thải được hiểu là hình thức kỉ luật lao động do ý chí chủ quan của
người sử dụng lao động, dẫn đến quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động chấm dứt
Vậy xét về mặt ý chí, sa thải là ý chí đơn phương của người sử dụng lao động
Trang 34khì người lao động vi phạm kỷ luật lao động Việc sa thải người lao động thể hiện quyền của người sử dụng lao động trong việc quản lý lao động tại đơn vị sử dụng lao động Tuy nhiên, mối quan hệ giữa đại lý bảo hiểm nhân thọ và DNBH được ghi nhận trong hợp đồng đại lý không phải hợp đồng lao động Vì vậy, việc chấm dứt hợp đồng đại lý khi đại lý không hoàn thành chỉ tiêu kinh doanh hoặc vi phạm quy định của DNBH thì bị chấm dứt hợp đồng đại lý
Bỏ nghề
Theo Nguyễn Văn Đại (2012), “ Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công
lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối,
nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội” Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Như vậy, bỏ nghề là khái niệm thiên về ý chí chủ quan của người có một nghề nhất định, chấm dứt không làm nghề đó nữa Do tác động của khách quan hoặc chủ quan mà một người có thể không làm nghề cũ mà phải tìm kiếm nghề mới cho phù hợp với sự phát triển của cuộc sống, xã hội hoặc do nhu cầu cá nhân
Thôi việc
Dưới góc độ của pháp luật thì thôi việc là sự kiện làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động, theo đó, quyền và nghĩa vụ của các bên chấm dứt Thôi việc là sự kiện chấm dứt quan hệ lao động, do ý chí chủ quan của người lao động (quyết định rời bỏ doanh nghiệp) hoặc do ý chí chủ quan của người sử dụng lao động (buộc người lao động thôi việc)
Vậy đối với ĐLBHNT, thôi việc của đại lý là sự chấm dứt quan hệ pháp lý giữa ĐLBH và DNBH và ĐLBH có thể tiếp tục sang làm việc cho DNBH khác nếu không
vi phạm quy định không cho phép hành nghề do pháp luật quy định
Thôi việc của ĐLBHNT có thể do:
- Đại lý tự làm đơn xin thôi việc: Trong trường hợp này, thôi việc là do ý chí chủ quan của đại lý Tuy nhiên, việc xin thôi việc phải được sự đồng ý của DNBH sử dụng đại lý Như vậy, ý định rời bỏ doanh nghiệp dẫn đến quyết định thôi việc và thực sự thôi việc của ĐLBHNT
- Doanh nghiệp cho đại lý thôi việc với hình thức buộc thôi việc chủ yếu do đại
Trang 35lý không đạt chỉ tiêu kinh doanh, trường hợp đại lý vi phạm quy định của doanh nghiệp hoặc pháp luật, không phù hợp trình độ hoặc doanh nghiệp thu hẹp phạm vi kinh doanh Trường hợp này, thôi việc là do ý chí của doanh nghiệp có thẩm quyền buộc đại lý phải thôi việc, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của đại lý dẫn đến mối quan hệ pháp lý giữa người đại lý và DNBH sử dụng đại lý chấm dứt
Qua kết quả phân tích các khái niệm trên cho thấy, ý định rời bỏ doanh nghiệp là
ý chí chủ quan của đại lý, là kế hoạch dự định rời bỏ một doanh nghiệp để đi tìm một công việc mới trong một tương lai gần Quyết định rời bỏ doanh nghiệp là ý chí của người đại lý quyết định rời bỏ doanh nghiệp đang làm việc Thôi việc là sự chấm dứt quan hệ giữa đại lý và DNBH Thôi việc bao gồm quyết định rời bỏ doanh nghiệp và
sa thải Thôi việc khác với bỏ nghề là ĐLBH sau khi thôi việc ở một DNBH có thể tiếp tục sang làm việc cho doanh nghiệp khác chứ không bỏ hẳn nghề đại lý
Một số các nghiên cứu điển hình đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý định rời
bỏ doanh nghiệp và quyết định rời bỏ doanh nghiệp Nghiên cứu của Rusell L Handton (2009) đã khẳng định quyết định rời bỏ doanh nghiệp được khẳng định là mối quan tâm đáng kể của các công ty bảo hiểm Sự rời bỏ doanh nghiệp gây ra tốn kém lớn cho các doanh nghiệp Hiệp hội Quản lý Hoa Kỳ ước tính rằng chi phí thay thế một nhân viên là 30% lương của họ (Alleyna, 2002) Roberts, Coulson, và Chonko (1999) kết luận rằng chi phí có thể lên tới 40.000 đô la cho việc rời bỏ của một đại lý
có năng suất Rusell L Handton (2009) khẳng định sự rời bỏ doanh nghiệp ảnh hưởng không chỉ là lợi nhuận; đó còn là tạo một áp lực công việc ảnh hưởng đến nhân viên còn lại Để một tổ chức duy trì hoạt động, khối lượng công việc của những người rời
bỏ phải chuyển sang số nhân viên còn lại, tình trạng quá tải lao động là một sự căng thẳng trong công việc, và là nguyên nhân dẫn đến ý định rời bỏ Chu kỳ luẩn quẩn này
là ý định rời bỏ lại là yếu tố tác động dẫn đến vấn đề thực sự rời bỏ của đại lý trong ngành bảo hiểm
Hơn thế nữa, Rusell L Handton (2009) khẳng định ý định rời bỏ doanh nghiệp là nguyên nhân chính dẫn đến quyết định thực sự rời bỏ doanh nghiệp, vì vậy, đây cũng
là mục tiêu chính của nhiều nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp kịp thời và phù hợp để giảm sự rời bỏ doanh nghiệp
Như vậy, nghề ĐLBHNT là nghề đòi hỏi sự tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng và sự
Trang 36am hiểu kiến thức nên sự rời bỏ doanh nghiệp dẫn tới các trở ngại tăng chi phí tuyển dụng, chi phí đào tạo, làm giảm chất lượng tư vấn, gây áp lực lên đội ngũ ở lại… Điều
đó đặt ra cho các doanh nghiệp bảo hiểm phải làm sao để giảm sự rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBH Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBHNT sẽ giúp các DNBHNT Việt Nam tìm ra các giải pháp kịp thời và phù hợp giúp giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp, từ đó, giảm được quyết định rời bỏ của ĐLBHNT, giữ chân được đại lý, tiết kiệm được chi phí, ổn định được tình hình kinh doanh, tăng lợi nhuận Đối với cả TTBHNT, giảm được ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý là góp phần làm giảm tình trạng bỏ nghề của đại lý
2.2 Các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm nhân thọ
Các nhà nghiên cứu cũng khẳng định rằng để kiểm soát được ý định rời bỏ doanh nghiệp nhằm giảm sự rời bỏ doanh nghiệp và duy trì được đội ngũ đại lý, điều quan trọng là các doanh nghiệp phải hiểu yếu tố nào là yếu tố quan trọng trong mối quan hệ của đại lý với doanh nghiệp của họ Rusell L Handton (2009) khẳng định qua nghiên cứu tổng quan 3 yếu tố gồm "cam kết với doanh nghiệp", "hài lòng với công việc",
"công bằng trong doanh nghiệp" là 3 yếu tố được nhiều nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và được khẳng định tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp Rusell L Handton (2009) cũng kiểm định và khẳng định cam kết với doanh nghiệp, công bằng trong doanh nghiệp, hài lòng với công việc là các yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm tại Mỹ
Bên cạnh đó, yếu tố “giá trị đạo đức doanh nghiệp” cũng được nhiều nghiên
cứu khẳng định có tác động đến sự trưởng thành, thành công, đứng vững trong nghề và tác động đến ý định rời bỏ nhưng chưa kiểm định mối quan hệ giữa “giá trị đạo đức doanh nghiệp” và “ý định rời bỏ doanh nghiệp” Musa Obalola et al (2012) kiểm định khẳng định giá trị đạo đức doanh nghiệp tác động thuận chiều với cam kết với doanh nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp bảo hiểm tại Nigeria Tuy nhiên, tác động thuận chiều của cam kết với doanh nghiệp và ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBH được kiểm định qua nhiều nghiên cứu
Ngoài ra, yếu tố “định hướng nghề nghiệp” và “đào tạo” cũng được một số
nghiên cứu khẳng định có tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo
Trang 37hiểm nhưng chưa được kiểm định mối quan hệ tác động Định hướng nghề nghiệp và đào tạo được Sm ruti rahul patre và vinod gawande (2012) đã kiểm định mối quan hệ nhưng chỉ dưới khía cạnh tác động của hài lòng với mục tiêu và định hướng, hài lòng với đào tạo và chỉ dẫn tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của người lao động tại các doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân với đại diện nghiên cứu tại thành phố Agpur của Ấn Độ Một số các nghiên cứu khác nghiên cứu định hướng và đào tạo qua đánh giá người được khảo sát có hài lòng với định hướng và đào tạo không, đánh giá chất lượng định hướng và đào tạo thông qua việc người khảo sát có tham gia các khóa định hướng hay huấn luyện cụ thể không mà chưa đề cập sâu đến nội dung và tổ chức định hướng và đào tạo
2.2.1 Mối quan hệ giữa cam kết với tổ chức và ý định rời bỏ doanh nghiệp
Cam kết với tổ chức đã được nghiên cứu rộng rãi bởi nhiều nghiên cứu khác nhau như (Mowday et al, 1979), (O hèReilly & Chatman, 1986), (Allen & Meyer, 1991) Cam kết với tổ chức được bắt nguồn từ các nghiên cứu sớm và được tranh luận theo thời gian Các chủ đề phổ biến như Mowday et al (1979) kết luận rằng cam kết của tổ chức là sức mạnh nhận dạng của một cá nhân với tổ chức của họ O hèReilly
và Chatman (1986) định nghĩa cam kết với tổ chức là một sự gắn bó được cảm nhận bởi cá nhân đối với tổ chức sử dụng lao động của họ Qua thời gian nghiên cứu, cam kết với tổ chức đã được Meyer và Alen phân tách và xác định cấu trúc gồm 3 cấu phần
cơ bản: cảm xúc (affective), tính toán (continuance), chuẩn mực (normative)
(Nguyễn Văn Thắng, 2015), tại trang 135 đã trích dẫn nhận định của Meyer và Alen (1991) định nghĩa cam kết với tổ chức là trạng thái tâm lý (ước muốn, nhu cầu, trách nhiệm) thể hiện mối quan hệ của nhân viên với tổ chức và có tác động tới nguyện vọng ở lại tổ chức Cam kết với tổ chức có 3 cấu phần cơ bản: cảm xúc (affective), tính toán (continuance), chuẩn mực (normative)
- Cam kết dựa trên cảm xúc nói tới tình cảm và sự gắn bó của nhân viên với tổ chức, cảm giác mình là một phần của tổ chức Nhân viên với cam kết tình cảm cao ở lại với tổ chức vì họ thích như vậy
- Cam kết dựa trên tính toán nói tới nhận thức về chi phí và lợi ích gắn liền với việc rời bỏ tổ chức Nhân viên có cam kết dựa trên tính toán cao ở lại với tổ chức vì họ
Trang 38cần phải như vậy
- Cuối cùng, cam kết dựa trên chuẩn mực nói tới cảm giác trách nhiệm phải ở lại
tổ chức Nhân viên có cam kết dưạ trên chuẩn mực cao nhận thức việc ở lại phục vụ tổ chức là đúng nghĩa vụ và chuẩn mực đạo đức mặc dù có thể họ không thích hoặc không thực sự có lợi so với phương án khác
Meyer và Alen (1991) cũng nhấn mạnh rằng chúng ta nên coi cam kết dựa trên tình cảm, tính toán và chuẩn mực như là ba cầu phần - không phải 3 loại cam kết Mỗi nhân viên có thể trải nghiệm cả ba cấu phần này trong sự cam kết của mình Hơn nữa, các cấu phần này cũng có thể coi là biến số với các mức độ khác nhau Mỗi người có thể có các mức độ cam kết khác nhau, ở các cấu phần khác nhau Ví dụ, có người cam kết dựa trên tình cảm cao, song sự cam kết dựa trên tính toán lại không cao và ngược lại Xác định rõ mức độ cam kết ở từng cấu phần của nhân viên sẽ giúp cho nhà quản
lý có phương án tăng cường sự cam kết hiệu quả hơn
Rusell L Handlon (2009) tại trang 11 tổng quan rất nhiều nghiên cứu về ý định rời bỏ doanh nghiệp Qua nghiên cứu tổng quan, Rusell L Handlon nhận thấy ý định rời bỏ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trong đó có cam kết doanh nghiệp là một trong 3 nhóm yếu tố được nghiên cứu nhiều nhất Các nghiên cứu đánh giá tác động của cam kết với doanh nghiệp đối với ý định rời bỏ doanh nghiệp được nhiều nghiên cứu quan tâm Rusell L Handlon đã kiểm định tác động của cam kết với
tổ chức đối với ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trong bối cảnh thị trưởng bảo hiểm Mỹ
Kết quả của nghiên cứu Rusell L Handton (2009) thu thập kết quả điều tra từ
19300 email khẳng định, cam kết với doanh nghiệp có tác động đến ý định ra đi của đại lý bảo hiểm, trong đó, tác động mạnh nhất đến ý định ra đi của đại lý bảo hiểm trong cả ngắn hạn và dài hạn là cam kết cảm xúc, cam kết tính toán Như vậy, đối với
thị trưởng bảo hiểm Mỹ, nghiên cứu của Rusell L Handton (2009) đã khẳng định cam
kết với doanh nghiệp có tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của ĐLBH
2.2.2 Mối quan hệ giữa hài lòng với doanh nghiệp và ý định rời bỏ doanh nghiệp
Sự hài lòng với công việc là một trong những lĩnh vực được nghiên cứu rộng rãi nhất trong hành vi tổ chức Tầm quan trọng của sự hài lòng bắt nguồn từ thời Hy Lạp với nghiên cứu về chủ nghĩa khoái lạc, đây là triết lý mà các cá nhân cố gắng tìm kiếm Nhiều nhà nghiên cứu đã xác định rằng điều quan trọng đối với các tổ chức là
Trang 39làm cho nhân viên hài lòng
Marilyn A Martin (2016) tại trang 5 đã nghiên cứu thuyết Herzberg (2003)
motivator - hygiene theory - thuyết động lực học được phát triển ban đầu vào năm
1959 Herzberg, F (2003) đã xác định có tám yếu tố động lực thúc đẩy nhân viên hài lòng cao với công việc và có thể ở lại với doanh nghiệp (a) ý thức cá nhân, (b) tình trạng, (c) công nhận, (d) xúc tiến, (e) tăng trưởng, (f) cơ hội cho thăng tiến, (g) trách nhiệm, và (h) thách thức công việc Nhận định này cũng được khẳng định trong (Grigaliunas & Herzberg, 1971) rằng các yếu tố động lực : (a) điều kiện làm việc, (b) tiền lương và lợi ích, (c) an toàn công việc, (d) chất lượng giám sát, (e) quan hệ tốt giữa các cá nhân, (f) chính sách và quản lý của công ty và (g) cân bằng cuộc sống và công việc giúp tăng sự hài lòng và giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp Lý thuyết động lực học giải thích các yếu tố động lực làm tăng mức độ hài lòng với công việc giúp giữ người lao động ở lại với doanh nghiệp Lý thuyết động lực học cũng giúp khẳng định sự hài lòng với công việc tác động nghịch tới ý định rời bỏ doanh nghiệp
Marilyn A Martin (2016) trong phần viết tổng quan về các nguyên nhân cho sự rời bỏ và ý định rời bỏ doanh nghiệp đã khẳng định lý do dẫn tới ý định rời bỏ doanh nghiệp cũng chính là các yếu tố tác động đến sự rời bỏ doanh nghiệp Tác giả cũng khẳng định rằng tiền công, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống lành mạnh, và mối quan hệ với quản lý chỉ là một vài yếu tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp Tác giả cũng trích dẫn kết quả nghiên cứu của (Heavey, A L., Holwerda, J A., & Hausknecht, J P, 2013) đã đưa ra các yếu tố dẫn đến sự rời bỏ doanh nghiệp Các yếu
tố tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp được phân loại thành sáu loại bao gồm: (a) quản lý và phát triển nguồn nhân lực, (b) các hoạt động tăng cường kỳ vọng cho nguồn nhân lực (c) chia sẻ thái độ đối với công việc và tổ chức, (d) Chất lượng của nhóm làm việc và quan hệ giám sát, (e) các tín hiệu thay thế việc làm và công việc (f) các tín hiệu nhạy cảm trong công việc hoặc kèm theo công việc
Russel L Handlon (2009) và Anne Lee Balazs (1991) cùng nhiều nghiên cứu điển hình cũng khẳng định sự hài lòng với công việc là yếu tố quan trọng tác động đến ý định rời bỏ doanh nghiệp của đại lý bảo hiểm Russel L Handlon (2009) đã tổng hợp thuyết về
sự hài lòng và các mô hình sự hài lòng với công việc Russel L Handlon đã trích dẫn thuyết Tháp nhu cầu của Maslow bao gồm các phân cấp (a) nhu cầu sinh lý, (b) nhu cầu
về an toàn (c) nhu cầu tình cảm (d) nhu cầu được tôn trọng, (e) nhu cầu về tự thể hiện bản thân
Russel L Handlon cũng trích dẫn thuyết Herzberg’s Motivational khẳng định,
Trang 40các yếu tố động lực làm tăng sự hài lòng Handlon cũng trích dẫn kết quả nghiên cứu Thuyết kỳ vọng của (Vroom, 1964) cho rằng, các cá nhân ai cũng muốn tối đa hóa niềm vui và giảm thiểu nỗi đau Vì vậy, các cá nhân sẽ chọn hành vi dựa trên kết quả
mà họ mong đợi và những giá trị mà người đó lựa chọn Khi các cá nhân hài lòng với công việc thì họ sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp và giảm ý định rời bỏ doanh nghiệp
Sự hài lòng với công việc, được Rusell L Handlon (2009) khẳng định qua nghiên cứu tổng quan đây là một trong những lĩnh vực được nghiên cứu nhiều nhất về hành vi của doanh nghiệp Russel L Handlon (2009) trong phần tổng quan đã trích dẫn một loạt các định nghĩa khác cho sự hài lòng với công việc Sự hài lòng trong công việc cũng được định nghĩa là những cảm xúc mà người lao động dành cho công việc của họ (Brief & Weiss, 2002; George & Jones, 2005; Greenberg & Baron, 2003; Kreitner & Kinicki, 2007; Olen, 1993; Wollack et al 1971 ) Michaelowa, K., & Wittmann, E (2007) chỉ đơn giản định nghĩa sự hài lòng với công việc là thích hoặc không thích một công việc Hoppock (1935) tại trang 47 đã đề xuất một định nghĩa khá rõ ràng đó
là sự hài lòng với công việc là bất kỳ sự kết hợp nào giữa hoàn cảnh tâm lý, sinh lý hoặc môi trường khiến một người nói thật rằng “Tôi hài lòng với công việc của mình” Nghiên cứu của Russel L Handlon đã sử dụng khái niệm về sự hài lòng trích dẫn từ
(Spector, 1997): “Sự hài lòng với công việc đó là cách mọi người cảm nhận về công
việc của họ và các khía cạnh khác nhau của công việc, đó là mức độ mà mọi người thích (hài lòng) hoặc không thích (không hài lòng) công việc của họ".
Nghiên cứu của Rusell L Handton (2009) cũng khẳng định sự hài lòng với công việc có tác động lớn nhất đến ý định ra đi của đại lý bảo hiểm nhân thọ Tác giả nhận thấy, các nghiên cứu trước khẳng định sự hài lòng với công việc thấp làm tăng ý định rời bỏ doanh nghiệp Kết quả của nghiên cứu Rusell L Handton (2009) thu thập kết quả điều tra từ 19300 email, trong đó, tác giả kiểm định tác động của sự hài lòng thể hiện trong 9 lĩnh vực: tiền lương, sự thăng tiến, sự giám sát, phúc lợi, nâng lương định
kỳ, qui trình hoạt động, đồng nghiệp, bản chất công việc và môi trường giao tiếp Kết quả kiểm định khẳng định, sự hài lòng với công việc có tác động lớn nhất đến ý định
ra đi của đại lý bảo hiểm nhân thọ Nghiên cứu cũng khẳng định có 3 yếu tố về sự hài lòng với công việc trong 5 yếu tố tác động mạnh nhất đến ý định ra đi của đại lý bảo hiểm trong ngắn hạn đó là sự hài lòng với sự trả công, phúc lợi, thưởng đột xuất; 3 yếu
tố về sự hài lòng với công việc trong 5 yếu tố mạnh nhất tác động trong dài hạn là bản chất công việc, cơ hội thăng tiến, sự giao tiếp trong tổ chức
Các biến phản ánh mức độ của sự hài lòng trong các nghiên cứu của đó Rusell L