1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý các bên liên quan trong các dự án trường học được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách của thành phố hồ chí minh

105 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu xác định được các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các công trình trường học có nguồn vốn ngân sách Thành phố

Trang 1

TÔ ĐÌNH CHƯƠNG

XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THẤT BẠI CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG CÁC DỰ ÁN TRƯỜNG HỌC ĐƯỢC ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH

CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH DÂN DỤNG VÀ CÔNG NGHIỆP

TP Hồ Chí Minh - năm 2018

Trang 2

TÔ ĐÌNH CHƯƠNG

XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THẤT BẠI CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC BÊN LIÊN QUAN TRONG CÁC DỰ ÁN TRƯỜNG HỌC ĐƯỢC ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH

CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG DÂN DỤNG & CÔNG NGHIỆP MSCN : 60580208

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS LƯU TRƯỜNG VĂN

TP Hồ Chí Minh - Năm 2018

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Lưu Trường Văn

Cán bộ chấm nhận xét 1:

Cán bộ chấm nhận xét 2:

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Mở TP HCM, ngày tháng năm 201

Thành phần Hội đồng đánh giá đề cương luận văn thạc sĩ gồm: 1

2

3

4

5

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRƯỞNG KHOA XÂY DỰNG

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Nhận dạng các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các dự án trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố” là nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 9 năm 2018

TÔ ĐÌNH CHƯƠNG

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy PGS.TS Lưu Trường Văn

đã giúp tôi định hướng về đề tài, luôn tận tình hướng dẫn và truyền đạt nhiều kiến thức quý báu trong thời gian thực hiện Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Đại Học Mở TPHCM và khoa Xây Dựng đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cảm ơn bạn bè và người thân, những người đã giúp đỡ, đóng góp ý kiến và động viên tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này

Dù đã cố gắng để hoàn thành Luận văn thạc sĩ trong thời gian quy định, xong sẽ không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để Luận văn thạc sĩ thêm hoàn thiện

Xin trân trọng cảm ơn

Tp HCM, ngày tháng 9 năm 2018

Tô Đình Chương

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Quản lý các bên liên quan (CBLQ) là một quá trình nhằm tối đa hóa các bên liên quan đầu vào tích cực và giảm thiểu bất kỳ tác động bất lợi hoặc tiêu cực (Bourne và Walker, 2005) Hay quản lý CBLQ là hoạt động điều tiết giữa mục tiêu của dự án với mục tiêu, nhu cầu của CBLQ, theo đó, sẽ tăng khả năng thành công cho dự án (Eskerod & Jepsen, 2013) Theo đó, mục tiêu của nghiên cứu xác định được các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các công trình trường học có nguồn vốn ngân sách Thành phố nhằm đưa ra được các khuyến nghị để cải thiện và nâng cao sự thành công của việc quản lý CBLQ

Dựa vào tổng quan các nghiên cứu đi trước và ý kiến của các chuyên gia hoạt động lâu năm trong lĩnh vực xây dựng, nghiên cứu đã đưa ra được 23 nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các công trình trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố

Từ 23 nhân tố trên, xếp hạng các nhân tố độc lập theo Mean xác định được 05 nhân tố xếp hạng đầu Sau đó kiểm định độ tin cậy của thang đo còn lại 20 nhân tố, tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA đối với 20 nhân tố trên xác định còn 17 biến được nhóm thành 5 thành tố

Tiếp theo phân tích mô hình hồi quy nhằm kiểm định các giả thiết của mô hình và xác định hướng tác động của các thành tố trong mô hình Từ kết quả phân tích EFA và hồi quy, ta có được mô hình điều chỉnh như Từ mô hình điều chỉnh đưa ra được các khuyến nghị để cải thiện và nâng cao sự thành công của việc quản lý CBLQ

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC HÌNH 6

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 7

1.1 Đặt vấn đề 7

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 8

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 9

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 9

1.5 Đóng góp của luận văn 10

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 11

2.1 Các khái niệm 11

2.1.1 Các bên liên quan (CBLQ) của dự án 11

2.1.2 Tình hình nghiên cứu CBLQ trên thế giới 14

2.1.3 Phân loại CBLQ 17

2.1.4 Quản lý CBLQ 19

2.1.5 Mục tiêu quản lý CBLQ 19

a Xác định CBLQ (Identify StakehoXáclders) 19

b Lập kế hoạch quản lý CBLQ (Plan Stakeholder Management) 19

c Quản lý sự can dự của CBLQ (Manage Stakeholder Engagement) 19

d Kiểm soát sự can dự của CBLQ (Control Stakeholder Engagement) 20 2.1.6 Phân tích CBLQ 20

2.1.7 Quan hệ giữa CBLQ 21

2.1.8 Trao đổi thông tin trong dự án 22

2.1.9 Nhu cầu ràng buộc của CBLQ 22

Trang 8

2.2 Tổng quan các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của quản lý

CBLQ trong các dự án 23

2.2.1 Quản lý CBLQ với các trách nhiệm xã hội 26

2.2.2 Chưa duy trì và xúc tiến các mối quan hệ với CBLQ 27

2.2.3 Chưa duy trì trao đổi thông tin với CBLQ 28

2.2.4 Giao tiếp kém với CBLQ 28

2.2.5 CBLQ chưa xây dựng các chiến lược phù hợp cho dự án 29

2.2.6 Chưa đánh giá và phân tích CBLQ 29

2.2.7 Chưa xác định chính xác CBLQ 30

2.2.8 Chưa nhận thức được lợi ích của CBLQ khi tham gia vào dự án 31

2.2.9 Chưa xem xét đến nhu cầu và ràng buộc của CBLQ vào dự án 33

2.2.10 Chưa đánh giá được quyền lực và ảnh hưởng của CBLQ 33

2.2.11 Năng lực kém của CBLQ tham gia vào dự án 35

2.2.12 CBLQ không chia sẻ quyền lực và nguồn lực trong dự án 36

2.2.13 Các xung đột của CBLQ 36

2.2.14 Không quan tâm đến sự hỗ trợ của các cơ quan có thẩm quyền 37

2.2.15 Chưa đánh giá các thuộc tính của CBLQ 38

2.2.16 CBLQ chưa quan tâm đến phương tiện truyền thông 39

2.2.17 CBLQ tập trung quá nhiều vào việc đánh giá rủi ro của dự án 39

2.2.18 Chưa có niềm tin giữa CBLQ trong dự án 40

2.2.19 Đánh đổi rủi ro với hiệu quả mong đợi của CBLQ 40

2.2.20 Tập trung quá nhiều vào cách tiếp cận CBLQ 41

2.2.21 Sự thay đổi CBLQ trong suốt vòng đời dự án 41

2.2.22 Chưa xác định rõ ràng mục tiêu của dự án 42

2.2.23 Chưa có phương pháp và công cụ sẵn có về CBLQ 42

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

3.1 Quy trình nghiên cứu 43

3.2 Quy trình thu thập dữ liệu 43

3.3 Mô hình nghiên cứu sơ bộ 44

Trang 9

3.4 Nội dung bảng câu hỏi 45

3.4.1 Phần mở đầu 45

3.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng 45

3.5 Xác định kích thước mẫu 48

3.6 Các công cụ nghiên cứu 48

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ THẢO LUẬN 50

4.1 Xếp hạng theo Mean 50

4.2 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 54

4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA 57

4.4 Kết quả phân tích hồi quy 66

4.5 Thống kê mô tả 69

4.5.1 Vai trò khi tham gia dự án 69

4.5.2 Thời gian công tác trong quá trình xây dựng 70

4.5.3 Tổng mức đầu tư dự án xây dựng công khi tham gia 70

4.5.4 Chức vụ trong đơn vị công tác hiện tại 71

4.5.5 Đánh giá về tầm quan trọng của việc quản lý CBLQ trong dự án xây dựng 72

4.5.6 Mức độ quan tâm của cơ quan về vấn đề quản lý CBLQ 72

4.6 Đưa ra các khuyến nghị để cải thiện và nâng cao sự thành công của QL CBLQ 73

4.6.1 Bảng câu hỏi và thang đo cho các khuyến nghị 73

4.6.2 Thông tin cá nhân khảo sát 76

4.6.3 Tổng mức đầu tư dự án xây dựng công khi tham gia 77

4.6.4 Trình độ học vấn người tham gia khảo sát 78

4.6.5 Vai trò của Anh/chị trong đơn vị hiện đang công tác 78

4.6.6 Xếp hạng các khuyến nghị theo Mean 79

4.6.7 Xếp hạng Các giải pháp theo Mean Tổng hợp (MeanTH) 80

4.6.8 Phân tích 4 khuyến nghị cao nhất theo Mean tổng hợp 82

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

Trang 10

5.1 Kết luận 85

5.2 Khuyến nghị 86

5.3 Những hạn chế của luận văn 87

5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 87

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 11

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Định nghĩa CBLQ của các nghiên cứu đi trước (Littau, Jujagiri &

Adlbrecht, 2010) 11

Bảng 2.4 Phân loại CBLQ (Collinge, 2012) 17

Bảng 2.5 CBLQ chính của một dự án (Zolin et al., 2012) 18

Bảng 2.6 Các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ 23

Bảng 3.1 Thang đo Likert (Rennis Likert, 1932) 46

Bảng 3.2 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng 46

Bảng 3.3 Các phương pháp và công cụ dùng trong nghiên cứu 48

Bảng 4.1 Xếp hạng tất cả nhân tố độc lập theo Mean 50

Bảng 4.2 Hệ số Cronbach's Alpha 55

Bảng 4.3 Kiểm định độ tin cậy tất cả các nhân tố 55

Bảng 4.4 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến độc lập 58

Bảng 4.5 Bảng tổng phương sai trích của phân tích EFA 58

Bảng 4.6 Bảng giá trị Communalities 60

Bảng 4.7 Bảng ma trận xoay phân tích cuối cùng 61

Bảng 4.8 Tổng kết về mô hình hồi quy 66

Bảng 4.9 ANOVA của mô hình hồi quy 66

Bảng 4.10 Các hệ số của mô hình hồi quy 67

Bảng 4.11 Anh/Chị thường tham gia dự án xây dựng công với vai trò 69

Bảng 4.12 Thời gian công tác của Anh/Chị có tham gia quá trình xây dựng 70

Bảng 4.13 Tổng mức đầu tư dự án xây dựng công mà Anh/Chị đã từng tham gia 70

Bảng 4.14 Chức vụ của Anh/Chị trong đơn vị hiện tại đang công tác 71

Bảng 4.15 Anh/Chị đánh giá thế nào về tầm quan trọng của việc quản lý CBLQ trong các dự án xây dựng 72

Bảng 4.16 Cơ quan Anh/Chị đang công tác có quan tâm đến vấn đề quản lý CBLQ không 72

Bảng 4.17 Các khuyến nghị để cải thiện và nâng cao sự thành công của QL CBLQ 73

Bảng 4.18 Thống kê thời gian công tác người tham gia khảo sát 76

Bảng 4.19 Tổng mức đầu tư dự án mà Anh/chị từng tham gia 77

Bảng 4.20 Trình độ học vấn của Anh/chị 78

Bảng 4.21 Vai trò của Anh/chị trong đơn vị hiện đang công tác 78

Bảng 4.22 Phân tích các chiến lược theo Mean 79

Bảng 4.23 Tổng hợp tích số và xếp hạng giải pháp theo Mean Tổng hợp 80

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Thống kê các nghiên cứu về CBLQ theo các năm (%), (Littau, Jujagiri

& Adlbrecht, 2010) 14

Hình 2.2 Thống kê các nghiên cứu về CBLQ theo nguồn thông tin (Littau, Jujagiri & Adlbrecht, 2010) 15

Hình 2.3 Thống kê số lượng bài viết về CBLQ theo quốc gia (Littau, Jujagiri & Adlbrecht, 2010) 15

Hình 2.4: Thống kê các nghiên cứu về CBLQ theo các lĩnh vực (Littau, Jujagiri & Adlbrecht, 2010) 16

Hình 2.5 Thống kê các định nghĩa về CBLQ (Littau, Jujagiri & Adlbrecht,2010) 16

Hình 2.6 Thống kê số lượng bài báo đóng góp định tính cho lý thuyết CBLQ (Littau, Jujagiri & Adlbrecht, 2010) 17

Hình 2.7 Mô hình thiết lập mối quan hệ giữa dự án và CBLQ (Karlsen et al., 2008) 21

Hình 2.8 Tháp SCR của Carroll 1999 27

Hình 2.9 Chiến lược quản lý CBLQ dự án 29

Hình 2.10 Phân tích CBLQ 30

Hình 2.11 Ma trận Johnson và Scholes (1999) 33

Hình 2.12 Sơ đồ phân loại CBLQ theo mức độ ảnh hưởng (Eden và Ackermann) 35

Hình 2.13 Vòng đời dự án (Eskerod & Jepsen, 2013) 41

Hình 3.1 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi (Đỗ, 2010) 44

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu sơ bộ về “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của việc quản lý CBLQ cho các dự án trường học được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách TP.HCM” 45

Hình 4.1 Đồ thị Scree Plot 65

Hình 4.2 Mô hình điều chỉnh của "Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của việc quản lý CBLQ cho các dự án trường học được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách TP.HCM" 68

Trang 13

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Đặt vấn đề

Ngày nay hầu hết các dự án diễn ra trong bối cảnh CBLQ đóng một vai trò quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ Thường thì dự án nhạy cảm với các hành động và quyết định của CBLQ (Karlsen 2002) Các chuyên gia của họ cần có khả năng phối hợp các mối quan hệ với CBLQ, đặc biệt là với xu hướng ngày càng tăng của các nhóm liên quan để cố gắng ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án xây dựng theo mối quan tâm và nhu cầu cá nhân của họ (Olander & Landin 2005; Atkin & Skitmore 2008)

Do đó, thách thức đối với các nhà quản lý dự án xây dựng là đánh giá nhu cầu

và kỳ vọng của CBLQ, liên quan đến các mục tiêu chính của dự án để xác định nhu cầu và mong đợi sẽ được hoàn thành "Khả năng để hiểu được sức mạnh và ảnh hưởng thường tiềm ẩn của nhiều bên liên quan là một kỹ năng quan trọng đối với các nhà quản lý dự án thành công Nếu không có sự quan tâm đến nhu cầu và mong đợi của một vùng đa dạng CBLQ, một dự án có thể sẽ không được coi là thành công, ngay cả khi nhà dự án quản lý đã có thể chịu đựng trong thời gian ban đầu, ngân sách

và phạm vi” (Bourne và Walker, 2005)

Các nhà quản lý nên cố gắng xác định CBLQ quan trọng và chính đáng của mình và lắng nghe và đáp ứng lợi ích và mối quan tâm của họ (Post et al., 2002) Quá trình quản lý này là cần thiết để xác định cách mà CBLQ có thể có khả năng phản ứng lại quyết định cùa dự án, những ảnh hưởng mà phản ứng của họ sẽ mang lại, và làm thế nào CBLQ có thể tương tác với nhau, với các nhà quản lý và các chuyên gia của dự án ảnh hưởng đến cơ hội thành công của một chiến lược dự án đề xuất (Cleland, 1986)

Trang 14

TP.HCM đang đầu tư một khá nhiều vào việc xây dựng các công trình trường học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục của Thành phố Các dự án xây dựng ngày càng mở rộng cả về quy mô lẫn độ phức tạp, kéo theo đó là sự đa dạng về thành phần CBLQ Tuy nhiên những công trình này không tránh khỏi những khách quan như: dự án không thực hiện được, dự án thi công chậm tiến độ, dự án đạt kết quả không như mong đợi do ảnh hưởng từ nhiều bên có liên quan đến dự án Do đó việc lựa chọn đề tài “Xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các công trình trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố” là cần thiết nhằm tìm ra các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ của dự án, từ đó xác định được các giải pháp khắc phục để giảm thiểu rủi ro và tăng cường sự thành công của dự án, đồng thời đảm bảo ngân sách nhà nước được đầu tư có hiệu quả đem lại lợi ích cho nhà nước và nhân dân

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Các dự án xây dựng ngày càng mở rộng cả về quy mô lẫn độ phức tạp, kéo theo

đó là sự đa dạng về thành phần CBLQ Từ đó, việc phân tích rõ nhu cầu, vạch kế hoạch quản lý và kiểm soát điều kiện ràng buộc là những tiến trình thiết yếu để quản

lý tốt CBLQ (PMI, 2013) Do đó, việc xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các dự án xây dựng trường học do Thành phố đầu tư sẽ giúp nhà quản lý dự án xác định được sự tập trung, sự quan tâm phù hợp vào từng bên liên quan cụ thể, đặc biệt giúp nhà quản lý dự án được tăng cường

sự hỗ trợ và giảm thiểu rủi ro từ CBLQ để tăng cường cơ hội thành công của dự án

Từ suy luận trên, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các dự án trường học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh?

Trang 15

Có mối quan hệ nào giữa các nhân tố ảnh hưởng đến thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các dự án trường học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh?

Làm thế nào để gia tăng sự thành công của công tác quản lý CBLQ trong các dự án trường học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh?

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

Để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:

Nhận dạng các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các dự án trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố

Phân tích mối quan hệ tương hỗ giữa các nhân tố quan trọng đã nhận dạng

Đề xuất các khuyến nghị để cải thiện và nâng cao sự thành công của việc quản lý CBLQ trong các dự án trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Loại dự án khảo sát: Các dự án xây dựng trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố

Địa điểm khảo sát: trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố chính ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các công trình xây dựng trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố

Đối tượng khảo sát: những tổ chức tham gia vào các dự án xây dựng trường học tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 16

1.5 Đóng góp của luận văn

Góp phần củng cố thêm hệ thống kiến thức về quản lý CBLQ trong các dự án xây dựng, đặc biệt là các dự án xây dựng trường học có nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước

Góp phần hoàn thiện thêm danh sách các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các dự án xây dựng trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố

Nghiên cứu cũng đã đánh giá được tầm quan trọng của công tác quản lý CBLQ, từ đó đã đề ra được các giải pháp khắc phục nhằm hạn chế tối đa các rủi ro và tăng cường khả năng thành công cho dự án

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1 Các khái niệm

2.1.1 Các bên liên quan (CBLQ) của dự án

(Littau, Jujagiri & Adlbrecht, 2010) đã tổng quan về lý thuyết CBLQ trong tài liệu quản lý dự án qua 25 năm (1984- 2009), đã phân tích các bài báo từ nhiều lĩnh vực quản lý dự án khác nhau được tổng hợp trong phạm vi các Tạp chí quản

lý dự án hàng đầu qua các giai đoạn

Bảng 2.1 Định nghĩa CBLQ của các nghiên cứu đi trước (Littau, Jujagiri &

Adlbrecht, 2010)

Freemn (1984, p 46) “…một bên liên quan trong một tổ chức là bất kỳ

nhóm hoặc cá thể nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc đạt được các mục tiêu của tổ chức…”

Cleland (1985) “…người có quyền lợi được đảm bảo trong kết quả

của dự án.”

Cleland (1986) “…những cá thể và tổ chức chia sẻ cổ phần hoặc

quyền lợi trong dự án.”

Cleland (1989) “Các bên liên quan là những người hoặc tổ chức

có, hoặc yêu cầu/ đồi để có quyền lợi hay phân chia/ cổ phần trong cam kết của dự án.”

Dinsme (1990) “Người có cổ phần trong kết của của dự án.”

Trang 18

PMI (1996) "Các bên liên quan là các cá thể và / hoặc các tổ

chức có liên quan hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của dự án."

Wright (1997) “Các bên liên qua là bất kỳ cá thể có quyền lợi trong kết

McElroy & Mills

(2000)

"Một bên liên quan đến dự án là một người hoặc một nhóm người có quyền lợi đảm bảo trong sự thành công của một dự án và môi trường mà dự án hoạt động."

PMI (2001) " các cá thể và tổ chức trực tiếp tham gia dự án

và là những người có quyền lợi đảm bảo trong sản phẩm cuối cùng của dự án "

Freeman (2002) " các nhóm hoặc cá thể có thể ảnh hưởng hoặc

bị ảnh hưởng bởi việc hoàn thành nhiệm vụ của một tổ chức "

PMI (2004) “…các cá thể hay tổ chức tham gia tích cực vảo dự

án hoặc quyền lợi của họ có thể bị ảnh hưởng bởi kết quả của việc thực hiện dự án hay hoàn thành dự án.”

Trang 19

Boddy & Paton (2004) “Các bên liên quan là các cá thể, nhóm hay tổ

chức có quyền lợi trong dự án và là người có thể ảnh hưởng đến kết quả của dự án.”

Andersen (2005, p 84) “…một người hoặc một nhóm người bị ảnh hưởng

bởi dự án hay có thể làm ảnh hưởng đến dự án.”

Bourne & Walker

(2006)

“Các bên liên quan là các cá thề hay các tổ chức có một quyền lợi hay một số khía cạnh về quyền hay quyền sở hữu trong dự án, và có thể đóng góp, hoặc bị ảnh hưởng bởi các kết quả của dự án.”

El-Gohary,

Osman, &

El-Diraby (2006)

“…các bên liên quan là các cá thề hay các tổ chức

bị ảnh hưởng hoạc ảnh hưởng đến sự phát triển của

Javed, Maqsood, & Durrani

(2006)

“Các bên liên quan là những người có một số quyền lợi trong dự án.”

Olander (2007, p 278) “Một người hay nhóm người mong được lợi từ sự

thành công của một dự án và môi trường mà dự án hoạt động.”

Walker, Bourne, &

Rowlinson (2008, p 73)

“Các bên liên quan là các cá thề hay các tổ chức có một quyền lợi hay một số khía cạnh về quyền hay quyền sở hữu trong dự án, và có thể đóng góp, hoặc bị tác động bởi công trình hay kết quả của dự

Trang 20

2.1.2 Tình hình nghiên cứu CBLQ trên thế giới

Hình 2.1 Thống kê các nghiên cứu về CBLQ theo các năm (%), (Littau, Jujagiri &

Adlbrecht, 2010)

Edum-Fotwe & Price (2009) " Cá nhân hay nhóm người trực tiếp hoặc gián

tiếp tham gia vào các quy mô được lựa chọn, xa hơn và cuộc sống, môi trường hoặc kinh doanh bị ảnh hưởng bởi ba quy mô không gian và vượt ra ngoài các cấu trúc được thông qua "

Couillard, Garon, & Riznic

(2009)

" Các thực thể hoặc những người đang hoặc sẽ chịu ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án "

Trang 21

Hình 2.2 Thống kê các nghiên cứu về CBLQ theo nguồn thông tin (Littau, Jujagiri

& Adlbrecht, 2010)

Hình 2.3 Thống kê số lượng bài viết về CBLQ theo quốc gia (Littau, Jujagiri &

Adlbrecht, 2010)

Trang 22

Hình 2.4: Thống kê các nghiên cứu về CBLQ theo các lĩnh vực (Littau, Jujagiri &

Adlbrecht, 2010)

Hình 2.5 Thống kê các định nghĩa về CBLQ (Littau, Jujagiri & Adlbrecht,2010)

Trang 23

Hình 2.6 Thống kê số lượng bài báo đóng góp định tính cho lý thuyết CBLQ (Littau ,

Jujagiri & Adlbrecht, 2010)

2.1.3 Phân loại CBLQ

Bảng 2.2 Phân loại CBLQ (Collinge, 2012)

Leung & Olomolaiye (2010) Bên trong dự án (Chủ đầu tư, tư vấn, các nhà thầu)

và Olander & Landin (2008) Bên ngoài dự án (cộng đồng, tư nhân)

Smith & Love (2004)

Trực tiếp (thông qua hợp đồng) Gián tiếp (không thông qua hợp đồng)

Chinyio & Akintoye (2008)

Hỗ trợ dự án Trung lập Không hỗ trợ dự án

Trang 24

Bảng 2.3 CBLQ chính của một dự án (Zolin et al., 2012)

2 Khách hàng Bên mua sản phẩm hoặc kiếm lợi ích từ sản phẩm

của dự án

3 Người vận hành, người Bên sử dụng sản phẩm của dự án

sử dụng cuối cùng

4 Ban quản lý dự án Quản lý cấp cao đại diện cho CĐT

5 Nhà thầu chính Bên được CĐT giao thầu thực hiện các công việc

của dự án

6 Nhà thầu phụ & các đơn Các bên cung cấp hàng hóa/vật liệu/nhân

Cộng đồng có liên quan Các bên có quan ngại về các tác động của dự án

7 đến dự án đến kinh tế - xã hội, môi trường (phương tiện

truyền thông)

Trang 25

2.1.4 Quản lý CBLQ

Là một quá trình nhằm tối đa hóa các bên liên quan đầu vào tích cực và giảm thiểu bất kỳ tác động bất lợi hoặc tiêu cực (Bourne và Walker, 2005) Hay quản lý CBLQ là hoạt động điều tiết giữa mục tiêu của dự án với mục tiêu, nhu cầu của các bên liên quan, theo đó, sẽ tăng khả năng thành công cho dự án (Eskerod & Jepsen, 2013) 2.1.5 Mục tiêu quản lý CBLQ

Theo PMI (2013) Mục đích của việc quản lý CBLQ chính là xác định họ là ai, mong muốn của họ là gì, và đưa họ tham gia một cách hiệu quả vào các quyết định của

dự án trong suốt quá trình thực hiện dự án Như thế, quản lý CBLQ bao gồm 4 quy trình chính như sau:

a Xác định CBLQ (Identify StakehoXáclders)

Là quy trình xác định các cá nhân, nhóm, tổ chức có ảnh hưởng hoặc bọ ảnh hưởng tới các quyết định, các hoạt động và kết quả của dự án Ngoài ra quy trình này còn phân tích và lập tài liệu các thông tin liên quan đến lợi ích, sự can dự, sự phụ thuộc, sự ảnh hưởng đến kết quả dự án Lợi ích của quy trình này là cho phép nhà quản

lý dự án xác định sự tập trung, sự quan tâm phù hợp vào từng bên liên quan cụ thể

b Lập kế hoạch quản lý CBLQ (Plan Stakeholder Management) Quy trình phát triển chiến lược quản lý phù hợp để đảm bảo sự can dự cần thiết của các bên liên quan trong suốt dự án dựa vào sự phân tích nhu cầu, lợi ích và ảnh hưởng tiềm năng của các bên liên quan đó vào sự thành công của dự án Lợi ích của quy trình này là nhà quản lý dự án có những hành động phù hợp và rõ ràng để tương tác với CBLQ nhằm đảm bảo sự hổ trợ của họ cho dự án thành công

c Quản lý sự can dự của CBLQ (Manage Stakeholder Engagement)

Là quy trình giao tiếp và làm việc với các bên liên quan để nắm rõ nhu cầu

và mong đợi của họ, xác định các phát sinh, thúc đẩy sự can dự phù hợp của họ vào các

Trang 26

hoạt động trong suốt vòng đời dự án Lợi ích của quy trình này là giúp nhà quản lý dự

án tăng cường sự hổ trợ và giảm thiểu trở ngại từ các bên liên quan để tăng cường cơ hội thành công của dự án

d Kiểm soát sự can dự của CBLQ (Control Stakeholder

Engagement)

Là quy trình giám sát quan hệ của CBLQ, điều chỉnh chiến lược cũng

như kế hoạch quản lý sự can dự của các bện liên quan Lợi ích của quy trình này là duy trì và tăng cường hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động quản lý sự can dự của CBLQ khi dự án tiến triển và môi trường thay đổi

2.1.6 Phân tích CBLQ

Là việc xác định về các bên tham gia chủ chốt của một dự án, là việc đánh giá các mối quan tâm của họ, và là những cách thức xem xét các rủi ro và mức độ bền vững của dự án từ các mối quan tâm của các bên tham gia Phân tích CBLQ liên hệ chặt chẽ với việc đánh giá thể chế và phân tích xã hội: tìm kiếm các thông tin bằng các cách tiếp cận này, ngoài ra nó cũng giúp cho việc kết hợp các dữ liệu này vào một khuôn mẫu duy nhất Phân tích CBLQ bằng phương pháp tham gia giúp cho việc thiết

kế dự án nhờ khung logic và giúp xác định các hình thức tham gia thích hợp [Barthorpe, S 2003; Donaldson, T and Preston, L 1995; Olander, S 2003; Sternberg,

Trang 27

Hình 2.7 Mô hình thiết lập mối quan hệ giữa dự án và CBLQ (Karlsen

et al., 2008)

Bất cứ khi nào các bộ khung cho dự án được xem xét lại trong đời dự án thì người ta buộc phải sử dụng đến phương pháp phân tích CBLQ Điều đó có nghĩa là các cuộc giám sát thường niên và các đánh giá giữa kỳ đều phải sử dụng phương pháp phân tích các bên liên quan với tư cách là một công cụ không thể thiếu được [Cleland, D.I 1999; Freeman, R.E 1984; Mitchell, R.K Bradley, R.A and Wood, D.J 1997]

2.1.7 Quan hệ giữa CBLQ

Một nhiệm vụ chính của công tác quản lý CBLQ là phải phát triển được mối quan hệ tích cực với CBLQ Để đạt được mối quan hệ tốt cần phải xây dựng niềm tin với CBLQ, và theo đó, đạt được niềm tin của CBLQ vào dự án là “ sự thiết yếu cho một mối quan hệ bền vững, là yếu tố sống còn để duy trì sự hợp tác, là nền tảng

cho sự trao đổi và sự cần thiết cho bất kỳ một mối tương tác nào” (Karlsen et al., 2008)

Trang 28

Theo Bourne và Walker (2006), quan hệ giữa CBLQ có 3 dạng:

Quan hệ lợi dụng: Một bên sử dụng bên kia để đạt được mục đích của mình mà không xem xét đến bất kỳ lợi ích nào của bên kia

Quan hệ nhân nhượng lẫn nhau: Một bên sử dụng bên kia nhằm đạt được múc đích của mình trên cơ sở ý thức được cả hai bên cùng có lợi và “cho để được nhận”

Quan hệ tương hỗ: Đây là loại quan hệ vượt xa hai loại trên, mỗi bên liên quan ứng xử với nhau không như một công cụ để đạt được mục tiêu của mình mà phụ thuộc lẫn nhau, quan tâm đến mục tiêu và nhu cầu của các bên khác nhau Từ đó thỏa mãn nhu cầu của họ Đây là dạng quan hệ cao nhất, xây dựng và duy trì được các mối quan hệ thành công trong dự án

2.1.8 Trao đổi thông tin trong dự án

Trao đổi thông tin (TĐTT) giữa CBLQ trong dự án là trao đổi thông tin liên quan đến dự án, trong đó, quan trọng là việc tạo ra sự thông hiểu giữa người đưa tin và người nhận tin Quá trình quản lý TĐTT bao gồm: tạo ra thông tin, sưu tầm, phân phối, lưu trữ, thu hồi, sắp xếp thông tin theo thời gian một cách hợp lý TĐTT hiệu quả là một trong những nhân tố quan trong nhất đóng góp cho sự thành công của dự án, (CalTrans, 2007) TĐTT giúp nhận định, phân tích và ràng buộc CBLQ trong dự án 2.1.9 Nhu cầu ràng buộc của CBLQ

Theo PMI (2013) các nhu cầu và ràng buộc của CBLQ được phát triển qua tiến trình thu thập yêu cầu của CBLQ Các yêu cầu của CBLQ thu thập được, được phân tích và xác định làm thế nào CBLQ có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi dự án Theo đó, Olander (2006) cũng chứng minh tầm quan trọng của việc phân tích yêu cầu của CBLQ qua nghiên cứu các trường hợp ở Thụy điển

Trang 29

Bên cạnh đó, Yang et al (2009) cho rằng việc khám phá các nhu cầu và ràng buộc của CBLQ vào dự án sẽ cho thấy rõ hơn các lợi ích và vấn đề CBLQ đang phải đối mặt, từ đó có kế hoạch đáp ứng cũng như ứng phó thích hợp các kỳ vọng của họ 2.2 Tổng quan các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của quản

lý CBLQ trong các dự án

Dựa vào tổng quan các nghiên cứu đi trước, xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý CBLQ trong các công trình trường học có nguồn vốn từ ngân sách Thành phố được tổng hợp lại như bảng sau

Bảng 2.4 Các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự thất bại của công tác quản lý

2 Chưa duy trì và xúc tiến các

mối quan hệ với CBLQ

Jergeas (2000) và Cleland (1986); Slevin (1988); (Yeo, 1995); (Olander & Landin

2005, Atkin & Skitmore 2008)

3 Chưa duy trì trao đổi thông

chiến lược phù hợp cho dư

(Karlsen, 1998); (Cleland và Ireland, 2007); (Chinyio và Olomolaiye, 2010); (Savage và

Trang 30

7 Chưa xác định chính xác

CBLQ

Jergeas et al (2000); Doloi (2011); (Othman

& Abdellatif 2011); Donaldson và Preston (1995); (Bourne và Walker, 2005b); (McElroy and Mills, 2000, Cleland and Ireland, 2007,

Jepsen and Eskerod, 2008)

8 Chưa nhận thức được lợi ích

của CBLQ khi tham gia vào

dự án

(Achterkamp và Vos, 2008); (Cleland và Ireland, 2002, 2007); (Barkley và Saylor, 2001); (Jepsen và Eskerod, 2009); (Dainty et

al, 2003, Chan and Chan, 2004, Wang and Huang, 2006); (Aaltonen, 2010, Jepsen and Eskerod, 2009, Karlsen, 2002, Littau và cộng

sự, 2010, Vaagaasar và cộng sự, 2011); (Atkin

& Skitmore 2008)

9 Chưa xem xét đến nhu cầu

và ràng buộc của CBLQ vào

Trang 31

Newcombe (2003)

11 Năng lực kém của CBLQ

tham gia vào dự án

(Yang và cộng sự, 2009a); (Nguyễn et al, 2004a, 2004b); (Th 2006); (Kolltveit & Reve, 2002; Christensen & Kreiner, 1991); (Bourne

13 Các xung đột giữa CBLQ (Yang và cộng sự, 2009b); (Newcombe,

2003); (Dalcher, 2009); (Loch and Kavadias,

2011, trang 225)

14 Không quan tâm đến sự hỗ

trợ của các cơ quan có thẩm

quyền

(Bourne 2005); (Yang và cộng sự, 2009a); (Mitchell và những người khác, 1997); (Post

và những người khác, 2002); (Freeman, 1984); (Newcombe, 2003)

15 Chưa đánh giá các thuộc

tính của CBLQ

(Jawahar và McLaughlin, 2001); (Post và những người khác, 2002); Mitchell và những người khác (1997); (Cleland, 1986; Winch và

Bonke, 2002)

16 CBLQ chưa quan tâm đến

phương tiện truyền thông

Olander (2007); (PM, 2004); Krane và cộng

sự (2012) (p5)

17 CBLQ tập trung quá nhiều

vào việc đánh giá rủi ro của

dự án

Flyvbjerg et al (2003); Hillson và cộng sự (2012) Cooper và cộng sự (2005); (Loch, De Meyer, & Pich, 2006; Perminova, Gustafsson,

Trang 32

& Wikström, 2008); Simister (2004) hoặc

19 Đánh đổi rủi ro với hiệu quả

mong đợi của CBLQ

(Chapman and Ward, 2004); (Atkinson et al., 2006); (Ward và cộng sự, 1991)

20 Tập trung quá nhiều vào

(Achterkamp và Vos, 2008); (Yang và cộng

sự, 2009a); (Scott-Young và Samson, 2008); (Besner và Hobbs, 2006, trang 38)

2.2.1 Quản lý CBLQ với các trách nhiệm xã hội

Theo Caroll (1991) Trách nhiệm xã hội được chia thành bốn trách nhiệm như: trách nhiệm về kinh tế (tối đa hóa lợi nhuận), trách nhiệm pháp lý (Tuân thủ theo các quy chế và pháp luật), trách nhiệm đạo đức (Tuân theo tiêu chuẩn đạo đức), trách nhiệm từ thiện (cống hiến cho xã hội)

Trang 33

Hình 2.8 Tháp SCR của Carroll 1999

Tương tự, đánh giá tác động về môi trường đối với các dự án cơ sở hạ tầng có thể bị thiếu sự chính xác trong ước tính dự báo tác động, phạm vi giới hạn và thời gian được xem xét (Flyvbjerg và cộng sự, 2003, trang 49)

Jensen và Sandstro¨m (2011) tranh luận về một lý thuyết của CBLQ mà nhạy cảm hơn với toàn cầu hóa, những điều mà họ tìm thấy thể hiện trong các mối quan hệ quyền lực mới và các khía cạnh mới về trách nhiệm kinh doanh đối với môi trường và

xã hội

Trong khi sự cân nhắc về xã hội là cần thiết để đảm bảo thực hiện các mục tiêu như an ninh, công bằng xã hội, giáo dục của lực lượng lao động, cơ hội bình đẳng (Arnold, 2001) Các khía cạnh sinh thái, kinh tế và xã hội (trong hành tinh, lợi nhuận

và con người) có mối liên hệ và ảnh hưởng lẫn nhau (Meadows và cộng sự, 1972)

Nguy cơ về đạo đức là sự thất bại của CBLQ trong việc đưa ra nỗ lực ký kết (Stephen Ward & Chris Chapman, 2008)

2.2.2 Chưa duy trì và xúc tiến các mối quan hệ với CBLQ

Theo Jergeas và những người khác (2000) và Cleland (1986), quản lý hiệu quả các mối quan hệ giữa các dự án và các bên liên quan của nó là một chìa khóa quan trọng cho sự thành công của dự án

Trang 34

Trong nghiên cứu của họ về các yếu tố quyết định thành công qua vòng đời của

dự án, Pinto và Slevin (1988) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tương tác với khách hàng của dự án trong suốt quá trình của dự án

(Yeo, 1995) khẳng định rằng thành công trong việc phát triển một dự án cơ sở

hạ tầng đòi hỏi sự kết hợp tuyệt vời của nỗ lực và quản lý cẩn thận lợi ích của các bên liên quan

Các chuyên gia cần phải có khả năng phối hợp các mối quan hệ với các bên liên quan đa dạng, đặc biệt là với xu hướng ngày càng tăng của các nhóm liên quan để cố gắng ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án xây dựng theo mối quan tâm và nhu cầu của họ (Olander & Landin 2005, Atkin & Skitmore 2008)

2.2.3 Chưa duy trì trao đổi thông tin với CBLQ

Dự án và các bên liên quan có thể được xem như là một mạng lưới mà trong đó các chủ thể tương tác với nhau và trao đổi thông tin, nguồn lực, và kết quả (Karlsen, 2002; Miloevi, 1989; Hörlesberger et al., 2007) Thường thì thông tin và nguồn lực đưa vào dự án được kiểm soát bởi các bên liên quan Nó kiểm soát thông tin này và nguồn lực mang lại cho các bên liên quan một quyền lực nhất định Đây là quy trình quản lý

dự án mà biến đổi đầu vào thành đầu ra, trong đó hàm ý việc đạt được một thay đổi độc đáo Thay đổi này có lợi cả cho một khách hàng và cho một nhóm các bên liên quan của dự án

2.2.4 Giao tiếp kém với CBLQ

Những vấn đề và bất trắc khác gây ra bởi các bên liên quan mả góp phần vào sự thất bại của dự án bao gồm giao tiếp kém, không đủ nguồn lực được giao cho dự án, thay đổi trong phạm vi công việc, tin tức bất lợi về dự án trên báo chí, và những phản ứng tiêu cực của cộng đồng cho dự án (Jan Terje Karlsen, 2002)

Trang 35

Pinto và Slevin (1988) nhấn mạnh rằng giao tiếp với khách hàng và các bên liên quan trong suốt dự án có thể không được đề cập quá nhiều

2.2.5 CBLQ chưa xây dựng các chiến lược phù hợp cho dự án

Kết quả từ nghiên cứu trước đây đã phát hiện rằng trong nhiều dự án, việc quản

lý các bên liên quan còn thiếu chiến lược, kế hoạch, và phương pháp (Karlsen, 1998)

Quản lý các bên liên quan là một phần quan trọng trong việc quản lý chiến lược của các tổ chức (Cleland và Ireland, 2007)

Quản lý các bên liên quan tham gia vào việc xác định và phân loại các bên liên quan để tạo điều kiện cho sự tham gia của họ với dự án (Chinyio và Olomolaiye, 2010) Sự tham gia này liên quan đến việc phân loại các bên liên quan để có thể đưa ra các chiến lược quản lý phù hợp (Savage và cộng sự, 1991; Mitchell và cộng sự, 1997)

Đó là "thu thập thông tin về các bên liên quan; xác định nhiệm vụ của họ trong một dự án; xác định điểm mạnh và điểm yếu; xác định chiến lược của họ; dự đoán hành vi của

họ và xây dựng và thực hiện chiến lược quản lý chúng "(Cleland và Ireland, 2002)

Khả năng ảnh hưởng đến dự án

cao thấp cao

thấp

2.2.6 Chưa đánh giá và phân tích CBLQ

Freeman et al (2007) tin rằng xác định và đánh giá thông tin của các bên liên quan là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là xương sống của sự thành công của dự án

Hình 2.9 Chiến lược quản lý CBLQ dự án

Trang 36

Trước khi bắt đầu hoạt động quản lý, dự án và các bên liên quan cần phải nghiên cứu

và phân tích sâu rộng Thông tin này bao gồm các nhiệm vụ của dự án, danh sách đầy

đủ các bên liên quan, các lĩnh vực lợi ích của các bên liên quan và nhu cầu của họ và những ràng buộc liên quan đến dự án (Yang và cộng sự, 2009b)

Kết quả này tương ứng với các nghiên cứu trước, trong đó nhấn mạnh rằng việc quản lý các bên liên quan phải được đề cập đầy đủ trong dự án (Jergeas et al., 2000)

Một vấn đề quan trọng đối với đội ngũ quản lý dự án là xác định và phân tích các bên liên quan có thể có một ảnh hưởng đến quyết định dự án (Olander và Landin, 2005) Điều này tạo điều kiện cho việc quản lý một quá trình nhằm tối đa hóa đầu vào các bên liên tích cực và giảm thiểu bất kỳ tác động bất lợi hoặc tiêu cực (Bourne và Walker, 2005)

Hình 2.10 Phân tích CBLQ

Trang 37

Doloi (2011) đã đề cập đến sự phức tạp ngày càng tăng của các dự án xây dựng hiện đại và sự tham gia của nhiều bên liên quan khác nhau làm cho nó gần như không thể tránh được việc vượt quá chi phí Để đảm bảo dự án thành công, nhóm dự án phải xác định CBLQ, xác định yêu cầu và mong đợi của họ và quản lý ảnh hưởng của họ liên quan đến các yêu cầu (Othman & Abdellatif 2011)

Donaldson và Preston (1995) xác định CBLQ thông qua các tác hại và lợi ích tiềm ẩn mà họ trải nghiệm hoặc dự đoán dựa trên kết quả của các động thái hoặc bất động của tổ chức

Để vượt qua những khó khăn này và hoàn thành các dự án, các nhà quản lý dự

án cần xác định CBLQ một cách nghiêm túc, hiểu được kỳ vọng / sự quan tâm của họ

và nhận thức chính xác về những ảnh hưởng có thể có của họ đối với dự án Điều này phải được thực hiện để tối đa hóa ảnh hưởng tích cực của CBLQ trong khi giảm thiểu tác động tiêu cực (Bourne và Walker, 2005b)

Nhận dạng CBLQ được xem là bước đầu tiên trong phân tích CBLQ (McElroy and Mills, 2000, Cleland and Ireland, 2007, Jepsen and Eskerod, 2008) và nhiều phương pháp tiếp cận có sẵn

2.2.8 Chưa nhận thức được lợi ích của CBLQ khi tham gia vào dự án Trong tài liệu của QLDA, thông tin chung là để làm cho dự án thành công, cần phải tính đến lợi ích của CBLQ chính hoặc thậm chí của tất cả CBLQ (Achterkamp và Vos, 2008)

Quản lý CBLQ đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý một tổ chức và một dự án (Cleland và Ireland, 2002) vì CBLQ cho phép họ tồn tại (Barkley và Saylor, 2001) Đây là lý do chính mà Quản lý CBLQ và quản lý dự án được công nhận là hai vấn đề quan trọng (Jepsen và Eskerod, 2009) và các chuyên gia dự án đã tập trung vào

họ, do đó cùng tồn tại (Achterkamp và Vos, 2008)

Trang 38

Các nghiên cứu gần đây cho thấy sự tham gia của các bên liên quan là một nhân

tố quan trọng của thành công dự án (Dainty et al, 2003, Chan and Chan, 2004, Wang and Huang, 2006)

Cleland và Ireland (2007) cho rằng CBLQ có quyền lợi trong một dự án vì nhiều lý do như sự liên quan đến sứ mệnh, lợi ích kinh tế, quyền hợp pháp, sự hỗ trợ chính trị, sức khoẻ và an toàn, lối sống, cơ hội và sự sống còn Do đó, có thể kết luận rằng lợi ích thu được là một động lực quan trọng của mối quan hệ giữa CBLQ

Quản lý CBLQ đã được coi là một hoạt động cốt lõi để tạo nên thành công dự

án kể từ khi công trình của Cleland (1985) về chủ đề 25 năm trước đây, và từ đó trở đi

nó đã nhận được nhiều sự chú ý trong nghiên cứu và thực tiễn quản lý dự án (Aaltonen,

2010, Jepsen and Eskerod, 2009, Karlsen, 2002, Littau và cộng sự, 2010, Vaagaasar và cộng sự, 2011)

CBLQ khác nhau có các cấp độ và loại hình đầu tư và lợi ích khác nhau trong các dự án mà họ tham gia (Atkin & Skitmore 2008)

Các nhà quản lý nên cố gắng xác định CBLQ quan trọng và chính đáng của mình và lắng nghe và đáp ứng lợi ích và mối quan tâm của họ (Post et al., 2002) Quá trình quản lý này là cần thiết để xác định cách mà CBLQ có thể có khả năng phản ứng lại quyết định cùa dự án

Johnson và Scholes (1999) cho rằng không đơn giản để xác định được CBLQ Các nhà quản lý cần phải đánh giá quyền lợi của từng bên liên quan để thể hiện sự kỳ vọng của họ đối với các quyết định của dự án và xem nó có quyền lực để theo/ thực hiện nó hay không

Trang 39

Nếu không có sự quan tâm đến nhu cầu và mong đợi của một vùng đa dạng các bên liên quan, một dự án có thể sẽ không được coi là thành công, ngay cả khi nhà dự

án quản lý đã có thể chịu đựng trong thời gian ban đầu, ngân sách và phạm vi” (Bourne

và Walker, 2005)

Phillips (2003) cho biết thêm rằng đối với các dự án xây dựng người quản lí dự

án có trách nhiệm đáp ứng các nhu cầu và mong đợi được đề cập đến của các bên liên quan và phải được quan tâm quá trình ra quyết định được thực hiện như thế nào

Các bên liên quan thể hiện các nhu cầu và mong đợi về dự án mà thường xung đột với nhau, và không chắc rằng tất cả những kỳ vọng của các bên liên quan sẽ được đáp ứng (McManus, 2002)

2.2.10 Chưa đánh giá được quyền lực và ảnh hưởng của CBLQ

Các bên liên quan cần được xác định quyền lực và ảnh hưởng của chúng tới dự

án để có thể hiểu rõ hơn về tác động tiềm ẩn trong các dự án Các chiến lược phù hợp

có thể được xây dựng và ban hành để tối đa hoá ảnh hưởng tích cực của bên liên quan

và giảm thiểu bất kỳ ảnh hưởng tiêu cực nào Đây trở thành vấn đề quản lý rủi ro chính

Trang 40

đối với các nhà quản lý dự án Không đánh giá được điều này đã dẫn đến vô số thất bại của dự án (Bourne & Walker 2005), chủ yếu là vì các bên liên quan xây dựng có các nguồn lực và khả năng để ngăn chặn các dự án xây dựng (Lim và cộng sự, 2005)

Bởi vì các bên liên quan có thể có những tác động tiêu cực hoặc tích cực đối với các dự án, cần phải xác định những người ủng hộ đối tượng và người ủng hộ Quan điểm của các bên liên quan đề cập đến việc các bên liên quan ủng hộ hay phản đối dự

án (McElroy and Mills, 2000)

Các bên liên quan dự án có thể ảnh hưởng đến các dự án một cách tích cực hoặc tiêu cực và do đó đánh giá ảnh hưởng của bên liên quan là một nhiệm vụ quan trọng cho các nhà quản lý dự án để tăng khả năng thành công của dự án (Cleland and Ireland, 2007)

Mitchell et al (1997) lập luận rằng CBLQ nên nhận ra quyền lực của một người

có sức ảnh hưởng, có mối quan hệ hợp pháp và yêu cầu bồi thường khẩn cấp của CBLQ Quyền lực có thể phát sinh từ một bên liên quan có khả năng huy động các lực lượng xã hội, chính trị hay kinh tế, hoặc ảnh hưởng đến bản chất và mức độ của các nguồn lực sẵn có cho dự án Như Newcombe (2003) ghi chú, quyền lực này có thể được sử dụng để duy trì nguyên trạng thái hoặc buộc phải thay đổi lớn

Ngày đăng: 06/11/2020, 21:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w