Như vậy, dạy học chủ đề này không chỉ nâng cao nhận thức về ô nhiễmmôi trường mà còn phải hình thành kĩ năng môi trường cho HS và phát triểnnăng lực vận dụng kĩ năng này trong thực tiễn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ
“Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KỸ NĂNG MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
Ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Văn Hồng
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa từng được công bố trongmột công trình khoa học nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Bích
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - PGS.TS Nguyễn VănHồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luậnvăn Nhân dịp này tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc bộmôn Sinh học hiện đại và giáo dục sinh học, khoa Sinh học - trường ĐHSPThái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình.Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và học sinh trường THCSNha Trang - TP Thái Nguyên và trường THCS Phú Xá huyện Phú Bình, tỉnhThái Nguyên đã hợp tác và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn.Tôi xin cảm ơn phòng Tài nguyên và Môi trường, sở Tài nguyên và Môitrường tỉnh Thái Nguyên, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Bình đãcung cấp cho chúng tôi nhiều dữ liệu quý báu trong quá trình thu thập thông tin
về môi trường tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp và ngườithân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Bích
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viiiii DANH MỤC CÁC HÌNH ixii MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Đóng góp mới của đề tài luận văn 5
8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5
Chương 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.2 Đánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của học sinh 16
1.1.3 Ý nghĩa của dạy học theo chủ đề 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Mục đích điều tra 20
1.2.2 Phương pháp điều tra 20
1.2.3 Đối tượng điều tra 20
1.2.4 Thời gian điều tra 20
1.2.5 Nội dung điều tra 21
1.2.6 Kết quả điều tra và bình luận 21
Kết luận chương 1 23
Trang 6Chương 2:THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KỸ
NĂNG MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 25
2.1 Giới thiệu nội dung chủ đề “Ô nhiễm môi trường” 25
2.2 Một số nguyên tắc cần đảm bảo trong dạy học một chủ đề 26
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa dạy học và mục tiêu phát triển năng lực người học 26
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa vai trò chủ thể tích cực, tự giác và độc lập của HS với vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học 26
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp giữa nội dung dạy học và hình thức tổ chức dạy học 27
2.3 Quy trình rèn luyện năng lực vận dụng kĩ năng môi trường cho HS trong dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” 27
2.4 Quy trình thiết kế một chủ đề học tập 32
2.5 Thiết kế kế hoạch dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” 36
2.5.1 Kế hoạch dạy học tổng thể 36
2.5.2 Kế hoạch dạy học chi tiết chủ đề “Ô nhiễm môi trường” 36
Kết luận chương 2 39
Chương 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 40
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 40
3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 40
3.3 Phương pháp thực nghiệm 40
3.3.1 Chọn đối tượng và thời gian thực nghiệm sư phạm 40
3.3.2 Bố trí thực nghiệm sư phạm 41
3.3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 46
3.3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 52
Kết luận chương 3 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
2 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của học sinh 17
Bảng 1.2 Kết quả điều tra số lượng GV đã được tham gia khoá học 21
Bảng 1.3 Kết quả điều tra nhận thức của GV về vai trò của dạy học 22
Bảng 1.4 Kết quả điều tra nhận thức của GV về về sự cần thiết vận dụng 22
Bảng 1.5 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng dạy học theo chủ đề 22
Bảng 1.6 Kết quả điều tra những khó khăn găp phải của GV khi vận dụng 23
Bảng 2.1 Nội dung và các yêu cầu cần đạt 25
Bảng 2.2 Rubric đánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của HS 35
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát năng lực vận dụng kĩ năng môi trườn của HS 46
Bảng 3.2 Kết quả đánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của HS 47
Bảng 3.3 Kết quả đánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của HS 48
Bảng 3.4 Kết quả xin ý kiến tham vấn 50
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát xin ý kiến HS về hình thức tổ chức dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” 51
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 1.1 Ba mục tiêu của GDMT 10Hình 1.2 Mô hình tiếp cận tích hợp tổng thể GDMT trong dạy học 14Hình 3.1 Biểu đồ so sánh mức độ tiến bộ về năng lực vận dụng kĩ năng 49
Trang 10xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật Giáo dục của nước ta đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợpvới đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đemlại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[13]
Như vậy, đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục, khơi dậy và phát huy tiềm năng của con người, phát triển giáodục toàn diện, đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo để thích ứngtrong mọi hoàn cảnh là hết sức quan trọng Cho nên, tiếp cận các mô hình dạyhọc mới, các phương pháp và biện pháp cùng các hình thức tổ chức dạy họctích cực là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm hình thành và phát triểnnăng lực cho HS
1.2 Xuất phát từ yêu cầu cần đạt khi dạy chủ đề “Ô nhiễm môi trường” theo chương trình giáo dục phổ thông
Yêu cầu cần đạt khi dạy chủ đề “Ô nhiễm môi trường” đã được ghi rõ trongChương trình giáo dục phổ thông [3] Cụ thể là:
- Nêu được khái niệm ô nhiễm môi trường Trình bày được sơ lược vềmột số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (ô nhiễm do chất thải sinh hoạt và
Trang 11công nghiệp, ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm do sinh vật gây bệnh) và biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Trình bày được sự cần thiết phải bảo vệ động vật hoang dã, nhất lànhững loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ theo Công ước buôn bánquốc tế các loài động, thực vật hoang dã (CITES) (ví dụ như các loài voi, tê giác, hổ, sếu đầu đỏ và các loài linh trưởng)
- Điều tra được hiện trạng ô nhiễm môi trường ở địa phương
Như vậy, dạy học chủ đề này không chỉ nâng cao nhận thức về ô nhiễmmôi trường mà còn phải hình thành kĩ năng môi trường cho HS và phát triểnnăng lực vận dụng kĩ năng này trong thực tiễn là rất cần thiết
1.3 Xuất phát từ hạn chế của phương pháp giáo dục truyền thống và tính
ưu việt của dạy học theo chủ đề đối với việc phát triển năng lực cho học sinh
Phương pháp giáo dục truyền thống trong trường phổ thông nặng việcnhồi nhét kiến thức cho HS Bởi vậy, hiệu quả hình thành và phát triển năng lựccho HS còn nhiều hạn chế Chương trình giáo dục phổ thông (2018) đã ghi rõđịnh hướng phương pháp giáo dục nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho
HS “ Phát triển phẩm chất, năng lực chung và năng lực đặc thù được thực hiệnthông qua nội dung dạy học môn Khoa học tự nhiên Theo đó, nội dung vừa làmục tiêu, vừa là phương tiện hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực.Phẩm chất và năng lực vừa là đầu ra của chương trình môn Khoa học tự nhiênvừa là điều kiện để học sinh tự học, tự khám phá để chiếm lĩnh hiệu quả kiếnthức khoa học” [2]; [3] và dạy học theo chủ đề là một mô hình có hiệu quả hiệnthực hóa định hướng này
Có thể nói rằng: “Chủ đề là một đơn vị nội dung kiến thức trọn vẹn màkhi tổ chức học sinh tìm hiểu, khám phá sẽ giải quyết được một vấn đề lý luậnhay thực tiễn, do đó học sinh vừa lĩnh hội được kiến thức khoa học, vừa rènluyện, hình thành được các năng lực cơ bản như giải quyết vấn đề, tự học, ”
Trang 12[11] Bởi vậy, nếu như vận dụng dạy học theo chủ đề thì sẽ có cơ hội để pháttriển năng lực cho HS Điều này hoàn toàn có thể vận dụng trong dạy học chủ
đề “Ô nhiễm môi trường” cho HS trung học cơ sở
1.4 Xuất phát từ sự bất cập của phương pháp giáo dục truyền thống trong việc thực hiện mục tiêu GDMT trong dạy học
Hình thành kĩ năng môi trường cho HS đã được đề cập ngay từ nhữngnăm 70 của thế kỉ XX Nội dung này vẫn được nhắc tới trong nội dung các HộiNghị, Hội thảo trong nước và quốc tế Đặc biệt, trong Chương trình giáo dụcphổ thông 2018, nội dung này đã được khẳng định rất rõ ràng Tuy nhiên, doảnh hưởng sâu nặng của phương pháp giáo dục truyền thống, hình thành vàphát triển cho HS kĩ năng môi trường và năng lực vận dụng kĩ năng này vẫncòn rất hạn chế
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: THIẾT KẾ VÀ
TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KỸ NĂNG MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng kế hoạch dạy học và tổ chức dạy học chủ đề “ô nhiễm môi trường”theo chương trình giáo dục phổ thông môn khoa học tự nhiên (2018) nhằm pháttriển năng lực vận dụng kỹ năng môi trường cho học sinh THCS
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dạy học chủ đề “ô nhiễm môi trường” phát
triển năng lực vận dụng kĩ năng môi trường
- Khách thể nghiên cứu: Dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” cho
HS THCS
Trang 134 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở khoa học về dạy học theo chủ đề, phát triển năng lựccho HS trong dạy học môn Khoa học tự nhiên
- Xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường”
- Tổ chức dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường”
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc vận dụng dạy học chủ đề đến sự phát triển năng lực vận dụng kĩ năng môi trường cho HS THCS
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu những văn bản có tính pháp lý của Đảng và Nhà nước, Bộ
- Nghiên cứu những tài liệu về dạy học theo chủ đề, phát triển năng lực,
kĩ năng môi trường
5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.3 Các phương pháp phân tích số liệu thực nghiệm
Sử dụng thống kê toán học và phần mềm Excell
Trang 146 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được kế hoạch dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” và tổchức dạy học chủ đề này một cách hợp lý thì sẽ góp phần phát triển được nănglực vận dụng kĩ năng môi trường cho HS THCS
7 Đóng góp mới của đề tài luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ lý thuyết dạy học theo chủ đề và phát triển năng lực cho HS THCS
- Xây dựng được kế hoạch dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường”
- Xác định cấu trúc năng lực vận dụng kĩ năng môi trường
- Xây dựng bảng tiêu chí và công cụ đánh giá hiệu quả vận dụng dạy họctheo chủ đề đối với sự phát triển năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của HS
8 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn nghiên cứu: xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề “Ô nhiễm môitrường”, tổ chức dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” và đánh giá hiệu quảvận dụng dạy học theo chủ đề đối với sự phát triển năng lực vận dụng kĩ năngmôi trường của HS
- Phạm vi nghiên cứu: thực nghiệm sư phạm được thực hiện ở một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trang 15Theo Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Minh Nguyệt,“Chủ đề là vấn đề mang tính cốt lõi, là phương diện chính mang tính định hướng vận động của đối tượng và mối liên hệ đa chiều của nó với các đối tượng khác trong tự nhiên Có thể nói, dạy học theo chủ đề có bản chất dạy học tích hợp, đưa nhận thức con người gắn với hiện thực khách quan Trong dạy học, chủ đề là một đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn và khi kết thúc một chủ đề, người học có được kiến thức và kĩ năng giải quyết được các vấn đề thực tiễn liên quan hoặc giải quyết được các vấn đề trong bối cảnh mới” [14 tr 48].
Như vậy, mặc dù có các quan niệm khác nhau về “chủ đề”, nhưngnhững quan niệm này đều có điểm chung thống nhất là: bản thân chủ đề chứađựng những tri thức lí luận và thực tiễn mang tính hệ thống, tích hợp, tức làmỗi chủ đề đều tồn tại như một hệ thống logic các đơn vị nội dung Mỗi đơn vịnội dung đó có thể lại là một chủ đề nhỏ (tiểu chủ đề) Trong mỗi hệ thống (chủđề), có một vài chủ đề có ý nghĩa trung tâm (chủ đề lớn) và những chủ đề có ýnghĩa bộ phận góp phần bổ sung, làm nổi bật chủ đề chính (chủ đề nhỏ) và mỗichủ đề có ý nghĩa và giá trị khác nhau [17, p 59]
Trang 16- Chủ đề trong dạy học
Chủ đề trong dạy học là một đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn mà khihọc xong, HS có thể vận dụng kĩ năng, kiến thức đã học được để giải quyết mộtvấn đề thực tiễn hoặc giải quyết một vấn đề trong bối cảnh mới [11 tr 37]
- Dạy học theo chủ đề
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể cho rằng: Dạy học theo chủ đề
là quá trình tổ chức cho HS khám phá vấn đề học tập để lĩnh hội và vận dụng kĩnăng, kiến thức vào giải quyết tình huống nhận thức hay thực tiễn Dạy họctheo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đógiáo viên không dạy học chỉ bằng tổ chức HS tiếp thu những kiến thức rời rạc
mà chủ yếu là hướng dẫn họ tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức, kĩnăng ở phạm vi rộng vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn Bởi vậy, nhiều tácgiả đã cho rằng bản chất của dạy học theo chủ đề là dạy học tích hợp [7]; [8];[9]; [11]; [17]
- Môi trường
Ngày nay, đã có nhiều định nghĩa về môi trường, đặc biệt sau ngày5/6/1972, tức là sau ngày kết thúc Hội nghị thế giới về môi trường và conngười tại Stockholm (Thụy Điển), khái niệm môi trường đã được các tác giảđịnh nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
Các học giả phương Tây định nghĩa môi trường theo không gian sống, họcoi môi trường là nơi ở và nơi làm việc, không gian và cảnh quan, cung cấp tàinguyên, là nơi diễn ra các hoạt động và là nơi thu nhận các chất thải của hoạtđộng sống của con người
Các học giả Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa về môi trườngtheo những cách khác nhau phụ thuộc vào đối tượng và mục đích nghiên cứu:
Môi trường thiên nhiên bao gồm những nhân tố vô sinh và hữu sinh tồntại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con
Trang 17người; Môi trường xã hội bao gồm các mối quan hệ về mọi mặt giữa con người
và con người trong xã hội; Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố vô sinh vàhữu sinh và xã hội do con người tạo ra và chịu sự chi phối của con người Cóthể nói môi trường sống của con người bao gồm tất cả các tài nguyên thiênnhiên và những nhân tố thuộc về chất lượng của môi trường đối với sức khỏe
và tiện nghi sinh sống của con người Những nhân tố thuộc về chất lượng củamôi trường đó là không khí, nước, âm thanh, ánh sáng, cảnh quan, thẩm mĩ,đạo đức, chính trị, điều kiện sinh sống, làm việc và cư trú, quan hệ chính trị -
xã hội tạo địa bàn sinh sống và làm việc của con người [6], [11], [13]
Mặc dù thuật ngữ môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau vàcũng được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng theo chúng tôi để điđến một khái niệm về môi trường dễ được thừa nhận và dễ hiểu thì trong đóphải kể tới các yếu tố cấu thành môi trường, sự tác động của các yếu tố đó: cácyếu tố đó bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố nhân tạo, chúng tồn tạixung quanh con người và có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sốngcủa con người và tự nhiên
- Môi trường sống
Môi trường sống bao gồm tất cả các nhân tố xung quanh sinh vật, có tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sinh vật; làm ảnh hưởng đến sự tồn tại, sinhtrưởng, phát triển và những hoạt động khác của sinh vật
Theo nghĩa rộng, môi trường sống là tất cả những gì bao quanh chúng ta,
là tổng hòa tất cả các điều kiện tác động lên đời sống và sự phát triển của tất cảcác sinh vật ở các cấp độ tổ chức khác nhau Mỗi loài sinh vật có môi trườngsống đặc trưng cho mình
Môi trường sống của con người bao gồm cả các yếu tố trong lĩnh vực tựnhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử quan hệmật thiết với nhau bao quanh con người, có quan hệ tới đời sống sản xuất, sựtồn tại, phát triển của con người và tự nhiên
Trang 18- Ô nhiễm môi trường
Đã có những định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường Chẳng hạnnhư: “Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, đồngthời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây táchại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác” [15] Hoặc là: Ô nhiễm môitrường là sự thay đổi các thành phần vật lý, hóa học, sinh học vượt quá mứccho phép gây tác hại đến sức khỏe con người và các sinh vật khác” [6].v.v.Nhìn chung các định nghĩa này đều nhấn mạnh về sự thay đổi thành phần vàtính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường và sự thay đổi này gây tác hạiđến sức khỏe con người và các sinh vật khác
- Giáo dục môi trường
Con người, tự nhiên và xã hội có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau,bởi vậy môi trường bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Giáodục bảo vệ môi trường phải quan tâm đến cả việc giữ gìn và tôn tạo các di sảnvăn hóa và đó cũng chính là việc bảo vệ và phát triển bền vững môi trường[12]; [17]
Định nghĩa giáo dục môi trường (GDMT) thường được gắn với mục tiêucủa GDMT Định nghĩa được chấp nhận một cách phổ biến nhất do Hội nghịQuốc tế về GDMT của liên hợp Quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đưa ra TheoHội nghị này, GDMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồnghiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo làkết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa,đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để
họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giảiquyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [12]
GDMT cũng được quan niệm là: “Một quá trình thường xuyên qua đócon người nhận thức được môi trường (MT) của họ và thu được kiến thức, giátrị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn
Trang 19đề MT hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của các thế hệ hiện nay màkhông vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” [6].
Qua các định nghĩa nêu trên, có thể rút ra nhận xét tổng quát rằng,GDMT nói chung (không phân biệt giáo dục cho đông đảo nhân dân giáo dụctrong các trường phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp) có mụctiêu đem lại cho đối tượng các vấn đề sau:
- Hiểu biết bản chất các vấn đề MT: Tính phức tạp, quan hệ nhiều mặtnhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải củamôi trường Quan hệ chặt chẽ giữa MT và phát triển, giữa MT địa phương,vùng, Quốc gia với MT khu vực toàn cầu Mục tiêu này thực chất là trang bịcho các đối tượng được giáo dục các kiến thức về MT
- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề MT như mộtnguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng nhưđối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ cách ứng xửđúng đắn trước các vấn đề MT, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ýthức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập
số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ Như vậy, mục tiêu này có địnhhướng xây dựng kĩ năng, thái độ và cách đối xử thân thiện với MT
- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trongviệc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý vàkhôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quảvào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề MT cụ thể nơi họ ở và làm việc.Đây là mục tiêu về khả năng hành động cụ thể (hình 1.1)
Thái độ đúng đắn Khả năng hành động có Hiểu biết về môi
về môi trường hiệu quả về môi trường trường
Trang 20GDMT trong một quốc gia thường được phân thành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù của cương vị công tác như:
- GDMT cho cộng đồng còn được gọi là nâng cao nhận thức về MT choquần chúng được thể hiện chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đạichúng, các hoạt động văn hóa, truyền thông và các cuộc vận động quần chúngrộng rãi, các hoạt động ngoại khóa
- GDMT cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ ra quyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp
- GDMT trong hệ giáo dục và đào tạo ở các trường từ các trường mẫu giáo đến các trường cao đẳng và đại học
- Đào tạo nhân lực chuyên môn về MT, bao gồm công nhân lành nghề, kỹthuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu giảng dạy Như vậy, GDMT không phải làviệc học một lần trong đời, mà là học suốt đời Và phải được tiến hành giáo dụcsâu rộng ngay từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành Đối với lứa tuổi nhỏ, GDMT cómục đích tạo nên “con người giác ngộ về MT” Với lứa tuổi trưởng thành, mụcđích này là “Người công dân có trách nhiệm về MT” Với người đang hoạt độngsản xuất, giảng dạy, dịch vụ, quản lý, mục đích này lại là hình thành “nhà chuyênmôn thấu hiểu về MT” Mục đích cuối cùng của GDMT là tiến tới xã hội hóa cácvấn đề MT, nghĩa là tạo ra những công dân có nhận thức, có trách nhiệm về MT
và biết sống vì MT Một khi các vấn đề MT đã được xã hội hóa thì những lợi íchkinh tế cho cộng đồng ngày càng một gia tăng và đặc biệt hiệu lực quản lý nhànước tăng nhưng gánh nặng chi phí giảm hẳn Từ những kết quả nghiên cứu vềcác phương pháp khắc phục MT ở nhiều quốc gia trên thế giới, chúng ta có thể điđến kết luận chung là: Không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu
tư vào con người thông qua công tác GDMT
Như vậy, GDMT dựa trên những tri thức về môi trường mà hình thànhthái độ, ý thức, trách nhiệm và kĩ năng hành động thực tiễn của HS Chúng tôicoi đây là quan điểm chỉ đạo trong suốt quá trình nghiên cứu của mình và theo
Trang 21chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa GDMT như sau: GDMT là hoạt động giáodục góp phần hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ đúng đắn của con ngườiđối với MT nhằm mục đích bảo vệ, khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên vàchống ô nhiễm MT.
- Kĩ năng môi trường
Giáo dục trong môi trường hướng đến phát triển các kỹ năng môi trường
và để đạt điều này, HS phải biết: nhận dạng, thu thập thông tin, xử lí thông tin,
ra quyết định Khái niệm kĩ năng môi trường và sự cần thiết phải hình thành kĩnăng môi trường cho HS trong nhà trường đã luôn được đề cập trong các địnhnghĩa, nội dung GDMT
Khái niệm kĩ năng môi trường lần đầu tiên xuất hiện trong tài liệu giáodục môi trường ở Việt Nam Trong tác phẩm “ Những cách tiếp cận mới tronggiáo dục môi trường” dưới sự cố vấn của Donald MacDonald của Dự ánVIE98/018 (2002) Trung tâm công nghệ giáo dục Bộ GD-ĐT [4, tr.13] đã đềcập đến phát triển kĩ năng môi trường cho HS nhằm hướng đến giải quyết vấn
đề môi trường Nội dung vấn đề này bao gồm:
1 Nhận ra các vấn đề môi trường
2 Định nghĩa các vấn đề môi trường
3 Lắng nghe một cách hiểu biết
4 Thu thập thông tin
5 Phân tích thông tin
6 Xây dựng giải pháp
7 Thực hiện kế hoạch hành động đề ra
Nhằm hướng đến hình thành và phát triển kĩ năng môi trường cho HSTHCS, theo chúng tôi, có thể quan niệm kĩ năng môi trường bao gồm nhữngnội dung chính như sau:
1 Nhận ra các vấn đề môi trường
2 Thu thập thông tin
Trang 223 Xử lí thông tin.
4 Đề xuất giải pháp khắc phục, hạn chế
Hình thành và phát triển năng lực vân dụng kĩ năng môi trường cho HStrong trường học hoàn toàn là vấn đề còn mới Hậu quả của giáo dục truyềnthống say sưa nhồi nhét kiến thức cho HS trong dạy học; hoặc do chưa tìm hiểu
Dự án giáo dục môi trường trong nhà trường (Dự án VIE 98-018), nên cũngkhông ít giáo viên, các nhà nghiên cứu giáo dục chưa biết đến nhiều khái niệm
“KĨ NĂNG MÔI TRƯỜNG” Bởi vậy, cho đến nay, chưa có gì để viết về lịch
sử nghiên cứu vấn đề này
Hội thảo quốc tế về GDMT trong các chương trình học ở nhà trườngnăm 1970 đưa ra định nghĩa được coi là định nghĩa cổ điển nhất về GDMT.Khái niệm này có sự thay đổi theo thời gian, nhận thức, các quyết sách hànhđộng “GDMT là một quá trình nhận biết các giá trị và phân loại khái niệm đểphát triển các kĩ năng và thái độ cần thiết để hiểu và tôn trọng mối quan hệ qualại giữa con người, văn hóa, và môi trường xung quanh GDMT cũng đòi hỏi sựthực hành ra quyết định, tự hình thành một kiểu hành vi về các vấn đề liên quanđến chất lượng môi trường” (IUCN, 1970) [18]
Trong khái niệm trên, vấn đề cốt lõi trong quá trình GDMT là hình thànhgiá trị, phát triển kĩ năng và thái độ tích cực trong mối quan hệ tương tác giữacon người với nhau và với môi trường, chú trọng đến văn hóa, kết quả củaGDMT là khả năng ra quyết định, hình thành kiểu hành vi liên quan đến chấtlượng môi trường
Hội nghị các nước về MT và con người ở Stockholm, Thụy Điển 1972,Hội nghị Belgrade (1975) đã vạch ra những định nghĩa cơ bản và mục tiêu củaGDMT Năm 1977, ở cộng hòa Georgia, Tbilisi đã bàn luận và thông qua địnhnghĩa, mục tiêu GDMT: “GDMT là một quá trình nhằm phát triển một quần thểngười trên toàn thế giới, nhận thức, quan tâm đến toàn thể môi trường và nhữngvấn đề liên quan đến MT, có kiến thức, thái độ, kĩ năng, động cơ, cam kết làm
Trang 23việc ở phương diện cá nhân hoặc theo nhóm hướng đến các giải pháp cho cácvấn đề hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới” [18].
GDMT là một quá trình phát triển nhận thức, kiến thức, sự hiểu biết về
MT, thái độ cân bằng và tích cực về MT và phát triển những kỹ năng làm cho
HS có thể tham gia vào việc quyết định chất lượng của MT [16]
GDMT còn là quá trình giáo dục nhằm giúp cho mỗi HS thu nhận kiếnthức về môi trường (khái niệm, mối quan hệ, quy luật…) hình thành ở HS ýthức, thái độ đối với MT, trang bị các kỹ năng thực hành Kết quả là HS cóđược ý thức trách nhiệm với MT và biết hành động thích hợp để bảo vệ MT,ứng xử thích nghi thông minh với MT [5]
Các định nghĩa đều đã mô tả cách tiếp cận mục tiêu và nội dung GDMTchủ yếu trên 3 khía cạnh kiến thức, kỹ năng và thái độ
- Tiếp cận tích hợp tổng thể GDMT
Giáo dục TRONG môi trường, VỀ môi trường và VÌ môi trường là bađường hướng trong GDMT và chúng hợp nhất với nhau, thâm nhập vào nhau,không tách rời tạo nên một chỉnh thể, giúp định hướng tích hợp GDMT trongdạy học Cách tiếp cận trong, về và vì MT mang tính hiện thực, xuất phát từnhu cầu, động cơ của người học trong mối quan hệ với các yếu tố của môitrường
Hình 1.2 Mô hình tiếp cận tích hợp tổng thể GDMT trong dạy học
Trang 24+ Giáo dục về MT: Liên quan đến khía cạnh kiến thức về MT và các
vấn đề MT, giúp HS hiểu biết về các mối quan hệ qua lại giữa mọi thành phầntrong môi trường Giáo dục về môi trường liên quan đến: 1- cung cấp nhữnghiểu biết về hệ thống tự nhiên và xã hội của môi trường; 2- cung cấp những trithức về tác động của con người tới môi trường; 3- Trên cơ sở đó xây dựng việcnghiên cứu môi trường và những kỹ năng tư duy để quản lí môi trường Khihiểu được rằng tất cả vật chất trong tự nhiên đều có mối liên hệ mật thiết, tácđộng qua lại, chuyển hóa lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau cùng tồn tại thì conngười sẽ tư duy và hành động đáp ứng nhu cầu của họ theo cùng nguyên lý tồntại của hệ thống, đó chính là chuyển từ nhận thức sang thái độ và tình cảm, haynói cách khác từ GD về MT để GD vì MT
+ Giáo dục vì MT: Phát triển quan niệm và trách nhiệm vì MT Thông
qua việc học tập trong MT, về môi trường và các kĩ năng điều tra câu hỏi, cácvấn đề MT, hình thành thái độ chăm sóc MT và sự quan tâm đến MT, hìnhthành động cơ và kỹ năng tham gia bảo vệ, duy trì, cải thiện chất lượng MT, sửdụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên MT Trong quá trình hoạt động sốnghàng ngày hoặc ra quyết định liên quan đến môi trường, HS cần xem xét lợi ích
cá nhân trong mối quan hệ hài hòa với môi trường, cộng đồng và xã hội Việctiếp cận môi trường như một hệ thống sống sẽ giúp người học ra quyết địnhmột cách thận trọng, dựa trên mối quan hệ giữa lợi ích - nguy cơ để lựa chọn raquyết định phù hợp trong những tình huống nhất định Nhận thức về MT như làmột hệ thống sống giúp người học hiểu rằng sự tồn tại của hệ thống lớn là cơ sở
sự tồn tại của hệ thống nhỏ, sự tồn tại của hệ thống nhỏ trong mối quan hệ hàihòa và thống nhất với hệ thống lớn thông qua chu trình vật chất trong tự nhiên
và các mối quan hệ cân bằng sinh thái Cách tiếp cận “vì” MT nhấn mạnh nhậnthức và thái độ, phát triển mối quan tâm, tình cảm đến MT Để đạt được “vì”
MT, học sinh phải được phát triển các giá trị và thái độ tích cực với MT, hìnhthành tính nhạy cảm với môi trường GDMT vì MT cũng hướng đến hình thành
Trang 25đạo đức MT, khả năng lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng khôn ngoan nguồn tài nguyên MT.
+ Giáo dục trong MT: Học và thực hành trong thực tế MT, xây dựng
những kỹ năng đánh giá, thu thập dữ liệu và phân tích Giáo dục trong MT giúp
HS hiểu biết về các mối quan hệ qua lại giữa mọi thành phần trong môi trườngthông qua học các kỹ năng điều tra nghiên cứu vấn đề trong môi trường Giáodục trong môi trường chú trọng đến sự trải nghiệm, những ý tưởng rút ra từthực tiễn, phát hiện những năng lực nội tại của bản thân và phát triển những giátrị cá nhân Giáo dục trong môi trường hình thành kỹ năng môi trường và vậndụng kĩ năng này trong thực tiễn Để đạt điều này, HS phải biết: nhận biết vấn
đề môi trường, thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra quyết định Đây cũng lànội dung cốt lõi đề tài luận văn của chúng tôi nhằm hướng đến hình thành cho
HS kĩ năng môi trường và vận dụng kĩ năng này trong dạy học chủ đề “Ônhiễm môi trường” môn Khoa học tự nhiên - THCS
1.1.2 Đánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của học sinh
Năng lực vận dụng kĩ năng là một trong 3 nhóm năng lực đặc thù cầnhình thành và phát triển cho HS trong dạy học môn Khoa học tự nhiên [3] Cácnăng lực thành phần của năng lực này bao gồm: nhận biết vấn đề, thu thậpthông tin, xử lí thông tin và ra quyết định Theo tác giả Nguyễn Văn Hồng cùngcộng sự [10, tr 209 - 215], để đánh giá một năng lực nào đó của HS, cần xácđịnh các năng lực thành phần (cấu trúc của năng lực), xây dựng các tiêu chí,các mức độ đạt được (chỉ báo hành vi) và bộ công cụ đánh giá phù hợp Tiếpcận cấu trúc trong đánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của HS,chúng tôi xác định các năng lực thành phần và mức độ đạt được của HS nhưsau:
Trang 26Bảng 1.1 Năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của học sinh
và các mức độ đạt được
Kĩ năng/năng lực thành Biểu hiện Mức độ đạt được
phần
Nhận biết vấn đề môi phát hiện; xác định; phân -Không nhận biết được
loại; phân biệt được vấn vấn đề
- Nhận biết vấn đềnhưng chưa chuẩn xác
- Nhận biết đúng vấn đề
Thu thập thông tin ghi chép; chụp ảnh; tìm - Không biết thu thập
kiếm tư liệu thông tin
- thu thập thông tin chưađúng
-Thu thập thông tin đúng
Xử lí thông tin phân tích, giải thích, - Không biết xử lí thông
tin thu thập được
- Xử lí còn sai-Xử lí còn đúng
Ra quyết định kết luận; phê phán; giải - Không ra được quyết
- ra được quyết định cònchưa đúng
- ra được quyết địnhđúng
Trang 271.1.3 Ý nghĩa của dạy học theo chủ đề
Chương trình Sinh học phổ thông nói chung và Sinh học 8 hiện hành nóiriêng được trình bày trong sách giáo khoa theo từng bài (theo chương trình giáodục phổ thông môn Khoa học tự nhiên ban hành kèm theo Thông tư số32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng BộGD&ĐT[3], chủ đề “Ô nhiễm môi trường” thuộc phần “Bảo vệ môi trường”môn Khoa học tự nhiên được bố trí dạy ở lớp 8 – THCS) , mỗi bài trình bàynhững kiến thức cụ thể tương đối nhỏ lẻ và chi tiết Việc dạy học theo từng bài
dễ dàng giúp HS nắm bắt các nội dung kiến thức riêng rẽ nhưng khó xâu chuỗicác kiến thức bị phân chia nhỏ thành hệ thống để vận dụng kiến thức vào thựctiễn Dạy học chủ đề môn Khoa học tự nhiên theo chương trình giáo dục phổthông (2018)[3] sẽ khắc phục được nhược điểm này, tạo thuận lợi cho việc sắpxếp, tổ chức lại nội dung kiến thức bị phân nhỏ đó thành mảng kiến thức có ýnghĩa và có mối quan hệ với các mảng kiến thức khác trong cùng môn họccũng như với các môn học khác mà người học có thể vận dụng để xem xét một
số vấn đề trong bối cảnh thực gắn với cuộc sống, nhờ đó mà học tập trở nên có
ý nghĩa với chủ thể và hình thành động cơ, hứng thú cho người học trong việcgiải quyết vấn đề Đây chính là bản chất của dạy học tích hợp trong dạy học cácchủ đề môn Khoa học tự nhiên nhằm vận dụng hiệu quả các kiến thức HS đãhọc và kinh nghiệm cá nhân vào cuộc sống
Dạy học theo chủ đề giúp HS hiểu trọn vẹn một nội dung kiến thức vàvận dụng kiến thức ở mức độ sâu rộng hơn trong thực tiễn cuộc sống, hìnhthành thói quen tư duy, thu thập, huy động nội dung kiến thức từ nhiều nguồnkhác nhau thông quan đến chủ đề theo mục tiêu nhất định Với cách tiếp cậndạy học theo chủ đề, GV có thể tổ chức các dự án học tập để HS tìm hiểu vàvận dụng các kiến thức vào thực tiễn cuộc sống liên quan đến chủ đề Trongquá trình đó, các em được va chạm với các tình huống trong đời sống thực và
Trang 28rèn luyện được năng lực giải quyết vấn đề, ra quyết định Dạy học theo chủ đềgắn học với hành, nhà trường và xã hội, đồng thời giúp HS nhìn nhận vấn đềmột cách tổng thể sâu rộng hơn và lý giải được sự vận động khách quan của đốitượng nghiên cứu trong thực tiễn.
Dạy học theo chủ đề đảm bảo hiệu quả hoạt động hóa quá trình dạy vàhọc, tức là quá trình dạy học hướng đến mục tiêu sử dụng các kiến thức đã họcđược vào việc gì để giúp ích cho đời sống, hoặc vận dụng mảng kiến thức đểgiải thích, tìm hiểu các hiện tượng, giải quyết vấn đề của cuộc sống, chứ khôngchỉ là nắm giữ những nội dung kiến thức môn học, nghĩa là giúp HS trả lờiđược câu hỏi làm được cái gì từ cái đã biết
Dạy học theo chủ đề mang tính tích hợp sẽ được phát huy tối đa nhất khidạy học theo chủ đề, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phứchợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình họctập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho HS kiến tạo trithức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập
Các chủ đề ở đây phải là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiềumôn hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, lại đồng thời phải gắn với thực tiễn Bởitrong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn,tuy nhiên mỗi vấn đề của cuộc sống thì lại luôn diễn ra trong những mối quan
hệ phức hợp Vì vậy, sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phụctình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện và hìnhthành cho HS năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp liên môn
Dạy học theo chủ đề phức hợp là một mô hình dạy học định hướng hànhđộng, hình thành các năng lực cần thiết, trong đó, HS tự lực thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết vàthực hành, có tạo ra các sản phẩm Ở đây, đòi hỏi cả người dạy phải biết vận
Trang 29dụng nhiều lý thuyết và mô hình dạy học hiện đại, như lý thuyết kiến tạo, dạyhọc hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, dạy học theo tình huống, dạyhọc trải nghiệm và dạy học dự án.
Với đặc điểm khác biệt của dạy học theo chủ đề: việc dạy và học không
bị giới hạn bởi không gian và thời gian Bởi vậy, GV có đủ cơ hội để vận dụngcác mô hình, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực theo đúngnghĩa của nó Ngược lại, HS cũng có cơ hội được học một cách tích cực thực sựnhất Thông qua đó, người học mới hình thành và phát triển được các kĩ năngcần thiết cho bản thân Bởi vì, triết lí việc hình thành và phát triển các kĩ năng
là phải thông qua hoạt động và chỉ có qua hoạt động thì mới hình thành và pháttriển được kĩ năng [7]
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích điều tra
Để có cơ sở thực tiễn, chúng tôi đã thực hiện điều tra thực trạng đối vớiđội ngũ GV đang dạy học môn Sinh học tại trường THCS Nha Trang và trườngTHCS Phú Xá trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên về nhận thức và vận dụng dạy họctheo chủ đề trong dạy học môn Sinh học
1.2.2 Phương pháp điều tra
Phỏng vấn và sử dụng phiếu điều tra (phụ luc 1;2; 3)
1.2.3 Đối tượng điều tra
25 GV đang dạy học môn Sinh học tại một số trường THCS trên địa bàn
tỉnh Thái Nguyên
1.2.4 Thời gian điều tra
Năm 2019
Trang 301.2.5 Nội dung điều tra
(1) Thực trạng nhận thức của GV về dạy học theo chủ đề đối với sự phát triển năng lực cho HS
(2) Thực trạng vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học môn Sinh họccủa GV
(3) Những khó khăn gặp phải của GV khi vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học môn Sinh học)
1.2.6 Kết quả điều tra và bình luận
1.2.6.1 Thực trạng nhận thức của GV về dạy học theo chủ đề đối với sự phát triển năng lực cho HS
(1) Số lượng và tỷ lệ phần trăm GV đã được tham gia khoá học về dạy học tiếp cận năng lực, chúng tôi thu được kết quả dưới đây:
Bảng 1.2. Kết quả điều tra số lượng GV đã được tham gia khoá học về dạy học tiếp cận năng lực
Số liệu ở bảng 1.2 đã cho thấy: phần lớn (88%) GV đã được tham giakhóa bồi dưỡng chuẩn chức danh nghề nghiệp đối với GV THCS ở chuyên đề 7theo quy định của Cục Nhà giáo - Bộ GD&ĐT Đây là phương pháp luận quantrọng và là cơ sở thay đổi nhận thức của GV về dạy học tiếp cận năng lực
(2) Nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo chủ đề đối với sự pháttriển năng lực của HS
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 31Bảng 1.3. Kết quả điều tra nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo chủ đề đối với sự phát triển năng
lực của HSRất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
Bảng 1.4 Kết quả điều tra nhận thức của GV về về sự cần thiết vận dụng dạy học theo chủ đề nhằm phát
triển năng lực của HSRất cần thiết Cần thiết Không cần thiết
Bảng 1.5 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng dạy học theo chủ đề trong
dạy học môn Sinh học của GV
Thường xuyên Không thường Không khi nào
Trang 32Số liệu ở bảng 1.5 đã cho thấy: đa số (88%) GV đã vận dụng dạy họctheo chủ đề trong dạy học môn Sinh học Tuy nhiên, việc vận dụng này của GV
là không thường xuyên với lí do là hiện nay việc dạy học các môn học vẫn theophân phối chương trình và dạy theo bài/ tiết
1.2.6.3 Những khó khăn gặp phải của GV khi vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học môn Sinh học
Bảng 1.6. Kết quả điều tra những khó khăn găp phải của GV khi vận dụng dạy học theo chủ đề trong dạy học
môn Sinh họcKhông bố trí thời Tốn nhiều thời Chưa hiểu biếtgian để tổ chức gian xây dựng kế nhiều về dạy họcdạy học hoạch dạy học theo chủ đề
Số liệu ở bảng 1.6 đã cho thấy: phần lớn (68%) GV đã nhận thức rõ ýnghĩa của dạy học theo chủ đề và họ đã tích cực xây dựng các chủ đề dạy học.Tuy nhiên, đây không phải là điều bắt buộc và mặt khác kể cả GV và HS khôngthể tự bố trí thời gian để tổ chức dạy học Một số GV khác (20%) thì cho rằng
họ không có thời gian để xây dựng kế hoạch dạy học mặc dù về nhận thức thì
họ nhận thức rất rõ ý nghĩa của dạy học theo chủ đề
Kết luận chương 1
Nghiêm cứu cơ sở lí luận đã cho thấy ý nghĩa quan trọng của dạy họctheo chủ đề Vận dụng dạy học theo chủ đề không những khắc phục đượcnhững hạn chế về nội dung, phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạyhọc, theo kiểu dạy học truyền thống trước đây, mà còn có ý nghĩa quan trọngtrong việc hình thành và phát triển năng lực của HS
Trang 33Các kết quả điều tra thực trạng đã cho chúng ta thấy hầu hết các GV đãnhận thức rõ ý nghĩa của dạy học theo chủ đề trong việc khắc phục tồn tại củachương trình và SGK hiện hành Đặc biệt, họ đã nhận thức rõ ý nghĩa của dạyhọc theo chủ đề trong việc hình thành và phát triển năng lực của HS, Tuynhiên, dạy học theo chủ đề hiện nay chưa phải là bắt buộc đối với các GV, thờigian xây dựng và tổ chức dạy học còn bất cập, việc dạy học các môn học vẫntheo bài / tiết như dạy học truyền thống trước đây.
Hình thành và phát triển kĩ năng môi trường cho HS trong dạy học đãđược đề cập từ những năm 70 của thế kỉ XX và cho đến nay nó vẫn được khẳngđịnh lại rất nhiều trong các Hội nghị, Hội thảo trong nước và quốc tế Tuynhiên, thực hiện vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế và một trong số các nguyênnhân của nó là ảnh hưởng của kiểu dạy học truyền thống Bởi vậy, xây dựng lạichương trình, biên soạn lại SGK và tổ chức dạy học theo hướng mới theo tiếpcận năng lực là cần thiết
Năng lực vận dụng kĩ năng là một trong 3 nhóm năng lực đặc thù cầnhình thành và phát triển trong dạy học môn Khoa học tự nhiên [3] cho HS Cácnăng lực thành phần của năng lực này bao gồm: nhận biết vấn đề, thu thậpthông tin, xử lí thông tin, ra quyết định và chúng tôi đã đề xuất bảng Rubric đểđánh giá năng lực vận dụng kĩ năng môi trường của HS trong nghiên cứu
Trang 34Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG” NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KỸ NĂNG
MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
2.1 Giới thiệu nội dung chủ đề “Ô nhiễm môi trường”
Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Khoa học tự nhiên ban hànhkèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT[3], chủ đề “Ô nhiễm môi trường” thuộc phần “Bảo vệmôi trường” môn Khoa học tự nhiên được bố trí dạy ở lớp 8 - THCS và đãđược cụ thể hóa bằng những nội dung và những yêu cầu cần đạt dưới đây[3]:
Bảng 2.1 Nội dung và các yêu cầu cần đạt
môi trường
- Tác động -Trình bày được tác động của con người đối với môi trườngcủa con người qua các thời kì phát triển xã hội; tác động của con người làmđối với môi suy thoái môi trường tự nhiên; vai trò của con người trong bảotrường vệ và cải tạo môi trường tự nhiên
- Ô nhiễm - Nêu được khái niệm ô nhiễm môi trường Trình bày được môi trường sơ lược về một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (ô
- Biến đổi khí nhiễm do chất thải sinh hoạt và công nghiệp, ô nhiễm hoá
hậu chất bảo vệ thực vật, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm do sinh vật
- Gìn giữ gây bệnh) và biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường.
thiên nhiên - Trình bày được sự cần thiết phải bảo vệ động vật hoang dã,
- Hạn chế ô nhất là những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệnhiễm môi theo Công ước buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoangtrường dã (CITES) (ví dụ như các loài voi, tê giác, hổ, sếu đầu đỏ và
các loài linh trưởng)
- Nêu được khái niệm khái quát về biến đổi khí hậu và một sốbiện pháp chủ yếu nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu
- Điều tra được hiện trạng ô nhiễm môi trường ở địa phương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 35Như vậy, dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường” nhằm hướng đến thựchiện 2 yêu cầu cần đạt: (1) HS phải nêu được khái niệm ô nhiễm môi trường.Trình bày được sơ lược về một số nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường (ônhiễm do chất thải sinh hoạt và công nghiệp, ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật,
ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm do sinh vật gây bệnh) và biện pháp hạn chế ônhiễm môi trường (2) HS vận dụng được kĩ năng trong điều tra hiện trạng ônhiễm môi trường ở địa phương
2.2 Một số nguyên tắc cần đảm bảo trong dạy học một chủ đề
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ biện chứng giữa dạy học và mục tiêu phát triển năng lực người học
Luật Giáo dục của nước ta đã quy định “Phương pháp giáo dục phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡngcho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ýchí vươn lên” [13] Trong thời đại hiện nay, vấn đề đặt mục tiêu lĩnh hội trithức của người học không còn quá quan trọng, mà việc rèn luyện năng lực tựchiếm lĩnh tri thức và vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn mộtcách sáng tạo mới thực sự phải quan tâm Vì vậy, việc thiết kế kế hoạch dạyhọc và các hoạt động dạy học phù hợp với HS phải hướng tới đảm bảo khôngnhững đạt được mục tiêu chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng và thái độ, màcòn phải đảm bảo người học hướng tới hình thành và phát triển phẩm chất vànăng lực
2.2.2 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa vai trò chủ thể tích cực, tự giác và độc lập của HS với vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học
Nguyên tắc này yêu cầu các tổ chức dạy học phải tạo ra được sự hứngthú, tâm thế tích cực hoạt động sao cho tập thể HS luôn trong trạng thái tươngtác, đó có thể là tương tác giữa HS - Đối tượng học tập, HS - HS, HS - GV với
sự chỉ đạo, cố vấn và hướng dẫn của GV
Trang 36Người dạy, người học và môi trường dạy học được coi là 3 thành tố củahoạt động dạy học, sự kết hợp của các thành tố này có tính chất hữu cơ trongtổng thể mối quan hệ logic và phụ thuộc lẫn nhau Bất cứ một PPDH nào cũngđòi hỏi tìm hiểu mối quan hệ ràng buộc này.
2.2.3 Nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp giữa nội dung dạy học và hình thức
Như vậy, chủ đề là một đơn vị nội dung kiến thức đa dạng, phức hợp vàtương đối trọn vẹn mà khi học xong chủ đề người học có thể vận dụng đượckiến thức đã học để giải quyết một vấn đề thực tiễn hoặc giải quyết một vấn đềtrong bối cảnh mới Chính vì vậy, khi thiết kế kế hoạch dạy học một chủ đềphải đảm bảo nguyên tắc này Ví dụ như: tăng cường sử dụng các hình thức tổchức dạy học khác nhau, trong đó cần chú ý vận dụng các hình thức tổ chứcdạy học tích cực như dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học qua trảinghiệm,v.v để HS chủ động và tham gia tích cực trong quá trình học tập Cónhư thế, HS mới hình thành và phát triển được những phẩm chất và năng lựccần thiết để sau này họ có thể vận dụng được kiến thức đã học giải quyết mộtvấn đề thực tiễn hoặc giải quyết một vấn đề trong bối cảnh mới
2.3 Quy trình rèn luyện năng lực vận dụng kĩ năng môi trường cho HS trong dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường”
Nhằm hướng tới hình thành ở HS năng lực vận dụng kĩ năng môi trườngtrong quá trình dạy học chủ đề “Ô nhiễm môi trường”, chúng tôi đề xuất quytrình rèn luyện với các cấp độ và các bước cụ thể dưới đây:
Trang 37Bước 1 GV thực hiện làm mẫu; HS quan sát, theo
dõi Bước 2 HS bắt trước làm theo GV
- Ví dụ:
Bước 1 - GV đưa ra tình huống bằng cách chiếu lên màn hình những hình ảnh:
Hình 2Hình 1
Trang 38Trong đó:
+ Hình 1 Nhà máy giấy thải chất thải ra sông
+ Hình 2 Nước sông có màu khác thường
+ Hình 3 Cá chết hàng loạt trên sông
+ Hình 4 Sử dụng công nghệ để xử lí, khắc phục
- GV phân tích và xác định hình ảnh nào trên đây nói về nguyên nhân gây ô nhiễm, hình ảnh nào nói về hiện tượng ô nhiễm, hình ảnh nào nói về hậu quả của sự
ô nhiễm và hình ảnh nào nói về giải pháp, biện pháp xử lí, khắc phục
- HS quan sát, theo dõi các hoạt động của GV
Bước 2 HS bắt trước tập phân tích lại, giải quyết tình huống theo như GV
Cấp độ 2 HS tự lực phân tích, giải quyết tình huống do GV đặt ra
- Mục đích ở cấp độ này nhằm phát triển cho HS năng lực vận dụng kĩnăng môi trường ở mức độ cao hơn - tự lực phân tích, giải quyết tình huống do
GV đặt ra
- Nhiệm vụ: GV đặt ra tình huống mới; HS tự lực phân tích, giải quyết tình huống do GV đặt ra
- Quy trình gồm 2 bước:
Bước 1 GV đưa ra tình huống mới
GV có thể lựa chọn trong số tình huống dưới đây:
- Ô nhiễm nguồn nước do khai thác khoáng ở địa phương;
- Ô nhiễm nguồn nước do mưa to gây ngập úng ở địa phương;
- Ô nhiễm không khí do khói bụi từ nhà máy ở địa phương;
- Ô nhiễm không khí do khói bụi từ việc đốt rác thải ở địa phương;
Trang 39- Ô nhiễm không khí do đổ rác thải sinh hoạt không đúng quy định ở địa phương;
- Ô nhiễm nguồn nước do đổ rác thải sinh hoạt không đúng quy định ở địa phương;
- Ô nhiễm đất do đổ rác thải sinh hoạt không đúng quy định ở địa
phương; Bước 2 HS tự phân tích và giải quyết tình huống
Căn cứ vào tình huống GV đưa ra, HS sử dụng kiến thức, kĩ năng, kinhnghiệm để tự lực phân tích, giải quyết tình huống Trong đó, HS phải làm rõnhững vấn đề dưới đây:
- Nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm;