Đề án ĐH Kinh tế quốc dân
Trang 1ĐỀ ÁN QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO – LÝ THUYẾT VÀ
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP 5
1.1 Khái quát về đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp
5 1.1.2 Các loại hình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp… 5
1.1.3 Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội …
7 1.2 Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp
8 1.2.1 Khái niệm năng lực đổi mới sáng tạo …
8 1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo 9
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo
11 1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp của Hàn Quốc 14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY 17
2.1 Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam 17
2.2 Hình thức đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam 19
2.3 Đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam
20 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 26
Trang 23.2 Các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp Việt Nam 28
3.3 Thiết kế khung năng lực đổi mới sáng tạo cho doanh nghiệp VN 34 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng của đề tài
Đổi mới sáng tạo có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển bền vững và nhanh
chóng của nền kinh tế cũng như toàn xã hội Nghiên cứu về sự phát triển mạnh mẽ củacác quốc gia mới nổi như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia có một điểmchung lớn đó là sự đầu tư lớn vào năng lực đổi mới sáng tạo Nâng cao năng lực đổimới sáng tạo là một yêu cầu quan trọng cho các doanh nghiệp để nâng cao năng lựccạnh tranh Năng lực đổi mới sáng tạo là giá trị cốt lõi và là chìa khóa để doanh nghiệpvươn đến thành công trong tương lai Năng lực đổi mới sáng tạo thấp sẽ cản trở sựphát triển của nền kinh tế, cũng như doanh nghiệp Do vậy, nâng cao năng lực đổi mớisáng tạo đã trở thành yếu tố ưu tiên hàng đầu và có ý nghĩa quyết định việc nâng caonăng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, tạo nền tảng đểtăng cường lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Nâng cao năng lực đổimới sáng tạo trong doanh nghiệp là một trong những nội dung được
Chính phủ đã quan tâm, gắn đổi mới sáng tạo với tái cấu trúc nền kinh tế theo hướngnâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh,nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Điều này được thể hiện ở Nghị quyết 19/NQ-
CP ngày 18/3/2014, Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 12/3/2015, Nghị quyết 19/NQ-CPngày 28/4/2016, Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016, Quyết định 844/QĐ-TTg vềphê duyệt đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến 2025,v.v Những chính sách này đã, đang và sẽ tạo động lực cho đổi mới sáng tạo của doanhnghiệp, góp phần phát triển kinh tế, xã hội
Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp sẽ có ảnh hưởng lớn tới việc nâng caonăng suất và chất lượng (Nguyễn Hữu Xuyên, Trịnh Minh Tâm, 2017), điều này đượcthể hiện ở các khía cạnh sau: Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm/dịch vụ hoàn toàn mớihoặc sản phẩm được cải tiến về mẫu mã, công dụng, chất lượng, kiểu dáng sản phẩm;doanh nghiệp cải tiến được qui trình, phương pháp, công cụ/phương tiện sản xuất;doanh nghiệp tìm kiếm và phát triển được thị trường/khách hàng mới, đáp ứng đượccác nhu cầu của khách hàng, đổi mới chính sách phân phối, giá cả, xúc tiến bán hàng
và nhận diện thương hiệu; doanh nghiệp áp dụng mô hình tổ chức mới, đổi mớiphương thức, cách thức quản lý, áp dụng các hệ thống quản lý, đổi mới phong cáchđiều hành, lãnh đạo nhằm tạo động lực và phát huy tính sáng tạo cho người lao độngtrong tổ chức Tuy nhiên, năng đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp còn nhiều mặt
Trang 4hạn chế Vì vậy, việc chọn đề tài nghiên cứu về thực trạng năng lực đổi mới sáng tạocủa các doanh nghiệp Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp để khắc phục dưới góc
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, làm rõ cơ sở lý luận về năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp ViệtNam dưới góc độ nhà nước
Hai là, phân tích được thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Ba là, đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đổi mới sáng tạo, năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanhnghiệp Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp trên địa bàn toàn quốc có hoạt động đổi mớisáng tạo (đổi mới về sản phẩm, qui trình, tiếp thị và đổi mới về tổ chức), các số liệuđược thu thập, xử lý từ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, đề án sử dụng số liệu thứ cấp Đối với số liệu thứcấp, đề tài tiến hành tìm kiếm, đánh giá và sử dụng tài liệu đã công bố có liên quan tớiđổi mới sáng tạo, năng lực đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp và các chính sáchcủa nhà nước về thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp
Ngoài ra, đề án này sử dụng phương pháp thống kê, mô tả
5 Cấu trúc bài viết
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề án này được kết cấu thành 3chương:
Chương 1: Lý thuyết về năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam
Chương 2: Thực trạng năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam hiện nayChương 3: Giải pháp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ViệtNam
6 Lời cảm ơn
Trang 5Trong thời gian từ khi bắt đầu làm đề án đến nay, em đã nhận được sự quan tâm, chỉbảo, giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Với tấm lòng biết ơn, em xin gửi lời cảm ơn chânthành đến cô Đỗ Thị Đông của khoa Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kinh tếquốc dân đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo cho em Nhờ đó, đề án này của em đã đượchoàn thành đúng tiến độ
Xin gửi lời cảm ơn đến tác giả của những công trình nghiên cứu, bài báo đã cung cấpnhững thông tin có giá trị cho việc phân tích của đề án Mặc dù đã có nhiều cố gắng,tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng gópcủa cô và các bạn học cùng lớp để đề án này của em được hoàn thiện hơn
Sinh viên thực hiện Hoàng Thị Thủy
Trang 6CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP
I.1 Khái quát về đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp
I.1.1 Khái niệm đổi mới sáng tạo
Đổi mới sáng tạo đã trở thành động lực chính của sự vững mạnh kinh tế và khả năngcạnh tranh quốc gia Hầu hết mọi người đều cho rằng đổi mới chỉ mang khía cạnhcông nghệ tạo ra các sản phẩm mới nổi bật Một số khác cho rằng đổi mới chỉ gắn liềnvới các hoạt động R&D được tiến hành tại các trường đại học, các phòng thí nghiệmtrọng điểm quốc gia hay các doanh nghiệp
Quan niệm trên còn có những hạn chế bởi đổi mới sáng tạo bao hàm ý nghĩa rộnghơn nhiều Theo định nghĩa của OCED (2005), đổi mới sáng tạo là thực hiện một sảnphẩm mới hay một sự cải tiến đáng kể (đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể),một quy trình, phương pháp marketing mới, hay một phương pháp tổ chức mới trongthực tiễn kinh doanh, tổ chức nơi làm việc hay các mối quan hệ đối ngoại
I.1.2 Các loại hình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp
Đổi mới sáng tạo được tiến hành thông qua nhiều hình thức, đó là các sản phẩm, dịch
vụ, các quy trình sản xuất hay kinh doanh (đối với hàng hóa hay dịch vụ), các mô hình
tổ chức, mô hình kinh doanh và đổi mới xã hội (đổi mới được định hướng trực tiếp vàonhững lợi ích xã hội cụ thể) Bên trong những khía cạnh này, đổi mới có thể xuất hiệntại các điểm khác nhau trong quá trình, bao gồm các giai đoạn như khái niệm, nghiêncứu và phát triển, chuyển giao (sự chuyển hướng của công nghệ đến tổ chức sản xuất),sản xuất và triển khai, hay sử dụng thị trường
Có bốn loại sáng kiến được phân biệt: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mớitiếp thị và đổi mới tổ chức Đổi mới sản phẩm và đổi mới quy trình liên quan chặt chẽđến khái niệm về đổi mới sản phẩm công nghệ và đổi mới quy trình công nghệ Đổimới tiếp thị và đổi mới tổ chức mở rộng phạm vi của sự đổi mới so với những địnhnghĩa trước của Oslo Manual
Đổi mới sản phẩm
Đổi mới sản phẩm là việc giới thiệu một hàng hóa hoặc dịch vụ mới hay có sự cảithiện đáng kể liên quan đến đặc điểm hoặc mục đích sử dụng của nó Điều này baogồm những cải tiến đáng kể trong thông số kỹ thuật, thành phần và vật liệu, phần mềmtích hợp, sự thân thiện với người dùng hoặc các đặc tính chức năng khác Đổi mới sản
Trang 7phẩm có thể sử dụng kiến thức, công nghệ mới, hoặc có thể được dựa trên việc sửdụng mới hoặc kết hợp của kiến thức hoặc các công nghệ hiện có Đổi mới sản phẩmbao gồm cả việc giới thiệu hàng hóa và dịch vụ mới và cải tiến đáng kể trong các đặcđiểm chức năng hoặc mục đích sử dụng hiện có của hàng hóa và dịch vụ Các sảnphẩm mới là hàng hoá và dịch vụ có sự khác biệt rõ rệt về đặc điểm hoặc mục đích sửdụng so với các sản phẩm trước đây được sản xuất bởi cùng một hãng Sự phát triểncủa một công dụng mới của một sản phẩm chỉ với những thay đổi nhỏ trong yêu cầu
kỹ thuật của nó cũng là một sự đổi mới sản phẩm
Đổi mới quy trình
Đổi mới quy trình là việc thực hiện mới hoặc cải thiện đáng kể hoạt động sản xuất,phương thức giao hàng Điều này bao gồm những thay đổi đáng kể về kỹ thuật, thiếtbị/hoặc phần mềm Đổi mới quy trình có thể được dùng để làm giảm chi phí sản xuất,phân phối, nâng cao chất lượng, hoặc để sản xuất hoặc cung cấp mới hoặc cải thiệnđáng kể các sản phẩm
Đổi mới quy trình gồm các phương pháp mới hoặc cải tiến đáng kể cho việc hìnhthành và cung cấp dịch vụ Đó có thể là sự thay đổi đáng kể trong các thiết bị, phầnmềm, kỹ thuật được sử dụng hay thủ tục để cung cấp dịch vụ Đổi mới quy trình cònbao gồm cả những điểm mới hoặc được cải tiến đáng kể trong kỹ thuật, trang thiết bị
và phần mềm trong hoạt động hỗ trợ phụ trợ như mua bán, kế toán và bảo trì
Đổi mới tiếp thị
Đổi mới tiếp thị là việc thực hiện một phương pháp tiếp thị mới như thay đổi đáng kểtrong thiết kế sản phẩm hoặc bao bì, quảng cáo sản phẩm, phát triển sản phẩm hay giáthành Đổi mới tiếp thị bao gồm thay đổi đáng kể trong thiết kế sản phẩm là một phầncủa định hướng tiếp thị mới Thay đổi thiết kế sản phẩm ở đây muốn nói đến là sự thayđổi về kiểu dáng và hình thức sản phẩm mà không làm thay đổi sản chức năng hoặcđặc điểm sử dụng Mở rộng hơn, những đổi mới trong thiết kế sản phẩm có thể baogồm sự thay đổi trong hình thức hoặc hương vị của sản phẩm thực phẩm hoặc đồuống, như sự ra đời của các hương vị mới cho một sản phẩm thực phẩm để nhắm đếnphân khúc khách hàng mới Một ví dụ về sự đổi mới tiếp thị trong bao bì là sử dụngmột thiết kế chai mới cho một loại kem dưỡng da để cung cấp cho sản phẩm một vẻngoài khác biệt và hấp dẫn đối với một phân khúc thị trường mới
Đổi mới tổ chức
Trang 8Đổi mới về tổ chức là việc thực hiện của một phương pháp tổ chức mới trong hoạtđộng kinh doanh, tổ chức nơi làm việc hoặc quan hệ đối ngoại của doanh nghiệp.Điểm phân biệt của một sự đổi mới tổ chức với những thay đổi khác về mặt tổ chức làviệc thực hiện của phương pháp tổ chức mới (trong hoạt động kinh doanh, tổ chức nơilàm việc hoặc quan hệ bên ngoài) chưa từng áp dụng trước đó trong công ty và là kếtquả của các quyết định chiến lược thực hiện bởi quản lý.
Đổi mới tổ chức trong hoạt động kinh doanh liên quan đến thực hiện các phươngpháp mới cho tổ chức hoạt động và quy trình thực hiện công việc Những đổi mớitrong tổ chức nơi làm việc liên quan đến việc thực hiện phương pháp mới để phân bổtrách nhiệm và ra quyết định giữa các bộ phận chuyên môn trong công ty (và đơn vị tổchức) cũng như các mô hình cơ cấu hoạt động mới Tuy nhiên, đổi mới tổ chức cũng
có thể bao gồm cả việc tập trung hóa các hoạt động và tăng cường trách nhiệm choviệc ra quyết định
1.1.3 Vai trò của đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội Thứ nhất, cải tiến sản phẩm, dịch vụ là để tránh đi vào lối mòn Đổi mới sản phẩm có
thể giúp doanh nghiệp biến những gì sẵn có thành những sản phẩm tốt hơn, đáp ứngcao hơn nhu cầu của khách hàng đồng nghĩa với nâng cao doanh số và doanh thu.Doanh nghiệp cũng có thể là người mở hướng đi tiên phong và dẫn đầu thị trường đốivới dòng sản phẩm mới Trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt và vòng đời sản phẩmngày càng có xu hường ngắn lại thì đổi mới sản phẩm là vô cùng cần thiết và tất yếu
Thứ hai, khi đổi mới sản phẩm, ngoài viêc nâng cao doanh số, doanh thu, doanh
nghiệp còn có thể tìm ra những nhóm khách hàng mới hay có tiềm năng mà chưa đượckhai thác trên thị trường Nhu cầu của con người là vô hạn và ngày càng cao, do đó bất
cứ thị trường nào cũng có thể tìm ra nhiều thị phần đang bị lãng quên
Thứ ba, về đổi mới quy trình, nó được dùng để làm giảm chi phí sản xuất, phân phối,
nâng cao chất lượng, hoặc để sản xuất hoặc cung cấp mới hoặc cải thiện đáng kể cácsản phẩm Trong đổi mới quy trình, dễ thấy nhất chính là việc đổi mới công nghệ Tiến
bộ khoa học công nghệ, đổi mới công nghệ sẽ cho phép nâng cao chất lượng sản phẩmtạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, tăng sản lượng, tăng năng suất laođộng, sử dụng hợp lý tiết kiệm nguyên vật liệu Nhờ vậy sẽ tăng khả năng cạnh tranh,
mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh Trong hướng đổi mới này, dịch vụ chăm sóc khách hàng cũng đóng vai trò rấtquan trọng vì chính nó tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp
Trang 9Thứ tư, đổi mới sáng tạo về tiếp thị Mục đích của đổi mới tiếp thị là đáp ứng tốt hơn
nhu cầu khách hàng, mở ra những thị trường mới, hoặc định vị lại sản phẩm của công
ty trên thị trường,với mục tiêu tăng doanh số bán hàng của công ty Đây là một hướngquan trọng để cải tiến vì giỏi sản xuất nhưng lại yếu kém trong khâu phân phối tiếp thịthì cũng khó mà phát triển
Tóm lại, đổi mới sáng tạo sẽ giúp doanh nghiệp, nhà sản xuất cải thiện, nâng cao chất
lượng sản phẩm, củng cố, duy trì và mở rộng thị phần của sản phẩm; đa dạng hoá mẫu
mã sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu; cải thiện điều kiện làm việc, nâng caomức độ an toàn sản xuất cho người và thiết bị, giảm tác động xấu đến môi trường Đặcbiệt, về mặt lợi ích thương mại, nhờ đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm đượcnâng lên rõ rệt
I.2 Năng lực đổi mới sáng tạo
1.2.1 Khái niệm năng lực đổi mới sáng tạo
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài về năng lực đổimới sáng của doanh nghiệp Các nghiên cứu đã khái quát được các quan điểm và cáchtiếp cận khác nhau năng lực đổi mới sáng tạo, cụ thể là:
Theo Romijn và Albaladejo (2002), năng lực đổi mới sáng tạo là những kiến thức cầnthiết để tiếp thu, làm chủ và cải tiến các công nghệ hiện có và tạo ra các công nghệmới, các công nghệ mới được tạo góp phần nâng cao năng suất và chất lượng của sảnphẩm Còn theo cách tiếp cận công nghệ của Sharif (1986), năng lực đổi mới sáng tạogồm năng lực thích nghi, đồng hóa, làm chủ, cải tiến, sao chép và khả năng ra sảnphẩm mới, quy trình mới Theo cách tiếp cận từ doanh nghiệp, năng lực đổi mới sángtạo là năng lực bắt nguồn từ quy trình, hệ thống và các nguồn lực có thể huy độngđược vào các hoạt động đổi mới quy trình hay đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp,qua đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng (Chen, 2009) Lawson và Samson(2001) đã định nghĩa năng lực đổi mới sáng tạo là sự áp dụng các nguồn lực để liên tụcchuyển đổi kiến thức và ý tưởng thành những sản phẩm mới, quy trình và hệ thống cólợi cho doanh nghiệp và các bên liên quan Assink (2006) đã định nghĩa năng lực đổimới sáng tạo là sự áp dụng năng lượng bên trong để khám phá và tạo ra những ý tưởng
và khái niệm mới, để thử nghiệm các giải pháp phát hiện các cơ hội tiềm năng trên thịtrường và để chúng trở thành sự đổi mới hiệu quả
Trên thực tế, năng lực đổi mới sáng tạo của một doanh nghiệp bắt nguồn từ những kỹxảo và khả năng sử dụng các nguồn lực và phản ảnh “khả năng liên tục chuyển đổi
Trang 10kiến thức và ý tưởng thành các sản phẩm, quy trình, hệ thống mới mang lại lợi ích chodoanh nghiệp và các chủ thể liên quan Theo cách tiếp cận công nghệ, năng lực đổimới sáng tạo được coi như một làn sóng mới trong quá trình nhận thức về con đườngphát triển công nghệ ở các nước đang phát triển Trước đó các công trình nghiên cứutập trung chủ yếu vào lựa chọn kỹ thuật và nhập thiết bị kỹ thuật sau đó lựa chọn vànhập công nghệ Hậu quả tiêu cực của nhận thức đó là sự trả giá quá đắt cho công nghệmua do khả năng nhận biết, nắm vững và triển khai sử dụng còn quá yếu, công nghệđược sử dụng không thích ứng với nguồn lực, điều kiện, nơi áp dụng và dẫn đến hiệuquả quá thấp.
Như vậy, năng lực đổi mới sáng tạo đề cập đến các yếu tố về khả năng nguồn lựchoặc các yếu tố đầu vào để tạo ra kết quả đổi mới sáng tạo Theo đó, năng lực đổi mớisáng tạo là những kiến thức và kỹ năng cần thiết để tiếp thu, tinh thông và cải tiến cáccông nghệ hiện có và tạo ra các công nghệ mới Năng lực đổi mới sáng tạo là năng lựccủa doanh nghiệp bắt nguồn từ các quy trình, hệ thống, cơ cấu tổ chức, mà có thể đượchuy động vào các hoạt động đổi mới sản phẩm, quy trình, marketing và tổ chức
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp
Năng lực đổi mới sáng tạo được thể hiện thông qua các hoạt động đổi mới sản phẩm,đổi mới quy trình, đổi mới marketing và đổi mới tổ chức
a Về đổi mới sản phẩm
Theo OECD (2005), đổi mới sản phẩm được đánh giá theo các tiêu chí sau (Bảng1.1): Mức độ thường xuyên cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, công cụ sản phẩm; Mức độthường xuyên giới thiệu sản phẩm hoàn toàn mới ra thị trường; Mức độ thường xuyêncải tiến chất lượng sản phẩm; Mức độ thường xuyên sử dụng các nguyên vật liệu mớitrong thiết kế sản phẩm; Mức độ thường xuyên ứng dụng công nghệ mới trong thiết
kế sản phẩm
Bảng 1.1 Đổi mới sáng tạo sản phẩm của doanh nghiệp
STT Tiêu chí phản ánh đổi mới sáng tạo về sản phẩm
1 Mức độ thường xuyên cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, công cụ sản phẩm
2 Mức độ thường xuyên giới thiệu sản phẩm hoàn toàn mới ra thị
trường
3 Mức độ thường xuyên cải tiến chất lượng sản phẩm
4 Mức độ thường xuyên sử dụng các nguyên vật liệu mới trong thiết kế
Trang 11sản phẩm
5 Mức độ thường xuyên ứng dụng công nghệ mới trong thiết kế sản
phẩm
Nguồn: OECD (2005)
b Về đổi mới quy trình
Theo (OECD 2005), đổi mới quy trình được đánh giá theo các mức tiêu chí sau(Bảng 1.2): Mức độ thường xuyên cải tiến phương pháp sản xuất; Mức độ thườngxuyên cải tiến công cụ và thiết bị sản xuất; Mức độ thường xuyên cải tiến quy trìnhsản xuất; Mức độ thường xuyên cải tiến công nghệ sản xuất; Mức độ thường xuyêncải tiến hoạt động kiểm soát chất lượng
Bảng 1.2 Đổi mới sáng tạo quy trình của doanh nghiệp
STT Tiêu chí phán ánh đổi mới sáng tạo quy trình
1 Mức độ thường xuyên cải tiến phương pháp sản xuất
2 Mức độ thường xuyên cải tiến công cụ và thiết bị sản xuất
3 Mức độ thường xuyên cải tiến quy trình sản xuất
4 Mức độ thường xuyên cải tiến công nghệ sản xuất
5 Mức độ thường xuyên cải tiến hoạt động kiểm soát chất lượng
Nguồn: OECD (2005)
c Về đổi mới marketing
Theo OECD (2005), đổi mới maketing được đánh giá theo các tiêu chí sau (Bảng1.3): Mức độ tích cực tìm kiếm và phát triển thị trường và khách hàng mới; Mức độthường xuyên cập nhật và nắm bắt yêu cầu của khách hàng; Mức độ thường xuyên cậpnhật và điều chỉnh chính sách giá; Mức độ thường xuyên đổi mới các hoạt động quảngcáo khoa trương, khuyến mại quan hệ công chúng; Mức độ thường xuyên cải tiến cáchoạt động nhận diện, phát triển thương hiệu; Mức độ thường xuyên phát triển các kênhbán hàng truyền thống và trực tuyến
Bảng 1.3 Đổi mới sáng tạo về marketing của doanh nghiệp
STT Tiêu chí phán ánh đổi mới sáng tạo về marketing
1 Mức độ tích cực tìm kiếm và phát triển thị trường và khách hàng mới
2 Mức độ thường xuyên cập nhật và nắm bắt yêu cầu của khách hàng
3 Mức độ thường xuyên cập nhật và điều chỉnh chính sách giá
4 Mức độ thường xuyên đổi mới các hoạt động quảng cáo, khuyến mại quan
hệ công chúng
5 Mức độ thường xuyên cải tiến các hoạt động nhận diện, phát triển thương
hiệu
Trang 126 Mức độ thường xuyên phát triển các kênh bán hàng truyền thống và trực
Bảng 1.4 Đổi mới sáng tạo tổ chức trong doanh nghiệp
STT Tiêu chí phán ánh đổi mới sáng tạo tổ chức trong doanh nghiệp
1 Mức độ khuyến khích phát huy sáng tạo được tạo ra từ mô hình tổ chức
2 Mức độ khuyến khích phát huy sáng tạo được sinh ra từ phong cách lãnh đạo
3 Mức độ đổi mới phương pháp quản lý, áp dựng phương pháp quản lý theo
6 Mức độ đổi mới và áp dụng các hệ thống quản lý (hệ thống thông tin quản
lý, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý các mối quan hệ với khách hàng…)
Nguồn: OECD, 2005 1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của DN
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo gồm các nhóm nhân tố nhưđặc điểm nguồn lực, chiến lược kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp, phong cách lãnhđạo, mức độ sẵn có của nguồn nhân lực, các mối liên kết trong chuỗi giá trị, mô hìnhkinh doanh, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, đặc điểm cạnh tranh ngành Nhưvậy, có thể chia các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực đổi mới sáng tạo gồm các yếu tốbên trong và các yếu tố bên ngoài
a Các yếu tố bên trong
Trang 13Nhân lực, đây là yếu tố quan trọng quyết định thành công của mọi hoạt động Đối với
hoạt động đổi mới sáng tạo thì nhân lực là yếu tố quyết định quan trọng cao nhất vìmọi sự cải tiến về sản phẩm, quy trình, công nghệ hay quản lý đều phải bắt nguồn từnhững ý tưởng mới của con người Nhóm nhân tố nhân lực tác động đến năng lực đổimới sáng tạo của doanh nghiệp bao gồm: tố chất sáng tạo và linh hoạt của nhà quản lý,sẵn sàng chấp nhận rủi ro không không nản lòng trước thất bại và sẵn sàng thử nghiệm
ý tưởng mới của người nhân lực sáng tạo, đội ngũ nhân lực năng động, có đủ năng lực
và sáng tạo, Quan điểm khuyến khích đổi mới sáng tạo và sự cam kết ủng hộ củangười lãnh đạo
Văn hóa doanh nghiệp, đây là hệ thống những giá trị, niềm tin và quy phạm được
chia sẻ bởi các thành viên trong doanh nghiệp và hướng dẫn hành vi của người laođộng trong doanh nghiệp Khái niệm văn hóa trong doanh nghiệp cho thấy tầm quantrọng của sự “chia sẻ” về sự thống nhất giữa các thành viên từ lãnh đạo cho đến ngườilao động trong tổ chức về những giá trị, quy phạm, phương châm, luật lệ và kiến thứcchung để hướng mọi thành viên ứng xử theo một cách thức thống nhất nhằm đạt đượcmục tiêu đã đề ra Vì vậy, văn hóa doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt cho tổ chức và làmột chất keo kết dính các thành viên để nâng cao tính cam kết vì lợi ích chung củadoanh nghiệp
Quản lý và quản trị tri thức, quản trị tri thức trong doanh nghiệp là thực hiện sự thu
nhận, tổ chức, phân tích, chia sẻ và khai thác áp dụng có hiệu quả các kiến thức của tổchức nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp Nó đề cập đến
sự tiếp cận nhiều lĩnh vực để đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sở khai thác cóhiệu quả nhất các tri thức mà tổ chức đã có được Quản trị tri thức gồm ba yếu tố cơbản có tác động đến đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp là: thu nhận tri thức, phổbiến tri thức, khai thác và sử dụng tri thức
Tài chính và quy trình triển khai Hỗ trợ tài chính bao gồm việc chi tiêu tài chính cho
tất cả các hoạt động liên quan đến đổi mới sáng tạo như mua quy trình công nghệ mới,bản quyền phát minh sáng chế, thiết kế các sản phẩm, hoặc quy trình, giải pháp mới.Quy trình triển khai, Hỗ trợ quy trình triển khai công ty soạn thảo và ban hành đượccác tài liệu, văn bản chi tiết và cụ thể hướng dẫn cách thức triển khai các ý tưởng/dự
án đổi mới sáng tạo sẽ tác động tích cực đến khả năng đổi mới sáng tạo của doanhnghiệp
Ngoài ra, hỗ trợ về công nghệ sáng tạo cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng
lực đổi mới sáng tạo của ngưởi lao động vì nó là phương pháp, công cụ để người laođộng nảy sinh các ý tưởng sáng tạo trong quá trình làm việc hoặc giải quyết các vấn đề
Trang 14ở doanh nghiệp Hỗ trợ về trang thiết bị vật chất như máy móc, trang thiết bị phòng thínghiệm để thực hiện nghiên cứu, thiết kế, thực nghiệm, hệ thống máy tính, công nghệthông tin để đảm bảo thông tin kinh doanh được cập nhật thường xuyên giúp nâng cao
sự nhạy bén của công ty với những thay đổi của môi trường
b Các yếu tố bên ngoài
Chính sách pháp luật của nhà nước: có tác động rất lớn đến tình hình đổi mới sáng
tạo của doanh nghiệp Chính sách thể hiện bởi hệ thống văn bản pháp luật, đạo luậtchủ trương, chính sách, chương trình, đề án,… hướng vào phát triển năng lực đổi mớisáng tạo cho doanh nghiệp và các yếu tố cải cách cơ cấu kinh tế, thủ tục hành chính, sựchuẩn mực và minh bạch của hệ thống thông tin, báo cáo, đánh giá Hệ thống văn bảnpháp luật khuyến khích đổi mới sáng tạo, mức độ cải cách thủ tục hành chính, tínhminh bạch và chuẩn mực của báo cáo, kiểm toán, hoạt động tái cấu trúc trong nền kinhtế
Yếu tố kinh tế, yếu tố này thường gắn với bối cảnh kinh tế nhất định của quốc gia như
tốc độ tăng trưởng, tỷ số giá cả, tỷ giá hối đoái… Khi kinh tế tăng cao, ổn định thì nhànước sẽ ít gặp khó khăn hơn trong việc hoạch định, thực thi chính sách nhằm thúc đẩydoanh nghiệp đổi mới sáng tạo do giải pháp được tài trợ bằng nguồn vốn ngân sách dồidào
Yếu tố khoa học và công nghệ, yếu tố này phản ánh trình độ phát triển khoa học và
công nghệ, qua đó tác động đến phương thức hoạch định, tổ chức thực thi, cũng nhưgiám sát, đánh giá chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
Yếu tố văn hóa xã hội, yếu tố này thể hiện ở quan niệm, tư tưởng, đạo đức, trình độ
dân trí và văn hóa công nghệ quốc gia Trong xã hội có nền văn hóa công nghệ cao,người dân được tiếp xúc với thành tựu khoa học và công nghệ, nhờ đó họ dễ dàng hiểu
rõ chính sách nhà nước về phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và ủng hộ sự đổi mớisáng tạo nội sinh, hơn nữa khi trình độ dân trí càng cao thì càng thuận lợi cho việchoạch định, tổ chức thực thi chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mớisáng tạo
Ngoài ra, xu hướng toàn cầu hóa cũng có ảnh hưởng nhất định tới nhận thức, quan
điểm của chủ thể chính sách trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế vềchính sách thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
I.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp ở Hàn Quốc
Trang 15Để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra nhiều chínhsách ưu đãi cho hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo Chính phủ đã thay đổi môitrường công nghệ bằng cách thiết lập chương trình R&D quốc gia vào năm 1982 vàthực hiện nhiều chính sách để thúc đẩy và tạo điều kiện cho các hoạt động R&D, baogồm ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính,mua sắm và các hoạt động quảng cáo khác
Thứ nhất, chính phủ đưa ra các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp tư nhân nhưmiễn thuế hoặc giảm thuế vào các khoản đầu tư cho R&D và phát triển nguồn nhânlực Năm 1981, chính phủ sửa đổi Luật thuế địa phương và Luật giảm thuế quốc gia đểmiễn bất động sản phục vụ cho mục đích R&D từ thuế địa phương và giảm thuế doanhnghiệp cho chi phí R&D, phát triển nguồn nhân lực và các cơ sở liên quan Một nămsau đó, Luật thuế quan được thay đổi để giảm thuế cho nguyên vật liệu và công cụnhập khẩu phục vụ cho R&D
Thứ hai, vào năm 1981, chính phủ đã thành lập Tập đoàn Phát triển Công nghệ HànQuốc, một ngân hàng chuyên về tài chính công nghệ, để tạo điều kiện cho sự phát triển
và thương mại hóa công nghệ Chính phủ củng cố hỗ trợ tài chính cho phát triển côngnghệ bằng cách thành lập một tổ chức bảo lãnh phi lợi nhuận được gọi là Tập đoàn Tàichính Công nghệ Hàn Quốc năm 1989, có chức năng chính là giúp các doanh nghiệpvừa và nhỏ vay vốn để phát triển hoặc thương mại hóa công nghệ Chính phủ đã bổsung cho các biện pháp này bằng cách thành lập Quỹ phát triển công nghiệp (1986),Quỹ xúc tiến khoa học và công nghệ (1991), Quỹ công nghệ thông tin và viễn thông(1993) và các chương trình khác để tạo điều kiện thương mại hóa các công nghệ mới
Hệ thống tài chính cho phát triển công nghệ tại Hàn Quốc đã được hoàn thành với việckhai trương KOSDAQ, một thị trường chứng khoán công nghệ
Thứ ba, một chương trình mua sắm đã được giới thiệu vào năm 1981 để thúc đẩy nhucầu về sản phẩm công nghệ mới được phát triển bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ vànhiều chương trình hỗ trợ khác như dịch vụ tư vấn kỹ thuật và pháp lý, dịch vụ côngnghệ thông tin, công nghệ thương mại và chuyển giao
Thứ tư, đầu tư R&D của chính phủ đã tăng đáng kể từ đầu những năm 1980, khi chínhsách KH&CN của Hàn Quốc trải qua một sự thay đổi cơ bản từ công nghệ học đếnphát triển công nghệ Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Chương trình R&D quốcgia năm 1982, sau đó là Chương trình phát triển công nghiệp dựa vào công nghệ của
Bộ thương mại, công nghiệp, và năng lượng, Chương trình phát triển công nghệ thôngtin và truyền thông của Bộ thông tin và truyền thông, và những bộ khác Những sángkiến này đã thúc đẩy R&D bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp tư nhân cơ hội
Trang 16hợp tác với khu vực công và bằng cách thúc đẩy đầu tư R&D tư nhân vì mục đíchthương mại.
Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi Viện Chính sách Khoa học và Công nghệ(STEPI 2005), chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện 259 chương trình hỗ trợ R&D và đổimới sáng tạo Trợ cấp R&D chiếm 30% của tất cả các chương trình hỗ trợ, chuyểngiao công nghệ chiếm 13% và hỗ trợ cho phát triển nguồn nhân lực chiếm 11% Chínhphủ mở rộng 3,4 tỷ đô la cho các chương trình cho vay và 3,3 tỷ đô la cho các chươngtrình trợ cấp R&D Thuế được miễn vì các chương trình ưu đãi thuế lên tới 1,5 tỷ USDvào năm 2005 Ngược lại, các chương trình hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực chỉ chiếm1% của tổng ngân sách chi trong năm đó
Những chương trình này đã mang lại hiệu quả như thế nào cho sự thúc đẩy R&D vàđổi mới sáng tạo? Vào năm 2006 STEPI (Viện nghiên cứu khoa học và công nghệ HànQuốc) đã thực hiện 1 cuộc khảo sát với các doanh nghiệp tư nhân để đánh giá hiệu quảcủa các chính sách ưu đãi của chính phủ Kết quả khảo sát và dữ liệu năm 2005 đềucho thấy rằng tất cả các chương trình hỗ trợ đã có hiệu quả trong việc thúc đẩy R&D
tư nhân và đổi mới sáng tạo, ngoại trừ chương trình mua sắm.Ưu đãi thuế có hiệu quảnhất, tiếp theo là chương trình cho vay, chương trình nguồn nhân lực và tư vấn kỹthuật Điều này phù hợp với đánh giá của OECD: “Ưu đãi thuế cho R&D tại Hàn Quốcrất lớn và bao gồm mọi giai đoạn: đầu tư cơ sở, chi trả R&D, chuyển giao công nghệ”(Baek và Jones 2005)
Khảo sát của STEPI cũng xác định khoảng cách giữa những gì các ngành công nghiệp
tư nhân muốn và những gì các chương trình hỗ trợ cung cấp Theo khảo sát, các ngànhcông nghiệp yêu cầu nhiều hơn sự hỗ trợ của chính phủ ở giai đoạn đổi mới trước đó
Cụ thể, các ngành cần nhiều hơn sự hỗ trợ của chính phủ ở giai đoạn thu thập và lập kếhoạch thông tin (24%) và R&D (41%), trong khi các chương trình hiện tại tập trungvào R&D (58%), thương mại hóa (13%) và tiếp thị (21%) Tóm lại, các chương trìnhhiện tại, tập trung nhiều hơn vào các giai đoạn đổi mới sau này (thương mại hóa vàtiếp thị), không phản ánh thực tế rằng các ngành công nghiệp cần hỗ trợ nhiều hơn ởgiai đoạn trước (thu thập thông tin và lập kế hoạch)
Kể từ đầu những năm 1960, chính phủ đã đóng một vai trò quan trọng trong sự pháttriển của Hàn Quốc Chính phủ lần đầu tiên khởi xướng phát triển KH&CN như là mộtphần của kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia và sau đó dẫn đầu sự phát triển của nó,không chỉ thiết lập quy tắc mà còn là người đặt mục tiêu và tài chính Nhưng khi côngnghiệp phát triển, chính phủ ngày càng khó can thiệp vào các hoạt động kinh tế cũng
Trang 17như R&D vì quy mô và sự phức tạp của các hoạt động công nghiệp ngày càng tăng.
Do đó, mô hình can thiệp của chính phủ vào khoa học và công nghệ đã phải thay đổi
từ sự tham gia trực tiếp sang sự tham gia gián tiếp với tư cách là người hỗ trợ và quảng
bá Các hỗ trợ chính sách của chính phủ Hàn Quốc đã rất hiệu quả trong thúc đẩyR&D và đổi mới trong khu vực tư nhân, nhưng họ cũng đã tạo ra một xu hướng làmcho các doanh nghiệp tư nhân phụ thuộc quá nhiều vào chính sách của chính phủ trongviệc đưa ra quyết định kinh doanh
Trang 18CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong cả nước được thể hiện thông quacác hoạt động đổi mới sáng tạo Do đó, để nâng cao lợi thế cạnh tranh thông qua hoạtđộng đổi mới sáng tạo, các doanh nghiệp cần từng bước nâng cao năng lực đổi mớisáng tạo về sản phẩm, về quy trình, về marketing (tiếp thị) và tổ chức cụ thể như sau:
2.1.1 Đổi mới sáng tạo sản phẩm
Đổi mới sáng tạo về sản phẩm được thể hiện ở mức độ thường xuyên cải tiến mẫu mã,kiểu dáng, công cụ sản phẩm; mức độ thường xuyên giới thiệu sản phẩm hoàn toànmới ra thị trường; mức độ thường xuyên cải tiến chất lượng sản phẩm; Mức độ thườngxuyên sử dụng các nguyên vật liệu mới trong thiết kế sản phẩm; mức độ thường xuyênứng dụng công nghệ mới trong thiết kế sản phẩm Trong thực tế, đổi mới sáng tạo vềsản phẩm thường gắn liền với đổi mới chiến lược đổi mới của doanh nghiệp Kết quảđổi mới sáng tạo về quy trình của doanh nghiệp trong thời gian qua trong cả nước chothấy:
Về cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, công cụ sản phẩm: Đây cũng là thách thức không nhỏđối với doanh nghiệp, sự thay đổi rất hiệu quả có khi đến từ chi tiết rất nhỏ, thôngthường các doanh nghiệp chọn cách nâng cấp sản phẩm cũ chứ không dám phiêu lưuvới sản phẩm mới
- Về giới thiệu sản phẩm hoàn toàn mới ra thị trường: để làm được điều này bộ phậndoanh nghiệp làm công tác nghiên cứu phải tiếp cận thị trường khách hàng, thườngxuyên tìm hiểu thông tin về nhu cầu sản phẩm lắng nghe ý kiến khách hàng cả vềnhược điểm của sản phẩm Hiện tại các doanh nghiệp đang còn gặp rất nhiều khó khăntrong việc giới thiệu sản phẩm mới ra thị trường
- Về việc cải tiến chất lượng sản phẩm: việc dám phiêu lưu với sản phẩm mới hoặcthay đổi nhận diện thương hiệu là rất thấp do chi phí để đầu tư không hề ít Tuy nhiên,những năm gần đây, cùng với cuộc vận động của thị trường, doanh nghiệp đã cónhững bước đi tích cực hơn, trong cuộc cạnh tranh khó khăn, doanh nghiệp phải tựbươn chải để cải thiện hình ảnh của mình trong mắt người tiêu dùng Các công ty đãcải thiện sản phẩm của họ nhiều so với trước đây, nhưng nếu so với sản phẩm cácnước trong khu vực và những nước phát triển thì doanh nghiệp Việt Nam còn phải họchỏi nhiều
Trang 19- Về việc sử dụng các nguyên vật liệu mới trong thiết kế sản phẩm: Việc sử dụng cácnguyên vật liệu mới được doanh nghiệp sử dụng rất nhiều đặc biệt là trong lĩnh vựcxây dựng, ví dụ như thay thế gạch đât nung bằng bê tông nhẹ trong xây dựng, thay thếcửa gỗ truyền thống bằng cửa nhựa lõi thép hoặc cửa kính cường lực.
- Về việc ứng dụng công nghệ mới trong thiết kế sản phẩm: Càng ngày các doanh nghiệp càng ý thức rõ công nghệ lõi, sản phẩm có giá trị cộng thêm cao đòi hỏi tính sáng tạo trong các khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm và là những điều kiện tiên quyết để sản phẩm công nghệ từng bước thuyết phục người dùng nhưng một thực tế hiện là sự mạnh dạn với ứng dụng mới, sản phẩm mới đâu đó còn chưa có nhiều doanhnghiệp ứng dụng
2.1.2 Đổi mới sáng tạo về marketing (tiếp thị)
Đổi mới sáng tạo về marketing (tiếp thị) được thể hiện ở mức độ tích cực tìm kiếm vàphát triển thị trường và khách hàng mới; mức độ thường xuyên cập nhật và nắm bắtyêu cầu của khách hàng; mức độ thường xuyên cập nhật và điều chỉnh chính sách giá;mức độ thường xuyên đổi mới các hoạt động quảng cáo khoa trương, khuyến mại quan
hệ công chúng; mức độ thường xuyên cải tiến các hoạt động nhận diện, phát triểnthương hiệu; mức độ thường xuyên phát triển các kênh bán hàng truyền thống và trựctuyến
- Về việc tìm kiếm và phát triển thị trường và khách hàng mới: Đối với doanh nghiệpnhỏ và vừa thì nhanh chóng thích ứng với những thay đổi của thị trường, Có nhiều cơhội khai thác thị trường ngách (market niches) Việc cập nhật, nắm bắt yêu cầu củakhách hàng và điều chỉnh chính sách giá; doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu thông tin,thiếu thời gian và nguồn lực để thâm nhập thị trường;
- Về đổi mới các hoạt động quảng cáo, khuyến mại quan hệ công chúng, nhận diệnthương hiệu và phát triển các kênh bán hàng truyền thống và trực tuyến Doanh nghiệpchủ yếu sử dụng trang thương mại điện tử miễn phí trên internet, một số hình thức thủcông như tờ rơi, pano giới thiệu hình ảnh tại doanh nghiệp
2.1.3 Đổi mới sáng tạo về tổ chức
Đổi mới sáng tạo về tổ chức trong doanh nghiệp được thể hiện ở mức độ khuyến khíchphát huy sáng tạo được tạo ra từ mô hình tổ chức; mức độ khuyến khích phát huy sángtạo được sinh ra từ phong các lãnh đạo; mức độ đổi mới phương pháp quản lý, áp dựngphương pháp quản lý theo mục tiêu; Yêu cầu đổi mới sáng tạo được thể hiện trong sứmệnh, mục tiêu, kế hoạch, chiến lược và chính sách; mức độ khuyến khích tạo độnglực cho người lao động phát huy đổi mới sáng tạo; mức độ đổi mới và áp dụng các hệ