1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giao an bai 16 lớp sơ cấp lý luận chính trị chuẩn

28 679 38

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 728,85 KB
File đính kèm Bài 16 lớp Sơ cấp lý luận chính trị.rar (3 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài 16 lớp Sơ cấp lý luận chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân giành chính quyền Bài 1: KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Người soạn : Dương Văn Mưu Đối tượng giảng: Học viên lớp Đối tượng kết nạp Đảng Số tiết lên lớp : 05 tiết A. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích: + Giúp học viên hiểu và thấy được hoàn cảnh và ý nghĩa của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam. + Học viên hiểu được quá trình Đảng lãnh đạo các phong trào cách mạng 19301939; Đảng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc và khởi nghĩa giành chính quyền (19391945). 2. Yêu cầu: + Sau khi nghiên cứu chuyên đề, học viên hiểu được giá trị to lớn của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền. + Liên hệ với sự ra đời của tổ chức Đảng Cộng sản ở Phú Bình và các phong trào đấu tranh cách mạng trên địa bàn huyện giai đoạn 19301945. B. KẾT CẤU NỘI DUNG, PHÂN CHIA THỜI GIAN Bài giảng được kết cấu nội dung và phân chia thời gian như sau: I. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. (65 phút) 1. Tình hình thế giới và Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 2. Các phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 3. Hội nghị thành lập Đảng và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 4. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đó chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. II. Đảng lãnh đạo các phong trào cách mạng 19301939. (70 phút) 1. Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng 1930 1935 2. Đảng lãnh đạo Phong trào dân chủ 1936 1939 III Đảng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc và khởi nghĩa giành chính quyền 1939 – 1945 (70 phút) 1. Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc 1939 – 1941 2. Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền 1941 – 1945 3. Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (291945). C. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY, ĐỒ DÙNG DẠY HỌC 1. Phương pháp: Thuyết trình, phân tích, nêu vấn đề, hỏi đáp. 2. Đồ dùng: Máy tính, máy chiếu … D. TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN GIẢNG Tài liệu chương trình Sơ cấp lý luận chính trị. Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới. Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình 19302005 Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Bình 19432018 E. NỘI DUNG CÁC BƯỚC LÊN LỚP VÀ PHÂN CHIA THỜI GIAN Bước 1: Ổn định lớp (03 phút) Giáo viên giới thiệu làm quen với lớp, tạo không khí cởi mở, vui vẻ đối với học viên của lớp học. Bước 2: Kiểm tra bài cũ (07 phút) Đồng chí hãy nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh? (Học viên phát biểu giảng viên bổ sung, dẫn vào bài mới) Bước 3: Giảng bài mới (205 phút) Đặt vấn đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Bài mới

Trang 1

Bài 16:

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN

ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN

Người soạn : Dương Văn Mưu

Đối tượng giảng: Học viên lớp Sơ cấp lý luận chính trị

Số tiết lên lớp : 05 tiết

A MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1930-2 Yêu cầu:

+ Sau khi nghiên cứu chuyên đề, học viên hiểu được giá trị to lớn của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân giành chính quyền

+ Liên hệ với sự ra đời của tổ chức Đảng Cộng sản ở Phú Bình và các phong trào đấu tranh cách mạng trên địa bàn huyện giai đoạn 1930-1945

B KẾT CẤU NỘI DUNG, PHÂN CHIA THỜI GIAN

* Bài giảng được kết cấu nội dung và phân chia thời gian như sau:

I Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (65 phút)

1 Tình hình thế giới và Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2 Các phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

3 Hội nghị thành lập Đảng và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

4 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đó chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc

II Đảng lãnh đạo các phong trào cách mạng 1930-1939 (70 phút)

1 Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng 1930 - 1935

III- Đảng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc và khởi nghĩa giành

chính quyền 1939 – 1945 (70 phút)

1 Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc 1939 – 1941

2 Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền 1941 – 1945

3 Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (2/9/1945)

Trang 2

C PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY, ĐỒ DÙNG DẠY HỌC

1 Phương pháp: Thuyết trình, phân tích, nêu vấn đề, hỏi đáp

2 Đồ dùng: Máy tính, máy chiếu …

D TÀI LIỆU PHỤC VỤ SOẠN GIẢNG

- Tài liệu chương trình Sơ cấp lý luận chính trị

- Tài liệu bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới

Bước 2: Kiểm tra bài cũ (07 phút)

Đồng chí hãy nêu những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

(Học viên phát biểu - giảng viên bổ sung, dẫn vào bài mới)

Bước 3: Giảng bài mới (205 phút)

* Đặt vấn đề:

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay

là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) Người luôn luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Nguyên nhân CNTB đi

xâm lược các nước

khác ?

- Chủ nghĩa tư bản

phương Tây chuyển từ

Phần này giảng viên sử dụng phương pháp nêu vấn

đề, thuyết trình, phân tích; sử dụng đồ dùng: máy chiếu

GV dẫn vào mục I: Trong mỗi chặng đường phát

triển của cách mạng Việt Nam đều in dấu ấn quan trọng của chủ tịch Hồ Chí Minh Nội dung bài học tập trung 3 nội dung chính: (trình chiếu)

GV thuyết trình: Bước sang thế kỷ 19 các nước tư bản

phương Tây có các phát minh khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, khi mà khoa học kỹ thuật phát triển mạnh thì sẽ làm cho sản lượng công nghiệp tăng nhanh và để thu được lợi nhuận thì các nước Tư bản phương Tây ráo riết tìm kiếm thị

Trang 3

giai đoạn tự do cạnh

tranh sang giai đoạn độc

Việt Nam, mở đầu quá

trình xâm lược nước ta

Giảng viên thuyết trình:

Ngày 01 tháng 9 năm 1858 Thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà của tỉnh Đà Nẵng mở đầu quá trình xâm lược nước ta

(Quan sát hình ảnh ) Đứng trước tình thế đó bất chấp sự phản kháng cùng với các phong trào kháng chiến chống Thực dân Pháp của nhân dân cả nước, triều đình nhà Nguyễn có thể nói là nhu nhược, yếu kém, không đủ sức chống đỡ, từng bước thoả hiệp và lần lượt lý với Pháp các bản Hiệp ước dâng toàn bộ nước ta cho thực dân Pháp

Cụ thể là Hiệp ước Nhâm Tuất 1862, Hiệp ước Giáp Tuất 1874, Hiệp ước Hacmang 1883, Hiệp ước Patenotre

1884 Vậy là chỉ trong gang tấc đất nước ta đã bị rơi vào tay thực dân Pháp

Đến cuối thế kỷ 19, công cuộc xâm chiếm, bình định Việt Nam căn bản hoàn thành, thực dân Pháp bắt đầu xác lập chế độ cai trị và khai thác thuộc địa ở Việt Nam Để thực hiện được mưu đồ của mình thực dân Pháp đã áp đặt chính sách cai trị chuyên chế trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

* Về chính trị:

GV: Trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chính sách cai trị chuyên chế, biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong kiến thành tay sai đắc lực Người Pháp trực tiếp nắm quyền cai trị đến cấp tỉnh Đối với cấp Phủ, huyện, châu, xã thực dân Pháp sử dụng người bản địa để cai trị

GV: Thực dân Pháp chia Việt Nam ra thành ba kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau (Bắc kỳ và Trung kỳ là chế độ bảo hộ, Nam kỳ là chế độ thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm) Mục đích chủ yếu của chính sách này là nhằm xóa bỏ tên Việt Nam trên bản đồ thế giới và phá vỡ khối đoàn kết cộng đồng quốc gia, dân tộc ta

=> Thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố hết sức dã

Trang 4

* Về kinh tế:

- Thực hiện chính sách

độc quyền

- Đặt ra hàng trăm thứ

thuế vô lý và vô nhân

đạo VD: Thuế muối,

thuế thân, thuế thuốc

phiện, thuế rượu

* Về văn hoá - xã hội

- Thi hành chính sách

ngu dân, khuyến khích

văn hoá nô dịch, sùng

- Khai thác mỏ được tập trung chủ yếu ở Bắc kỳ như

mỏ than, mỏ vàng số lượng mỏ tăng lên nhanh chóng, cướp đất lập đồng điền trồng cao su, mía…

- Về giao thông vận tải: các công trình được đầu tư xây dựng chỉ để phục vụ cho công cuộc khai thác Chỉ mở đường ở những nơi có đồn điền, mỏ than, mỏ vàng…

* Về văn hoá - xã hội

GV: Mục đích của việc thực hiện chính sách ngu dân là

làm cho dân ta không biết chữ thì không biết thông tin Theo thống kê lúc bấy giờ thì dân số nước ta có tới 90% mù chữ Ngoài ra thực dân pháp ra sức ngăn chặn ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi bại phong tục, xuyên tạc lịch sử và giá trị văn hóa Việt Nam đầu độc thanh niên Việt Nam bằng rượu cồn, thuốc phiện, tuyên truyền tư tưởng khai hóa văn minh, nước mẹ đại Pháp nhằm mục đích tạo nên tâm lý phục Pháp, sợ Pháp để thực dân Pháp dễ bề cai trị nhân dân ta

GV liên hệ với huyện Phú Bình trong những năm dưới sự cai trị của thực dân Pháp (Phụ lục 1- Tài liệu Lịch sử Đảng bộ huyện)

Chuyển ý: Chúng ta vừa tìm hiểu khái quát về tình

hình thế giới và Việt Nam trước khi ĐCSVN ra đời, từ đó chúng ta thấy rõ được sự xâm lược trắng trợn, chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp đối với dân tộc ta, thấy được sự thống khổ của người dân Việt Nam dưới ách áp bức bóc lột của thực dân Pháp và những mâu thuẫn cơ bản cần phải được giải quyết trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Trước tình hình xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu

sắc như thế thì tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam

Trang 5

2 Các phong trào yêu

nước ở Việt Nam cuối

thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX

- Phong trào yêu nước

của nông dân và sĩ phu

yêu nước

- Các phong trào yêu

nước theo hệ tư sản

được thể hiện như thế nào? Chúng ta sang phần 2

2 Các phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Lịch sử nước ta từ khi đế quốc Pháp xâm lược đến những nǎm hai mươi của thế kỷ này đã chứng kiến hơn 300 cuộc đấu tranh hết sức anh dũng của dân tộc ta chống đế quốc Pháp xâm lược Nhưng cuối cùng đều không giành được thắng lợi vì không có một đường lối cứu nước đúng đắn

Giảng viên thuyết trình:

Trong quá trình dựng nước và giữ nước dài lâu và gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành tuyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất Vì vậy ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược nhân dân ta liên tiếp đứng lên chống lại bọn chúng Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam đã dấy lên nhiều phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướng khác nhau Tiêu biểu là phong trào yêu nước của nông dân, sỹ phu yêu nước và phong trào yêu nước theo

hệ tư tưởng tư sản

+ Phong trào Cần Vương diễn ra ở Trung kỳ và Bắc Kỳ (1885-1896) Đây là phong trào do giai cấp phong kiến lãnh đạo với mục đích là phò Vua giúp nước;

+ Khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo diễn ra ở Bắc Kỳ (1883-1913) Đây là cuộc khởi nghĩa nông dân tiêu biểu nhất của Nông dân Việt Nam thời kỳ này Huyện Yên thế là địa phương nằm ngay bên cạnh chúng ta, có rất nhiều nông dân ở Phú Bình cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa này

(GV liên hệ các phong trào đấu tranh ở huyện Phú Bình thời kỳ này- Phụ lục 2)

Chuyển ý: Sau khi phong trào Cần Vương thất bại thì

nhiều sĩ phu yêu nước hướng ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới

- Các phong trào yêu nước theo hệ tư sản có:

+ Phong trào Đông Du (1906-1908)

Do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo, ông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài mà cụ thể là dựa vào Nhật Bản, ông đưa gần 200 thanh niên Việt Nam sang Nhật học khoa học kỹ thuật và quân sự, nhưng ông không hình dung ra được đây lại là cách "Cõng rắn cắn gà nhà"; vì năm 1908

Trang 6

=> Các phong trào này

đều liên tiếp bị thất bại

Nguyên nhân thất bại :

+ Phong trào Đông Kinh nghĩa Thục (1907)

Do Lương Văn Can lãnh đạo diễn ra dưới hình thức tuyên truyền cải cách, cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân;

+ Phong Trào Duy Tân (1906-1908)

Do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lãnh đạo với chủ trương bất bạo động tiến hành cải cách văn hóa, mở mang dân trí làm cho dân giàu nước mạnh nhưng các ông lại chủ trương dựa vào Pháp để tiến hành cải cách cho nên không lâu sau đó phong trào đã bị thực dân Pháp đàn áp dã man, các trường học và hội buôn đều bị đóng cửa

Các phong trào yêu nước đó là những cuộc biểu dương

tinh thần yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam nhưng hầu hết đã thất bại

Giảng viên nêu câu hỏi và gợi ý trả lời :

?Nguyên nhân thất bại của những phong trào yêu nước trong thời kỳ này là gì?

Trả lời: Do hai nguyên nhân cơ bản:

+ Thứ nhất là do chưa tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn

+ Thứ hai là thiếu một tổ chức tiên phong lãnh đạo cách mạng

Giảng viên thuyết trình:

Các cuộc khởi nghĩa thất bại đã dìm nhân dân ta trong một bể máu, cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc, khủng hoảng Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn và phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là yêu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh … nhưng Người không tán thành con đường mà các vị đã chọn vì nó không còn phù hợp

* Nguyễn Ái Quốc và quá trình tìm đường cứu nước ở Việt Nam:

Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh thời thơ ấu tên là Nguyễn

Sinh Cung, khi đi học tên Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở làng Hoàng Trù xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Trang 7

- Quá trình tìm đường

cứu nước của Nguyễn Ái

Quốc được chia làm hai

giai đoạn:

+ Giai đoạn 1911 - 1920

Người sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước, anh dũng chống giặc ngoại xâm Sống trong cảnh nước mất, nhân dân bị đày đoạ trong đau khổ Người thanh niên giàu lòng yêu nước đó đã sớm

có trí đánh đuổi thực dân Pháp và giải phóng đồng bào

Cha của Người là Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862, mất năm 1929, ông thi đỗ Phó bảng và sống bằng nghề dạy học Đối với các con, cụ Phó bảng hết lòng yêu thương, giáo dục ý thức lao động và học tập để hiểu đạo lý làm người

Mẹ của Người là Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868, mất năm 1901 là một người phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu sống bằng nghề dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con

Người có ba anh chị em Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên, sinh năm 1884, mất năm 1954 Anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm (1888

- 1950) Người em út là Nguyễn Sinh Nhuận, sinh năm 1900,

đã mất lúc còn nhỏ vì ốm yếu

Bác Hồ của chúng ta là người chỉ vì dân vì nước mà Bác không có đời sống riêng tư, các đ/c biết rằng 10 tuổi Bác đã mồ côi mẹ, mẹ Bác bà Hoàng Thị Loan chỉ sống 1 cuộc đời rất ngắn ngủi, 33 tuổi bà đã qua đời rồi, mà trong những ngày giáp tết ở Huế chỉ có mẹ Bác, Bác và 1 cậu em mới sinh, trong lúc mà Bác sang hàng xóm để xin thuốc cho

mẹ và xin sữa cho em, khi quay về thì bà đã chết từ lúc nào rồi; trong khi đó người em vẫn còn rất bé, sau khi mẹ Bác mất, khi mà em khóc vì khát sữa thì Bác ngắt nhụy hoa dâm bụt để đặt vào miệng em vì có vị ngọt để cho em nín khóc, và sau này đi đến đâu Bác cũng trồng hoa dâm bụt, ở trên ATK cũng có, vì thứ nhất là để Bác đỡ nhớ quê và thứ 2 để nhắc lại 1 kỷ niệm đau buồn tuổi thơ của Bác

Vượt qua những khó khăn của gia đình, Bác Hồ của chúng ta quyết tâm tìm đường cứu nước Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc được chia làm hai giai đoạn:

+ Giai đoạn 1911 - 1920

Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường cứu nước của các cụ Vượt qua tầm hạn chế của những sỹ phu

Trang 8

yêu nước đương thời

- Ngày 05 tháng 6 năm 1911 Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành (Tức Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) từ bến cảng Nhà Rồng đã ra nước ngoài bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước

(Tích hợp thơ Chế Lan Viên- Phụ lục 3)

Với tên gọi Văn Ba người đã xin làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latút Tơlơ vin một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách của hãng Năm Sao rời cảng Sài Gòn đi Mác xây (Pháp) Người qua nhiều nước trên thế giới nhất là các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Mỹ với mục đích tìm hiểu thực chất đằng sau tư tưởng Tự do - bình đẳng - bác ái là gì và tìm hiểu rõ hơn về nước pháp, nước đang thống trị mình

Người không dừng lại ở Pháp, năm 1912 Nguyễn Tất Thành làm thuê cho 1 chiếc tàu của hãng sác giơ đi vòng quanh Châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Đến đâu Người cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự

áp bức của bọn thống trị Tiếp tục theo con tàu Người có dịp dừng chân ở nước Mỹ vào cuối năm 1912 và người có dịp tìm hiểu về cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử

Năm 1913 Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ đến nước Anh Để kiếm tiền sinh sống, Người đã nhận làm cào tuyết cho một trường học rồi làm thợ đốt lò công việc rất vất vả nhưng ngày ngày Người vẫn dành thời gian học tiếng Anh

(Tích hợp thơ Chế Lan Viên- Phụ lục 3)

Trải qua nhiều nghề lao động khác nhau, thâm nhập vào đời sống thực tế của nhân dân lao động trên thế giới, vừa nghiên cứu lý luận, vừa khảo sát thực tiễn tại các nước

mà Người đi qua Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận quan trọng: ở đâu bọn thực dân đế quốc cũng tàn bạo, độc ác, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột dã man, ở đâu cũng có hai loại người: Người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức

- 1917 Cách mạng tháng 10 Nga thành công đã ảnh hưởng rất lớn đến xu hướng hoạt động của Người

Người ngưỡng mộ và tìm hiểu cuộc cách mạng này Khác với cuộc cách mạng tư sản Pháp, đây là cuộc cách

Trang 9

=> Như vậy từ năm 1911

- 1920 là thời kỳ Nguyễn

Ái Quốc khảo sát, nghiên

cứu để lựa chọn con

đường giải phóng dân

tộc Việt Nam khỏi ách nô

lệ của bon thực dân,

phong kiến

+ Giai đoạn 1920-1930

- Nguyễn Ái Quốc là

người Việt Nam đầu tiên

tiếp thu và vận dụng

mạng đến nơi, đây là cuộc cách mạng đã đưa nhân dân lao động từ thân phận nô lệ lên địa vị làm chủ Người quyết tâm phải tìm hiểu về cuộc cách mạng tháng 10 Nga

- Năm 1919 Người tham gia Đảng xã hội Pháp

- T6/1919 Sau khi chiến tranh Thế giới lần thứ nhất kết

thúc các nước Đế quốc thắng trận họp Hội Nghị Vecxay để phân chia quyền lợi

Tại hội nghị này, Người đã thay mặt những người Việt Nam yêu nước sống ở Pháp gửi tới hội nghị bản yêu sách đòi các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc Việt nam Tuy bản yêu sách đó không được HN đáp ứng nhưng

đã gây được tiếng vang lớn và từ đó giúp Người càng hiểu

rõ "Những lời tuyên bố của nhà chính trị tư sản trong lúc chiến tranh chỉ là lừa bịp"

- T7/1920 Nguyễn Ái Quốc đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin

Luận cương đã giải đáp trúng những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở và chính từ đây Người đã tìm

ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" mà cách mạng vô sản là do giai cấp công nhân lãnh đạo

(Tích hợp thơ Chế Lan Viên- Phụ lục 3)

- T12/1920, Tại ĐH Đảng xã hội Pháp họp ở Tours, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam (Quốc tế III - Quốc tế cộng sản do Lênin sáng lập)

Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Người Từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa cộng sản, từ một chiến sĩ giải phóng dân tộc trở thành một chiến sĩ cộng sản quốc tế

+ Giai đoạn 1920-1930

Từ giữa năm 1921 đến đầu năm 1930, sau khi tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp vừa nghiên cứu học tập bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu

Trang 10

sáng tạo CN Mac - Lênin

và Việt Nam, tìm ra con

được tổ chức tại bán đảo

Cửu Long (Hương Cảng,

Trung Quốc) Hội nghị

đã nhất trí hợp nhất tất cả

các tổ chức cộng sản

(Đông Dương Cộng sản

Đảng, An Nam Cộng sản

Đảng, Đông Dương Cộng

sản liên đoàn) thành một

Đảng duy nhất lấy tên là

nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lenin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đồng thời chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam

- Tháng 12/1924 Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quổc) trực tiếp tham gia chỉ đạo việc thành lập Đảng Cộng sản

Tại đây Người sáng lập và trực tiếp huấn luyện Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, sáng lập và viết bài cho báo Thanh Niên, xuất bản tác phẩm Đường kách mệnh nhằm truyền bá CN Mác - Lênin vào trong nước Người tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Chủ nghĩa Mác - Lênin và các tài liệu của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản

3 Hội nghị thành lập Đảng và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

- Tháng 3/1929 một số phần tử tiên tiến của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên họp tại số nhà 5D, phố Hàm Long, Hà Nội, quyết định thành lập Chi bộ cộng sản đầu tiên

Như vậy chỉ trong một thời gian ngắn, ở Việt Nam đã

có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập mà sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản trong một quốc gia là không hợp lý, sẽ chứa đựng và dẫn tới nguy cơ bị chia rẽ lớn Yêu cầu bức thiết của cách mạng lúc đó là cần phải có một Đảng thống nhất để lãnh đạo cách mạng

Trước yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ Thái Lan đến Hương Cảng -

Trang 11

+ Hội nghị thành lập Đảng

Từ ngày mùng 3 đến ngày 07 tháng 2 năm 1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được tổ chức tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc - đại biểu của Quốc tế cộng sản, Hội nghị đã nhất trí hợp nhất tất cả các tổ chức cộng sản thành một Đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội nghị thông qua chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình tóm tắt, điều lệ vắn tắt của Đảng Đây là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của ĐCSVN

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960, Đảng đã ra Nghị quyết về ngày thành lập Đảng, quyết định lấy ngày 03 tháng 02 dương lịch hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng

Ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam:

- ĐCSVN được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh

giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu của thế kỷ XX, là sản phẩm của sự kết hợp CN Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng đứng đầu là đồng chí Nguyễ Ái Quốc

- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo cách mạng

4 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt

sự khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc

Việc tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và việc soạn thảo cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện sự sáng tạo của mình trong cả hoạt động lý luận và thực tiễn Đánh giá về sự kiện trọng đại

Trang 12

Tĩnh là cuộc khởi nghĩa

đầu tiên dưới sự lãnh đạo

của Đảng Cộng sản Việt

Nam kể từ khi ra đời

này trong lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Có thể nói ĐCSVN ra đời là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử CMVN Chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước Chứng tỏ giai cấp vô sản đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng

Từ đây cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng cộng sản Việt Nam, một đảng Mácxít kiên cường, có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo là cơ

sở vững chắc đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Dẫn ý: Có Đảng lãnh đạo, đất nước vượt qua bao khó khăn

gian khổ, đạt được những thành tựu to lớn Đó là những thành tựu nào chúng ta đi nghiên cứu sang phần II

II Đảng lãnh đạo các phong trào cách mạng 1930 - 1939

Giảng viên thuyết trình:

Ngay từ khi mới ra đời, với đường lối cách mạng cứu nước đúng đắn Đảng ta đã quy tụ, đoàn kết xung quanh mình tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước Đảng ta từng bước vận động, giáo dục quần chúng qua 3 cao trào cách mạng:

- Cao trào Xô viết - Nghệ tĩnh 1930-1931

- Phong trào đòi dân sinh dân chủ 1936-1939

- Phong trào giải phóng dân tộc dẫn tới cách mạng Tháng 8/1945

1 Đảng lãnh đạo phong trào cách mạng 1930 - 1935

Với đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng có ý nghĩa rất to lớn Cao trào cách mạng cùng với sự ra đời của chính quyền Xô Viết là kết tinh của khối liên minh công - nông do giai cấp công nhân lãnh đạo

Xô Viết Nghệ Tĩnh là tên gọi chỉ phong trào đấu tranh của

lực lượng công nhân và nông dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh trong năm 1930-1931 chống lại đế quốc Pháp tại Việt Nam

Phong trào này được mở đầu bằng cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5 năm 1930 của công nhân khu công nghiệp Bến Thủy và nông dân thuộc 5 xã ven thành phố Vinh Từ

đó đến tháng 8 năm 1930, ở vùng Nghệ Tĩnh đã có đến 97 cuộc bãi công và biểu tình của công nhân và nông dân, trong

Trang 13

đó đáng chú ý là cuộc bãi công kéo dài của công nhân Nhà máy Diêm đã dẫn đến cuộc tổng bãi công của toàn thể công nhân khu công nghiệp Bến Thủy Đứng đằng sau những vụ việc này là sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương thông qua Xứ ủy Trung Kỳ

Từ tháng 9 năm 1930, các cuộc biểu tình vũ trang tự vệ quy mô lớn kết hợp với các yêu sách chính trị liên tiếp nổ ra của nông dân các huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Can Lộc, Hưng Nguyên, v.v làm cho bộ máy chính quyền thực dân Pháp và bộ máy chính quyền địa phương (vốn bị coi là bù nhìn) của nhà Nguyễn lâm vào tình trạng tê liệt và tan rã Dưới

sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, tổ chức nông hội ở những nơi chính quyền tan rã đã kiểm soát và thành lập chính quyền mới với hình thức giống như hệ thống Xô viết Chính quyền Xô viết đầu tiên được hình thành hàng loạt tại nhiều xã thuộc các huyện, thị xã: Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn, Nghi Lộc, Vinh - Bến Thuỷ, Can Lộc, Thạch Hà, Đức Thọ, Hưng Nguyên, Hương Sơn

Các chính quyền Xô viết một mặt thi hành các chính sách mới, mặt khác phá bỏ hệ thống chính quyền cũ, trưng thu đất, thóc gạo, tiền bạc của các địa chủ, đồng thời ra yêu sách với các chủ xưởng, chủ tàu ở vùng này

Tuy vậy những chính quyền kiểu này chỉ tồn tại sau bốn, năm tháng do bị chính quyền của thực dân Pháp phối hợp với chính quyền địa phương của triều đình nhà Nguyễn trấn áp làm tan rã và giải thể

Xô Viết Nghệ Tĩnh được đánh giá là đỉnh cao của phong trào Cách mạng trong những năm 1930 – 1931 và theo các tài liệu ở Việt Nam hiện hành thì đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời

Sau phong trào Xô viết, thực dân Pháp ra sức khủng bố, đàn áp dân ta Hàng vạn đồng bào và chiến sỹ yêu nước bị bắt Hàng ngàn người bị Pháp kết án tử hình

Từ năm 1932, Đảng ta ban hành nhiều chủ trương để khôi phục hoạt động Đến cuối năm 1933, nhiều tổ chức đảng được xây dựng lại và củng cố Đầu năm 1934, với sự giúp đỡ của quốc tế cộng sản, Ban lãnh đạo Hải ngoại của

Trang 14

phát xít xuất hiện, nhiệm

vụ trước mắt của phong

trào cách mạng thế giới

ở trong và ngoài nước) Đại hội đã nêu ra 3 nhiệm vụ trước mắt cần thực hiện là :

- Củng cố và phát triển Đảng

- Đẩy mạnh vận động quần chúng

- Chống chiến tranh đế quốc

Mặc dù chưa phải là bước đột phá, xong Đại hội cũng

đã đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi lúc bấy giờ Đó là sự chuẩn bị cần thiết để Đảng bước vào thời kỳ đấu tranh mới

Dẫn ý: Nếu như Cao trào 1930 - 1931 là cuộc diễn tập đầu tiên thì phong trào đòi dân sinh dân chủ 1936-1939 là cuộc

diễn tập thứ hai cho thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 sau này Chuyển phần 2

2 Đảng lãnh đạo Phong trào dân chủ 1936 - 1939 + Hoàn cảnh lịch sử

– Đầu những năm 30 (thế kỉ XX), chủ nghĩa phát xít xuất hiện và tạm thời thắng thế ở một số nơi, như Tây Ban Nha, Đức, Italia, Nhật Bản Nguy cơ chiến tranh thế giới xuất hiện

– Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (7/1935) xác định nhiệm vụ trước mắt của phong trào cách mạng thế giới

là chống phát xít và nguy cơ chiến tranh, bảo vệ hoà bình, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi

– Tháng 6/1936, Mặt trận nhân dân lên cầm quyền ở Pháp, thi hành những cải cách tiến bộ ở thuộc địa Chính phủ của mặt trận nhân dân Pháp còn cử phái viên sang điều tra và nới rộng một số quyền tự do, dân chủ tối thiểu ở các nước thuộc địa

– Ở Việt Nam, ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế (1929 – 1933) vẫn tiếp diễn Trong khi đó, thực dân Pháp lại tiến hành một chiến dịch khủng bố để đàn áp phong trào cách mạng 1930 – 1931 Đời sống chính trị và kinh tế rất căng thẳng Yêu cầu của của mọi tầng lớp xã hội là các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống

Ngày đăng: 05/11/2020, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w