1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bất bình đẳng trong chi tiêu của hộ gia đình ở cấp vùng việt nam giai đoạn 2002 2014 đặc điểm và các hàm ý về mặt chính sách

96 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp phân tách hệ số Gini được sử dụng để xác định mức độ đóng góp của các yếu tố nội nhóm và ngoại nhóm vào bất bình đẳng chi tiêu giữa các vùng.. 1.3 Câu hỏi nghiên cứu - Bất b

Trang 1

NGUYỄN NGỌC HOÀNG LAN

BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG CHI TIÊU

CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở CẤP VÙNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2014:

ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÀM Ý VỀ MẶT CHÍNH SÁCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Trang 2

-NGUYỄN NGỌC HOÀNG LAN

BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG CHI TIÊU

CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở CẤP VÙNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2002-2014:

ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÀM Ý VỀ MẶT CHÍNH SÁCH

Chuyên ngành : Kinh tế học

Mã số chuyên ngành : 60 31 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ HỒ PHONG LINH

Trang 3

Việt Nam giai đoạn 2002-2014: Đặc điểm và các hàm ý về mặt chính sách” là bài

nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm hay nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 08 năm 2018

Người cam đoan

Nguyễn Ngọc Hoàng Lan

Trang 4

quan tâm, động viên, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học

Thứ hai, tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn của tôi - Tiến

sĩ Lê Hồ Phong Linh Cô đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và động viên tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Thứ ba, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn Nguyễn Ngọc Anh Trúc – người đã giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong khoảng thời gian đầu còn nhiều khó khăn và bỡ ngỡ Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến cô Nguyễn Kim Phước

và những thầy cô, anh chị, bạn bè không tiện nêu tên - những người đã nhiệt tình hỗ trợ tôi và cho tôi những lời khuyên quý giá trong quá trình thực hiện luận văn Dù là những hỗ trợ lớn hay nhỏ tôi cũng xin ghi nhớ và tri ân

Thứ tư, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cơ quan nơi tôi đang công tác, đến anh, chị, em đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Đào tạo Sau Đại học trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt tri thức cho tôi trong suốt khoá học

Kính chúc người thân, thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp của tôi sức khoẻ, an vui

và thành đạt !

Nguyễn Ngọc Hoàng Lan

Trang 5

triển của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam Nếu không có những giải pháp phù hợp và hiệu quả, bất bình đẳng sẽ là một thách thức lớn để duy trì sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội trong tương lai Việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng của bất bình đẳng là hết sức cần thiết để các nhà hoạch định chính sách có được những thông tin toàn diện hơn về vấn đề này Đề tài

“Bất bình đẳng trong chi tiêu của hộ gia đình ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn 2002-2014: Đặc điểm và các hàm ý về mặt chính sách” ra đời nhằm giải quyết vấn

đề cấp thiết đó

Khác với cách nghiên cứu truyền thống là sử dụng thu nhập để đánh giá mức độ bất bình đẳng, đề tài đã sử dụng chi tiêu để tiếp cận và phân tích về vấn đề này Nghiên cứu bất bình đẳng chi tiêu là một hướng nghiên cứu hữu ích hơn bất bình đẳng thu nhập trong việc đề xuất những chính sách phúc lợi xã hội Bằng nhiều cách thức khác nhau, đề tài phác họa nên một bức tranh tổng thể về đặc điểm, mức độ, xu hướng của bất bình đẳng chi tiêu ở hộ gia đình cấp vùng Việt Nam

Phương pháp phân tách hệ số Gini được sử dụng để xác định mức độ đóng góp của các yếu tố nội nhóm và ngoại nhóm vào bất bình đẳng chi tiêu giữa các vùng Phương pháp xác định các dạng hình thể bất bình đẳng cũng cho thấy được mức độ nghiêm trọng và sự thay đổi của các hình thể theo thời gian Việc xác định các hình thể bất bình đẳng của từng nhóm chi cũng là một điểm thú vị của đề tài khi sử dụng chi tiêu để tính toán thay vì thu nhập

Trên cơ sở những phân tích ấy, đề tài biện luận và rút ra các hàm ý về mặt chính sách Từ đó, nghiên cứu kỳ vọng sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích để những người quan tâm có thể tìm ra những giải pháp phù hợp, góp phần hạn chế những tác động tiêu cực từ bất bình đẳng

Trang 6

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

1.7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Tổng quan về bất bình đẳng 7

2.1.1 Khái niệm về bất bình đẳng 7

2.1.2 Các dạng bất bình đẳng 8

2.1.3 Lý do bất bình đẳng quan trọng 8

2.2 Bất bình đẳng chi tiêu 10

2.2.1 Khái niệm chi tiêu 10

2.2.2 Khái niệm bất bình đẳng chi tiêu 12

2.3 Đo lường bất bình đẳng 13

2.3.1 Đường cong Lorenz 13

2.3.2 Hệ số Gini 14

2.3.3 Gini phân tách (Gini decompose) 15

2.3.4 Hệ số Theil 18

2.3.5 Tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới 18

Trang 7

2.4.2 Mức độ nghiêm trọng của các hình thể bất bình đẳng 21

2.5 Các nghiên cứu trước 22

2.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 22

2.5.2 Các nghiên cứu ở trong nước 24

Tóm tắt chương 2 27

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Dữ liệu nghiên cứu 28

3.2 Khung phân tích 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu 30

3.3.1 Phân tách hệ số Gini chi tiêu 31

3.3.2 Hình thể bất bình đẳng chi tiêu 31

3.4 Các giả thuyết của nghiên cứu 33

Tóm tắt chương 3 33

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

4.1 Xu hướng, mức độ bất bình đẳng trong chi tiêu của hộ gia đình ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn 2002 – 2014 34

4.2 Mức độ tác động của các yếu tố nội nhóm và ngoại nhóm đến bất bình đẳng chi tiêu của hộ gia đình ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn 2002 – 2014 37

4.2.1 Phân tách hệ số Gini cả nước cấp độ vùng 37

4.2.2 Phân tách hệ số Gini các vùng 39

4.3 Hình thể bất bình đẳng trong chi tiêu của hộ gia đình ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn 2002 – 2014 44

4.3.1 Nhận dạng các hình thể 44

4.3.2 Mức độ nghiêm trọng của các hình thể biểu diễn bằng dạng bản đồ trực quan 47

4.4 Đặc điểm chi tiêu của các vùng 49

4.4.1 Phân tích nhóm chi ăn uống và chi ngoài ăn uống 49

4.4.2 Phân tích nhóm chi giáo dục của các vùng 51

4.4.3 Phân tích nhóm chi y tế của các vùng 53

Trang 8

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 57

5.1 Kết luận 57

5.2 Hàm ý chính sách 58

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp 60

LỜI KẾT 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 66

PHỤ LỤC A: KHÁI NIỆM VÀ CÁCH TÍNH 67

PHỤ LỤC B: SỐ LIỆU VÀ BẢNG BIỂU 72

Trang 9

Bảng 3.1 : Mô tả thông tin dữ liệu chi tiêu 28Bảng 4.1: Hệ số Gini chi tiêu của cả nước và các vùng từ năm 2002 - 2014 35Bảng 4.2: Kết quả phân giải hệ số Gini cả nước cấp độ vùng qua các năm từ 2002 đến 2014 37Bảng 4.3: Tỷ trọng của từng thành phần trong Gini tổng quát (%) 39Bảng 4.4: Kết quả phân tách hệ số Gini chi tiêu các vùng từ năm 2002 – 2014 40Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả so sánh mức độ bất bình đẳng chi tiêu của các vùng từ

2002 - 2014 43Bảng 4.6: Kết quả hình thể bất bình đẳng và mức độ nghiêm trọng của các vùng giai đoạn 2002 – 2014 44Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả so sánh mức độ bất bình đẳng chi giáo dục của các vùng qua các năm 2004 - 2014 51Bảng 4.8: Hình thể bất bình đẳng nhóm chi giáo dục của các vùng giai đoạn 2004-

2014 52Bảng 4.9: Tổng hợp kết quả so sánh mức độ bất bình đẳng chi y tế của các vùng giai đoạn 2010 - 2014 54Bảng 4.10: Hình thể bất bình đẳng nhóm chi y tế của các vùng giai đoạn 2010-2014 54Bảng 4.11: Tổng hợp kết quả bất bình đẳng trong nhóm chi giáo dục và chi y tế của các vùng giai đoạn 2004 - 2014 55

Trang 10

Hình 2.2: Khung xác định hình thể bất bình đẳng 21Hình 3.1: Khung phân tích bất bình đẳng chi tiêu cả nước cấp độ vùng giai đoạn

2002 đến 2014 30Biểu đồ 4.1: Tỷ trọng chi đời sống trong tổng chi tiêu của cả nước và mỗi vùng qua các năm 2002 – 2014 (ĐVT: %) 34Biểu đồ 4.2: Xu hướng bất bình đẳng chi tiêu của cả nước và mỗi vùng qua các năm

từ 2002 đến 2014 36Hình 4.3: Biểu đồ hình thể bất bình đẳng chi tiêu của các vùng giai đoạn 2002-2014 46Hình 4.4: Bản đồ về hình thể bất bình đẳng và mức độ nghiêm trọng của các vùng giai đoạn 2002 – 2014 48Biểu đồ 4.5: chênh lệch tỷ trọng giữa khoản chi cho ăn uống và khoản chi ngoài ăn uống (tỷ trọng chi cho ăn uống – tỷ trọng chi ngoài ăn uống) của các vùng qua các năm 2002 - 2014 49Biểu đồ 4.6: Tỷ trọng chi cho giáo dục (trong tổng chi đời sống) của mỗi vùng qua các năm 2004 – 2014 51Biểu đồ 4.7: Tỷ trọng chi cho y tế (trong tổng chi đời sống) của mỗi vùng qua các năm 2010 – 2014 53

Trang 11

Gb: Hệ số Gini ròng ngoại nhóm

Household Living Standard Survey)

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Lý do chọn đề tài

Dưới góc độ phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội, mức sống dân cư luôn là vấn

đề được các nhà kinh tế học chú trọng quan tâm Mức sống của người dân cao hay thấp cũng là một trong những yếu tố phản ánh hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế

Sự chênh lệch về mức sống của hộ gia đình sẽ dẫn đến hình thành các “nhóm hộ” với mức thu nhập hay chi tiêu đặc trưng riêng của từng “nhóm hộ” ấy Sự phân hóa giàu nghèo ra đời từ đây và cũng là căn nguyên của vấn đề bất bình đẳng Bất bình đẳng tồn tại trong bất kỳ quốc gia nào và bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào Mức độ bất bình đẳng được đánh giá qua khoảng cách thu nhập hay chi tiêu giữa các nhóm hộ, tiêu biểu là hộ giàu và hộ nghèo, khoảng cách này càng xa thì mức độ bất bình đẳng càng cao

Bất bình đẳng quá mức trong thu nhập gây nên các tác động tiêu cực về mặt kinh tế, xã hội của một quốc gia Về mặt kinh tế: bất bình đẳng làm cho nền kinh tế kém hiệu quả, phát triển lệch lạc, không bền vững Về mặt xã hội: bất bình đẳng là mầm mống của bất ổn về an ninh, trật tự xã hội và chính trị

Những nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay cho thấy tình trạng bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư ở các đô thị đang tăng mạnh và biểu hiện ngày càng phức tạp hơn (Perrucca và cộng sự 2012; Actionaid và Oxfarm 2012, Ngân hàng thế giới 2012, UNPD 2011) Dù mức chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư tăng tương đối chậm (McCaig, Bejamin và Brandt 2009) nhưng sự khác biệt trong chi tiêu, cơ cấu chi tiêu, điều kiện sống và vốn nhân lực của các nhóm hộ gia đình lại gia tăng rất nhanh (Ngân hàng thế giới 2012, UNDP 2011) Và mới đây, theo nhận định của

Oxfarm (2017), “Bất bình đẳng ở Việt Nam đang tăng với mọi thước đo” Vấn đề

này kéo dài sẽ dẫn đến nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng bất bình đẳng chưa từng có

Với tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu đặc điểm, mức độ, xu hướng bất

Trang 13

các nhà hoạch định chính sách có căn cứ để đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện mức

độ chênh lệch giàu nghèo và tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tại Việt Nam, theo sự tìm hiểu của cá nhân tác giả, đã có các nghiên cứu về vấn

đề bất bình đẳng như: Nguyễn Đức Nhuận (2000), Trần Quang Tuyến (2014), Đỗ Thiên Kính (2015), Châu Thị Kim Ngân (2015) Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều sử dụng chỉ tiêu thu nhập để phân tích Đây là hướng tiếp cận đúng nhưng chưa đủ Khi được hỏi về mức thu nhập, nhiều người thường ngần ngại nêu ra con số thực về thu nhập của mình Vì với mức thu nhập cao, họ sẽ phải chi trả các khoản như thuế thu nhập cá nhân, đóng góp xã hội … Đối với chi tiêu thì khác, họ sẵn lòng chia sẻ mức chi tiêu thực tế của mình Do đó, bất bình đẳng chi tiêu thường phản ánh tốt hơn sự khác biệt trong mức sống so với bất bình đẳng thu nhập Theo Mian và Sufi (2014), những kết quả về chi tiêu mới thực sự phản ánh đúng nguyện vọng, nhu cầu của người dân chứ không phải là thu nhập Nghiên cứu bất bình đẳng chi tiêu là một hướng nghiên cứu hữu ích hơn bất bình đẳng thu nhập trong việc đề xuất những chính sách phúc lợi xã hội

Mặt khác, do những hạn chế về dữ liệu, hiện vẫn chưa có nhiều nghiên cứu phân tích bất bình đẳng chi tiêu ở Việt Nam trong thời gian tương đối dài Do đó, việc phân tích bất bình đẳng chi tiêu trong chuỗi thời gian 2002-2014 giúp những người quan tâm có được những thông tin tương đối toàn diện về vấn đề này

Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Bất bình đẳng trong chi tiêu của hộ gia

đình ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn 2002-2014: Đặc điểm và các hàm ý về mặt chính sách” Với mong muốn mang đến hướng tiếp cận khác về bất bình đẳng trong

hộ gia đình Việt Nam ở khía cạnh chi tiêu, đồng thời kỳ vọng sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích để những nhà hoạch định chính sách có thể tìm ra những giải pháp phù hợp, nhằm góp phần hạn chế những tác động tiêu cực từ bất bình đẳng

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích đặc điểm (mức độ và xu hướng) của bất bình đẳng trong chi tiêu ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn 2002 – 2014 Cụ thể, đề tài tập trung vào việc tìm hiểu các khía cạnh sau đây:

- Phác họa nên một bức tranh tổng thể về mức độ và xu hướng bất bình đẳng cũng như các yếu tố cấu thành nên bất bình đẳng giữa các vùng (Gini chung, Gini nội nhóm và Gini ngoại nhóm)

- Xác định các hình thể bất bình đẳng, mức độ nghiêm trọng của các hình thể

và sự thay đổi của các hình thể theo thời gian

- Đề xuất các hàm ý về chính sách và thực tiễn có thể rút ra từ đặc điểm của bất bình đẳng ở các vùng

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

- Bất bình đẳng trong chi tiêu của hộ gia đình ở cấp vùng Việt Nam giai đoạn

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng được nghiên cứu là mức độ và xu hướng bất bình đẳng chi tiêu của các hộ gia đình tại các vùng ở Việt Nam

Nghiên cứu trong phạm vi không gian của cả nước Việt Nam và thời gian là từ năm 2002 đến 2014

Trang 15

1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu được sử dụng là dữ liệu thứ cấp lấy từ 7 bộ dữ liệu Khảo sát mức sống

hộ gia đình ở Việt Nam (Vietnam Household Living Standard Survey: VHLSS) từ

2002 đến 2014 do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng dữ liệu tổng hợp từ Kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam của Tổng cục Thống kê (2016)

Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong đề tài là phương pháp định lượng Các phương pháp thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp, phân tích đặc điểm của dữ liệu được sử dụng để tìm ra bản chất của vấn đề Cụ thể, nghiên cứu sử dụng dữ liệu thô trong VHLSS để tính hệ số Gini chi tiêu và Ginni phân tách (Gini decompose) của

hộ gia đình Việt Nam Việc tính toán này dựa vào một chương trình chuyên dụng để cho ra kết quả hệ số Gini chi tiêu của hộ gia đình trên cả nước và ở các vùng Phương pháp phân tách hệ số Gini cũng được sử dụng để xác định mức độ tác động của các yếu tố “nội nhóm” và “ngoại nhóm” đến bất bình đẳng chi tiêu của hộ gia đình Ưu điểm của phương pháp này là đánh giá được hết các tác động của từng yếu tố đến mức độ bất bình đẳng chung của chi tiêu Các hình thể bất bình đẳng và những chuyển biến trong bất bình đẳng chi tiêu của hộ gia đình được tính toán và thể hiện dưới dạng bản đồ trực quan Song song đó, nghiên cứu cũng sử dụng một số công cụ hỗ trợ như: Photoshop để vẽ bản đồ, Stata để trích lọc và xử lý số liệu, chương trình tính hệ số Gini và Gini phân tách, … để tính toán và mô tả thông tin

1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu

Hiện nay, bất bình đẳng đang gây ảnh hưởng tiêu cực đối với sự tăng trưởng

và phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam Nếu không có những giải pháp phù hợp và hiệu quả, bất bình đẳng sẽ

là một thách thức lớn để duy trì sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội của Việt Nam trong tương lai Việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng của bất bình đẳng là hết sức cần thiết để các nhà hoạch định chính sách có được những thông tin đầy đủ hơn về vấn đề này

Trang 16

Bằng nhiều công cụ khác nhau, đề tài phác họa nên một bức tranh tổng thể về đặc điểm, mức độ, xu hướng của bất bình đẳng cũng như các yếu tố đóng góp vào bất bình đẳng ở các vùng Nghiên cứu cũng thể hiện các dạng hình thể bất bình đẳng, mức độ nghiêm trọng và sự thay đổi của các hình thể theo thời gian Trên cơ sở phân tích đặc điểm và xu hướng của bất bình đẳng chi tiêu, đề tài biện luận và rút ra các hàm ý về mặt chính sách Từ đó, nghiên cứu kỳ vọng sẽ cung cấp một số thông tin hữu ích để những người làm chính sách có thể tìm ra những giải pháp phù hợp, góp phần hạn chế những tác động tiêu cực từ bất bình đẳng

Thêm nữa, các nghiên cứu về bất bình đẳng hiện nay thường tập trung nhiều vào khía cạnh thu nhập Trong khi đó, ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng bất bình đẳng chi tiêu thể hiện tốt hơn sự khác biệt trong phúc lợi và chất lượng cuộc sống của các nhóm dân cư Đặc biệt, các nghiên cứu xác định hình thể bất bình đẳng

và các yếu tố đóng góp vào bất bình đẳng ở Việt Nam càng hiếm hoi hơn Do đó, việc phân tích bất bình đẳng chi tiêu trong chuỗi thời gian 2002-2014 giúp những người quan tâm có được những thông tin tương đối toàn diện về vấn đề này

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 5 chương và có bố cục như sau:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Chương 1 trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 trình bày các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tóm tắt các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan để thiết lập cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 3 trình bày những vấn đề liên quan như: nguồn dữ liệu dùng trong nghiên cứu, khung phân tích, mẫu nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu và các giả

Trang 17

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương 4 phân tích dữ liệu, đúc kết các đặc điểm, xu hướng và đánh giá kết quả tìm được

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Chương 5 tóm tắt những kết quả nghiên cứu ở chương 4, nêu lên các khuyến nghị chính sách dựa trên kết quả nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương này trình bày các khái niệm về bất bình đẳng và bất bình đẳng chi tiêu, cách thức đo lường và xác định hình thể bất bình đẳng, tóm tắt các nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan để thiết lập cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu

2.1 Tổng quan về bất bình đẳng

2.1.1 Khái niệm về bất bình đẳng

Theo Litchfield (1999), bất bình đẳng là sự phân hóa trong phân phối, các yếu tố phân phối có thể là thu nhập, chi tiêu, phúc lợi xã hội hay đặc tính của một cộng đồng

Theo Nguyễn Trọng Hoài (2013, tr.135), “Về mặt công bằng xã hội, bất bình đẳng có thể được xem là một dạng của nghèo trên phương diện phân phối”

Theo Ngân hàng thế giới (2014, tr.38), “Bất bình đẳng nghĩa là chênh lệch về chất lượng cuộc sống giữa các cá nhân”

Trong các khái niệm nêu trên, đề tài chọn khái niệm của Litchfield (1999) để làm cơ sở nghiên cứu Theo đó, bất bình đẳng được đo lường bằng các yếu tố như: thu nhập, chi tiêu, phúc lợi xã hội và đặc tính của một cộng đồng Trong tình hình thực tiễn hiện nay, đo lường bất bình đẳng theo phúc lợi và đặc tính cộng đồng đã phổ biến ở các quốc gia phát triển nhưng chưa thể thực hiện được tại các quốc gia kém phát triển và đang phát triển Chẳng hạn như ở Việt Nam, khi mà đất nước còn đang tập trung phát triển kinh tế, đại đa số người dân còn lo lắng nhiều về chuyện

“cơm ăn áo mặc” thì đương nhiên việc nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội vẫn đang còn là một kế hoạch xa vời Thêm nữa, nguồn dữ liệu để nghiên cứu bất bình đẳng qua yếu tố phúc lợi xã hội và đặc tính cộng đồng là không dễ thực hiện

Do vậy, các nghiên cứu về bất bình đẳng chỉ có thể dùng thu nhập hoặc chi tiêu để

đo lường Hiện nay, các nghiên cứu về bất bình đẳng sử dụng thu nhập để đo lường

là khá nhiều trong khi các nghiên cứu bất bình đẳng tiếp cận theo khía cạnh chi tiêu

Trang 19

vọng và nhu cầu của người dân hơn là thu nhập Chính vì những lý do trên, đề tài chọn yếu tố chi tiêu để phân tích và đánh giá bất bình đẳng

Theo Voer (n.d.), “bất bình đẳng xã hội là sự không bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong

xã hội” Bất bình đẳng xã hội có những nét riêng biệt tùy theo từng điều kiện xã hội

Xã hội có quy mô càng lớn thì bất bình đẳng càng cao Nguyên nhân của bất bình đẳng xã hội cũng đa dạng nhưng có ba loại chính đó là: bất bình đẳng về cơ hội trong cuộc sống, bất bình đẳng về địa vị xã hội, bất bình đẳng về ảnh hưởng chính trị

Đề tài tập trung nghiên cứu về dạng bất bình đẳng kinh tế và sẽ phân tích sâu ở khía cạnh bất bình đẳng chi tiêu

2.1.3 Lý do bất bình đẳng quan trọng

Bất bình đẳng hình thành từ rất sớm trong xã hội loài người và là sản phẩm của những yếu tố liên quan đến văn hoá, kinh tế, chính trị Với tầm ảnh hưởng sâu rộng, bất bình đẳng tác động trực tiếp đến phúc lợi và chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, cộng đồng, quốc gia và cả thế giới Cụ thể, bất bình đẳng tác động trực tiếp đến lĩnh vực kinh tế và xã hội

Bất bình đẳng tác động đến kinh tế được biểu hiện qua hai giai đoạn là trong ngắn hạn và dài hạn

Trang 20

Trong ngắn hạn: Bất bình đẳng lớn trong thu nhập hoặc chi tiêu có thể dẫn đến

tình trạng nền kinh tế kém hiệu quả Người có thu nhập thấp sẽ không có điều kiện

để tiết kiệm Trong khi đó, nhóm thu nhập cao thường chi tiêu nhiều hơn cho những hàng hóa xa xỉ Bất bình đẳng cao cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phân bổ nguồn lực và hiệu quả của đầu tư công Nhóm thu nhập cao sẽ đầu tư nhiều hơn cho nhóm hàng hóa hoặc dịch vụ cao cấp hơn là cơ bản Chẳng hạn như, các nguồn lực xã hội

sẽ tập trung vào giáo dục bậc cao thay vì đầu tư cho giáo dục phổ cập Các nguồn lực

xã hội cũng hướng đến những dự án mang lại lợi nhuận cao như xây dựng cao ốc, trung tâm thương mại Trong khi đó, những người nghèo, các doanh nghiệp nhỏ khó

có thể tiếp cận các khoản vay phục vụ cho sản xuất, kinh doanh Con em trong những gia đình có thu nhập thấp cũng khó có điều kiện để tiếp cận các dịch vụ giáo dục chất lượng cao

Trong dài hạn: Theo Pincus (2012), bất bình đẳng có thể gây tác động tiêu cực lên sự ổn định kinh tế vĩ mô Ví dụ: khi có sự chênh lệch về thu nhập giữa người giàu

và người nghèo, người nghèo phản ứng bằng cách đi vay để duy trì mức tiêu dùng Trước nhu cầu vay tiền phát triển mạnh, ngân hàng đáp ứng bằng cách hạ thấp mức chuẩn tín dụng Một lượng tiền lớn từ nguồn gửi tiết kiệm được chuyển sang phục vụ cho nhóm khách hàng này với khả năng trả nợ thấp Khi giá nhà hoặc bất động sản giảm, nhiều hộ dân vỡ nợ, tạo hiệu ứng “domino” đồng loạt nợ dưới chuẩn Thêm nữa, càng nhiều người giàu sẽ càng góp phần làm tăng bất ổn xã hội Người giàu cần tìm đầu ra và muốn sinh lợi càng nhiều trên số tiền tiết kiệm của mình Vì vậy, các tổ chức tài chính càng ra sức tạo lợi nhuận cao cho những người này Các ngân hàng sử dụng số tài sản và của cải khổng lồ của mình để vận động chính phủ nới lỏng các quy định tài chính Điều đó đồng nghĩa với việc cho phép các ngân hàng đánh cược tiền của cổ đông mình vào thị trường tài chính phái sinh đầy rủi ro

Bất bình đẳng tác động đến xã hội cũng được biểu hiện qua hai giai đoạn là trong ngắn hạn và dài hạn

Trang 21

Trong ngắn hạn: Bất bình đẳng chứa đựng những bất ổn xã hội liên quan đến tinh thần đoàn kết của các tầng lớp dân cư Nhiều nghiên cứu cho thấy, bất bình đẳng

và sự gắn kết xã hội có mối quan hệ nghịch biến với nhau Trong một xã hội bình đẳng, con người sẽ tin tưởng nhau hơn và tham gia vào các hoạt động vì cộng đồng nhiều hơn Ngược lại trong một xã hội tồn tại nhiều bất công, con người khó “xích lại gần nhau”, xu hướng bạo lực tăng cao và khả năng phạm tội sẽ dễ dàng xảy ra

Trong dài hạn: Xã hội với bất bình đẳng cao có khuynh hướng củng cố quyền

lực kinh tế và quyền lực chính trị của nhóm người giàu Trong khi đó, yếu tố liên quan đến phúc lợi xã hội của người nghèo không được chú trọng Vì thế, xung đột giai cấp có thể bùng nổ, bất ổn về chính trị, khủng bố, chiến tranh là những nguy cơ

đe dọa khó tránh khỏi

2.2 Bất bình đẳng chi tiêu

2.2.1 Khái niệm chi tiêu

Chi tiêu chung

Theo Piana (2001), chi tiêu là giá trị hàng hoá và dịch vụ mà người dân mua Các hành động mua bán cá nhân được tổng hợp theo thời gian và không gian Chi tiêu thường được chia theo các thành phần khác nhau:

- Thứ nhất: Chi tiêu được chia theo độ bền của hàng hóa Có sự phân biệt giữa hàng hóa lâu bền (ô tô, ti vi), hàng hóa không bền và dịch vụ (nhà hàng)

- Thứ hai: Chi tiêu được chia theo khả năng đáp ứng của sản phẩm đối với nhu cầu của người tiêu dùng (ăn, mặc, ở, giải trí, sức khỏe, giáo dục…) Tùy theo điều kiện kinh tế mà từng nhóm có nhu cầu về chi tiêu khác nhau Người giàu chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu cao cấp (mua nhà, sắm ô tô, mua chứng khoán, bảo hiểm, du học…) Ngược lại, người nghèo tính toán chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản trước tiên (ăn, mặc, ở …), sau đó mới nghĩ đến tiết kiệm hay đầu tư Do vậy, phần trăm chi tiêu so với thu nhập của từng nhóm có thể liên quan đến việc đánh giá sự phân chia thu nhập trong dân cư của một nước và

cả mức độ phát triển của xã hội

Trang 22

Trong kinh tế vi mô, tổng chi tiêu tiêu dùng của một hộ gia đình là tổng số tất

cả các loại hàng hoá và dịch vụ mua vào trong một khoảng thời gian nhất định Theo Tổng cục thống kê (2010), các khoản chi tiêu gồm: Chi giáo dục; chi y tế; chi tiêu dùng hàng ăn uống thường xuyên; chi tiêu dùng hàng ăn uống dịp lễ tết; chi không phải lương thực thực phẩm hàng ngày; chi không phải lương thực thực phẩm hàng năm; chi đồ dùng lâu bền; chi nhà ở, điện nước, vệ sinh; chi khác tính vào chi tiêu

Chi tiêu đời sống

Chi tiêu đời sống bao gồm tất cả các khoản chi của chi tiêu chung trừ đi khoản chi khác tính vào chi tiêu

Chi tiêu bình quân đầu người

Chi tiêu bình quân đầu người bằng tổng chi tiêu của hộ trong 12 tháng chia cho tổng số người trong hộ Chỉ tiêu này phản ánh mức chi tiêu và cơ cấu chi tiêu của các tầng lớp dân cư để đánh giá mức sống, phân hoá giàu nghèo, tính tỷ lệ nghèo làm cơ

sở cho hoạch định chính sách nhằm nâng cao mức sống của nhân dân, xoá đói giảm nghèo

Chi tiêu phân theo 5 nhóm thu nhập

Cách phân chia 5 nhóm thu nhập: Theo định nghĩa của Tổng Cục Thống Kê, toàn bộ các hộ gia đình của mỗi tỉnh được chia thành 5 nhóm ngũ phân vị, mỗi nhóm gồm 20% số hộ Thu nhập các hộ gia đình tăng dần từ nhóm 1 đến nhóm 5 Nhóm 1

Trang 23

Chi tiêu phân theo 5 nhóm thu nhập là mức chi tiêu của hộ đã được phân chia theo 5 nhóm thu thập ở trên Cách phân chia này sẽ cho thấy được sự khác biệt về mức chi của những hộ có thu nhập cao hay thấp Đối với một số nhóm chi, có thể hộ thu nhập cao lại chi ít hơn hộ có thu nhập thấp Chi tiêu phân theo 5 nhóm thu nhập khác với chi tiêu phân theo 5 nhóm chi tiêu là như thế

Chênh lệch chi tiêu bình quân đầu người giữa nhóm hộ có chi tiêu cao nhất so với nhóm hộ có chi tiêu thấp nhất

Chênh lệch chi tiêu bình quân đầu người giữa nhóm hộ có chi tiêu cao nhất so với nhóm hộ có chi tiêu thấp nhất được tính bằng số lần chênh lệch giữa chi tiêu bình quân một người trong một tháng (hoặc một năm) của nhóm hộ có chi tiêu cao nhất so với nhóm hộ có chi tiêu thấp nhất

2.2.2 Khái niệm bất bình đẳng chi tiêu

Theo Mian và Sufi (2014), sự gia tăng về thu nhập và sự bất bình đẳng về tài sản sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng cao hơn trong chi tiêu, y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội Trong kinh tế, chính những kết quả về chi tiêu mới thực sự phản ánh đúng nguyện vọng, nhu cầu của người dân chứ không phải thu nhập hoặc tài sản

Theo Attanasio và Pistaferri (2016), chi tiêu có thể khác với thu nhập nếu người tiêu dùng tiết kiệm, mượn từ các thành viên khác trong gia đình hoặc vay từ chính

phủ để đối phó với “cú sốc về thu nhập” Việc phân tích chi tiêu sẽ làm sáng tỏ hơn bản chất của những “cú sốc về thu nhập” này Nếu chúng ta quan tâm đến ảnh hưởng

của sự bất bình đẳng đối với những người trong những phân khúc nghèo nhất của xã hội, chi tiêu có thể cho chúng ta thấy nhiều khía cạnh bất bình đẳng hơn là thu nhập Điều này thể hiện rõ ở sự khác nhau về giá của những hàng hóa được tiêu thụ bởi các

hộ gia đình giàu và nghèo

Theo nhận định của tác giả, bất bình đẳng chi tiêu là sự chênh lệch về mức chi tiêu dùng giữa các nhóm hộ nghèo và giàu trong dân cư Khoảng cách chênh lệch càng xa thì mức độ bất bình đẳng càng cao

Trang 24

2.3 Đo lường bất bình đẳng

Có nhiều cách đo lường bất bình đẳng như: hệ số Gini, đường cong Lorenz, hệ

số Theil (Atkinson), tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ Q5/Q1 Tuy nhiên,

đề tài sử dụng hệ số Gini và Gini phân tách (Gini decompose) làm phương pháp chính

để đo lường bất bình đẳng trong chi tiêu

2.3.1 Đường cong Lorenz

Năm 1905, Lorenz – một nhà thống kê người Mỹ, đã tìm ra biểu đồ đường cong Lorenz, dùng để biểu thị quan hệ giữa các nhóm dân số và tỷ lệ chi tiêu (hoặc thu nhập) tương ứng của họ Lorenz là một đường tỷ lệ cộng dồn so sánh sự phân phối của một biến cụ thể (chẳng hạn như chi tiêu, thu nhập …) với sự phân phối đại diện cho sự bình đẳng Để tính hệ số Gini, vẽ phần trăm dân số cộng dồn của các hộ gia đình (từ nghèo đến giàu) trên trục hoành và phần trăm cộng dồn của chi tiêu (hoặc thu nhập) lên trục tung Đường 450 đại diện cho sự bình đẳng hoàn hảo Khi đó, hệ số Gini được xác định bằng cách lấy diện tích giới hạn bởi đường 450 và đường cong Lorenz (diện tích A) chia cho diện tích nằm dưới đường 450 (diện tích A+B)

Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài (2007) Hình 2.1: Đường cong Lorenz

Đường bình đẳng tuyệt đối

Đường cong Lorenz

Phần trăm dân số cộng dồn

Trang 25

Có thể thấy đường cong Lorenz bắt nguồn từ các số liệu thực về phân chia chi tiêu (thu nhập) sẽ thường nằm phía bên phải của đường bình đẳng hoàn hảo Đường Lorenz càng nằm xa về bên phải của đường 450 thì mức độ bất bình đẳng sẽ càng lớn Khi ấy, hệ số Gini sẽ càng tiến gần về giá trị 1

2.3.2 Hệ số Gini

Phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng là

hệ số Gini Hệ số Gini được đặt theo tên một nhà thống kê người Ý Gini là người đầu tiên phát minh ra hệ số này vào năm 1912 Hệ số này được tính trên cơ sở đường Lorenz Đây là một thước đo tổng hợp về sự bất bình đẳng Nó được tính bằng tỷ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó Trong Hình 2.1 là tỷ lệ giữa phần diện tích A

so với tổng diện tích A+B

Hệ số Gini có thể dao động trong phạm vi từ 0 đến 1 Hệ số Gini = 0 khi diện tích A = 0, có nghĩa đường Lorenz và đường chéo trùng nhau, chúng ta có bình đẳng tuyệt đối: mọi người có mức thu nhập giống nhau Ngược lại, hệ số Gini = 1 khi diện tích B = 0, có nghĩa đường Lorenz nằm xa đường chéo nhất, chúng ta có bất bình đẳng tuyệt đối: một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì

Hệ số Gini khắc phục được nhược điểm của đường Lorenz là nó lượng hóa được mức độ bất bình đẳng thu nhập và do đó dễ dàng so sánh mức độ bất bình đẳng thu nhập hoặc chi tiêu theo thời gian cũng như giữa các khu vực, vùng và quốc gia Tuy nhiên, thước đo này cũng có hạn chế bởi vì Gini có thể giống nhau khi diện tích A như nhau nhưng sự phân bố các nhóm dân cư có thu nhập khác nhau (đường Lorenz

có hình dáng khác nhau)

Trang 26

Bên cạnh đó, theo Nguyễn Trọng Hoài (2013), hệ số Gini còn được tính theo công thức do Sen đặt ra vào năm 1973 như sau:

Yi : là mức thu nhập (chi tiêu) bình quân đầu người tương ứng hạng thứ i

M là thu nhập (chi tiêu) mẫu bình quân

Ri : là thứ tự thứ I của hộ gia đình có mức thu nhập (chi tiêu) bình quân đầu người Yixếp theo thứ tự giảm dần

Căn cứ vào hệ số Gini, người ta chia các quốc gia thành 3 nhóm bất bình đẳng thu nhập hoặc chi tiêu Các quốc gia có mức độ bất bình đẳng thu nhập (chi tiêu) thấp khi Gini < 0,4; bất bình đẳng thu nhập (chi tiêu) trung bình khi 0,4 ≤ Gini ≤ 0,5; và bất bình đẳng thu nhập (chi tiêu) cao khi Gini > 0,5

2.3.3 Gini phân tách (Gini decompose)

Hệ số Gini phân tách được giới thiệu bởi Dagum vào năm 1997 Sau đó, nhóm nghiên cứu Mussard, Seyte và Terraza ở trường Đại học Monperllier, Pháp đã sử dụng hệ số này để nghiên cứu về bất bình đẳng tiền lương ở vùng Languedoc-Roussillon vào năm 2003 Đến năm 2014, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Văn Phúc,

Lê Hồ Phong Linh và cộng sự đã tổng hợp giản lược công trình nghiên cứu của nhóm trên để tính bất bình đẳng thu nhập giữa các tỉnh thành Theo đó, phân tách hệ số Gini được tính như sau:

Trang 27

Chia hệ số Gini tổng quát ra làm ba thành phần để đánh giá mức độ trong tổng bất bình đẳng thu nhập Hệ số Gini tổng quát:

G = ∑𝑛𝑖=1∑𝑛𝑟=1|𝑦𝑖 −𝑦𝑟|

Trong đó:

n: là tổng dân số gồm “n” cá nhân “i”, i=1, …, n;

yi: thu nhập của cá nhân i, được đặt trong một ma trận có i dòng và r cột,

𝜇: thu nhập trung bình của toàn dân, 𝜇 = 1

𝑛 ∑𝑛𝑖=1𝑦𝑖

Hệ số Gini có giá trị từ 0 (bình đẳng tuyệt đối) đến 1 (bất bình đẳng tuyệt đối) Để phân giải cấu trúc của công thức hệ số Gini tổng quát, chúng ta chia tổng dân số n thành “k” nhóm nhỏ, gọi là “j”, vậy j = 1,….,k

Trang 28

Bất bình đẳng giữa các nhóm Gb còn có thể được chia nhỏ thành hai thành phần nữa

là bất bình đẳng ròng giữa các nhóm Gnb (hay ròng ngoại nhóm) và bất bình đẳng chồng chéo giữa các nhóm Gtb(hay chồng chéo ngoại nhóm)

Bất bình đẳng ròng ngoại nhóm:

Gnb = ∑𝑘𝑗=2∑𝑗−1ℎ=1𝐺𝑗ℎ𝐷𝑗ℎ(𝑝𝑗𝑠ℎ + 𝑝ℎ𝑠𝑖) (2.6)

𝐷𝑗ℎ diễn tả sự giàu có tương đối giữa các nhóm dân nj và nh, với 𝜇𝑖 > 𝜇ℎ Hệ số này

đo lường sự khác biệt ròng giữa các nhóm njvà nh Gọi là “ròng” vì tính toán của nó loại bỏ phần chênh lệch thu phập chồng chéo giữa các nhóm j và h Cụ thể, 𝐷𝑗ℎ được tính toán như sau: 𝐷𝑗ℎ = 𝑑𝑗ℎ − 𝑝𝑗ℎ

Cuối cùng, kết hợp (2.4), (2.6), (2.8), chúng ta có được phương trình hoàn chỉnh của

hệ số Gini phân giải với ba thành phần như sau:

G = Gw + Gnb + Gtb (2.9) Nghiên cứu này còn được gọi là Chỉ số C1, một trong những chỉ số nằm trong nhóm Tìm hiểu Kinh tế Việt Nam qua các chỉ số của Trung tâm Nghiên cứu phát triển Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014

Trang 29

2.3.4 Hệ số Theil

Theo Hoàng Thị Thanh Hà (2013), có hai loại là Theil L và Theil T Cả hai chỉ

số này được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đo lường bất bình đẳng về thu nhập Chỉ số Theil được xác định như sau:

Yi: : là thu nhập của hộ i (i=1, 2, 3…n);

Y: là thu nhập bình quân của tất cả các hộ,

n: là tổng số hộ trong tổng thể nghiên cứu

Chỉ số Thei L dao động từ 0 đến vô cùng, giá trị Theil L càng cao thì càng bất bình đẳng Chỉ số Thei T dao động từ 0 (bất bình đẳng thấp nhất) đến ln(n) (bất bình đẳng cao nhất)

2.3.5 Tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới

Theo Tổng cục thống kê (2006), “Tiêu chuẩn 40%” của ngân hàng Thế giới đưa

ra nhằm đánh giá phân bố thu nhập của dân cư Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập, nằm trong khoảng từ 12%-17% là có sự bất bình đẳng vừa và lớn hơn 17% là có sự tương đối bình đẳng

2.3.6 Tỷ lệ Q5/Q1

Cách đơn giản nhất để đo lường bất bình đẳng về phân phối thu nhập là thống

kê sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành 5 nhóm

có quy mô như nhau Sau đó xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài

Trang 30

gia đình, thì 20% gia đình giàu nhất sẽ nhận được tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì

Tất nhiên, nền kinh tế thực tế nằm ở đâu đó giữa hai thái cực này Một chỉ tiêu đơn giản nhất để đo lường mức độ bất bình đẳng về thu nhập là tỷ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1) Chỉ tiêu này đơn giản, dễ tính và dễ sử dụng nhưng nó chỉ tính thu nhập của hai nhóm giàu nhất và nghèo nhất mà không phản ánh được toàn bộ bức tranh về phân phối thu nhập của tất cả dân cư

2.4 Các hình thể bất bình đẳng và mức độ nghiêm trọng

2.4.1 Cách xác định hình thể bất bình đẳng

Theo Nguyễn Văn Phúc, Lê Hồ Phong Linh và cộng sự (2014), bất bình đẳng trên thực tế tăng hay giảm được biểu hiện dưới nhiều hình thể khác nhau Mỗi hình thể có tình trạng và đặc trưng riêng của nó Để minh họa rõ ràng các dạng thể ấy, chúng ta có các hộ gia đình được phân thành 5 nhóm (ngũ phân vị) dựa vào thu nhập của hộ Nhóm 1 là nhóm 20% nghèo nhất và nhóm 5 là nhóm 20% giàu nhất Lấy thu nhập trung bình của 5 nhóm làm chuẩn và tập trung vào hai nhóm hộ nghèo nhất và giàu nhất Chúng ta nhận thấy như sau:

Trang 31

- Thu nhập của người giàu và người nghèo đều giảm so với mức thu nhập trung bình nhưng mức độ giảm của người nghèo nghiêm trọng hơn mức độ giảm của người giàu (hình thể E);

Bất bình đẳng có thể không thay đổi hoặc giảm vì:

- Thu nhập của người giàu giảm so với mức thu nhập trung bình, thu nhập của người nghèo tăng so với mức thu nhập trung bình (hình thể F);

- Thu nhập của người giàu không tăng so với trung bình, thu nhập của người nghèo tăng so với mức thu nhập trung bình (hình thể G);

- Thu nhập của người giàu giảm so với mức thu nhập trung bình nhưng thu nhập của người nghèo không thay đổi so với mức thu nhập trung bình (hình thể H);

- Thu nhập của người giàu và người nghèo đều giảm so với mức thu nhập trung bình nhưng mức độ giảm của người giàu cao hơn mức giảm của người nghèo (hình thể I);

- Thu nhập của người giàu và người nghèo đều không thay đổi so với mức thu nhập trung bình (hình thể J)

Khu vực có tiến triển bất bình đẳng tăng theo hình thể B hoặc D là những nơi tạm thời có thể “chấp nhận được” Những khu vực có tiến triển bất bình đẳng thu nhập thuộc dạng thể A, C, E là những khu vực cần được “báo động đỏ”, bởi đó là những nơi mà bất bình đẳng tăng vì thu nhập của người nghèo giảm sút so với mức thu nhập trung bình của khu vực

Trang 32

Nguồn: Nguyễn Văn Phúc, Lê Hồ Phong Linh và cộng sự (2014)

Hình 2.2: Khung xác định hình thể bất bình đẳng Ghi chú:

Tỷ lệ thu nhập của 20% nhóm giàu nhất so với trung bình

Tỷ lệ thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất so với trung bình

- - - Thu nhập trung bình chuẩn hóa của khu vực 100%

Trang 33

Với:

Δ𝑋𝑖𝑡: % thay đổi tỷ lệ thu nhập của nhóm hộ i so với trung bình giữa hai thời điểm 0 và t

𝑋𝑖𝑡: Tỷ lệ % thu nhập của nhóm hộ i so với mức chi tiêu trung bình tại thời điểm t

𝑋𝑖0: Tỷ lệ % thu nhập của nhóm hộ i so với mức chi tiêu trung bình tại thời điểm 0

Độ lớn của Δ𝑋𝑖𝑡,0 đại diện cho mức giảm tỷ lệ thu nhập của 20% nhóm hộ nghèo nhất so với trung bình Hệ số này càng lớn thì mức giảm tỷ lệ thu nhập của nhóm hộ nghèo càng cao

Trong tất cả các cơ sở lý thuyết trên, hầu hết đều sử dụng chỉ tiêu “thu nhập” để phân tích Với mục đích mang đến một hướng tiếp cận khác về bất bình đẳng, đề tài

đã sử dụng các khung lý thuyết của “thu nhập” để tính toán cho “chi tiêu” Chi tiêu được nhìn nhận là đầu ra của thu nhập Đa số các khoản thu nhập của dân cư đều sử dụng cho chi tiêu, phần còn lại là tiết kiệm Nếu chúng ta quan tâm đến ảnh hưởng của bất bình đẳng đối với những người trong phân khúc nghèo nhất của xã hội, chi tiêu có thể cho chúng ta thấy nhiều khía cạnh bất bình đẳng hơn là thu nhập Nghiên cứu bất bình đẳng chi tiêu là một hướng nghiên cứu hữu ích hơn bất bình đẳng thu nhập trong việc đề xuất những chính sách phúc lợi xã hội

2.5 Các nghiên cứu trước

2.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu của Barrett và ctg (1999) về “Bất bình đẳng chi tiêu và thu nhập ở Úc”, cho thấy việc sử dụng chi tiêu để đánh giá phúc lợi của hộ gia đình phù hợp hơn

so với thu nhập Bằng cách sử dụng bốn cuộc khảo sát chi tiêu hộ gia đình do Văn phòng Thống kê Úc thu thập từ năm 1975 đến năm 1993, bài nghiên cứu đã xem xét

xu hướng bất bình đẳng chi tiêu giữa các hộ gia đình và so sánh sự bất bình đẳng chi tiêu với bất bình đẳng về thu nhập Phương pháp được sử dụng là cách đo lường bất bình đẳng của Atkinson (1970) và Sen (1973) Họ thấy rằng chi tiêu bình đẳng hơn nhiều so với thu nhập Hơn nữa, trong khi bất bình đẳng thu nhập và chi tiêu đều tăng thì bất bình đẳng chi tiêu tăng ít hơn nhiều Cụ thể, hệ số Gini cho sự bất bình đẳng

Trang 34

thu nhập tương đương tăng 0,043 (17%) trong khi hệ số Gini cho chi tiêu tạm thời tăng 0,019 (9%) Tại sao có sự khác biệt này? Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng một số khoản bất bình đẳng thu nhập là những biến động tạm thời và các hộ gia đình có thể

bù đắp để duy trì mức chi tiêu bình thường Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập làm gia tăng những biến động trong chi tiêu của hộ gia đình trong giai đoạn nghiên cứu

Nghiên cứu của Hayashi và ctg (2012) về “Khoảng cách bất bình đẳng chi tiêu

và vai trò của giáo dục ở Indonesia: Một phân tích từ dữ liệu Susenas Panel 2010” Dựa trên dữ liệu bảng báo cáo của Susenas 2008-2010, nghiên cứu này phân

2008-tích bất bình đẳng về chi tiêu tại Indonesia về mặt không gian Bằng cách sử dụng một số phương pháp phân giải bất bình đẳng: phân giải các chỉ số Theil theo các nhóm dân số, phân giải hệ số Gini theo các thành phần chi tiêu, phân giải Blinder-Oaxaca Kết quả nghiên cứu cho thấy một phần bất bình đẳng đáng kể trong chi tiêu

là bất bình đẳng giữa khu vực đô thị và nông thôn Tuy nhiên, theo cách tiếp cận thay thế, đóng góp của bất bình đẳng giữa các khu vực tăng lên rõ rệt cho thấy sự khác biệt lớn trong phân bổ chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình ở khu vực đô thị

và nông thôn Giáo dục là yếu tố thể hiện rõ sự chênh lệch bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn

Nghiên cứu của Akita và Miyata (2017) về “Các khía cạnh không gian của bất bình đẳng chi tiêu tại Indonesia” Nghiên cứu này phân tích bất bình đẳng giữa các

khu vực ở Indonesia từ năm 1996-2010, bằng cách sử dụng phương pháp phân tách theo cấp bậc Dữ liệu dùng để phân tích là Kết quả Khảo sát kinh tế xã hội quốc gia (Susenas) do Văn phòng Trung ương Thống kê (CBS) Nghiên cứu sử dụng mức chi tiêu của hộ gia đình để tìm ra bất bình đẳng trong chi tiêu theo khu vực Nghiên cứu chỉ ra rằng chênh lệch giữa thành thị và nông thôn chiếm từ 15% đến 25% tổng bất bình đẳng trong chi tiêu Có sự khác biệt lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, nhiều nhất là mức độ bất bình đẳng giữa các huyện Mặc dù sự khác biệt giữa các khu vực lớn với nhau gần như không đáng kể nhưng sự bất bình đẳng giữa các huyện

Trang 35

thôn Sự phân bố không đồng đều về các nguồn lực: tài nguyên, cơ sở hạ tầng công cộng, hoạt động kinh tế đã tạo nên một số bất bình đẳng về khu vực Đây là điều không thể tránh khỏi Để giảm bớt bất bình đẳng ở khía cạnh này, chính phủ cần thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng

Nghiên cứu của Tobden (2017) với chủ đề “Tính năng động và các yếu tố tác động đến bất bình đẳng trong chi tiêu ở Bhutan: Phương pháp phân tích hệ số Theil

và Blinder Oaxaca phân giải” Nghiên cứu này tập trung phân tích bất bình đẳng chi

tiêu trong năm 2007 và 2012 bằng các phép đo khác nhau, bao gồm: hệ số Gini, Theil

và Blinder-Oaxaca Kết quả cho thấy rằng bất bình đẳng “ngoại nhóm” chứ không phải “nội nhóm” là yếu tố quan trọng trong mức bất bình đẳng chung Như vậy, giảm bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị, giữa các huyện và giữa nam và nữ nên là trọng tâm của chính sách để có được sự phát triển công bằng hơn trong xã hội Bhutan

Cain và ctg (2008) đã thực hiện nghiên cứu “Tính toán bất bình đẳng ở Ấn Độ: Bằng chứng từ chi tiêu hộ gia đình” Báo cáo này sử dụng dữ liệu chi tiêu tiêu dùng

quốc gia của Ấn Độ và phương pháp hồi quy, phân giải để phân tích mức độ thay đổi của bất bình đẳng giữa những năm 1983 và 2004 Những cách đo lường khác nhau

về bất bình đẳng cho thấy mức bất bình đẳng tương đối ổn định giữa năm 1983 và năm 1993 nhưng tăng từ giữa năm 1993 và 2004 – đây là giai đoạn tăng trưởng kinh

tế tương đối nhanh Điều này cho thấy, tăng trưởng thường gắn liền với bất bình đẳng

2.5.2 Các nghiên cứu ở trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Nhuận (2000) với đề tài “Đóng góp của từng nguồn thu nhập đối với bất bình đẳng ở Việt Nam” Tác giả đã sử dụng phương pháp

phân tách hệ số Gini của dữ liệu thu nhập của mức sống hộ gia đình các năm 1993,

1998 Các thành phần thu nhập bao gồm: nông nghiệp, phi nông nghiệp, lương, quà biếu, tiền lương hưu, thu nhập khác Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập nông nghiệp, phi nông nghiệp, lương là các nguồn thu đóng góp nhiều nhất vào bất bình đẳng của Việt Nam trong giai đoạn này Đồng thời tác giả cũng kết luận rằng khi một

Trang 36

nguồn thu nhập bất kỳ nào tăng lên cũng sẽ làm tăng thu nhập trung bình và tác động tốt đến phúc lợi xã hội

Nghiên cứu “Phân tích hệ số Gini theo nguồn thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2002-2012” của tác giả Trần Quang Tuyến (2014) Bài viết nghiên cứu mối quan hệ

giữa các nguồn thu nhập và bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2002-2012 Bằng cách sử dụng bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình các năm 2002-2012, phương pháp phân tách hệ số Gini về bất bình đẳng thu nhập và dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm Bài viết đã đưa ra kết quả nhận định mới về đóng góp và tác động của các nguồn thu nhập tới bất bình đẳng trong các năm gần đây Kết quả cho thấy, nông nghiệp là nguồn duy nhất làm giảm bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình

đô thị hóa và công nghiệp hóa thì tỷ trọng của nguồn này trong tổng thu nhập bị giảm

đi là khó tránh khỏi

Nghiên cứu của Châu Thị Kim Ngân (2015) với đề tài: “Ả nh hưởng của từng nguồn thu nhập đến bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long - Phương pháp phân tách hệ số Gini” Đề tài sử dụng phương pháp phân

tách hệ số Gini và sử dụng dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2012 của Tổng cục thống kê để tiến hành phân tách hệ số Gini và đánh giá tác động của từng nguồn thu nhập đến bất bình đẳng thu nhập và phúc lợi xã hội của người dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Kết quả cho thấy rằng tất cả các nguồn thu nhập đều tác động đến bất bình đẳng thu nhập Các nguồn thu nhập từ lương, thu nhập từ nông nghiệp, thương nghiệp, thu nhập khác là các nguồn đóng góp nhiều nhất đến bất bình đẳng thu nhập Trong các nguồn thu nhập thì thu nhập từ thủy sản, sản xuất kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp là các nguồn thu tác động làm bất bình đẳng tăng lên trong khi đó thì các nguồn thu còn lại tác động làm bất bình đẳng giảm xuống

Trang 37

1Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước

Tác giả Nghiên cứu Dữ liệu & phương pháp Kết quả

- Phương pháp đo lường bất bình đẳng Atkinson (1970) và Sen (1973)

Sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập làm gia tăng những biến động về chi tiêu của hộ gia đình trong giai đoạn nghiên cứu

Cain và

ctg

(2008)

Tính toán bất bình đẳng ở Ấn

- Phương pháp hồi quy

và phương pháp phân rã được phát triển theo các lĩnh vực (2003)

Mức độ bất bình đẳng tương đối ổn định giữa năm 1983-1993 nhưng tăng từ giữa năm 1993-

2004 Điều này cho thấy, tăng trưởng thường gắn liền với bất bình đẳng

phân tích từ dữ liệu Susenas Panel 2008-2010

-Bảng báo cáo của Susenas 2008-2010 -Phân giải chỉ số Theil theo các nhóm dân số, phân giải hệ số Gini theo các thành phần chi tiêu, phân giải Blinder-Oaxaca

Khác biệt lớn trong phân

bổ chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình ở khu vực đô thị và nông thôn Giáo dục là yếu tố thể hiện rõ sự chênh lệch bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn

bất bình đẳng chi

tiêu tại Indonesia

-Khảo sát kinh tế xã hội quốc gia (Susena) do Văn phòng Trung ương Thống kê (CBS)

- Phân tách theo cấp bậc

Có sự khác biệt lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn, nhiều nhất là mức

độ bất bình đẳng giữa các huyện

chi tiêu ở Bhutan: Phương

pháp phân tích hệ

số Theil và Blinder Oaxaca

phân giải

-Dữ liệu chi tiêu năm

2007 và 2012

- Phân tách hệ số Theil và Blinder Oaxaca phân giải

Bất bình đẳng “ngoại nhóm” chứ không phải

“nội nhóm” là yếu tố quan trọng trong mức bất bình đẳng chung

Trang 38

Tác giả Nghiên cứu Dữ liệu & phương pháp Kết quả

nhập đối với bất

bình đẳng ở Việt

Nam

-Dữ liệu thu nhập mức sống hộ gia đình các năm

1993, 1998 -Phương pháp phân tách

hệ số Gini

Thu nhập nông nghiệp, phi nông nghiệp, lương là các nguồn thu đóng góp nhiều nhất vào bất bình đẳng của Việt Nam trong giai đoạn này

-Dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình các năm 2002-2012

- Phân tách hệ số Gini

Nông nghiệp là nguồn duy nhất làm giảm bất bình đẳng thu nhập

khu vực Đồng Bằng Sông Cửu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Tóm tắt chương 2

Nội dung chương 2 cho chúng ta hình dung rõ hơn các lý thuyết về bất bình đẳng Tầm quan trọng của bất bình đẳng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Trong các cách thức đo lường mức độ bất bình đẳng đã được nêu ra, đề tài chọn phương pháp phân tách hệ số Gini để đánh giá mức độ của bất bình đẳng chi tiêu Bên cạnh

đó, việc xác định hình thể bất bình đẳng cũng là một điểm mới trong luận văn sẽ cho người đọc nhiều điều thú vị trong việc nhận dạng các hình thể bất bình đẳng

Trang 39

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày về dữ liệu nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu của đề tài

3.1 Dữ liệu nghiên cứu

Cách trích lọc dữ liệu:

Dữ liệu được trích lọc từ bộ VHLSS từ năm 2002 đến 2014 bằng phần mềm Stata Đối với các dữ liệu đã được tổng hợp trong Kết quả Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (TCTK, 2016), đề tài sử dụng chương trình excel để nhập và xử lý số liệu

2Bảng 3.1 : Mô tả thông tin dữ liệu chi tiêu

Chi tiêu đời sống Ý nghĩa

Chi tiêu dùng hàng ăn uống

(thường xuyên và các dịp lễ

tết)

Chi phí chi tiêu cho ăn uống, kể cả những sản phẩm tự sản xuất đã tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống của hộ gia đình (trong các dịp lễ tết và thường xuyên hàng ngày)

Chi tiêu dùng không phải

lương thực, thực phẩm (hàng

ngày và hàng năm)

Chi phí chi tiêu dùng hằng ngày và chi phí chi tiêu dùng hằng năm của các khoản ngoài ăn uống Chi đồ dùng lâu bền Chi phí đồ dùng lâu bền dùng cho sinh hoạt của hộ (không bao gồm đồ dùng lâu bền phục vụ cho

sản xuất kinh doanh)

Trang 40

Chi tiêu đời sống Ý nghĩa

Chi nhà ở, điện nước, rác thải,

Mẫu nghiên cứu:

Dữ liệu trong nghiên cứu có độ dài thời gian là 13 năm, từ năm 2002 đến 2014

Bộ dữ liệu được sử dụng để phân tích ở 7 năm: 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012,

2014 Mẫu đại diện là các hộ gia đình tại 8 vùng của đất nước Việt Nam: Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long

3.2 Khung phân tích

Yếu tố được sử dụng để phân tích trong đề tài là chi tiêu đời sống hộ gia đình

Hệ số Gini tổng quát được tính toán để xác định xu hướng biến đổi của bất bình đẳng chi tiêu chung của cả nước và các vùng qua giai đoạn 2002 – 2014 Tiếp đến, phương pháp phân tách hệ số Gini cấp độ vùng sẽ ước lượng mức độ đóng góp của các yếu

tố nội nhóm và ngoại nhóm vào bất bình đẳng chi tiêu chung Việc nhận dạng hình thể bất bình đẳng tại mỗi vùng sẽ cho chúng ta biết được hình thức biến đổi và mức

độ nghiêm trọng của các dạng hình thể Phân tích dữ liệu nhóm chi ăn uống và chi ngoài ăn uống, nhóm chi cho y tế và chi cho giáo dục sẽ làm rõ hơn đặc điểm chi của

mỗi vùng

Ngày đăng: 05/11/2020, 23:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w