Cộng đồng CNTT và doanh nghiệp đã được tiếp cận từcộng đồng hoặc từ chính quyền địa phương đã đến được với lãnh đạo cấp caocủa đất nước, nhiều thành tích hoạt động đã được ghi nhận kịp t
Trang 1HIỆN TRẠNG CỦA DOANH NGHIỆP PHẦN MỀM
DNPM là doanh nghiệp có từ 50% doanh số CNTT là doanh số phầnmềm
1.2 Phân loại DNPM Việt Nam
Theo sự phân loại của Hội Tin Học Thành Phố Hồ Chí Minh, DNPMtrong nước được tạm xếp vào 4 nhóm: rất nhỏ (micro), nhỏ (small), vừa(middle), một số ít có quy mô lớn (large) và hàng đầu (top)
Doanh nghiệp rất nhỏ (micro) : dưới 10 nhân lực và /hoặc doanh
số tối đa đến 30.000 USD/ năm; tương đương khoảng 2.500 USD/ tháng.(năng suất tối đa 3.000 USD/ năm/ người)
Doanh nghiệp nhỏ (small): từ 10 đến dưới 30 nhân lực và /hoặcdoanh số từ 100.000 USD/ năm đến tối đa là 150.000 USD/ năm; tươngđương từ 8.500 USD/ tháng đến tối đa là 12.500 USD/ tháng (năng suất tối đa5.000 USD/ năm/ người)
Doanh nghiệp vừa (middle): từ 30 đến dưới 100 nhân lực và/hoặc doanh số từ 250.000 USD/ năm đến tối đa là 800.000 USD/ năm; tươngđương từ 20.000 USD/ tháng đến tối đa 60.000 USD/ tháng (năng suất tối đa8.000 USD/ năm/ người)
Doanh nghiệp lớn (large): từ 100 đến dưới 300 nhân lực và /hoặcdoanh số từ 2.000.000 USD/ năm đến tối đa là 3.000.000 USD/ năm; tương
Trang 2đương 170.000 USD/ tháng đến tối đa là 250.000 USD/ tháng (năng suất tối
đa 10.000 USD/ năm/ người)
Doanh nghiệp hàng đầu (top): trên 300 nhân lực Năng suất từ10.000 USD/ tháng/ người
1.3 Tỷ lệ DNPM trong số các DN đăng ký hoạt động PM
Năm 2002, cả nước có khoảng 350 đơn vị đăng ký hoạt động sản xuấtkinh doanh CNTT, trong đó có khoảng 200 đơn vị đăng ký hoạt động phầnmềm HCA ước lượng trong số này có khoảng 40% số đơn vị đăng ký (80 đơnvị) nhưng không hoạt động, 25% (50 đơn vị) hoạt động rồi ngưng, khoảng
35% (70 đơn vị) sẽ bổ xung vào số đơn vị phần mềm “sống được” (Nguồn:
Báo Cáo Toàn Cảnh CNTT 2003 – HCA).
Tỷ lệ này không thực sự phán ánh tình trạng khó khăn của DNPM Con
số 40% đơn vị đăng ký nhưng không hoạt động trong lĩnh vực phần mềm là sốdoanh nghiệp không chủ yếu làm phần mềm
Tỷ lệ tình trạng “sống được” là 35% này trong trường hợp các địaphương chưa có số liệu thống kê đầy đủ hoặc chưa tổ chức khảo sát hoặc chưa
tổ chức khảo sát số doanh nghiệp thực sự hoạt động trong lĩnh vực phần mềm.Như vậy, trong 200 doanh nghiệp đăng ký hoạt động phần mềm trên đây,
số doanh nghiệp thực sự hoạt động phần mềm là 120 đơn vị, trong số này có
50 đơn vị (40%) hoạt động sau một thời gian rồi ngưng và có 70 đơn vị (60%)tồn tại được Dù sao, số doanh nghiệp tồn tại được cũng không phải là khảquan đối với một ngành có triển vọng như ngành CNPM Cần phải nâng tỷ lệsống được từ 60% như hiện nay lên 70% - 80%
1.4 Môi trường hoạt động của DNPM.
Trong kinh doanh, DNPM chịu sự chi phối của nhiều yếu tố chủ quan vàkhách quan Tuy nhiên, có thể nói rằng DNPM chịu tác động mạnh mẽ củamôi trương kinh doanh và môi trường xã hội Các chính sách ưu đãi trongCNPM và việc hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước là 2 yếu tố tích cực đến
Trang 3sự phát triển CNTT tác động khá tiêu cực đến DNPM Có thể nói các doanhnghiệp CNTT nói chung và DNPM nói riêng đã chịu tác động mạnh mẽ củamôi trường kinh doanh và môi trường xã hội, trong đó có yếu tố quan trọng làchính sách của Nhà nước và hoạt động của bộ máy quản lý từ cấp trung ươngđến các địa phương
Trong các năm từ 2000 đến 2004, các chính sách của Đảng và Chính phủliên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT Việt Nam đã được triển khai từngbước, bắt đầu từ việc ban hành chiến lược, xây dựng kế hoạch tổng thể ứngdụng và phát triển CNTT đến năm 2005, xây dựng các bộ máy cấp vĩ mô là
Bộ Bưu chính, Viễn thông; đổi mới Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT, kiện toàn
bộ máy Nhà nước về CNTT tại địa phương, thành lập các Sở Bưu chính, Viễnthông tại TP HCM, Hà Nội và các tỉnh thành
Năm 2004, Chính phủ cũng thể hiện việc đặc biệt khuyến khích đầu tưvào ngành CNPM bằng các chính sách thuế ưu đãi ở mức cao nhất Ngày 22tháng 12 năm 2004, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 123/2004/TT-BTChướng dẫn thực hiện ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp sản xuất sản phẩm
và làm dịch vụ phần mềm Những ưu đãi này tập trung vào thuế thu nhậpdoanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu và thuế thu nhập cá nhân.Trong 2 năm 2004 và 2005, Quốc Hội và các bộ ngành cũng đã soạnthảo các dự thảo Luật Giao dịch điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật CNTT.Năm 2004 là năm đầu tiên Chính phủ duyệt chương trình xúc tiến thương mạicho các doanh nghiệp CNTT, thông qua các hiệp hội Năm 2005 cũng là nămđầu tiên Bộ Bưu chính, Viễn Thông xây dựng các kế hoạch phát triển CNPM,phát triển bưu chính-viễn thông và Internet và gần đây nhất là chiến lược pháttriển CNTT-TT của Việt Nam đến năm 2010
Nhìn chung, các ý kiến của DNPM đều cho rằng môi trường chính sách
có tác động tích cực đối với hoạt động doanh nghiệp Các cầu nối giữa doanhnghiệp với chính quyền thông qua tổ chức hiệp hội, các kênh truyền thông đã
Trang 4có nhiều thuận lợi Cộng đồng CNTT và doanh nghiệp đã được tiếp cận từcộng đồng hoặc từ chính quyền địa phương đã đến được với lãnh đạo cấp caocủa đất nước, nhiều thành tích hoạt động đã được ghi nhận kịp thời.
Mặc dù vậy, việc không xây dựng được các kế hoạch cụ thể trong cácnăm vừa qua do bộ máy chuyên trách quản lý ngành CNTT từ trung ương đếncác địa phương mới thành lập, đang trong quá trình kiện toàn tổ chức đã hạnchế phần nào sự tăng trưởng của DNPM Mặt khác, các cơ chế chính sách cụthể chậm được ban hành cũng khiến cho việc mở rộng thị trường ở khu vựcnhà nước gặp trở ngại Sự thiếu nhất quán trong việc thực thi các chủ trươngchính sách ưu đãi cho phát triển CNPM đã đem lại những quan ngại cho cácnhà đầu tư vào lĩnh vực CNPM
1.5 Đánh giá nhu cầu của các DNPM để hình thành và phát triển
Vốn
Vấn đề thiếu vốn để có thể thành lập, sản xuất và phát triển của DNPMhiện nay chưa có giải pháp hỗ trợ nào được thực thi Quy đầu tư mạo hiểmhay còn được gọi là đầu tư triển vọng là một hoạt động kinh doanh khôngnhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp Có ý kiến cho rằng tìm nguồn vốn là vấn
đề của doanh nghiệp và của ngân hàng Doanh nghiệp hoạt động kinh doanhthì phải vay vốn ở ngân hàng theo quy định cần thiết như thế chấp tài sản.Điều này đúng trong trường hợp bình thường, phát triển ngành CNPM thì cầntìm ra giải pháp có tính đột phá Nhà nước cần chấp nhận một tỷ lệ tổn thấttrong việc hỗ trợ DNPM vay vốn Đây cũng là yêu cầu để nâng cao tỷ lệ
“sống được” của DNPM Sự tổn thất từ 60% đến 70% doanh nghiệp hoặc nếuchỉ là 50% cũng là một tổn thất rất lớn không những về chi phí xã hội mà cònlàm chậm việc đạt được mục tiêu phát triển CNPM
Nhân sự
DNPM không nêu vấn đề thiếu nhân sự, không nêu vấn đề nhân sự thiếu
Trang 5trình độ mà nêu khó khăn vì nhân sự không ổn định Như vậy, nhu cầu vềnhân sự mà một trong số công ty nêu ra có thể là vấn đề bức bách nhưngkhông hẳn là vấn đề cơ bản Cần bảo đảm để giải quyết một khủng hoảngthiếu nhưng không đem đến một khủng hoảng thừa Khủng hoảng thừa có thểkhông chỉ vi chưa xác định địa chỉ cung cấp mà còn có thể vì chưa tạo đủ điềukiện môi trường để các địa chỉ đó xuất hiện trên thực tế Có trường hợp doanhnghiệp một năm trước còn xem nhân lực là vấn đề bức xúc nhưng ngay trongnăm sau đã giải quyết ổn thoả nhu cầu phát triển nhân sự của mình.
Trở lại vấn đề nhân sự không ổn định của các DNPM vừa và nhỏ, chúng
ta thấy không chỉ là nhân sự không ổn định mà bản thân các doanh nghiệp khógiữ được sự ổn định Như vậy vấn đề chính là việc xây dựng và định hìnhđược môi trường kinh doanh ổn định cho DNPM Đây chính là vấn đề khókhăn cho các DNPM, đặc biệt trong buổi đầu thành lập
Thị trường
Hai thiếu thốn lớn của DNPM trong vấn đề thị trường là thiếu thông tin
và thị trường không ổn định Trong đó, thiếu thông tin là vấn đề lớn nhất.DNPM ngoài việc tự bản thân phải thu thập thông tin thì rất cần được hỗ trợ
từ nhà nước những thông tin về thị trường, như các quốc gia khác vẫn làm để
hỗ trợ DNPM của họ
Đối với thị trường CNTT nội địa, khách hàng lớn nhất hiện nay là khuvực nhà nước Hàng năm, DNPM cần được thông báo công khai, đầy đủ vàcùng lúc về nhu cầu thực hiện các dự án phát triển CNTT của các bộ ngànhtrung ương cũng như các cơ quan, sở ngành của tất cả các địa phương Đây làmột trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của cơ quan quản lý CNTT cáccấp Ngoài ra, để tạo điều kiện cho DNPM phát triển thị trường, cần phải tháo
gỡ những ràng buộc làm cản trở tính cạnh tranh của doanh nghiệp, như giảiquyết nhu cầu kết nối viễn thông giá rẻ (qua vệ tinh chẳng hạn), tiết kiệm chiphí cho những doanh nghiệp thực sự có nhu cầu Điều nay sẽ làm tăng lợi thế
Trang 6thu hút đầu tư vào ngành CNPM.
Những vấn đề của DNPM có quy mô lớn.
Bên cạnh sự tăng trưởng nhanh về số lượng các DNPM thì ngày càngxuất hiện nhiều DNPM có tên thương hiệu, có đủ sức cung cấp các giải pháp
và sản phẩm tốt cho thị trường trong nước
Quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn cũng đòi hỏi trình độ quản lý doanhnghiệp ngày càng cao, càng có nhiều thách thức khác phát sinh
Luật pháp về bảo hộ sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả vẫn còn nhiềubất cập là mối lo ngại và nguy cơ rủi ro cao đối với các DNPM hàng đầu cungcấp phần mềm trong nước Nguy cơ tranh chấp sản phẩm có chiều hướng giatăng trong những năm tới, cũng như sự cạnh tranh của các phần mềm và giảipháp từ nước ngoài là thách thức lớn đối với DNPM trong nước hiện nay
1.6 Ứơc tính số lượng DNPM thực sự hoạt động trong cả nước
Tổng hợp số liệu điều tra DNPM đang hoạt động ở Hà Nội, TP HCM vàcác tỉnh thành khác, ta có số DNPM cả nước ước khoảng 722 đơn vị, theobảng sau:
Số lượng DNPM hiện đang hoạt động trong cả nước (Nguồn: HCA)
Trang 7a) Trung tâm Công nghệ Phần mềm Sài Gòn (SSP)
Mục đích
SSP được thành lập năm 2000, tại một vị trí trung tâm thành phố, đặc biệtthuận lợi về mặt địa lý SSP được UBND thành phố quan tâm, đầu tư ngay từban đầu bằng các khoản vay không lãi suất (14 tỷ đồng), cấp chuyển từ kinhphí trung ương (khoảng 3 tỷ đồng), điều chuyển nhiệm vụ quản lý và khaithác Phòng thí nghiệm CNTT từ Ban chỉ đạo CNTT Thành phố (giai đoạntrước 2000), cho phép lắp đặt ăng ten VSAT kết nối Internet qua vệ tinh Hiệnnay cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, vị trí của SSP vẫn là một môi trường lýtưởng đối với các DNPM Một trong các nhiệm vụ ban đầu, cũng như mụcđích thành lập SSP là để hình thành như một Vườn ươm hỗ trợ, nuôi dưỡngcác DNPM mới và non trẻ, chưa có đủ điều kiện để phát triển nhanh và là nơithực thi chính sách hỗ trợ các DNPM
Quá trình hoạt động
Từ năm 2000 đến năm 2002, SSP là địa chỉ thu hút nhiều DNPM, hỗ trợ
về giá thuê văn phòng có chi phí thấp, kết nối Internet tốc độ cao Từ sau năm
2002, đơn vị quản lý SSP liên tục tăng giá thuê văn phòng và các dịch vụ, làmhàng loạt các DNPM vừa và nhỏ không thể trụ được tại đây Cho đến thờiđiểm năm 2005, tại SSP chỉ còn 01 doanh nghiệp quy mô lớn (GlobalCybersoft), cùng với 10 DNPM khác Nhìn chung các DNPM trong SSPkhông còn nhận được ưu đãi hay hỗ trợ gì nữa Đơn vị chủ quản hiện nay củaSSP cũng trở thành một doanh nghiệp sản xuất phần mềm
Như vậy xét về hiệu quả kinh tế thì việc khai thác toà nhà cho thuê có phầnnguồn thu tăng, do tăng giá thuê văn phòng, nhưng xét về mục đích ban đầu là
hỗ trợ, ươm tạo DNPM thì coi như không đạt được Mặc dù chúng ta khôngphủ nhận vai trò lịch sử của SSP là đã góp phần thúc đẩy sự ra đời của KhuCNPM tập trung tại các địa phương, trong đó tại TP HCM có Công viên Phầnmềm Quang Trung (2001), toà nhà E-Town của Công ty REE (2002), Khu
Trang 8CNPM Đại học Quốc gia TP HCM (2003).
b) Công viên Phần mềm Quang Trung (QTSC)
Mục đích
QTSC được thành lập từ năm 2001, với quy mô diện tích đến 43 ha, cómục tiêu hình thành một cơ sở hạ tầng hoàn hảo để tiếp nhận các nhà đầu tưtrong và ngoài nước tới phát triển CNPM, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhanhcủa ngành CNPM, mà SSP không thể thoả mãn được do có quy mô quá nhỏ.QTSC còn là nơi thực thi các chính sách hỗ trợ, ưu đãi, thu hút đầu tư đối vớicác DNPM và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thực hiện chức năng ươmtạo DNPM
Quá trình hoạt động
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đảm bảo các điều kiện kinh doanhcho các DNPM về cơ bản đã hoàn thành trong năm 2005 QTSC có hệ thốngviễn thông hiện đại vào bậc nhất, kết nối trực tiếp với 2 cổng ra quốc tế, tổngbăng thông 68Mbps Các dịch vụ được cung cấp trong QTSC ngày càng hoànhảo như nhà hàng ăn uống, khu nhà ở và biệt thự, phương tiện đưa rước vậnchuyển Các chính sách ưu đãi nhà đầu tư và hỗ trợ DNPM được triển khai cóhiệu quả tại QTSC.Tại đây đã thu hút được các nhà đầu tư đăng ký thuê đất,lấp đầy toàn bộ diện tích và hiện các nhà đầu tư đang tiến hành xây dựng cáctoà nhà cao ốc văn phòng hiện đại, phục vụ các DNPM với tổng vốn đầu tưđăng ký trên toà nhà cao ốc văn phòng hiện đại, phục vụ các DNPM với tổngvốn đầu tư đăng ký trên 1000 tỷ đồng Trong thời gian từ năm 2001 đến nay,QTSC đã tiếp nhận và hỗ trợ ra đời 65 DNPM mới Thương hiệu và khả năngthu hút đầu tư của QTSC ngày càng được củng cố Các hoạt động hỗ trợDNPM bên trong QTSC, mà tiêu biểu là các cuộc gặp gỡ doanh nghiệp(business matching), các hoạt động xúc tiến thương mại cộng với chính sách
ưu đãi giá cho thuê văn phòng, dịch vụ hoàn hảo đã tạo môi trường kinhdoanh có tính cạnh tranh cao cho các DNPM
Trang 9Môi trường thuận lợi với các dịch vụ dùng chung trong QTSC là nguyênnhân trực tiếp đem lại hiệu quả hoạt động của DNPM Tỷ lệ sống sót của cácDNPM tại QTSC đạt 70%, là cao gấp đôi so với tỷ lệ 35% DNPM sống sót tại
TP Hồ Chí Minh QTSC đang là một mô hình Khu CNPM tập trung hoạtđộng hiệu quả, đúng với định hướng của lãnh đạo TP.Hồ Chí Minh QTSC sẽ
là nơi đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của CNPM TP HCM, là nơithu hút các DNPM có quy mô lớn vào hoạt động, đặc biệt là các DNPM vớiđịnh hướng khai phá các thị trường mới như thị trường Nhật Bản
Tồn tại lớn nhất hiện nay đối với QTSC là vấn đề giao thông đi lại bênngoài chưa được giải quyết dứt điểm đang gây khó khăn lớn cho các DNPMhoạt động bên trong QTSC
c) Toà nhà E-Town
Toà nhà E-Town được hình thành từ dự án xây dựng toà cao ốc của Công
ty Cổ phần Cơ điện lạnh REE E-Town được xây dựng từ năm 2001 và bắtđầu đi vào hoạt động cuối năm 2002 E-Town có tổng diện tích văn phòngtrên 30.000 m2, là nơi cung cấp môi trường làm việc khá lý tưởng cho cácDNPM thuê Hiện nay tại E-Town có 20/107 doanh nghiệp CNTT đang hoạtđộng, với khoảng 1000 chuyên gia CNTT Hiện tại Công ty REE đang có dự
án xây dựng toà nhà E-Town 2 để tiếp tục làm văn phòng cho các DNPM thuê
và mở rộng sản xuất
d) Khu Công nghệ Phần mềm Đại học Quốc gia TP HCM
Dự án Khu CNPM Đại học Quốc gia TP HCM (VNU-ITP) được khởiđộng từ năm 2001, đến cuối năm 2005, VNU-ITP đã quy hoạch được 23,8 hađất để phát triển, xây dựng xong Giai đoạn I khuôn viên gần 8 ha, với trên17.000 m2 văn phòng làm việc
Hiện nay tại VNU-ITP có 4 trung tâm đào tạo nhân lực và phát triển phầnmềm trực thuộc Đại học Quốc gia (CITD, Unisoft, Pronet, DATAGis, …)cùng một số doanh nghiệp thuê văn phòng để hoạt động, với tổng số trên 100
Trang 10người Hoạt động ươm tạo công nghệ dành cho đối tượng là các sinh viên vàgiáo viên chuyên ngành CNTT đã được khởi động tại đây từ năm 2002, hiệnnay vẫn đang được tiếp tục với một số dự án quy mô nhỏ.
2.2 Vai trò hỗ trợ phát triển DNPM của các khu CNPM tập trung
a) Ưu thế của các khu CNPM tập trung
Khu CNPM tập trung là các khu sản xuất phần mềm quy mô lớn, tập trungnhiều DNPM Đây còn là nơi các nhà khoa học, các lập trình viên được tạomọi điều kiện thuận lợi nhất để nghiên cứu – phát triển sản phẩm mới, tạo racác sản phẩm có giá trị gia tăng và hàm lượng chất xám cao Bên cạnh chứcnăng sản xuất và dịch vụ của các DNPM, ba lĩnh vực được đặc biệt ưu tiên và
hỗ trợ trong các khu CNPM tập trung là nghiên cứu và phát triển trong côngnghệ phần mềm, đào tạo nhân lực chất lượng và trình độ cao, ươm tạo DNPMmới cho ngành CNPM Các nghiên cứu trên toàn thế giới còn cho thấy có 04điều kiện quan trọng để các khu CNPM tập trung phát triển là :
Sự tiếp cận dễ dàng những nguồn nhân lực lành nghề
Khả năng kết nối viễn thông và Internet với chi phí thấp
Dễ dàng và thuận tiện trong giao thông (gần sân bay quốc tế)
Có các điều kiện sống và sinh hoạt chất lượng cao
Xây dựng và phát triển các khu CNPM tập trung là một trong những yếu tốhàng đầu trong phát triển CNPM và phải dựa trên hai yếu tố chính là “dànhcác chính sách ưu đãi tối đa” và “đầu tư tập trung có trọng điểm” vào một sốkhu CNPM tập trung Làm tốt việc này, các khu CNPM tập trung sẽ trở thànhhạt nhân cho nền CNPM quốc gia, là nơi sản sinh ra những DNPM có tầm vóclớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Thực tiễn ra đời và quá trình hoạt động của QTSC và các khu CNPM tậptrung khác tại TP HCM trong 05 năm qua đã góp phần không nhỏ trong sựphát triển của CNPM Việt Nam, đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia
Trang 11sản xuất phần mềm và khẳng định được sự cần thiết của mô hình này.
b) Mô hình Vườn ườm DNPM trong các khu CNPM tập trung
Trong thực tiễn kinh doanh, do tiềm lực về tài chính không mạnh, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) thường bị bất lợi về cạnh tranh hơn sơ vớinhững doanh nghiệp lớn Họ vấp phải những rào cản thâm nhập thị trường,khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tài chính, tiếp cận các dịch vụ hỗ trợdoanh nghiệp, tiếp cận các hoạt động nghiên cứu và phát triển, chi phí giaodịch cao hơn khi cần tiếp cận với các thị trường nước ngoài, dẫn đến tỷ lệ cácSME thất bại là tương đối cao Điều này cũng đúng cho các DNPM tại mộtquốc gia mới phát triển CNPM như Việt Nam, như thực tế khảo sát cho thấy Vai trò của Nhà nước là phải tìm giảm bớt tỷ lệ thất bại của DNPM, khắcphục những khiếm khuyết của thị trường bằng cách cung cấp những dịch vụ
hỗ trợ kinh doanh và tài chính cho các DNPM mới thành lập, quy mô nhỏ đểgiúp họ cải thiện tính cạnh tranh, tiếp cận được các thị trường mới hoặc pháttriển những sản phẩm và dịch vụ mới Vườn ươm DNPM sẽ cung cấp một môitrường hỗ trợ thuận lợi cho chủ nhân của các DNPM mới tồn tại và phát triển.Việc cung cấp những dịch vụ cần thiết cho DNPM trên cơ sở “một cửa” chophép giảm tổng chi phí hoạt động của DNPM Vườn ươm nuôi dưỡng nhữngDNPM trẻ, giúp đỡ họ sống sót và tăng trưởng trong thời gian khởi nghiệp -thời kỳ dễ bị thất bại và tổn thương nhất Một cách cụ thể hơn, Vườn ươmDNPM sẽ đem đến:
Dịch vụ phát triển doanh nghiệp: giúp đỡ DNPM mới thành lập các kinh
nghiệm về một lĩnh vực xác định, có thể liên quan đến việc lập kế hoạch kinhdoanh, đào tạo kỹ năng quản lý, tiếp cận với trình độ cao về kế toán, phápluật, tiếp thị và tài chính, và những hình thức tư vấn đặc thù khác Vườn ươm
có thể tạo ra hay điều hành Quỹ đầu tư mạo hiểm để đầu tư vào các doanhnghiệp được ươm tạo
Mạng tư vấn doanh nghiệp: Vườn ươm DNPM tự bản thân nó không thể
Trang 12cung cấp tất cả các phương tiện và những dịch vụ cần thiết, vì những tàinguyên chỉ có hạn Thành mạng lưới với những nhà cung cấp bên ngoài làviệc cần phải làm Một mạng tư vấn hoạt động chung quanh Vườn ươm, hoặcmột mạng lưới hỗ trợ phát triển DNPM gồm các chuyên gia tư vấn, nhà cungcấp dịch vụ chuyên nghiệp, nhà giáo và doanh nhân thành đạt giàu kinhnghiệm sẽ sẵn sàng cung cấp tư vấn và các sự giúp đỡ cần thiết cho doanhnghiệp Những người tham gia vào mạng lưới tư vấn sẽ được hưởng lợi thôngqua hoạt động tư vấn, vì họ có được một nguồn khách hàng càng ngày càngnhiều và đây là một kênh thông tin tiếp thị rất có hiệu quả.
Hiệp lực điều hành: Đóng góp quan trọng nhất của những Vườn ươm
doanh nghiệp tới các doanh nghiệp trong Vườn ươm là các cơ hội mà chúngcung cấp cho chủ doanh nghiệp, để hợp tác và phát triển những mối quan hệlàm ăn với những chủ doanh nghiệp khác Một đóng góp quan trọng khác màviệc sử dụng cùng trụ sở của các chủ doanh nghiệp có thể làm, là sẽ khắc phụcđược sự cô đơn của môi trường làm việc Khuyến khích những quan hệ làm ănbên trong Vườn ươm doanh nghiêp, trao đổi ý tưởng và tư vấn không chínhthức sẽ tạo nên một mối liên hệ khăng khít giữa các doanh nghiệp
Không gian làm việc linh động với giá cả chấp nhận được: dưới dạng vănphòng làm việc hoặc dưới dạng phân xưởng, dựa trên cơ sở “dễ vào và dễ ra”,
từ những không gian nhỏ (10 mét vuông), trong một thời gian ngắn (chỉ cầnđăng ký trước 1 tháng), khả năng di chuyển vào một vị trí khác lớn hơn ngaytrong Vườn ươm Điều quan trọng là môi trường Vườn ươm, cả không gianbên trong lẫn công việc bên ngoài, đều phải được cung cấp với những tiêuchuẩn cao nhất, để xúc tiến kế hoạch cho những khách hàng mới nhưng cũnggiúp tiếp thị những doanh nghiệp cho khách hàng Cần có một địa điểm đầumối ở đó mọi người có thể gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm, thành công cũngnhư thất bại của họ Nơi đây có thể bao gồm một căng tin, một nhà bếp riêngbiệt và phòng vệ sinh
Trang 13Những dịch vụ dùng chung: Bao gồm thư ký hỗ trợ, gọi điện trả lời, lễ
tân và dịch vụ chuyển thư, truy nhập máy tính và các thiết bị văn phòng khác,phòng học và (trong vài trường hợp) căng-tin Vườn ươm cần cung cấp cho tất
cả các doanh nghiệp thuê được phép truy nhập tới một “cơ sở hạ tầng TT” chung, nơi mà các doanh nghiệp truy cập Internet và được cung cấpnhững dịch vụ hỗ trợ khác
Dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng: một Vườn ươm doanh nghiệp
sẽ tìm cách cung cấp sự giúp đỡ liên tục cho những doanh nghiệp thuê sau khi
họ rời Vườn ươm, và có thể cung cấp những dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệpnhỏ trong vùng nói chung sự sẵn có những giải pháp đầy đủ và thích hợp làrất quan trọng, ngoài việc có đủ không gian làm việc
c) Các loại hình Vườn ươm doanh nghiệp
Mô hình Vườn ươm có thể phân loại thành 2 loại: (1) Các vườn ươm philợi nhuận và (2) các vườn ươm vì lợi nhuận
Nhóm thứ nhất là các vườn ươm được các tổ chức, cơ quan của Chính phủ,các Trường đại học và các tổ chức không vụ lợi tài trợ, mục đích hướng đến là
để phát triển kinh tế qua việc tăng công ăn việc làm, đa dạng hoá cơ sở kinh
tế, tăng nguồn thu về thuế cũng như thương mại hoá các công nghệ mới CácVườn ươm này thường kết hợp với các chương trình nghiên cứu tại các trườngđại học
Nhóm thứ hai là các Vườn ươm mang tính chất phi Chính phủ và thường là
do các nhóm đầu tư, các nhà đầu tư thiện chí hay các công ty tư nhân vậnhành Hình thức đầu tư này được phổ biến khá rộng rãi tại EU và cũng đã đemlại nhiều kết quả khả quan trong những năm qua
Theo kinh nghiệm các nước, việc theo đuổi một chiến lược Vườn ươm philợi nhuận dựa trên sự bao cấp của Nhà nước với niềm tin sẽ có chiếc chìakhoá kỳ diệu để đi vào Vương quốc công nghệ cao sẽ làm thui chột sự năngđộng và hiệu quả trong hoạt động của các Vườn ươm – vì dù sao Vườn ươm
Trang 14cũng là một thành phần, thậm chí là thành phần năng động nhất của nền kinh
tế Điều quan trọng là “gieo mầm” hoạt động của Vườn ươm hơn là bao cấpmột cách vô điều kiện Một khi chính quyền chấp nhận nghĩa vụ bao cấp,trọng tâm sẽ dịch chuyển từ việc nuôi dưỡng các công ty mới (các doanhnghiệp mới được hưởng lợi) sang việc xây dựng và duy trì những khu liên hợpkhổng lồ (ở đây chỉ các nhà thầu xây dựng và các công chức quản lý đượchưởng lợi) Một mô hình kinh doanh tốt phải nỗ lực vì mục tiêu hoạt động tựhạch toán và ở đây Nhà nước chỉ đóng vai trò người tạo điều kiện thuận lợinhất cho sự vận hành của những Vườn ươm doanh nghiệp Tuy nhiên ở giaiđoạn đầu của quá trình phát triển Vườn ươm hầu hết các nước trên thế giớiđều chọn mô hình Vườn ươm phi lợi nhuận (nonprofit) hoặc bán phi lợi nhuận(semi-nonprofit) Điều này dễ hiểu bởi để vận hành thành công mô hình Vườnươm cần có khả năng tài chính dồi dào và kinh nghiệm quản lý tốt Một giảipháp tốt cho việc hình thành và phát triển các Vườn ươm doanh nghiệp là hợptác liên doanh với các đối tác nước ngoài, để đòi hỏi kinh nghiệm quản lý củahọ
Về hình thức pháp lý của Vườn ươm Theo kinh nghiệm của Pháp, vậnhành Vườn ươm ban đầu (3 năm) có thể dưới dạng các công ty khuyết danh,nhóm quyền lợi công cộng (GIP) hay là công ty thương mại tự cân đối tàichính – các Vườn ươm này tiếp tục hưởng một vài trợ giúp của Chính phủ,nhưng sẽ tìm được các nguồn tài chính khác
Như vậy, có thể khẳng định Vườn ươm là một doanh nghiệp Theo phápluật Việt Nam, Vườn ươm có thể hoạt động dưới các hình thức cụ thể nhưdoanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã,công ty cổ phần…
d) Thực tiễn và kinh nghiệm triển khai mô hình “Vườn ươm DNPM”
Đầu tư phát triển các Vườn ươm DNPM tại Việt Nam là hết sức cần thiết,
vì đa số các DNPM mới thành lập còn rất yếu trong kinh nghiệm quản lý và
Trang 15khả năng thâm nhập thị trường Sự liên kết giữa các DNPM trong tổ hợpVườn ươm sẽ giúp họ có được một nền tảng vững vàng hơn trong thời gianđầu mới thành lập và nhanh chóng trưởng thành.
Vườn ươm DNPM không phải là một khái niệm hoàn toàn mới đối vớiCNPM Việt Nam Ở TP HCM từ năm 2000 cho đến nay đã có một số dự ánnghiên cứu và áp dụng mô hình này Hoạt động “ươm tạo” các DNPM tại TP.HCM có thể kể trước tiên là tại QTSC Xây dựng theo mô hình một khuCNPM tập trung, mục đích hoạt động của QTSC khong chỉ là tạo môi trườngthu hút các DNPM đang tồn tại tập trung lại thành một khối, một cộng đồng,
để chia sẻ các nguồn tài nguyên và hỗ trợ, hợp tác với nhau, mà còn là mộtmôi trường “nâng đỡ” cho các DNPM mới thành lập hoặc đang chuẩn bịthành lập
Tuy nhiên những hỗ trợ ưu ái các DNPM hoạt động tại QTSC được hưởngcòn nặng về cơ sở hạ tầng QTSC vẫn chưa thể hiện được kinh nghiệm, sựhiểu biết trong việc nhanh chóng nắm bắt những nhu cầu của DNPM mới,trong các dự án kinh doanh mới và giúp cho các dự án đó nhanh chóng đượcthức hiện
Ngày 13/09/2005, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra quyết định số15/2005/QĐ-BKHCN về việc Ban hành Quy định tạm thời về việc tổ chứcthực hiện nhiệm vự ươm tạo công nghệ trong các trường đại học Đây là mộtbước tiến đáng kể trong nhận thức của lãnh đạo về vai trò ươm tạo công nghệ
mà Vườn ươm Unisoft ĐHQG đã thử nghiệm trước đó 03 năm 01 tháng saukhi có quyết định này, tại Đại học Quốc gia TP HCM đã có 4 đề tài đăng kýươm tạo được xét duyệt với kinh phí trên 2,5 tỷ đồng (trong tổng kinh phí 4 tỷđồng dự kiến chi cho hoạt động ươm tạo công nghệ), chứng tỏ nhu cầu lấycông nghệ làm nền tảng để hình thành các doanh nghiệp công nghệ cao là rấtthực tế
Hiện nay, dự án “Vườn ươm DNPM” tại QTSC, với sự hỗ trợ về chuyên
Trang 16gia và tài chính của Uỷ ban Châu Âu (EC) đang được triển khai Đây là mộttrong tiểu chương trình 2 thuộc Chương trình Hỗ trợ khu vực tư nhân của EC
tại Việt Nam Mục tiêu tổng thể của chương trình này là “thúc đẩy các hoạt
động của khu vực tư nhân, đặc biệt của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, và thúc đẩy sự hội nhập của khu vực này vào nền kinh tế quốc tế” Để
đạt được mục tiêu đó, bên cạnh việc cố gắng cải thiện môi trường pháp lý vàhành chính cho sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nâng cao nănglực của các hiệp hội kinh doanh và sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ kinhdoanh, một trong các kết quả chính mà Chương trình hướng đến là “tạo ra cácdoanh nghiệp mới qua việc thành lập các Vườn ươm công nghệ - kinh doanhkiểu mẫu trong các ngành đã được lựa chọn (ngành chế biến thực phẩm ở HàNội và CNTT ở TP HCM)”
3 Sự hình thành và phát triển của một số DNPM Việt Nam
3.1 Công ty cổ phần phần mềm kế toán Bravo
a) Sự hình thành
Công ty cổ phần phần mềm kế toán Bravo được thành lập theo giấy phép
số 4467/GP-UB ngày 07 tháng 10 năm 1999 của Uỷ Ban Nhân Dân ThànhPhố Hà Nội Được Sở Kế Hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh số 056682 ngày 18 tháng 10 năm 1999
Bravo là công ty chuyên sâu trong việc phát triển phần mềm kế toán vàphần mềm quản trị tài chính Với những kinh nghiệm thực tế giúp Bravo đãđáp ứng được những yêu cầu quản lý của các đơn vị và đây cũng chính là nềntảng để công ty phát triển phần mềm kế toán Bravo với những đặc điểm vàchức năng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về kế toán và chức năngquản trị
Phần mềm kế toán Bravo được thiết kế theo tư tưởng “hệ thống mở”, cho
phép dễ dàng bổ xung và hiệu chỉnh chương trình theo yêu cầu của người sửdụng Trải qua một quá trình phát triển lâu dài với những phiên bản phần mềm
Trang 17kế toán đầu tiên Bravo 3.0,4.0,5.0,6.0 và hiện là Bravo 6.3, nó được xem làphần mềm dễ sử dụng nhất, đáp ứng các đòi hỏi khắt khe của thực tế và mangtính quản trị cao Điều này cũng xuất phát từ chính mục tiêu phát triển của
công ty là : “ trở thành nhà cung cấp phần mềm số 1 trong lĩnh vực phần
mềm kế toán quản trị”
Nhân lực của công ty : hiện tại công ty có hơn 70 nhân viên (gồm 60 lậptrình viên), làm việc tại 03 văn phòng gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố
Hồ Chí Minh Họ là những nhân viên chuyên nghiệp, trẻ, năng động, sáng tạo
đã được đào tạo có bài bản, hiểu biết sâu sắc về kế toán tài chính và có khảnăng triển khai, lập trình tốt Công ty đã và đang triển khai một số dự án lớnđược tài trợ bởi các tổ chức quốc tế như : Ngân Hàng Thế Giới, Chính PhủĐan Mạch hay tổ chức SIDA của Thuỵ Điển, các dự án lớn trong nước nhưtổng công ty gang thép Thái Nguyên, công ty than nội địa, tổng công ty Dulịch Bến Thành, công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm dầu khí điệnthan Cà Mau…
Trong quá trình phát triển, công ty luôn ý thức được rằng con người làyếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công Chính vì vậy, công ty luôn cócác khoá đào tạo cho nhân viên về nghiệp vụ, công nghệ, kỹ năng làm việc.Ngoài ra, công ty còn cử cán bộ tham gia các khoá đào tạo của Ngân HàngThế Giới, các khoá cập nhật văn bản pháp luật Bộ Tài chính, các khoá tậphuấn về các chuẩn mực kế toán mới của Việt Nam
Trong khi hầu hết các công ty phần mềm trong buổi đầu thường chọnhướng đi dễ tiếp cận, đơn giản thì những người sáng lập Bravo lại nghĩ khác
Để khẳng định mình trên thương trường họ cần chọn hướng đi chuyên nghiệp
và bài bản hơn; dù có chông gai Với vốn kinh nghiệm tích luỹ được từ quátrình lặn lội trong lĩnh vực phần mềm trước đó, tháng 10 / 1999, 3 chàng traitrẻ, những người sáng lập Bravo đã chính thức khai sinh công ty Và lĩnh vực
họ chọn là phần mềm kế toán quản trị doanh nghiệp, đòi hỏi nhiều kinh
Trang 18nghiệm quản trị, một mảng “yếu” của phần mềm Việt Nam nói chung “Đừng
nghĩ có nhiều công ty cung cấp là thị trường phần mềm kế toán đã bão hoà”;
ông Phạm Trung, giám đốc Bravo nhận xét “Chế độ kế toán hiện hành của
Việt Nam luôn thay đổi và đang tiến tới xây dựng các chuẩn mực kế toán Các doanh nghiệp có xu hướng chú trọng hơn tới công tác quản trị doanh nghiệp Nên kế toán không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng vấn đề nghiệp vụ với những con số đơn thuần mà còn là công cụ để điều hành doanh nghiệp Chỉ riêng điều đó thôi cũng cho thấy nhiều cơ hội rộng mở cho những DNPM có cái nhìn nghiêm túc với thị trường và có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của nhà quản lý”
b) Sự phát triển của công ty
Ý thức được tàm quan trọng của chất lượng dịch vụ nhất là trong lĩnhvực công nghệ thông tin, do vậy công ty đã triển khai hệ thống quản lý chấtlượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và đã áp dụng thành công hệ thốngchuẩn hoá tất cả các quy trình làm việc trong các phòng ban của công ty Thành công của buổi ban đầu thành lập : công ty đã tạo được dấu ấn vớithị trường gần 200 công ty làm phần mềm kế toán ở Việt Nam không phải làđiều dễ! Nhưng những người trẻ tuổi ở công ty phần mềm kế toán Bravo đã
làm được điều đó và làm một cách tự tin như chính cái tên của họ “ Hay
lắm!”.
Bravo là một ví dụ điển hình về mô hình của các công ty phần mềm ViệtNam nói chung : tuổi đời trung bình chỉ 26 Trong khi giới làm chính sách vàcác nhà quản lý đang đau đầu với vấn đề làm thế nào để phát triển thị trườngphần mềm trong nước thì một công ty phần mềm trẻ như Bravo vẫn hết sứclạc quan với tốc độ tăng trưởng của Bravo luôn đạt năm sau hơn năm trướcvài chục phần trăm
Năm 1999: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 30 khách
hàng đầu tiên, trong đó có những khách hàng lớn như Công ty nhựa thiếu niên
Trang 19tiền phong, Cấp nước Hải Phòng, gạch ngói Đồng Nai, Việc Vacxin NhaTrang, Tập Đoàn Hoà Phát…
Năm 2000: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 80 khách
hàng Đặc biệt là công ty đã bắt đầu triển khai phần mềm cho các đơn vị cóvốn đầu tư nước ngoài và những công ty sản xuất công nghiệp lớn hạch toáncực kỳ phức tạp như : dệt may Thắng Lợi, công nghiệp FUSHENG, công tysản xuất thiết bị điện (05 đơn vị) Triển khai thành công phần mềm kế toánquản trị cho công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí VietGas, thoảthuận với công ty than nội địa về việc triển khai phần mềm cho các đơn vịtrực thuộc
Năm 2001: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 110 khách
hàng trong đó có những dự án triển khai trên diện rộng nhiều đơn vị thànhviên như công ty lương thực Miền Nam, công ty công nghệ thực phẩm miềntrng Focosev, công ty lương thực Miền trung Foodico…
Năm 2002: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 140 khách
hàng Trong đó có công ty thuốc lá An Giang, Công ty RedBull…đặc biệtphần mềm Bravo được đánh gía là phần mềm chuyên nghiệp trong việc hạchtoán chi phí và tính giá thành sản phẩm Ký hợp đồng thoả thuận hợp tác vớicông ty kiểm toán Việt Nam về cung cấp và triển khai phần mềm kế toán chocác doanh nghiệp do VACO tư vấn, kiểm toán tài chính
Năm 2003: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 180 khách
hàng Trong đó có công ty sứ vệ sinh Inax, công ty Nichias Việt Nam, đặc biệt
là công ty gang thép Thái Nguyên
Năm 2004: Triển khai thành công phần mềm kế toán cho hơn 210 khách
hàng, lần đầu tiên triển khai thành công phần mềm BOMs cho công ty LG-ISViệt Nam
Đồng thời năm 2004 công ty cũng đã chính thức áp dụng thành công hệthống quản lý chất lượng ISO 9001-2000
Trang 20Năm 2005: doanh thu đạt trên 07 tỷ đồng và được các giới CNTT đánh
giá rất cao Công ty cũng đã hợp tác với các bộ, ngành triển khai thành côngmột số dự án ODA, các dự án của WB, SIDA…của các Chính Phủ và tổ chứcquốc tế tại Việt Nam.Mục tiêu trong năm 2006 là
“Đạt mốc khách hàng thứ 1000, doanh thu toàn công ty đạt 10 tỷ đồng”
3.2 Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tin học HPT.
Sự hình thành của công ty
Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tin học HPT là công ty được thành lậpvào ngày 13 tháng 01 năm 1995 Trụ sở chính 60 Nguyễn Văn Trỗi, Quận PhúNhuận, TP.HCM Công ty HPT ngày nay đã trở thành một trong những công
ty tin học hàng đầu tại Việt Nam Công ty cung cấp các dịch vụ CNTT chonhiều khách hàng trong và ngoài nước, trong đó có các cơ quan Chính phủ,doanh nghiệp Nhà nước, công ty đa quốc gia và các nhà máy xí nghiệp - họ lànhững đơn vị đang giữ vai trò trọng yếu trong nền kinh tế
Ra đời ngay khi các hãng công ty hàng đầu thế giới như IBM, HP, Microsoft,Oracle…đang ồ ạt tiến vào Việt Nam, Công ty cổ phần dịch vụ công nghệ tinhọc HPT chủ động nắm bắt thời cơ và từng bước hoà nhập được với cuộc cạnhtranh mang tầm cỡ toàn cầu này HPT trở thành công ty tin học Việt Nam đầutiên tại TP.HCM được cấp chứng nhận về Hệ thống Quản lý Chất lượng phù hợpvới tiêu chuẩn ISO 9000 Đầu năm 2006, họ đã chính thức được tập đoànMicrosoft cấp chứng nhận đối tác vàng (Microsoft Gold Cerified Partner), trởthành một trong những đối tác hàng đầu Châu Á – Thái Bình Dương và là công
ty tin học thứ hai của Microsoft tại Việt Nam đạt đối tác vàng…
10 năm xây dựng và vinh quang
Lựa chọn HP và cũng được HP lựa chọn, công ty TNHH Dịch vụ Côngnghệ Tin học HPT được hình thành vào năm 1995 với số vốn ban đầu rất ít ỏi(400 triệu đồng), chỉ vừa đủ chi phí để tìm mặt bằng thuê nhà, mua sắm trangthiết bị sử dụng và trả lương cho nhân viên Khi đó, tình hình ứng dụng CNTT
Trang 21còn rất mới, đặc biệt các ứng dụng quản lý được phục vụ các doanh nghiệplớn hầu như chưa có ở Việt Nam Vậy nhưng đội ngũ cán bộ kỹ sư rất trẻ củaHPT đã mạnh dạn lao vào nghiên cứu các hệ thống máy tính mini làm việctrên môi trường mở Họ miệt mài nghiên cứu, học tập, thực hành, triển khai…làm việc mỗi ngày từ sáng sớm đến tối mịt Rồi HPT trở thành một trongnhững công ty đi tiên phong trong nghiên cứu triển khai hệ thống máy tínhchạy trên nền hệ điều hành Unix, mô hình tổ chức hệ máy client – server.Năm 2005 vốn của công ty đã là 15 tỷ đồng và doanh thu đạt 295 tỷ đồng Một trong những yếu tố cơ bản để đạt được mục tiêu phát triển biền vữngcủa HPT là xây dựng bản sắc văn hoá riêng của doanh nghiệp Ngay từ nhữngngày đầu thành lập, HPT đã tạo dựng một bầu không khí doanh nghiệp có vănhoá nhân bản, tiên tiến, có nguyên tắc rõ ràng trong mọi mặt hoạt động côngtác, giao tiếp và vui chơi giải trí…Văn hoá HPT được thể hiện trong nhữngtầm nhìn chiến lược của lãnh đạo, trong phong cách làm việc kiểu mới, xâydựng mối quan hệ con người với con người, con người với tổ chức nền tảngcác giá trị nhân bản…Và, HPT cũng đã đạt được những thành tựu quan trọngđầu tiên, đó là ký được những hợp đồng lớn với Đại học Báck kho TP HCM,với liên doanh Canametal-box, Samsung Vina…; tạo được niềm tin với đốitác Hewlett-Packard, được hãng uỷ quyền rất lớn cho HPT trở thành nhà cungcấp các giải pháp ứng dụng phục vụ doanh nghiệp, những giải pháp rất hiệnđại lúc bấy giờ chạy trên các hệ máy tính mini HP9000 với hệ điều hànhUnix-UX, triển khai thành công Hệ thống máy tính HP9000 lớn đầu tiên tạiViệt Nam.
Tổng giám đốc HPT Ngô Vi Đồng chia sẻ : “điều mà chúng tôi tâm đắchơn cả là chúng tôi được truy cập vào kho dữ liệu trí thức khổng lồ của HP,kho dữ liệu chỉ rành riêng cho nội bộ và các đối tác hàng đầu của HP Chúngtôi được thoải mái nghiên cứu những công nghệ mới, những ứng dụng hiệnđại Chúng tôi còn học được nhiều từ nguồn tri thức này, đó là cách thức tổ
Trang 22chức xây dựng công ty, kinh nghiệm quản lý điều hành, kinh nghiệm kinhdoanh phát triển thị trường Những bài học quản lý được học từ một công tynổi tiếng về quản trị tuyệt hảo như HP, một công ty có bề dày hơn 60 nămphát triển và thành công, đó là những giá trị rất hữu ích giúp cho HPT xâydựng một chiến lược phát triển của riêng mình sau này”.
HPT hôm nay
Hoạt động của HPT ngày nay mở rộng trên khắp cả nước, có trụ sở chính,
4 chi nhánh tại TP HCM và một chi nhánh tại Hà Nội Các lĩnh vực dịch vụcủa HPT cũng được phát triển, mở rộng theo thời gian và đi liền với sự pháttriển, tăng trưởng của công ty với 5 mảng dịch vụ chính là : Phát triển phầnmềm và dịch vụ phần mềm; Cung cấp các giải pháp, sản phẩm CNTT; Dịch
vụ hỗ trợ kỹ thuật và bảo hành; Dịch vụ tư vấn và đào tạo - dịch vụ kế toán;Xuất nhập khẩu và giao nhận hàng hoá Trong đó, việc cung cấp giải pháp,sản phẩm và dịch vụ CNTT chiếm một tỷ trọng đáng kể về doanh số, hiệu quả
và lợi nhuận của công ty trong suốt 11 năm qua Hiện nay, HPT được kháchhàng biết đến như một thương hiệu mạnh và uy tín trong việc thực hiện cácgiải pháp tích hợp, là nhà cung cấp các hình thức dịch vụ hỗ trợ và bảo hànhtối ưu
Các giải pháp tích hợp gồm có : Giải pháp mạng, Giải pháp viễn thống,Giải pháp lưu trữ dữ liệu, Giải pháp và dịch vụ Microsoft, Giải pháp và Dịch
vụ Orcle Khách hàng đã được HPT thực hiện triển khai tích hợp giải phápCNTT là các cơ quan doanh nghiệp nhà nước, các xí nghiệp liên doanh, cácdoanh nghiệp nước ngoài, các tập đoan đa quốc gia, các tổ chức, doanh nghiệpngoài quốc doanh như : Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính, Kho bạc Nhànước, Tổng cục thuế, Ngân hàng Nhà nước, Việt Nam Airline, Sacombank, xínghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro, Bưu điện TP HCM, đại học quốcgia TP HCM, tập đoàn Unilever…
Với trên 300 cán bộ nhân viên chủ yếu là lực lượng chuyên gia, kỹ sư giầu
Trang 23kinh nghiệm trong việc xây dựng và triển khai các ứng dụng CNTT, công tyHPT đang đảm trách một khối lượng lớn các dự án ứng dụng tin học quantrọng cho nhiều tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp trên khắp mọi miền của đấtnước hiện nay cán bộ của HPT đã đạt được nhiều bằng cấp chứng chỉ nghiệp
vụ do các hãng hàng đầu về CNTT thế giới công nhận như các bằng cấp về hệthống mạng của Cisco, các chứng chỉ về phát triển phần mềm của Microsoft
và Orcle, các chứng chỉ về quản lý và xây dựng hệ thống của HP, và nhiềuchứng chỉ nghiệp vụ của các hãng khác như AMP, APC…
Trở thành một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ CNTT hàng đầu, có uy tíntrong cả nước hiện nay, HPT đã xây dựng được những giá trị nền tảng tạo nênsưự thành công Đó là “hiểu rõ về khao khát vươn lên của những con ngườilao động chân chính, quyết tâm phấn đấu tốt nhất để tạo ra môi trường thuậnlợi cho các thành viên của mình có điều kiện phát huy hết tài năng “ Mục tiêu
cụ thể làm nền tảng cho hoạt động là “Hiệu quả - Lợi nhuận” và phấn đấu trởthành một cơ quan có đủ năng lực chuyên môn thuộc chuyên ngành CNTT,chú trọng vào đầu tư công nghệ, xây dựng các hướng công nghệ chuyên sâu,đào tạo và xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi có khả năng đáp ứng các yêu cầucao của khách hàng
Cơ cấu tổ chức của Hpt
Trang 24Văn phòng
Cao Thi Q.P.GĐ:H.T
Tố Nga
Ban Tổng Giám đốc
Tổng Giám đốc : Ngô Vi Đồng Phó Tổng Giám đốc: Đinh Hà Duy Trinh
CN: HPT công nghệ (HPT1)
GĐ: Đinh Hà Duy Linh PGĐ:
H.N.Thu Hương, Nguyễn Quyền
CN:HPT thương mại (HPT2)
GĐ: Huỳnh Thị Cao Thi
CN:HPT Dịch vụ & Tư vấn (HPT3)
GĐ: Đ.H Duy Trinh PGĐ:
N.T.Hương Giang
Hội đồng quản trị
Trunng tâm bảo hành
Q.G Đ:
Nguyễn Hoàng Linh
CN Hà Nội
GĐ: Đ.H.Duy Linh PGĐ:N.Mạnh Phương
Trang 25Sự phát triển của công ty qua các năm
Năm 1995 : Doanh số đạt 5,3 tỷ VNĐ (tương đương 0,49 triệu USD) với 22
cán bộ công nhân viên
Năm 1996 : Doanh số của công ty đạt 14 tỷ VNĐ (tương đương 1,26 triệu
USD) Một trong những hoạt động của công ty trong thời gian này là : trang bị
hệ thống máy chủ HP9000 cho Samsung Vina và lần đầu tiên xây dựng hệ thốngmạng 100Mbps với hơn 350 máy trạm cho Ngân hàng Công thương TP HCM
Năm 1997 : Doanh số công ty đạt 19,2 tỷ VNĐ (tương đương 1,62 triệu
USD) Khi này nhân viên của công ty đã lên tới 37 người Hoạt động của công
ty : đã triển khai thành công hệ thống máy chủ HP Netserver cho Ngân hàngNhà nước và trang bị hệ thống máy chủ, máy in và máy vẽ HP cho Xí nghiệpliên doanh Dầu khí Vietsovpetro
Năm 1998 : Doanh số của công ty đạt 27,6 tỷ VNĐ (tương đương 2,11 triệu
USD) Lúc này công ty có 45 nhân viên Thành công tiêu biểu trong năm này làthiết kế, lắp đặt hệ thống mạng cho Hàng không Việt Nam, khu vực phía Nam
Năm 1999 : Doanh số công ty đạt 60,7 tỷ VNĐ (tương đương 4,3 triệu USD)
với số nhân viên làm việc trong công ty là 58 người Bắt đầu phát triển kinhdoanh dự án tại thị trường Hà Nội Thành công tiêu biểu trong năm này là lắpđặt và triển khai hệ thống máy tính cho Ngân hàng công thương trên khắp 61tỉnh thành trong cả nước
Năm 2000 : Doanh số của công ty đạt 63,7 tỷ VNĐ (tương đương 4,4 triệu
USD) Tổng số nhân viên là 81 người Thành công điển hình của công ty là thiết
kế, lắp đặt hệ thống mạng máy tính cho tập đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ AIA.Ngoài ra còn lắp đặt và triển khai hệ thống mạng máy tính cho tập đoàn WhiteHorse tại miền trung và miền Nam
Năm 2001 : Tăng vốn điều lệ của công ty từ 1 tỷ VNĐ lên 4 tỷ VNĐ Doanh
số mà công ty đạt được là 93,7 tỷ VNĐ (tương đương 6,9 triệu USD) Tổng sốnhân viên là 127 người
Năm 2002 : Doanh số công ty đạt 114 tỷ VNĐ (tương đương 8,2 triệu USD).
Trang 26Tổng số nhân viên tăng lên đến 150 người.
Năm 2003 : Tăng vốn điều lệ lên 10 tỷ VNĐ Doanh số của công ty đạt 155
tỷ USD (tương đương 10,2 triệu USD) Tổng số nhân viên là 160 người
Năm 2004 : Doanh số của công ty đạt 224 tỷ VNĐ (tương đương 14,5 triệu
USD) Tổng số nhân viên là 182 người Hoạt động phần mềm được đẩy mạnh,tạo được các sản phẩm FADS, HRM, TTS Đặc biệt là trong lĩnh vực ứng dụngcông nghệ phần mềm quản lý doanh nghiệp OBM Thành công tiêu biểu trongnăm này là triển khai thành công hệ thống tra cứu thông tin thân thiện FADScho kho bạc nhà nước 64 tỉnh, thành phố Các thành tích khen thưởng : UBNDTP.HCM tặng Bằng khen vì thành tích năm 2004, Hãng HP tặng thưởng danhhiệu Nhà cung cấp Dịch vụ tốt nhất năm 2004 và danh hiệu đối tác tăng trưởngcao nhất về Dịch vụ
Năm 2005 : Doanh số đạt 295 tỷ VNĐ (tương đương 19 triệu USD) Tổng số
nhân viên là 307 người Công ty định hướng thị trường Nhật Bản trong pháttriển phần mềm xuất khẩu
Năm 2006 : Tăng vốn điều lệ lên 20 tỷ VNĐ Doanh số công ty đạt 26,5 triệu
USD Tổng số nhân viên là 387 người Thành công tiêu biểu của công ty là tháng7/2006 đoạt giải TOP 5 CNTT do hội tin học TP HCM và tập đoàn dữ liệu quốc tếphối hợp tổ chức bình chọn Tháng 6/2006, HPT trở thành 1 trong 5 doanh nghiệpsản xuất phần mềm của Việt Nam được Bộ Bưu chính Viễn thông tặng bằng khen
về thành tích hoạt động trong nội dung thông tin số