1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nươc về lễ hội trên địa bàn tỉnh bình phước

132 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 724,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng ta có thể điểm qua một số công trình, đềtài tiêu biểu đã được công bố sau đây: Trong tác phẩm“Một số vấn đề đặt ra trong quản lý lễ hội hiện nay”, của tác giả Nguyễn Thị Tuyến 201

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ DỊU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ DỊU

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

MÃ SỐ: 8 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN HOÀNG ANH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 3

bàn tỉnh Bình Phước” là do tôi viết và chưa được công bố Các số liệu sử

dụng trong luận văn đều dựa trên cơ sở sưu tầm chọn lọc và các tài liệu tham khảo đã được công bố

Bình Phước, tháng 3 năm 2020

Tác giả

Nguyễn Thị Dịu

Trang 4

BVHTTDL: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa của liên hợp quốc

SVHTTDL: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 5

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ

HỘI 10

1.1 Tổng quan về lễ hội 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Phân loại lễ hội 12

1.1.3 Vai trò của lễ hội trong đời sống 15

1.2 Quản lý nhà nước về lễ hội 20

1.2.1 Khái niệm 20

1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về lễ hội 22

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về lễ hội 25

1.2.4 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về lễ hội 33

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng quản lý nhà nước về lễ hội 35

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về lễ hội ở một số địa phương 38

1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Đắk Lắk 38

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Tây Ninh 40

1.3.3 Bài học rút ra cho tỉnh Bình Phước 43

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 46

2.1 Tổng quan về lễ hội tỉnh Bình Phước 46

2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước 53

2.2.1 Thực trạng xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về lễ hội 53

2.2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy thực hiện chính sách, pháp luật về lễ hội 58

Trang 6

2.2.4 Thực trạng phân bổ, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài

chính trong hoạt động lễ hội 65

2.2.5 Thực trạng thanh, kiểm tra, hoạt động tổ chức lễ hội 70

2.3 Đánh giá chung 72

2.3.1 Kết quả đạt được 73

2.3.2 Những hạn chế 76

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 79

Tiểu kết chương 2 82

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 83

3.1 Định hướng chung 83

3.1.1 Định hướng của Trung ương 83

3.1.2 Định hướng của tỉnh Bình Phước 87

3.2 Giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước 91 3.2.1 Hoàn thiện thể chế về lễ hội 91

3.2.2 Hoàn thiện và ổn định tổ chức bộ máy 98

3.2.3 Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về lễ hội 102

3.2.4 Tăng cường nghiên cứu khoa học, bảo tồn phát huy giá trị lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước 105

3.2.5 Đẩy mạnh xã hội hóa và phát huy vai trò của cộng đồng, tăng cường tính tự quản trong tổ chức và quản lý lễ hội 108

3.2.6 Tăng cường công tác thanh, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động tổ chức lễ hội 112

3.3 Khuyến nghị 115

3.3.1 Đối với cơ quan Trung ương 115

Trang 7

KẾT LUẬN 121 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, làm giàu và phát huy giá trị nền văn hóa dân tộc Đây là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định, gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng Bên cạnh việc bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội đã và đang tạo nên những thói quen mới, lối sống mới, cách hành xử mới trước các

sự kiện, dấu ấn lịch sử đương đại Các loại hình lễ hội có yêu cầu về không gian, thời gian, lễ thức riêng Lễ hội là di sản văn hóa quý của quốc gia, dân tộc

Công cuộc đổi mới của đất nước ta với những thành tựu lớn đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao Từ đó, nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân ngày càng tăng, trong đó lễ hội là một loại hình có sức hấp dẫn lớn Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp mang tính cộng đồng cao, có giá trị hướng về nguồn cội, giá trị cân bằng đời sống tâm linh, giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa,

là nhu cầu quan trọng tác động đến đời sống xã hội Trong những năm gần đây, với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước khuyến khích phục dựng những giá trị văn hóa truyền thống, do nhu cầu của xã hội, trên cơ sở đời sống kinh tế, đời sống văn hóa ở cơ sở được nâng cao, các lễ hội truyền thống được phục hồi, góp phần phát huy giá trị văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc Việc tổ chức có hiệu quả các hoạt động lễ hội đã có tác dụng khai thác tiềm năng du lịch, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia

Lễ hội còn góp phần tích cực trong việc giao lưu với các nền văn hóa thế giới Tuy nhiên, với nhiều loại hình và phương thức tổ chức đa dạng, lễ hội đang

Trang 9

đặt ra không ít những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý Vấn đề này chi phối không ít sức người, sức của, tiền bạc và thời gian của nhân dân, ảnh hưởng tới quá trình lao động sản xuất, học tập và công tác của các tầng lớp nhân dân Không ít những hiện tượng thiếu lành mạnh xuất hiện tại một số lễ hội đã làm phiền lòng du khách như dịch vụ khấn thuê, xóc thẻ, bán ấn, chèo kéo khách tham gia trò chơi cá cược, nâng giá dịch vụ tùy tiện và điều đáng

lo ngại nhất là sự phai mờ, xói mòn những giá trị, bản sắc của các lễ hội truyền thống Ở đây thách thức cơ bản không chỉ là những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường mà còn ở sự chuyển đổi các giá trị Trong khi trước đây các giá trị tinh thần và yêu cầu thực hiện nếp sống văn minh văn hóa trong lễ hội được coi trọng thì hiện nay đã xuất hiện tư tưởng trục lợi, thương mại hóa hoạt động dịch vụ phục vụ lễ hội, làm cho các giá trị vật chất lấn át giá trị văn hóa truyền thống và đạo đức

Bình Phước là tỉnh miền núi Đông Nam Bộ có nhiều lễ hội Lễ hội ở đây vừa phong phú về loại hình, vừa đa dạng về hình thức, vừa phức tạp về nội dung được tổ chức định kỳ hằng năm Hoạt động của lễ hội, bên cạnh những mặt tích cực đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của người dân và góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc dân tộc cũng không ngoại lệ, còn không ít những bất cập nêu trên Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ quản lý nhà nước Thực tế trên đặt ra cho chính quyền các cấp ở tỉnh Bình Phước là cần phải có những giải pháp tốt, quyết liệt hơn để quản lý các lễ hội nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tích cực của lễ hội

Từ những lý do đã nêu tôi quyết định chọn đề tài “Quản lý nhà nước về

lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước” làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Lễ hội (lễ hội bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội dân gian, lễ hội văn hóa, lễ hội ngành nghề và lễ hội có nguồn gốc từ nước

Trang 10

ngoài) và quản lý nhà nước về lễ hội là đề tài được nhiều cơ quan, ban ngành, học giả quan tâm Đã có nhiều đề tài khoa học có giá trị về lý luận cũng như thực tiễn cao góp phần bổ sung, ứng dụng vào việc tăng cường công tác quản

lý nhà nước về hoạt động lễ hội trên phạm vi cả nước nói chung và của từng địa phương cụ thể nói riêng Chúng ta có thể điểm qua một số công trình, đềtài tiêu biểu đã được công bố sau đây:

Trong tác phẩm“Một số vấn đề đặt ra trong quản lý lễ hội hiện nay”,

của tác giả Nguyễn Thị Tuyến (2016) trước thực trạng các xu hướng biến đổi của lễ hội đang diễn ra nhanh chóng như hiện nay, có thể thấy việc tổ chức và quản lý lễ hội vô cùng lộn xộn, mất bản sắc văn hóa dân tộc, gây ra nhiều hậu quả cho cả nhà quản lý và cộng đồng Bài viết đã nêu lên được thực tiễn quản

lý lễ hội ở nước ta hiện nay Cùng với những kết quả đạt được, việc quản lý lễ hội ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế Tác giả Nguyễn Thị Tuyến cũng phân tích rõ những hạn chế cùng nguyên nhân của những hạn chế đồng thời đưa ra được những nhận định về một số vấn đề đặt ra trong quản lý lễ hội ở nước ta hiện nay

Trong công trình nghiên cứu của tác giả Lê Như Hoa (2004), “Quản lý

lễ hội dân gian cổ truyền - thực trạng và giải pháp”, đề tài khoa học cấp Bộ

Đề tài đã nêu lên được cơ sở lý luận về lễ hội dân gian cổ truyền - một di sản văn hóa của dân tộc Đề tài cũng đã phân tích rõ thực trạng và những nhận thức về quản lý lễ hội dân gian cổ truyền ở nước ta hiện nay Và điểm nhấn mạnh của đề tài là những giải pháp cụ thể và mang tính vận dụng cao đối với công tác quản lý lễ hội góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa - du lịch Hoặc Trong công trình nghiên cứu của tác giả TS Nguyễn Quang Lê

(2009), “Nhận diện bản sắc văn hóa qua một số lễ hội của người Việt”, đề tài

khoa học cấp Bộ Nội dung công trình gồm 419 trang, 7 chương đã lột tả rõ nét nền tảng của bản sắc văn hóa qua lễ hội người Việt; giao lưu văn hóa với

Trang 11

Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, với tín ngưỡng Chăm trong bản sắc văn hóangười Việt và vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa qua lễ hội trong đời sống xã hội Việt Nam hiện đại

Trong tác phẩm nghiên cứu của GS.TS Lê Hồng Lý (2014), “Vai trò

của Nhà nước đối với lễ hội dân gian hiện nay”Bài viết đã khái quát chung

nhất về hình thức của các lễ hội dân gian cũng như thống kê về các lễ hội dân gian tại Việt Nam Nêu lên được vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức các

lễ hội dân gian Tuy nhiên sự tham gia của Nhà nước vào công tác tổ chức lễ hội dân gian cũng có những bất cập từ việc tham gia này Tác giả, đã nêu lên được những bất cập ấy, thông qua đó giúp đề cao được vai trò của nhà nước, tránh những sai sót xảy ra trong công tác quản lý lễ hội dân gian của Nhà nước

Lê Trung Dũng – Lê Hồng Lý với lễ hội Việt Nam, cuốn sách với hơn 3.000 lễ hội các tác giả đã đưa ra nội dung đầy đủ về lễ hội về đề tài lịch sử

Đó là lễ hội tưởng niệm các anh hùng có công chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập cho dân tộc cho Tổ quốc

Ngoài ra tác giả còn tham khảo, nghiên cứu một số tài liệu, công trình của một nhóm tác giả viết về Lễ hội từ trước tới nay như:

Công trình nghiên cứu của tác giả Trần Quốc Vượng dày gần 1.000 trang bao gồm các công trình đã công bố do tạp chí văn hóa nghệ thuật lựa chọn đưa vào tủ sách văn học đây là một trong những công trình nghiên cứu lễ hội tiêu biểu

Công trình nghiên cứu của tác giả Thạch Phương, Lê Trung Vũ (2015),

“60 lễ hội Việt Nam”,Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Đây là công

trình miêu tả khá toàn diện và có hệ thống các lễ hội của dân tộc Nội dung cuốn sách được chia làm 3 phần: Phần 1: miêu tả lễ hội của người Việt và lễ hội của các dân tộc thiểu số; Phần 2: bao gồm các câu ca, hội hè thường được

Trang 12

trình diễn trong các lễ hội; Phần 3: Miêu tả các trò diễn, trò chơi, cuộc thi tài trong lễ hội Thông qua đó, người đọc một lần nữa có cái nhìn hệ thống lại những trò diễn trong dân gian giữa các vùng miền trên cả nước

Công trình khoa học đã công bố của tác giả GS.TS Bùi Quang Thanh

(2016), “Quản lý văn hóa và văn hóa quảnlý đối với lễ hội cổ truyền ở Việt

Nam hiện nay”,Tạp chí Cộng sản số 880 (2-2016), tr 95-101 Đây là một bài

viết khá hay, tác giả đã chỉ ra được thực trạng văn hóa lễ hội cổ truyền ở nước

ta hiện nay, tài liệu còn có những số liệu thống kê về số lượng lễ hội cổ truyền

ở nước ta, những điểm tích cực mới, những bất cập, những vấn đề phản văn hóa nào đang diễn ra, bài viết cũng đề cập khá rõ Tác giả bước đầu đi sâu khảo sát thực trạng hoạt động quản lý văn hóa tại một số di tích và địa phương tổ chức lễ hội mang tính phổ biến, đại diện, hiện hữu trong không gian văn hóa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, cho phép nhận diện một số vấn đề (cả lý luận lẫn thực tiễn) liên quan đến công tác quản lý văn hóa và văn hóa quản lý đã và đang đặt ra ở Việt Nam lâu nay Tác giả cũng nêu lên những nhận định sâu sắc từ những vấn đề đã và đang đặt ra đối với việc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý văn hóa với văn hóa quản lý trong phạm vi lễ hội cổ truyền ở Việt Nam hiện nay

Hay như công trình “ Lễ hội - một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng

đồng” của tác giả Hồ Hoàng Hoa đã đề cập đến tính mỹ học dân tộc trong lễ

hội Việt Nam Đây là kết quả của một tiến trình nghiên cứu lâu dài kết hợp với những chuyến đi thực địa quan sát tại chỗ nhiều lễ hội Việt Nam cũng như nhật bản dưới góc độ tìm hiểu chức năng và đặc biệt là những biểu hiện đa dạng của cái đẹp trong lễ hội.Ý nghĩa xã hội và văn hóa của lễ hội dân gian, văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam; Tập thể các tác giả của viện nghiên cứu Văn hóa (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)

với công trình “Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ” do PGS Lê Trung

Trang 13

Vũ chủ biên Trong năm 1993, Trung tâm Khoa học Xã hội và nhân văn ( nay

là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam) tổ chức hội thảo khoa học quốc tế về Lễ hộitrong đời sống xã hội hiện đại Các tác giả tham gia hội thảo này đã đóng góp nhiều ý kiến về vai trò của lễ hội trong xã hội đương đại TS.Nguyễn Quang Lê xuất bản công trình văn hóa trong lễ hội Việt Nam, sách dày 402 trang, gồm 4 phần: phần I: Văn hóa ẩm thực trong phong tục lễ hội xưa và nay; phần 2: cỗ lễ vật dâng cúng tổ tiên và thần linh trong các ngày lễ tết theo phong tục cổ truyền; phần 3: Cỗ lễ vật dân cúng thần linh trong một số phong tục lễ hội dân gian ; phần 4: Cỗ lễ vật dân cúng thần linh trong một số phong tục lễ tết và lễ hội của một số đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta

Một số đề tài chưa được in thành sách có liên quan đến quản lý lễ hội ở nhiều góc độ khác nhau, như tập trung nghiên cứu về hoạt động quản lý về lễ hội trên địa bàn một tỉnh trong các luận văn thạc sỹ, như đề tài: Đề tài: “

Quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội trên địa bàn thành phố Hà Nội”

Luận văn cao học Quản lý công (2011) Học viện Hành chính Quốc gia của tác

giả Nguyễn Thị Hà Phương; Đề tài, “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của

dân tộc Ê đê trên địa bàn tỉnh Đăk lăk”; Đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của người X’tiêng” Luận văn cao học Quản lý văn

hóa (2014) của tác giả Nguyễn Cao Lương

Báo cáo “Tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể của người X’tiêng ở Bình Phước” do Bảo tàng tỉnh Bình Phước thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh,

trong đó có người Xtiêng ở Lộc Ninh Công trình khảo sát toàn diện về giá trị, thực trạng di sản văn hóa của người X’tiêng trên địa bàn toàn tỉnh

Báo cáo khoa học các dự án phục dựng lễ hội “Cầu mưa” và lễ hội

“Mừng lúa mới” được tổ chức tại xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh trong hai

năm 2008 và 2009 Báo cáo mô tả chi tiết các lễ hội với đầy đủ quy trình tổ chức, nội dung và diễn biến của lễ hội, giá trị của lễ hội…

Trang 14

Ở tỉnh Bình Phước cũng đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về lễ hội, các công trình nghiên cứu trên đã trình bày đề cập đến lễ hội với nhiều nội dung, nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về hoạt động quản lý nhà nước đối với lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước Vì vậy, trong luận văn này, trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các công trình đã nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu và làm rõ hơn nữa

về lý luận cũng như thực tiễn công tác quản lý nhà nước về lễ hội tại tỉnh Bình Phước hiện nay, nhằm góp phần hoàn thiệnquản lý nhà nước về lễ hội của tỉnh nhà

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích nghiên cứu là đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về lễ hội

+ Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội gắn với việc bảo tồn và phục dựng một số lễ hội đặc sắc của các đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Phước

+ Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quản

lý nhà nước về lễ hội ở tỉnh Bình Phước, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế đó

+ Đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời gian tới

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 15

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước

+ Về thời gian: từ 2014 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

cụ thể sau:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích là nghiên cứu các tài liệu

về lễ hội, chia vấn đề thành các khía cạnh để có những nhận định về lễ hội Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo

ra một hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc hơn và để đánh giá bao quát về lễ hội

+ Phương pháp thống kê, so sánh: Thống kê là phương pháp thu thập thông tin cần thiết về hiện tượng nghiên cứu nhằm làm cơ sở cho việc tổng hợp và so sánh các hình thức, phương thức quản lý nhà nước lễ hội cần nghiên cứu

+ Sưu tầm số liệu và các phương pháp khác: Để kế thừa và làm rõ được nội dung được đề cập, cung cấp cho người đọc có một cái nhìn tổng quát về công tác gìn giữ, quản lý nhà nước về lễ hội nêu trên, luận văn cũng tiếp thu

Trang 16

có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có một số đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:

lý nhà nước về văn hóa và các nhà quản lý trong lĩnh vực này Các giải pháp

đề ra có thể được sử dụng hoặc áp dụng trong lĩnh vực quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về lễ hội

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Chương 3: Định hướng và giải pháp quản lý nhà nước về lễ hội trên địa bàn tỉnh Bình Phước

Trang 17

sự kiện quan trọng đối với một cộng đồng xã hội Hội mang màu sắc dân gian, vừa thể hiện tính khéo léo vừa nêu cao tinh thần thượng võ, tính đoàn kết của cộng đồng [32] Cho đến hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu Từ điển Bách Khoa Việt Nam định nghĩa “lễ hội là hoạt động của một tập thể người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo” [31] Từ điển Trực tuyến cũng định nghĩa “lễ hội là cuộc vui chung có tổ chức, các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa ” [32] Thực tế

đã chứng minh một trong những quan điểm lý thuyết nhận được sự đồng thuận cao về hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là phần thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật đời thường) Có quan niệm chia tách lễ hội thành hai thành tố khác nhau và độc lập trong cấu trúc lễ hội dựa trên thực

Trang 18

tế có những sinh hoạt dân gian, văn hóa dân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại Có quan niệm ngược lại, nhấn mạnh “tính nguyên hợp” của lễ hội, tức là quan hệ nghệ thuật ấy (lễ hội) người ta nhận thức hiện thực như một tổng thể chưa bị chia cắt

TS.Nguyễn Quang Lê cho rằng: Bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai

hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: Hệ thống lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ

lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh (nhiên thần và nhân thần), do chính họ tưởng tượng ra và mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình Hệ thống hội bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian Chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng

Ngô Đức Thịnh diễn giải: Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể

“chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh đề tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong một lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp

Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng xoay quanh một trục ý nghĩa nào đó, nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định [11]

Như vậy qua quá trình nghiên cứu trên tác giả xin đưa ra khái niệm riêng

theo cách hiểu về lễ hội như sau: lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian

mang tính cộng đồng cao của thành phần các dân tộc, diễn ra trong những

Trang 19

chu kỳ không gian, thời gian nhất định lấy đó làm những nghi thức để tỏ rõ sự tôn kính của con người đối với thần linh, thể hiện những ước vọng, mong muốn chính đáng mà con người chưa có khả năng thực hiện được

1.1.2 Phân loại lễ hội

Lễ hội được các nhà khoa học phân thành nhiều loại khác nhau Có thể phân loại lễ hội theo niên đại, gần gũi với phân kỳ lịch sử dân tộc Việt Nam, hoặc phân loại lễ hội theo từng thành tố riêng biệt, hay theo cấu trúc và các thành tố khác nhau Tuy nhiên, dù phân loại theo tiêu chí lựa chọn nào, cũng đều có những yếu tố hợp lý và hạn chế nhất định Trong tư cách là đối tượng quản lý, các lễ hội hiện nay đang chưa có sự thống nhất về tên gọi trong các văn bản pháp lý Luật Di sản văn hóa năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 và Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 gọi đối tượng là lễ hội truyền thống Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 gọi đối tượng là lễ hội tín ngưỡng Cục Văn hóa cơ sở (thuộc

Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch) là cơ quan quản lý nhà nước về lễ hội, thống

kê các loại lễ hội trên địa bàn cả nước và chia thành các loại Lễ hội dân gian,

Lễ hội tôn giáo, Lễ hội lịch sử cách mạng, Lễ hội du nhập từ nước ngoài, Lễ hội khác [21] Theo cách gọi đã nêu trên, có thể hiểu lễ hội dân gian đồng nhất với khái niệm lễ hội truyền thống vì đây là những lễ hội gắn bó mật thiết nhất đối với đời sống văn hóa tinh thần của đại đa số người dân ở khắp các vùng miền Việt Nam

Theo điều 3 Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2018 của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, lễ hội gồm:

Lễ hội truyền thống (bao gồm cả lễ hội tại các di tích lịch sử - văn hóa,

lễ hội dân gian) là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng được tổ chức theo nghi lễ truyền thống, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng, thờ cúng

Trang 20

thần thánh và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử , văn hóa, đạo đức xã hội, tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng

Lễ hội văn hóa là lễ hội được tổ chức để quảng bá về văn hóa, thể thao,

du lịch bao gồm: festival; liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - du lịch; năm văn hóa

- du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch khác Loại hình lễ hội này đang có chiều hướng phát triển nhanh ở nhiều địa phương với các chương trình nội dung phong phú như: Festival, Liên hoan văn hóa - du lịch, Tuần văn hóa - du lịch, Tuần văn hóa - du lịch - thương mại, Tuần văn hóa du lịch biển Mục đích tổ chức lễ hội nhằm quảng bá phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, tiếp thị sản phẩm du lịch trong nước và quốc tế đồng thời xúc tiến du lịch, mời gọi đầu tư trên cơ sở sử dụng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

Lễ hội ngành nghề là hoạt động quảng bá về đặc trưng, thế mạnh của

các ngành nghề; tôn vinh các tổ chức, nghệ nhân tiêu biểu có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn và phát triển ngành nghề, địa phương được tổ chức với quy

mô lớn như: Festival dừa Bến Tre, Lễ hội “Quả điều vàng Việt Nam - Bình Phước, Festival trái cây Việt Nam, Lễ hội trái cây Nam Bộ tại Khu Du lịch Văn hóa Suối Tiên, thành phố Hồ Chí Minh, Festival Thủy sản Việt Nam, Festival làng nghề Việt- Đà Nẵng, Lễ hội Nho và Vang (Khánh Hòa), Lễ hội bánh tráng phơi sương (Trảng Bàng, Tây Ninh), Lễ hội Diều (Đà Nẵng)… Việc tổ chức các lễ hội ngành nghề với quy mô lớn, đang là xu thế của nhiều địa phương Lễ hội được tổ chức nhằm giới thiệu đến bạn bè quốc tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước về tiềm năng, giá trị của các sản phẩm Các hoạt động của lễ hội như hội nghị, hội thảo về chiến lược phát triển ngành điều, xây dựng thương hiệu ngành điều Việt Nam, hội nghị khách hàng của

Trang 21

Hiệp hội điều Việt Nam, hội nghị chuẩn bị thành lập Hiệp hội điều Thế giới

đã thu hút hàng trăm nhà khoa học, quản lý, doanh nghiệp sản xuất chế biến, xuất khẩu điều, khách hàng quốc tế, đặc biệt là những địa phương có di sản văn hóa thế giới hoặc có thế mạnh phát triển văn hóa

Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài là những hoạt động giới thiệu văn

hóa, kinh tế, xã hội của nước ngoài với công chúng Việt Nam, do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam Loại hình lễ hội này có nguồn gốc do người nước ngoài đang cư trú và sinh sống hợp pháp ở Việt Nam tổ chức nhằm kỷ niệm các sự kiện về chính trị, văn hóa, phong tục của đất nước họ nhưng không trái với pháp luật

và thuần phong mỹ tục của Việt Nam Các hoạt động lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam rất đa dạng, có ảnh hưởng và thu hút người Việt Nam đặc biệt là lực lượng thanh niên như: “Ngày tình yêu” (Valentine’s Day) được tổ chức vào ngày 14-2 hàng năm Lễ hội này đã được tổ chức ở nhiều nơi, không

có phần lễ nghi và nghi thức, cụ thể, chủ yếu là các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh cho các cặp vợ chồng, các cặp tình nhân chủ yêu là giới trẻ, với các nét sinh hoạt văn hóa ảnh hưởng theo tập quán phương tây Lễ hội Haloween (lễ hội hóa trang) thường không được phổ biến mà chỉ được tổ chức dưới hình thức nhỏ, hẹp, phạm vi nội bộ một số công dân của cộng đồng nước ngoài Lễ hội này tổ chức dưới hình thức dạ tiệc kết hợp với các trò vui chơi, ảo thuật không khí vui vẻ lành mạnh đáp ứng được nhu cầu của du khách nước ngoài và không mang tính quảng bá rộng rãi trong công chúng Ngoài ra còn có Lễ hội Haloween (hay gọi là lễ hội hóa trang), Lễ hội Loy Krathoong (Lễ hội thả hoa đăng của Thái Lan), lễ hội Diwali (hay còn gọi là

lễ ánh sáng - Festival 4 light) là lễ hội truyền thống lớn nhất của Ấn Độ du nhập vào Việt Nam, Lễ hội hoa Anh Đào (Nhật Bản) Ngoài các lễ hội mang

Trang 22

tính chất phổ biến với người Việt Nam, tùy vào điều kiện các Lãnh sự quán nước ngoài đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đại sứ quán nước ngoài đóng tại Thủ đô Hà Nội còn tổ chức lễ hội mừng ngày Quốc khánh của Quốc gia họ với sự tham gia của kiều bào quốc gia đó như các nước: Cu Ba, Ấn Độ, Úc, Anh, Pháp, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan, Nhật Bản Chương trình thường có phần hội với chương trình biểu diễn giao lưu nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét văn hóa của quốc gia đó Hoạt động này đã làm

đa dạng thêm các hoạt động lễ hội của Thành phố Hồ Chí Minh - Hà Nội nói riêng và bổ sung thêm phong phú các loại hình hoạt động lễ hội tại Việt Nam, góp phần làm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và công dân quốc tế đang sống tại Việt Nam

1.1.3 Vai trò của lễ hội trong đời sống

Lễ hội thực hiện liên kết cộng đồng

Bất kỳ lễ hội nào cũng thuộc về một cộng đồng người nhất định, đó có thể là cộng đồng làng xã, cộng đồng nghề nghiệp, cộng đồng tôn giáo, cộng đồng dân tộc đến cộng đồng nhỏ hơn là cộng đồng dòng họ, gia tộc… Chính

lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng Lễ hội thuộc về một cộng đồng người nhất định, có thể được xem như sự phản chiếu sinh động của , bản sắc văn hóa cộng đồng cũng như

là biểu tượng của tinh thần cố kết cộng đồng làng xã được hun đúc qua thời gian Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở gắn kết địa vực và sở hữu tài nguyên, lợi ích kinh tế (cộng hữu), gắn kết số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên (cộng sinh), gắn kết nhu cầu đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm) Bất kể một lễ hội nào,

dù là lễ hội nông nghiệp, lễ hội lịch sử, suy tôn các vị thần linh hay anh hùng dân tộc thì bao giờ cũng là lễ hội của một cộng đồng; biểu dương các giá trị văn hóa và sức mạnh của cộng đồng trên mọi bình diện, là chất kết dính tạo

Trang 23

nên sự cố kết cộng đồng Lễ hội nào cũng thuộc về một cộng đồng nhất định,

đó có thể là cộng đồng làng xã (hội làng), cộng đồng nghề nghiệp (hội nghề) cộng đồng tôn giáo (hội chùa, hội đền, hội nhà thờ) cộng đồng dân tộc ( hội Đền Hùng – quốc tế ) đến cộng đồng nhỏ hẹp hơn, như gia tộc, dòng họ… Chính lễ hội là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng và là chất kết dính tạo nên sự cố kết cộng đồng

Mỗi cộng đồng hình thành và tồn tại trên cơ sở của những nền tảng gắn kết, như gắn kết do cùng cư trú trên một lãnh thổ (cộng cư), gắn kết về sở hữu tài nguyên và lợi ích kinh tế (công hữu), gắn kết bởi số mệnh chịu sự chi phối của một lực lượng siêu nhiên nào đó (cộng mệnh), gắn kết bởi một nhu cầu sự đồng cảm trong các hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (cộng cảm)…Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm tin cộng mệnh

và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng

Dù dưới hình thức nào thì lễ hội vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân được tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất hay nhân dịp kỷ niệm một sự kiện xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn tại của một cộng đồng hoặc để quần chúng tìm đến một cái gì đó, Người đi hội không cảm thấy mình

là người ngoài cuộc, chính điều đó đã đem lại niềm an ủi, sự xúc động thật sự

và là nguồn động viên sâu sắc cho những thân phận nhỏ bé ngày thường trong

xã hội phong kiến Ngày nay, trong xã hội hiện đại, con người được khẳng định “cái cá nhân”, “cá tính” của mình thì không vì thế cái “cộng đồng” bị phá vỡ, mà nó chỉ biến đổi các sắc thái và phạm vi, con người vẫn phải nương tựa vào cộng đồng, có nhu cầu cố kết cộng đồng Trong điều kiện như vậy, lễ hội vẫn giữ nguyên giá trị biểu tượng của sức mạnh cộng đồng gắn kết cộng đồng ấy Như vậy, tính cộng đồng và cố kết cộng đồng là nét đặc trưng và là giá trị văn hóa tiêu biểu nhất của lễ hội

Lễ hội phản ánh, bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa dân tộc

Trang 24

Hầu hết các lễ hội đều hướng về cội nguồn Đó là cội nguồn tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra Ngày nay, trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật, toàn cầu hóa, hiện đại hóa con người dường như tách rời mình khỏi văn hóa của dân tộc, các giá trị cao đẹp đang dần mai một Thông qua tổ chức lễ hội đã góp phần tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, quảng bá danh lam thắng cảnh của địa phương, các làng nghề, nghề truyền thống được khôi phục

Lễ hội dân gian đã thể hiện được phần lễ trọng thể, linh thiêng và phần hội vui tươi, khơi dậy và phát huy các hoạt động dân gian truyền thống Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh những danh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng Loại hình lễ hội này có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Lễ hội ghi lại những dấu ấn lịch sử, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và dân tộc thể hiện lòng yêu nước, ý chí tự cường của con người Việt Nam Các lễ hội này hình thành và phát triển theo

sự sáng tạo của quần chúng nhân dân với lòng tri ân sâu sắc với lịch sử và các bậc anh hùng, danh nhân đấu tranh giải phóng dân tộc Hình thức của lễ hội

là sự kết hợp hài hòa giữa nghi thức tưởng niệm trang nghiêm thành kính và

tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao, biểu diễn các chương trình nghệ thuật chuyên và không chuyên Thông qua việc tổ chức lễ hội đã hình thành nếp nghĩ, nếp sống có văn hóa, xây dựng được những tập quán mới phù hợp mang

ý nghĩa tưởng nhớ danh nhân, anh hùng liệt sỹ, tưởng nhớ những người có công với nước, duy trì tập tục viếng đài liệt sỹ, bia tưởng niệm nghĩa trang, đền thờ Bác nhân ngày lễ, tết

Dưới hình thức tái hiện quá khứ thông qua các hoạt động tế lễ, các trò diễn sinh động hấp dẫn như tế lễ, rước, trang phục, văn tế, trò diễn dân gian, dân ca, dân vũ…lễ hội không những tái hiện cuộc sống mà còn góp phần giữ gìn và bảo tồn văn hóa dân tộc Lễ hội với những hình thức, nội dung phản ánh đầy đủ, sinh động đời sống vật chất và tinh thần của xã hội trong một giai

Trang 25

đoạn lịch sử cụ thể, đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới toàn thể cộng đồng làng xã, vùng miền, dân tộc, quốc gia, tùy theo tính chất và mức độ của lễ hội

ấy Đặc trưng của lễ hội là tính truyền miệng Những sự kiện lịch sử, đời sống

xã hội được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua dịp lễ hội hằng năm Như vậy, lễ hội góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc ngay trong chính tâm thức của cộng đồng

Tất cả lễ hội đều hướng về nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người vốn từ đó sinh ra và nay vẫn là một bộ phận hữu cơ; nguồn cội cộng đồng như dân tộc, đất nước, xóm làng, tổ tiên, nguồn cội văn hóa… hơn thế nữa, hướng về nguồn đã trở thành tâm thức của con người Việt Nam “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” Vì thế lễ hội thường gắn với hành hương du lịch

Trong thời đại khoa học kỹ thuật, tin học hóa, toàn cầu hóa, con người nhận thức ra về tình trạng tách rời giữa bản thân mình với thiên nhiên, môi trường, với lịch sử xa xưa, với văn hóa độc đáo đang bị mai một Chính trong môi trường tự nhiên và xã hội như vậy, hơn bao giờ hết con người càng có nhu cầu hướng về, tìm lại cái nguồn cội tự nhiên của mình, hòa mình vào với môi trường thiên nhiên; trở về với, tìm lại và khẳng định cái nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa của mình trong cái chung của văn hóa nhân loại Chính nền văn hóa, trong đó có lễ hội cổ truyền là một biểu tượng, có thể đáp ứng nhu cầu bức xúc ấy Đó cũng chính là tính nhân bản bền vững và sâu sắc của lễ hội có thể đáp ứng nhu cầu của con người ở mọi thời đại

Lễ hội đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của cộng đồng

Bên cạnh đời sống vật chất, thì còn hiện hữu cả đời sống tinh thần, tâm linh Đó là khi con người hướng về những giá trị cao cả thiêng liêng, ước vọng, tôn thờ, trong đó có niềm tin về tôn giáo, tín ngưỡng Chính tôn giáo, tín ngưỡng, các nghi lễ, lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống

Trang 26

tâm linh của con người, đó là trạng thái thăng hoa từ đời sống trần tục, đời sống hiện hữu Khi tham gia vào lễ hội, con người được sáng tạo, hóa thân thành văn hóa, văn hóa làm biến đổi con người Đây chính là quá trình trao truyền văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong các lễ hội, nhân dân là người đứng ra tổ chức, sáng tạo, tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa tâm linh Khi tất cả mọi người chìm vào không khí thiêng liêng, hứng khởi của lễ hội thì khoảng cách giữa con người dường như không còn, mọi người cùng nhau sáng tạo và hưởng thụ văn hóa Trong quá trình giao cảm với thế giới thiêng liêng bí ẩn, ai cũng có đức tin và mong muốn sự chứng giám của thế giới tâm linh về thái độ thành kính của mình Hằng năm, vào các mùa lễ hội, mọi người cùng nhau hành hương, chiêm bái

về cái thiêng và như vậy lễ hội lại nảy sinh ra những giá trị văn hóa mới mang tính thời đại

Chính các nghi lễ trong lễ hội góp phần làm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người, đó là trạng thái thăng hoa từ đời sống trần tục, hiện hữu Qua đó, tạo cho con người niềm lạc quan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi

ấm tình nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vào cuộc sống đời thường làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn

Nhân dân có thể tự đứng ra tổ chức lễ hội Điều đó mang đến sự sáng tạo

và tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hóa tâm linh Do vậy, lễ hội bao giờ cũng thấm đượm tinh thần dân chủ và nhân bản sâu sắc Đặc biệt trong thời điểm diễn ra lễ hội khi tất cả mọi người hòa mình vào không khí thiêng liêng hứng khởi thì các tách biệt xã hội giữa cá nhân ngày thường dường như dược xóa nhòa, con người cùng sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa của mình

Như vậy, ngoài sự “hòa nhập” hết mình trong các hoạt động của lễ hội,

Trang 27

được “hóa thân” đóng một vai trong hội hay “nhập thân” vào một trò chơi, tất

cả mọi người đều được hưởng những lễ vật mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trí trong quá trình tổ chức hoạt động

lễ hội Trong lễ hội, người dân không chỉ hưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sự trong đời sống văn hóa của chính bản thân mình

Tổ chức lễ hội kích thích phát triển kinh tế ở địa phương

Lễ hội không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hóa dân tộc, mà còn

là môi trường bảo tồn, làm giàu và phát huy nền văn hóa dân tộc Điều này càng quan trọng hơn trong điều kiện xã hội công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa hiện nay, khi mà sự nghiệp bảo tồn, làm giàu và phát huy dân tộc trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Với những ý nghĩa tốt đẹp lễ và hội hướng con người tới “cái thiêng” và gắn bó con người lại với nhau, có sức hấp dẫn lôi cuốn các tầng lớp xã hội, trở thành một nhu cầu, một khát vọng của nhân dân trong nhiều thế kỷ Chiều sâu của tinh thần lễ hội là bảo lưu cội nguồn, là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén cho mọi thời đại của mỗi dân tộc; do

đó, thực hiện tốt các chức năng của lễ hội là góp phần giáo dục văn hóa tốt đẹp của dân tộc, làm lành mạnh, phong phú đời sống tinh thần của xã hội và cũng để nhằm góp phần “xây dựng nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Bên cạnh đó, lễ hội với những tầm ý nghĩa, giá trị tâm linh, văn hóa sâu sắc cũng đã góp phần to lớn trong việc quảng bá và phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh VN với bạn bè thế giới Có lẽ để lễ hội thật sự có ý nghĩa, điều quan trọng hơn cả là nhận thức, ý thức về giá trị đích thực của các lệ hội

từ những người tham gia

1.2 Quản lý nhà nước về lễ hội

1.2.1 Khái niệm

Khái niệm quản lý

Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên

Trang 28

đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định Mục tiêu này có thể do các thành viên trong tổ chức thống nhất với nhau, cũng có thể do người đứng đầu tổ chức xây dựng và giao cho tổ chức thực hiện Nhưng cũng có những tổ chức được hình thành để thực hiện những mục tiêu được xác định trước Khi đó, bản thân tổ chức không thể tự mình làm thay đổi mục tiêu Theo đối tượng quản lý, các hoạt động quản lý có thể phân chia thành 3 nhóm chủ yếu: Quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật

và quản lý xã hội Như vậy, quản lý xã hội là quản lý các hoạt động của con người, giữa con người với nhau trong xã hội loài người là một bộ phận của quản lý chung [1]

Khái niệm quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện tồn tại của nhà nước Quản lý nhà nước chính là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước [1]

Khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội

Muốn đi đến khái niệm quản lý nhà nước về lễ hội thì trước hết cần phải nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa Bởi lẽ quản lý nhà nước

về lễ hội là một lĩnh vực hay một khía cạnh nhỏ trong quản lý nhà nước về văn hóa

Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền

Trang 29

văn hóa

Đối tượng của quản lý nhà nước về văn hóa bao gồm: văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể (trong đó có hoạt động lễ hội) và các hoạt động văn hóa khác

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn: “Quản lý lễ hội là công việc của nhà nước

được thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lễ hội nhằm mục đích bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội được cộng đồng coi trọng, đồng thời góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương nói riêng, của cả nước nói chung”

Quản lý nhà nước về lễ hội được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý: chính sách, pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức thực hiện như: thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, chế tài của nhà nước đã ban hành

1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về lễ hội

Nguyên tắc quản lý nhà nước về lễ hội là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực lễ hội theo một thể thống nhất

Nguyên tắc quản lý nhà nước về lễ hội ở nước ta là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ, nguyên tắc tập trung dân chủ, phân định

rõ chức năng và nguyên tắc công khai

1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Lễ hội thông qua các quan điểm, chủ trương, chính sách, thể hiện trong các văn kiện Nghị quyết, Chỉ thị Đảng lãnh đạo thông qua việc xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ của đảng tham gia vào hệ thống bộ máy chính quyền nhà nước Trong thời kỳ đổi mới, đảng

Trang 30

ta ra nhiều Nghị quyết Như Nghị quyết Trung ương 4 về con người, về văn hoá văn nghệ; Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII: Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong giai đoạn đất nước xây dựng CNH – HĐH Vai trò lãnh đạo của Đảng là rất rõ ràng và sáng suốt, coi trọng công tác văn hoá, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, nhưng mặt khác, Đảng cũng phải luôn luôn đổi mới

2 Nguyên tắc Nhà nước quản lý: Nhà nước quản lý là thực hiện quyền lực chính trị của nhà nước trên lĩnh vực lễ hội Thể hiện trong Hiến pháp, Luật, các văn bản dưới luật Để quản lý, phải xây dựng, Bộ máy quản lý từ

TW đến địa phương, Uỷ Ban văn hoá xã hội của quốc hội, Xây dựng cơ chế chính sách, Xây dựng bộ máy cán bộ công chức, viên chức của nhà nước để thực thi các nhiệm vụ quản lý văn hoá

3 Nguyên tắc nhân dân làm chủ: Nguyên tắc nhân dân làm chủ Nhân dân làm chủ thông qua Quốc hội, đại biểu quốc hội được bầu từ nhân dân, tham gia lập pháp Nguyên tắc nhân dân làm chủ Nhân dân làm chủ thông qua

cơ quan Hội đồng nhân dân, Quốc hội trong việc giám sát các hoạt động của nhà nước, phải tham gia vào quá trình lập pháp, hành pháp mới chống được quan liêu tham nhũng, vì vậy phải nâg cao dân trí, nâng cao trình độ của nhân dân về mọi lĩnh vực Vai trò của các đoàn thể chính trị xã hội: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội CCB, Công đoàn trong quá trình tổ chức và xây dựng

sự nghiệp văn hoá mới Nó là đại diện cho các nhóm cộng đồng khác nhau Nhưng đây không phải là tổ chức hành chính Nó không đối lập với nhà nước,

mà nó là những phong trào xã hội mang tính chất tự nguyện dưới sự lãnh đạo của đảng, không mang tính quyền lực, không được hành chính hoá các tổ chức này

4 Nguyên tắc tập trung dân chủ: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức và phong cách làm việc của bộ máy nhà nước Yêu

Trang 31

cầu của nguyên tắc này là: Nhà nước XHCN là nhà nước của dân, do dân và

vì dân, thực hiện quyền dân chủ XHCN Nhà nước phải giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề cơ bản trong tay trung ương, đồng thời phải giao quyền hạn và trách nhiệm cho ngành, địa phương Hiện nay, cùng với cải cách hành chính nhà nước, chúng ta đang đẩy mạnh phân cấp quản lý Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân trong hành lang pháp lý Trong nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân chủ làng xã phát triển mạnh, thể hiện trong những quy ước cộng đồng, luật tục, hương ước, ngày nay phát triển thành quy ước làng văn hóa (nhưng không được trái với pháp luật); Nguyên tắc tập trung dân chủ kết hợp quản lý ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ Nhà nước là một thể thống nhất, bộ máy nhà nước tổ chức và hoạt động theo các cấp hành chính nhà nước và theo quy định cấp dưới phục tùng cấp trên, địa phương phục tùng trung ương Các đơn vị văn hóa ở địa phương vừa chịu sự quản lý của ngành, vừa chịu sự quản lý về lãnh thổ của địa phương, quản lý phải gắn

bó mật thiết với nhau (Bộ, Ủy Ban nhân dân tỉnh, huyện, cục, vụ, viện, sở, phòng, trung tâm văn hóa v.v)

5 Nguyên tắc phân định quản lý hành chính và quản lý nhà nước về lễ hội: Cần phân định rõ các chức năng quản lý hành chính, nhà nước về văn hóa, Bộ, Vụ, Cục, UBND tỉnh, Sở, Phòng Quản lý bằng luật pháp, phi lợi nhuận Chức năng hoạt động sự nghiệp văn hóa: Các đơn vị sự nghiệp văn hóa từ trung ương đến địa phương: Nhà Hát, các đoàn nghệ thuật, bảo tàng, thư viện, Trung tâm văn hóa thông tin, Viện nghiên cứu v.v

6 Nguyên tắc công khai: Tổ chức hoạt động quản lý văn hóa của nhà nước phải được công khai cho dân biết thông qua các kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Đồng thời nhà nước phải chú ý đến dư luận xã hội để điều chỉnh kịp thời các quyết định quản lý (ví dụ về nghệ thuật biểu diễn, về quảng cáo, về báo chí…)

Trang 32

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về lễ hội

Quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội được triển khai thực hiện khoa học, theo đúng lộ trình có sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương Nội dung của công tác quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội được diễn ra trên các mặtsau:

Thứ nhất, xây dựng, ban hành hệ thống chính sách, pháp luật về lễ hội

Ở cấp trung ương: xây dựng, ban hành các luật, pháp lệnh, nghị định các văn bản pháp quy điều chỉnh các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa như: Luật

Di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009, là cơ sở căn bản để quản lý nhà nước về các hoạt động lễ hội ; Luật Tín ngưỡng tôn giáo ngày 18 tháng 11 năm 2016; Chỉ thị số 27- CT/TW ngày 12/1/1998 về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và gần đây nhất là Nghị định của Chính phủ số: 110/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2018 quy định về quản lý và tổ chức lễ hội Các văn bản quy phạm pháp luật này phải giữ nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và dân chủ hóa công tác quản

lý, phải là các quyết định hành chính khả thi, tránh chồng chéo, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, tránh tình trạng nhiều đơn vị cùng có chức năng quản

lý nhưng khi quy trách nhiệm không đơn vị nào chịu trách nhiệm hoặc văn bản thiếu cơ sở thực thi triển khai không kịp thời

Ở địa phương tổ chức thực hiện, tham mưu với cấp trên các vấn đề về quản lý nhà nước đối với lễ hội

Việc tổ chức thực hiện rất quan trọng, quyết định hiệu lực hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật Đồng thời, tại địa phương khi văn bản pháp luật đi vào cuộc sống sẽ bộc lộ ưu, khuyết điểm, do đó cấp chính quyền địa phương cần có trách nhiệm tham mưu với cấp trên sửa đổi để hoàn thiện Tiến hành phân cấp quản lý lễ hội, xem đây là cơ sở có tính pháp lý để

Trang 33

tiếp tục thực hiện bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa của lễ hội trong thời kỳ tới; khuyến khích nhân dân các xã, phường, thôn, ấp, khu dân cư, cơ quan, xí nghiệp xây dựng các quy ước về nếp sống văn hóa, giữ gìn vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường thiên nhiên, cảnh quan sạch đẹp Hoàn thiện hệ thống thanh tra chuyên ngành, thanh tra nhân dân, tăng cường công tác thanh tra văn hóa lễ hội

Thứ hai, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về lễ hội

Tổ chức vận hành của bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và hoạt động lễ hội nói riêng, do lễ hội là lĩnh vực được xem tương đối đặc biệt ở Việt Nam, bởi hoạt động lễ hội luôn gắn với các vấn đề về tư tưởng, tinh thần nên công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cũng đặc biệt hơn ở các lĩnh vực khác Nhà nước ta đã xây dựng cơ chế phối hợp quản lý giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật Trung ương,

Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học Nghệ thuật Việt Nam trong công tác chỉ đạo và phối hợp hoạt động thực hiện công tác quản lý nhà nước

về lễ hội trong chiến lược phát triển về văn hóa Ngày 29 tháng 8 năm 2018 Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, ngày 22/12/2015 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL Quy định về tổ chức lễ hội Trong đó, quy định về trách nhiệm của cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch (Điều 13), trách nhiệm của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Điều 14), trách nhiệm của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Sở Văn hóa và Thể thao) (Điều 15) Theo điều 20, Nghị định số 110/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 8 năm 2018 quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quản lý

Trang 34

nhà nước đối với hoạt động lễ hội trên địa bàn theo thẩm quyền, có các nhiệm

vụ sau đây:

a) Chỉ đạo thực hiện kiểm kê, phân loại lễ hội, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa lễ hội; xây dựng đề án, đề tài nghiên cứu khoa học nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của lễ hội;

b) Bảo đảm hoạt động lễ hội được tiến hành trang trọng, đúng nghi lễ truyền thống; loại bỏ hoặc thay thế những tập tục không còn phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển;

c) Chỉ đạo các sở, ban, ngành địa phương trong việc phối hợp quản lý và

tổ chức lễ hội; bảo đảm trật tự an toàn xã hội và thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội;

d) Tổ chức, hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động lễ hội tại địa phương;

đ) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động lễ hội theo thẩm quyền;

e) Báo cáo định kỳ việc quản lý và tổ chức lễ hội trên địa bàn gửi về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 31 tháng 12 hàng năm và báo cáo đột xuất theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

g) Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Thứ ba, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và năng lực công chức

Trong công tác quản lý nhà nước về lễ hội, thì việc xây dựng một nguồn nhân lực rất là quan trọng, vì họ là người trực tiếp tuyên truyền vận động nhân dân, thực thi các quy định đề ra và đồng thời vừa phải giải quyết những sai phạm, tiêu cực nảy sinh Nhận thức rõ điều đó Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch cùng địa phương đã phối hợp cùng nhau xây dựng đội ngũ này Bộ đã chỉ đạo và tổ chức tập huấn cũng như tổ chức các lớp Quản lý nhà nước về lễ hội thuộc các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Giúp cho đội ngũ cán bộ,

Trang 35

công chức, viên chức có đủ bản lĩnh về chính trị, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ cũng như phẩm chất đạo đức, điều này chắc chắn sẽ góp phần tích cực trong việc công tác Quản lý nhà nước về lễ hội

Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và quy hoạch, kế hoạch đào tạo nhân lực ngành văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch và cơ chế, chính sách đặc thù trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ tài năng các lĩnh vực năng khiếu nghệ thuật, thể thao, phụ cấp ngành chuyên biệt đối với giảng viên, huấn luyện viên, đào tạo viên, học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch [7].“Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ về quản lý và tổ chức lễ hội cho các địa phương” [2] Hay

“Tập huấn nghiệp vụ về quản lý và tổ chức lễ hội cho các tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức lễ hội” [2]

Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội thường là cán bộ, công chức thuộc cơ quan chuyên trách của ngành, được phân công trách nhiệm hoặc chuyên viên văn hóa ở cơ sở Vì vậy, cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực ở nhiều cấp độ khác nhau, có khả năng độc lập về nghiên cứu cũng như chỉ đạo về thực tiễn, biết tham khảo kinh nghiệm quản lý và tổ chức

lễ hội ở các địa phương khác, có khả năng tham mưu và xây dựng các văn bản mang tính chất quản lý đặc thù Do vậy mà trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào hoạt động quản lý và tổ chức lễ hội phải

có nhiệm vụ:

Làm đúng chuyên môn, nhiệm vụ trong công tác quản lý và tổ chức lễ hội đã được phân công và giao phó

Là cầu nối giữa các ngành, các lĩnh vực liên quan đến công tác quản lý

và tổ chức lễ hội trong hoạt động lễ hội

Tuyên truyền, khuyến khích, khen thưởng những việc làm khả quan đã đạt được cũng như chấn chỉnh, ngăn ngừa những sai phạm nảy sinh trong

Trang 36

công tác quản lý và tổ chức lễ hội

Thực thi tốt chức năng hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, thanh tra và giám sát khi thực thi công vụ Đồng thời phối hợp nhịp nhàng với các cơ quan chức năng có liên quan khi xử lý những sai phạm không đáng có xảy ra trên tinh thần phù hợp với chính sách và đúng với quy định của pháp luật

Do đó mà đội ngũ nguồn nhân lực tham gia vào công tác Quản lý nhà nước về lễ hội phải có những phẩm chất như:

Nắm vững chính sách và luật pháp mà nhà nước ban hành có liên quan đến lĩnh vực quản lý và tổ chức lễ hội

Hiểu biết và nắm bắt sâu rộng về lĩnh vực mà mình đang công tác Thường xuyên học tập và trao dồi thêm kiến thức chuyên môn mới có liên quan đến công tác Quản lý nhà nước về lễ hội

Có tinh thần yêu nghề, trách nhiệm cao đối với công việc cũng như có khả năng giao tiếp với cộng đồng và hơn hết là có đạo đức trong sáng, ý thức tích lũy kinh nghiệm từ thế hệ đi trước và có một sức khỏe tốt để đảm bảo thực thi tốt nhiệm vụ được giao

Quản lý hoạt động lễ hội cần phải chú ý đến cả hai nội dung: quản lý di tích và quản lý các khâu tổ chức lễ hội Vì vậy, nội dung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về lễ hội cần phải:

Củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, tham mưu, các đoàn thể, các tổ chức nghề nghiệp của hoạt động văn hóa từ trung ương đến cơ sở, đảm bảo hoạt động hiệu quả

Thường xuyên thực hiện việc điều tra, đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong ngành văn hóa để xây dựng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức

Xây dựng quy hoạch nguồn cán bộ quản lý và chuyên môn dài hạn đảm bảo cân đối cơ cấu nguồn lực cán bộ cho phù hợp Cần phải nâng cao năng

Trang 37

lực đội ngũ cán bộ quản lý Việc bố trí sắp xếp cán bộ quản lý phải có trình độ kiến thức chuyên môn về quản lý văn hóa, quản lý lễ hội

Qua đó, ta thấy việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức là một việc làm quan trọng quyết định đến thành công của công tác quản lý nhà nước về lễ hội Đây là kế hoạch lâu dài trong chiến lược phát triển nền văn hóa nói chung và hoạt động lễ hội nói riêng

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quản lý lễ hội ở tỉnh, huyện thị, xã về trình độ chuyên môn, quản lý văn hóa, quản lý lễ hội đáp ứng tiêu chuẩn phù hợp với nhiệm vụ được giao Đẩy mạnh đào tạo tại chỗ, kết hợp các hình thức đào tạo mới và đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình

độ để nhanh chống hình thành đội ngũ lao động đáp ứng nhu cầu hiện tại, song song với việc thực hiện đào tạo dài hạn, Yêu cầu nhân lực cần trang bị

sự am hiểu về văn hóa địa phương, có trình độ chuyên môn cao để đáp ứng nhiệm vụ được giao

Có thể nói, nguồn nhân lực làm công tác quản lý lễ hội có vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên thành công của lễ hội Họ là người chịu trách nhiệm chính trong việc huy động, kết nối, tổ chức và điều hành các nguồn để tạo ra một sản phẩm Việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán

bộ quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội cần thực hiện có hiệu quả thiết thực đồng thời có chiến lược lâu dài

Thứ tư, phân bổ, huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính

Hoạt động lễ hội vốn là sinh hoạt văn hóa cộng đồng cho nhân dân, là một hoạt động bao gồm nhiều thành phần tham gia, diễn ra trên quy mô lớn mang tính cộng đồng Do đó, công tác phân bổ, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội tương đối phức tạp, cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, bài bản cũng như

Trang 38

phải được tính toán một cách chu toàn hợp lý và phải được tiến hành một cách khoa học Công điện số 229/CĐ-TTg ngày 12/02/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý và tổ chức lễ hội có nội dung về việc

sử dụng và phân bổ nguồn lực tài chính đó là hạn chế tối đa sử dụng ngân sách nhà nước vào tổ chức các lễ hội

Nhà nước yêu cầu các cơ quan, đơn vị có liên quan đến công tác quản lý

và tổ chức lễ hội hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn lực trong việc tổ chức lễ hội Nhà nước khuyến khích các cá nhân,

tổ chức đóng góp và tài trợ cho việc tổ chức lễ hội Ðiều này mang lại nhiều lợi ích nhất là huy động được nguồn kinh phí tổ chức lễ hội tiết kiệm cho ngân sách nhà nước Do vậy mà, việc phân bổ, huy động và sử dụng hiệu quả một cách khoa học, hợp lý sẽ làm cho công tác Quản lý nhà nước về hoạt động lễ hội ngày càng hiệu quả, đảm bảo trật tự, tiết kiệm, phát huy tốt các giá trị văn hóa, góp phần khai thác tiềm năng kinh tế, văn hóa và du lịch, đồng thời khơi dậy những nguồn tiềm năng kinh tế mới, bổ sung vào nguồn lực tài chính của quốc gia

Các hoạt động lễ hội theo quy định của Nghị định số 110/2018/NĐ-CP ngày 29/8/2018 của Chính phủ quy định về quản lý và tổ chức lễ hội Các lễ hội được tổ chức theo đúng tinh thần “An toàn, văn minh, lịch sự”; các lễ hội trước khi tổ chức đều được thành lập Ban Tổ chức theo quy định Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và nhân dân về việc thực hiện nếp sống văn minh, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, mê tín dị đoan, trật tự an toàn giao thông, công tác quản lý tiền công đức, vận hành tiền có mệnh giá nhỏ, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ di tích, đảm bảo vệ sinh, cảnh quan môi trường nơi tổ chức lễ hội và đảm bảo không lưu hành ấn phẩm văn hóa trái phép, ngăn ngừa các hoạt động

cờ bạc trá hình, ăn xin, dịch vụ đổi tiền lẻ hưởng chênh lệch…diễn ra trong lễ

Trang 39

hội Xây dựng các bảng nội quy thực hiện nếp sống văn minh cho du khách; Không đưa các hiện vật không có trong hồ sơ xếp hạng vào di tích, đảm bảo nguyên trạng của di tích theo đúng quy định của Luật Di sản văn hóa

Thứ năm, kiểm tra, thanh tra và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về lễ hội

Ngày 12/11/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2013/NĐ-CP về việc Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao,

du lịch và quảng cáo, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị thuộc Bộ VHTT&DL; trách nhiệm của UBND và thành phố trực thuộc Trung ương; trách nhiệm của

Sở VHTT&DL trong công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát việc quản lý và

tổ chức lễ hội được quy định một cách cụ thể, rõ ràng Công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát việc quản lý và tổ chức lễ hội nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những sai phạm các quy định của Nhà nước, đồng thời nâng cao ý thức thực hiện nếp sống văn minh trong bảo vệ và giữ gìn các giá trị văn hóa của hoạt động lễ hội Các cơ quan đơn vị trực thuộc Bộ VHTT&DL cũng như thuộc Sở VHTT&DL tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát việc Quản lý nhà nước theo Luật Di sản Được biết, ngày 24/12/2014 Bộ trưởng

Bộ VHTT&DL đã có văn bản số 4702/BVHTTDL-TTr về việc chỉ đạo công tác quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội năm 2016, chỉ đạo Thủ trưởng của các đơn vị thuộc Bộ, Giám đốc Sở VHTT&DL các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chỉ đạo Bộ VHTT&DL phối hợp với các cơ quan liên quan và các địa phương xây dựng kế hoạch, tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác chuẩn bị, quản lý và tổ chức hoạt động lễ hội, bảo vệ di tích trong hoạt động lễ hội đồng thời bố trí cán bộ theo dõi sát các diễn biến trong quá trình diễn ra lễ hội Chủ động xử lý kịp thời và kiên quyết nhằm khắc phục nhanh và hiệu quả những vấn đề nảy sinh, thường xuyên báo cáo tình hình hoạt động lễ hội về Bộ (qua thanh tra Bộ, Cục

Trang 40

Văn hóa cơ sở) để tổng hợp và báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ theo quy định

1.2.4 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về lễ hội

Lễ hội là nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, lễ hội đã được hình thành từ thời khai sinh, lập địa, trải qua hàng ngàn năm lịch sử Lễ hội là hình thức thể hiện lòng tri ân của nhân dân với chung của dân tộc, ôn lại lịch sử và ghi nhận công đức của các bậc tiền nhân đã có công dựng nước và giữ nước, bảo vệ nền độc lập dân tộc Lễ hội còn mang tính giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, tự hào dân tộc, xây dựng tinh thần đoàn kết trong cộng đồng, do đó mà cần phải được bảo tồn, kế thừa và phát huy Vì vậy, quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội đóng vai trò hết sức cần thiết vì nó dẫn dắt và định hướng hoạt động lễ hội theo hướng tích cực, phát huy đồng thời khắc phục, sửa chữa những hạn chế phát sinh cũng như những hệ lụy mà hoạt động lễ hội gây ra Quản lý nhà nước về lễ hội được thể hiện ở những khía cạnh sau:

- Quản lý nhà nước hết sức cần thiết cho định hướng sự phát triển của nền văn hóa nói chung và duy trì, phát huy các hoạt động lễ hội nói riêng, đây

là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội trong sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc Muốn cho nền văn hóa đất nước phát triển một cách đúng đắn thì phải có định hướng nhất định và quản lý lễ hội là một lĩnh vực cụ thể trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa Vai trò định hướng cho hoạt động lễ hội thuộc

về nhà nước Nhà nước định hướng cho hoạt động lễ hội phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra, một đường hướng nhất định Sự định hướng của nhà nước giúp cho hoạt động lễ hội của dân tộc được chọn lọc, kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hóa tốt đẹp vốn có đồng thời loại bỏ những giá trị mang tính lạc hậu, sai lệch, không còn phù hợp với cuộc sống đương đại cũng như không phù hợp với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Ngày đăng: 05/11/2020, 10:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w