Tính cấp thiết của đềtài Một trong 5 mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính CCHC nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, nă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÃ THỊ PHƯỢNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 2GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÃ THỊ PHƯỢNG
THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ NHƯ THANH
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đề tài “Thực thi chính sách bồi dưỡng công
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích
dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Lã Thị Phượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập, tôi đã hoàn thành chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Chính sách công Tôi đã tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề
tài “Thực thi chính sách bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân Huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ”,trong quá trình
học tập, nghiên cứu và viết luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo giảng dạy chương trình cao học chuyên ngành Chính sách công, Học viện Hành chính Quốc gia đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Lê Như Thanh
- người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý
báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, cộng tác để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan chủ quản, gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này./
Tác giả
Lã Thị Phượng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đềtài 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài 2
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu 6
4.Đối tượng và phạm vi nghiêncứu 6
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu 7
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luậnvăn 8
7.Kết cấu của luậnvăn 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔNTHUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 9
1.1.1 Khái niệm công chức tại các cơ quan chuyênmôn cấp huyện 9
1.1.2 Đặc điểm của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 12
1.2 Thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 14
1.2.1 Khái niệm về thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 14
1.2.2 Nội dung chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 19
1.2.3 Vai trò của thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện 21
1.2.4 Chủ thể thực thi chính sách 23
Trang 61.3 Quy trình thực thi chính sáchbồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 24
1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 24 1.3.2 Phổ biến tuyên truyền thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 24 1.3.3 Phân công phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 25 1.3.4 Thường xuyên duy trì công tác thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 26 1.3.5 Điều chỉnh những nội dung không phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 26 1.3.6.Thường xuyên kiểm tra thực hiện và tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 27
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện 29
1.4.1 Các yếu tố kháchquan 29 1.4.2 Các yếu tố chủquan 30
Tiểu kết chương 1 32 Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNGCÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘCỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ 33 2.1.Tình hình công chức tạicáccơ quanchuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 33
2.1.1.Khái quát về cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 33
Trang 72.1.2.Thực trạng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
huyện Thanh Thủy 35
2.2.Thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 43
2.2.1.Thực trạng việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 43
2.2.2.Công tác phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyênmôn 46
2.2.3.Phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 47
2.2.4.Duy trì thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức 50
2.2.5.Điều chỉnh thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức 50
2.2.6.Đôn đốc, theo dõi và tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 51
2.3.Đánh giá chung về thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyện môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ 53
2.3.1.Những kết quả đạt được 53
2.3.2.Những hạn chế, tồntại 56
2.3.3.Nguyênnhân của hạn chế 59
Tiểu kết chương 2 62
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC THICHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TẠI CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ 63
3.1 Quan điểm hoàn thiện thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy 63
Trang 83.2 Giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại
cơ quan chuyên môn tại UBND huyện Thanh Thủy 65
3.2.1 Hoàn thiện thể chế, chính sách về bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 65
3.2.2 Nâng cao nhận thức của cá nhân, tổ chức, đơn vị có liên quan trong bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn 66
3.2.3 Xác định đúng, kịp thời nhu cầu cần bồi dưỡng đối với công chức tại các cơ quan chuyên môn 68
3.2.4 Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức trong thực thi chính sách bồi dưỡng 71
3.2.5 Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức trong bồi dưỡng đối với công chức tại các cơ quan chuyên môn 77
3.2.6 Thay đổi cơ chế, chính sách có liên quan và bổ sung, cấp kinh phí kịp thời, đáp ứng đối với công chức tại các cơ quan chuyên môn 81
3.2.7 Đổi mới trong khâu đánh giá quá trình tham gia bồi dưỡng của công chức tại các cơ quan chuyên môn 83
3.3 Kiến nghị, đềxuất 84
3.3.1 Đối với tỉnh Phú Thọ 85
3.3.2 Đối với huyện Thanh Thủy 85
Tiểu kết Chương 3 86
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ, công chức CCHC : Cải cách hành chính CQCM : Cơ quan chuyên môn LLCT : Lý luận chính trị QLNN : Quản lý Nhà nước UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 10thuộc UBND huyện Thanh Thủy giai đoạn 2017 – 2019 42
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Đánh giá của công chức về việc xây dựng kế hoạch thực thi
chính sách bồi dưỡng tại UBND huyện Thanh Thủy 45Biểu đồ 2.2: Đánh giá về việc phân công, phối hợp thực hiện 49
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đềtài
Một trong 5 mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.Và bồi dưỡng cán bộ, công chức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những kiến thức cần thiết về quản lý nhà nước, cải cách hành chính, kiến thức về hội nhập và kỹ năng thực thi công việc để phục vụ yêu cầu của công dân, tổ chức ngày càng tốt hơn Thông qua đó, giúp họ nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao, đồng thời hoàn
thiện các tiêu chuẩn của ngạch và của từng vị trí chức danh đang đảm nhiệm
Trong nhiều năm qua, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng luôn được chú trọng, Chính phủ và Bộ Nội vụ đã ban hành nhiều văn bản nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách này Trong đó, có các văn bản quan trọng như: Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/1/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016– 2025, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Chỉ thị số: 28/CT-TTg ngày 18/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức; các Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, tài liệu đào tào, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng ở địa phương, cấp sở và tương đương, cấp vụ và tương đương…
Trang 12Huyện Thanh Thủy là một trong những huyện của tỉnh Phú Thọ đã triển khai chính sách bồi dưỡng công chức ở các cấp, các ngành bước đầu đạt được những kết quả quan trọng Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức (nhất
là cán bộ chủ chốt) ở các cơ quan, đơn vị tại địa phương có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng động và sáng tạo; tích cực thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Trình
độ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao, thích nghi với cơ chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chính sách tại huyện Thanh Thủy vẫn còn những bất cập, cụ thể là: (1) có sự trùng lắp kiến thức giữa các đối tượng, thường là tương đương giữa các ngạch lân cận (nhất là chuyên viên với chuyên viên chính); (2) sự tương tự về cơ cấu kiến thức, nội dung, quan điểm giữa các khóa học lý luận chính trị với bồi dưỡng công chức, (3) tổ chức các khóa bồi dưỡng có tính nâng cao theo ngân sách đào tạo lại có hiện tượng tổ chức với mục đích “giải ngân” thay cho mục đích chính là nâng cao, bổ sung kiến thức, (4) một công chức tại địa phương phải trải qua những khóa bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, chính trị, hành chính, trong khi những kiến thức đó do các cơ sở đào tạo chính trị, hành chính, trung ương, địa phương khác nhau tổ chức, triệu tập đối tượng theo chức năng
Vì vậy, từ những hạn chế, bất cập trên, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Thực thi chính sách bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
ủy ban nhân dân huyện Thanh thủy, tỉnh Phú Thọ” làm nội dung nghiên
cứu luận văn tốt nghiệp chuyên ngành chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đềtài
Thực thi chính sách bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức nói chung và chính sách bồi dưỡng công chức nói riêng trong thời gian qua đã có rất nhiều
Trang 13công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành, địa phương, nhiều đề tài luận
án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài viết của các học giả đề cập đến
Cao Anh Đô (2017), "Nghiên cứu đề xuất chính sách và giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số nhằm phát triển bền vững vùng Tây Bắc", Đề tài cấp quốc gia
KHCN-TB.20X/13-18 [16] Đề tài nghiên cứu chính sách, giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số nhằm phát triển bền vững vùng Tây Bắc; thực trạng chính sách, giải pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc giai đoạn 2005 - 2015; chính sách bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số nhằm phát triển bền vững vùng Tây Bắc; một số nhóm giải pháp cơ bản triển khai thực hiện chính sách bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số nhằm phát triển bền vững vùng Tây Bắc (đến năm 2020, tầm nhìn 2030)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị La (2015), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức trong quá trình cải cách hành chính”, Tạp chí Cộng sản số 9/2015
[24] Tập trung vào đánh giá thực trạng công tác bồi dưỡng cán bộ công chức hiện nay, nêu ra mối liên hệ giữa hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ công chức với chủ trương, nội dung cải cách hành chính của nhà nước Bên cạnh
đó, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế của công tác bồi dưỡng cán bộ công chức; một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa coi trọng đúng mức công tác bồi dưỡng cán bộ công chức chủ yếu vừa học vừa làm nên công việc chi phối quá trình học tập, thời gian dành trọn vẹn cho việc học tập không nhiều; quá trình đào tạo chưa đi liền với bố trí và sử dụng sau khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, hay công tác này còn mang nặng tính hinh thức, chưa có hiệu quả
rõ rệt… Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp như: tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ, lãnh đạo quản lý; xây dựng đội ngũ giảng dạy, báo cáo viên chất lượng cao; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với việc bố trí và sử dụng… nhằm nâng cao hiệu quả
Trang 14công tác bồi dưỡng cán bộ công chức trong quá trình cải cách hành chính trong thời gian tới cho phù hợp và đạt hiệu quả
Trương Thị Bạch Yến (2016), "Để xây dựng và thực hiện tốt chính
sách bồi dưỡng cán bộ", Tạp chí Xây dựng Đảng số 4/2016, tr28-30 [46] Bài
viết đã nêu ra một số giải pháp nhằm xây dựng và thực hiện tốt chính sách bồi dưỡng cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh: (1) như người làm vườn trồng những cây cối quý báu, (2) không bủn xỉn về các khoản chi tiêu trong đào tạo, bồi dưỡng, nhưng có mục tiêu chọn lọc, (3) phải thật sự quan tâm hơn nữa
Trần Thanh Sang (2017), "Thực hiện chính sách bồi dưỡng cán bộ tại
các cơ quan chuyên môn ở Đồng bằng sông Cửu Long", Tạp chí Kinh tế Châu
Á – Thái Bình Dương, T9/2017, tr24-26 [34] Bài viết đã chỉ ra việc thực hiện chế độ chính sách bồi dưỡng cho cán bộ tại các cơ quan chuyên môn ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long hoàn toàn không giống nhau, mỗi tỉnh, thành một mức hỗ trợ cụ thể riêng biệt Tuy nhiên dù ít, dù nhiều nó cũng thể hiện
rõ sự quan tâm của tỉnh, thành ủy, HĐND, UBND các tỉnh, thành phố ở đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết như: cần cụ thể hóa các chủ trương, chính sách, chỉ đọa kịp thời về đào tạo, bồi dưỡng; cần tổ chức rà soát và đánh giá tính hiệu quả của việc thực hiện chính sách; chủ trương chính sách cần có sự nhất quán trong thực hiện; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chú trọng việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách
Lại Đức Vượng (2009), Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công
chức hành chính trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ quản lý hành chính
công, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [45] Luận án đã hoàn thiện khái niệm công chức hành chính và các khái niệm liên quan tới nội dung, phương pháp QLNN về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính Luận án cũng đã tập trung phân tích có hệ thống về sự hình thành và phát triển công tác bồi dưỡngcông chức hành chính và đánh giá thực trạng
Trang 15QLNN về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính, qua phân tích đã hình thành hệ thống số liệu để các nhà lãnh đạo và cán bộ, công chức quản lý đào tạo, bồi dưỡnghoạch định cơ chế, chính sách và triển khai thực hiện các nội dung QLNN về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính Tác giả đã đề ra những nguyên tắc, giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN
về đào tạo, bồi dưỡngcông chức hành chính đáp ứng yêu cầu quản lý công trong tình hình mới
Tác giả Phạm Chí Định (2018), Thực hiện chính sách đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, luận
văn thạc sĩ chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam [17].Luận văn đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Thống nhất, tỉnh Đồng Nai, qua đó luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai tại địa phương
Tác giả Nguyễn Chí Thân (2018), Thực hiện chính sách đào tạo cán bộ,
công chức từ thực tiễn huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn thạc sĩ
Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội.[37] Tác giả đã đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cải cách hành chính ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến năm 2025
Có thể khẳng định rằng, những công trình nghiên cứu, bài viết trên đều
có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bồi dưỡng cán bộ công chức nói chung và bồi dưỡng nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu dưới góc độ khoa học chính sách công về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ hiện nay chưa có đề tài, công trình nào nghiên cứu Theo đó, xuất phát từ những lí do nêu trên tác giả
Trang 16đã chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công Đề tài nghiên cứu có sự kế thừa cũng như phát triển những thành quả của các tài liệu liên quan trước đó Từ đó để có thể phân tích, đánh giá thực trạng làm tiền đề
để đề xuất các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiêncứu
3.1 Mục đích nghiêncứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, từ đó tác giả sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thực thi chính sách này trong thời gian tới
+ Đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu
4.1 Đối tượng nghiêncứu
Luận văn nghiên cứu về việc tổ chức thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Trang 175 Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn vận dung cơ sở lý luận nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu tình hình thực tế tại địa phương Vận dụng cách tiếp cận đa chiều gắn liền với những chủ trương, chính sách bồi dưỡng công chức của Đảng và Nhà nước
5.2 Phương pháp nghiêncứu
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: nghiên cứu các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, tài liệu, giáo trình và các công trình, bài viết có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Đề tài cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn mới phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thống kê mô tả: dựa trên các thông tin số liệu mới nhất
mà tác giả có thể thu thập được từ cácnguồn thông tin rất đáng tin cậy (từ các
cơ quan thống kê, các cuộc điều tra), phương phápthống kê mô tả được sử dụng để phân tích thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng công chứcdựa trên các số liệu thứ cấp và sơ cấp
- Phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu và chọn mẫu điều tra ngẫu nhiên: để có thêm thông tin một cách khách quan hơn nhằm đánh giá và nhận xét về thực thi chính sách, học viên tiến hành chọn mẫu điều tra với đối tượng là đội ngũ công chức UBND huyện Thanh Thủy và tiến hành phỏng vấn sâu đối với lãnh đạo cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện trong quá trình thực hiện chính sách Tiến hành thu thập thông tin thông qua hình thức phát phiếu thu thập thông tin (69 phiếu) và được gửi đến trực tiếp công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện
Trang 18Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luậnvăn
6.1 Ý nghĩa lýluận
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bồi dưỡng đối với công chứcở các cơ quan chuyên môn thuộcUBND huyện Thanh Thủy, Phú Thọ
6.2 Ý nghĩa thựctiễn
Số liệu thực tế và các giải pháp đặt ra tại luận văn có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo và có những chính sách thiết thực, hiệu quả trong công tác bồi dưỡng đội ngũ công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp huyện phù hợp trong thực tiễn hiện nay
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong việc ban hành chính sách và thực thi chính sách; luận văn cũng làm tài liệu tham khảo cho các trường, trung tâm bồi dưỡng công chức, những giảng viên làm công tác giảng dạy…
7 Kết cấu của luậnvăn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyện môn thuộc UBND huyện
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách bồi dưỡng công chứctại các
cơ quan chuyện môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyện môn thuộc UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
Trang 191.1.1 Khái niệm công chức tại các cơ quan chuyênmôn cấp huyện
Căn cứ vào Luật CBCC 2008, ngày 25 tháng 01 năm 2010 Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP tại Điều 2 và Thông tư hướng dẫn
số 08 ngày 02 tháng 06 năm 2011của Bộ Nội vụ tại Điều 1, quy định những người là công chức nhưsau:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này”.[11]
Xuất phát từ những quy định của Luật CBCC năm 2008 và Nghị định
số 06/2010/NĐ-CP khái niệm công chức nhà nước có thể được hiểu như sau:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy
Trang 20lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức số 52/2019/QH14 vừa được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV có hiệu lực từ ngày 01/7/2020 trong đó khái niệm viên chức đã có một số thay đổi Khái niệm mới không còn đối tượng công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong
bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Theo đó, Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức sửa đổi 2019 (có hiệu lực
từ 01/07/2020) quy định:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế
độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [12]
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật và các văn bản hướng dẫn của các
Bộ, ngành trung ương chưa có khái niệm chính thức về công chức tại các cơ quan chuyên môn mà chỉ nói chung như một thành phần chủ yếu trong khái niệm "CBCC nhà nước"
Cơ quan chuyên môn được quy định tại các Nghị định của Chính phủ số 24/2015/NĐ-CP ngày 04/4/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định số 37/2014/NĐ-
CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [16][17], cụ thể như sau:
Trang 21Cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban cùng cấp thực hiện chức năng QLNN ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở Cơ quan chuyên môn gồm cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và cơ quan chuyên môn cấphuyện
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gọi là cơ quan chuyên môn cấp tỉnh gồm có sở và cơ quan ngang sở (gọi chung làsở)
Sở là cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh; thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện gọi là cơ quan chuyên môn cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (gọi chung
là phòng)
Phòng thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương
Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấptỉnh
Do đó, các cơ quan sau đây không thuộc các cơ quan chuyên môn như:
- Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế
và Ban Quản lý có tên gọi khác thuộc UBND cấp tỉnh;
Trang 22- Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp tỉnh và các tổ chức thuộc
cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địaphương
- Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc UBND cấp huyện, các cơ quan của Trung ương được tổ chức theo ngành dọc, cơ quan của sở và cơ quan tương đương sở thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đặt tạihuyện
Như vậy ta có khái niệm công chức tại các cơ quan chuyên môn cấp
huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm tại các cơ quan chuyên môn cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.1.2 Đặc điểm của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
1.1.2.1 Đặc điểm về tính chất của hoạt động lao động của công chức
cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện
Thứ nhất, lao động của công chức các CQCM thuộc UBND huyện là
loại lao động trí óc Sản phẩm lao động của công chức các CQCM không phải
là những sản phẩm vật chất mà là các bản kế hoạch, các bản báo cáo, các
“dịch vụ hành chính” nhằm thực hiện công tác quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…Lao động này đòi hỏi sự tham gia chặt chẽ của tư duy, sử dụng các thao tác trí tuệ để tiến hành xử lý công việc Lao động của công chức là loại lao động đặc thù, không nhằm sản xuất ra của cải vật chất
mà là thực hiện quy định pháp lý cụ thể để quản lý mọi mặt của xã hội
Thứ hai, lao động của công chức các CQCM thuộc UBND huyện là đa
chức năng, đa nhiệm vụ Mỗi công chức đảm nhận một chuyên môn nhất định Mỗi chức danh chuyên môn đó sẽ bao gồm nhiều hoạt động cụ thể nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác nhau Như vây, tương ứng với mỗi chức danh công chức là rất nhiều những nhiệm vụ mà công chức đó phải đảm nhiệm
Trang 23Thứ ba, hoạt động của công chức CQCM thuộc UBND huyện có tính
chất chấp hành và điều hành Tính chấp hành hoạt động công vụ thể hiện ở chỗ hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật Cho dù công chức có chủ động sáng tạo trong thực hiện công việc thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật
Hoạt động công vụ cấp huyện bao gồm cả những nhiệm vụ mang tính chuyên môn và không chuyên môn, gắn liền với nhiệm vụ chung của UBND huyện Việc thực thi công vụ của công chức CQCM bị ảnh hưởng lớn bởi việc thực hiện các phong trào, các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội Do vậy, ngoài việc chịu sự chỉ đạo của UBND, công chức CQCM cấp huyện cũng có trách nhiệm tổ chức, điều hành một số hoạt động liên quan tới các phong trào, các sự kiện diễn ra tại địa bàn huyện
Thứ tư, hoạt động của công chức CQCM chủ yếu là hoạt động giao
tiếp Tùy theo yêu cầu của từng loại công chức, song phần lớn thời gian làm việc của công chức là giao tiếp với người dân đến giải quyết công việc, giao tiếp với các bên liên quan trong thực thi công vụ
Thứ năm, hoạt động lao động của công chức CQCM là hoạt động mang
tính thường xuyên, liên tục, chuyên nghiệp Hoạt động công vụ luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội
1.1.2.2 Đặc điểm về chủ thể và mục tiêu hoạt động
Thứ nhất, chủ thể của hoạt động lao động là những người có quyền lực
Lao động của công chức CQCM được tiến hành bởi những công chức có quyền hành pháp Đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp luật
Trong quá trình hoạt động công vụ, công chức không chỉ tự mình thực thi pháp luật mà quan trọng hơn, họ đảm nhận chức năng tổ chức để mọi đối
Trang 24tượng có liên quan thực hiện pháp luật thực hiện pháp luật nhẳm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hệ quản lý
Hoạt động của công chức là hoạt động quản lý nhà nước đối với xã hội, đại diện cho quyền lực của nhà nước
Thứ hai, là chủ thể của hoạt động công vụ - đảm nhiệm những nhiệm vụ
chuyên môn, nên công chức CQCM phải đáp ứng những tiêu chuẩn cụ thể về độ tuổi, trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ Bên cạnh đó, vấn đề đạo đức công vụ cũng là một mặt quan trọng trong nhân cách công chức Năng lực và đạo đức của người công chức là điều kiện quan trọng để họ có thể hoàn thành được nhiệm vụ được giao
Thứ ba, hoạt động của công chức CQCM thuộc UBND huyện là hoạt
động hướng tới mục tiêu phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhà nước, nhân dân UBND huyện là đơn vị hành chính công, phục vụ lợi ích công Mặt khác, quá trình hoạt động của công chức CQCM thuộc UBND huyện chịu sự giám sát của nhân dân, bảo đảm hiệu quả và tuân thủ pháp luật
1.2 Thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
1.2.1 Khái niệm về thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
1.2.1.1 Khái niệm bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn cấp huyện
Bồi dưỡng là thời gian cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc không còn phù hợp và bổ túc thêm những kinh nghiệm Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người học có cơ hội để củng cố, nâng cao kiển thức một cách hệ thống những tri thức kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ sẵn có để làm việc có hiệu quả hơn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hoặc Giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng Do đó, bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, việc bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên được tổ chức nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ
Trang 25chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; nâng cao năng lực nói chung cho những người được cử đi bồi dưỡng
Theo Điều 5 Nghị định số 18/CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 xác định:
“Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho từng ngạch công chức Theo Từ điển Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên (2010), Bồi dưỡng: “Làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ Bồi dưỡng sức khỏe và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Bồi dưỡng cán bộ trẻ, bồi dưỡng đạo đức” [41]
Như vậy, có thể hiểu bồi dưỡng là hoạt động bổ sung, gia tăng, cập nhật thêm những kiến thức mới, phẩm chất nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn nhằm giúp người học hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao
Đối với công chức tại các cơ quan chuyên môn, việc bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ, về các chính sách, pháp luật, về ngoại ngữ, tin học.v.v
là yêu cầu hết sức quan trọng, đòi hỏi phải được tiến hành một cách thường xuyên với những nội dung thích hợp
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sựlan tỏa của thông tin Theo đó Nhà nước luôn có sự cải cách, đổi mới để theo kịp
sự phát triển chung của xã hội Do vậy, bồi dưỡng kiến thức cho công chức tại các cơ quan chuyên môn về quản lý hành chính và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ là vấn đề mang tính cấp thiết, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, ưu tiên hàng đầu
Nếu đào tạo được xem như là một quá trình trang bị, kiến thức mới mà trước đó người công chức chưa được đào tạo thì bồi dưỡng được xem là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức kỹ năng nghiệp vụ, nghề nghiệp
Đào tạo, bồi dưỡng có những sự tương đồng nhất định (đều có nghĩa chỉ quá trình làm tốt hơn, chuyên nghiệp hơn), song đây là hai khái niệm
Trang 26không đồng nghĩa Nếu như đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người học trở nên có năng lực, kỹ năng theo những tiêu chuẩn nhất định, còn bồi dưỡng là quá trình làm cho người học cập nhật, bổ sung thêm năng lực, phẩm chất Mục tiêu của bồi dưỡng công chức là trang bị kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ, Lý luận chính trị (LLCT), Quản lý nhà nước (QLNN), tin học ngoại ngữ, quốc phòng - an ninh, kiến thức hội nhập quốc tế, các kỹ năng trong quá trình thực thi công vụ
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là quá trình truyền thụ kiến thức, tổ chức học tập cho đội ngũ công chức nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc dựa trên các tiêu chuẩn, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng công chức làm việc tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao
1.2.1.2 Khái niệm chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
“Chính sách bồi dưỡng” là một cụm từ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên nó là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng Cho đến hiện tại, có rất nhiều quan niệm khác nhau vể chính sách công, song có thể hiểu: Chính sách bồi dưỡng là một tập hợp các quyết định liên quan đến hoạt động bồi dưỡng
do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển
Theo quan niệm về chính sách bồi dưỡng nêu trên, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về chính sách bồi dưỡng sau:
Thứ nhất, chính sách bồi dưỡng bắt nguồn từ các quyết định do Nhà
nước ban hành và nội dung của chính sách được thể hiện trong các văn bản, quyết định của Nhà nước
Trang 27Thứ hai, chính sách bồi dưỡng bao gồm một tập hợp các quyết định
được ban hành qua một giai đoạn dài và kéo dài sang cả giai đoạn thực thi chính sách Chính sách bồi dưỡng luôn không được thể hiện rõ ràng trong một quyết định đơn lẻ, mà có xu hướng được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền với nhau
Thứ ba, chính sách bồi dưỡng trong phạm vi nghiên cứu của tác giả
hướng tới giải quyết vấn đề công liên quan đến hoạt động bồi dưỡng và tác động đến lợi ích của công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện
Thứ tư, chính sách bồi dưỡng bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục
tiêu và giải pháp chính sách
Thứ năm, mục tiêu của chính sách bồi dưỡng là tạo ra những thay đổi
và nhằm đạt được các mục tiêu phát triển của đất nước hoặc địa phương
Thứ sáu, các chính sách bồi dưỡng luôn thay đổi theo thời gian, bởi
những quyết định sau có thể có những điều chỉnh so với các quyết định trước
đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu; hoặc là kinh nghiệm về thực thi chính sách được phản hồi vào quá trình ra quyết định;
và do định nghĩa về các vấn đề chính sách công cũng thay đổi qua thời gian
Cuối cùng, về cơ bản chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan
chuyên môn thuộc UBND huyện một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau,nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện để nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị cho đội ngũ công chức trong thực thi công vụ, đáp ứngmục tiêu của UBND huyện và yêu cầu phát triển của đất nước
1.2.1.3 Khái niệm thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
Thực thi đơn giản có nghĩa là thực hiện hoặc tiến hành Tuy nhiên, thực thi ở đây được xem xét với tư cách là giai đoạn thứ tư của chu trình chính sách công năm giai đoạn Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo Mazmanian và Sabatier: “Thực thi là thực hiện một quyết
Trang 28định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng
có thể được thê hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của toà án Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi Thông thường, quá trình này trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là các quyết định của các cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ định - của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định,
và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản”
Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “thực thi chính sách phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của nhà nưốc được chuyển thành các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội” Ottoson và Green cho rằng “thực thi là một quá trình lặp đi lặp lại, trong đó các ý tưỏng được thể hiện trong chính sách công được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành động xã hội Thông thường, hành động xã hội được biến đổi từ chính sách nhằm đạt được sự cải thiện xã hội; và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ tục, quy định và hành động” Theo Thomas Dye, “thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết kế để thực hiện cốc chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp Vì các chính sách công có những tác động mong muôh hoặc có chủ định, nên chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích” Theo William N.Dunn: “Các hành động chính sách có hai mục đích chính: điều chỉnh và phân bổ” Các hành động điều chỉnh là những hành động được thiết kế để bảo đảm sự tuân thủ các tiêu chuẩn hoặc thủ tục nhất định Các hành động phân bổ là những hành động đòi hỏi các đầu vào như tiền, thời gian, nhân sự và thiết bị Các hành động điều chỉnh và phân
Trang 29bổ có thể có những kết quả là phân phối và phân phối lại; được thực thi bởi các cơ quan nhà nước đối hình thức các chương trình
Từ những lập luận này có thể hiểu: Thực thi chính sách bồi dưỡng công
chức tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là quá trình đưa chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình,
dự án thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách bồi dưỡng
1.2.2 Nội dung chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện
Nội dung bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn được xác định dựa trên cơ sở của mục tiêu bồi dưỡng công chức.Trên cơ sở những quy định về tiêu chuẩn CBCC theo từng ngạch bậc công chức, từng chức danh của công chức; để xây dựng đội ngũ công chức vừa có đức, vừa có tài, có nghĩa là vừa có tâm và có tầm để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính ở nước ta trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước
Tại Điều 16, Nghị định số 101/2017/NĐ-CP qui định những nội dung bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn như sau: (1) Lý luận chính trị; (2) Kiến thức quốc phòng và an ninh; (3) Kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; (4) Kiến thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; kiến thức hội nhập quốc tế; (5) Tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ
Như vậy, trong giai đoạn hiện nay chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn tập trung vào những nội dung:
- Bồi dưỡng về lý luận chính trị: Đào tạo kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin,tưtưởngHồChíMinh,cậpnhậtđườnglốichủtrương,chínhsáchcủa Đảng và nhà nước Những nội dung này bảo đảm cho đội ngũ công chức nắm chắc
Trang 30đường lối, chủ tương của Đảng và nhà nước để vận dụng vào thực tế công việc; trung thành với tổ quốc, với CNXH; có lập trường vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn, phẩm chất tư tưởng tốt, tận tuỵ phục vụ nhân dân và đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù của dân tộc
- Bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ: Phải thường xuyên bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo cho công chức thông thạo chuyên môn trong lĩnh vực quản lý nhà nước mà mình đảm nhận để có thể giải quyết công việc được nhanh chóng và chính xác Trong đó điều quan trọng là kiểm soát được mục tiêu công việc, phương tiện để đạt được mục đích; xử lý và điều hành bộ máy thông suốt, có hiệuquả Đây là nội dung quan trọng, bởi hiện nay công chức đang rất hạn chế về khả năng tổ chức và thực hiện công việc; phần lớn công chức đều nắm rõ chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ thế nào; làm sao để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc,… thì còn nhiều lúng túng, bị động tạo nên tâm lý chờ đợi
- Bồi dưỡng kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước
và quản lý chuyên ngành: công chức tại các cơ quan chuyên môn là người thực hiện các mục tiêu chính trị của Đảng, nhà nước, là người trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nên họ cần hiểu biết một cách chính xác, đầy đủ chính sách, pháp luật của nhà nước Mặt khác, công chức tại các cơ quan chuyên môn cần phải có những kỹ năng nghề nghiệp riêng, chuyên biệt hơn so với trước đây Những kỹ năng chung cần có đối với công chức tại các cơ quan chuyên môn trong giai đoạn hiện nay là: kỹ năng ra quyết định; kỹ năng lập kế hoạch; kỹ năng làm việc nhóm;
kỹ năng quản lý thời gian; kỹ năng giao tiếp, ứng xử; kỹ năng soạn thảo văn bản; kỹ năng tổ chức cuộc họp, Ngoài ra, với từng vị trí công tácngườicông chứccầnđượcđàotạonhữngkỹnăngchuyênbiệt.Đốivớicông chứclãnh đạo cần
Trang 31đào tạo thêm các kỹ năng như: kỹ năng lãnh đạo; kỹ năng ủy quyền; kỹ năng điều hành cuộc họp; kỹ năng quản lý nhân sự,…
- Bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ: Nhằm trang bị cho công chức những tri thức cần thiết trong quá trình thực thi công vụ Trong thời đại tri thức, người công chức phải biết sử dụng tin học như một công cụ thiết yếu nhằm từng bước hiện đại hoá và tăng cường năng lực của nền hành chính nhà nước Biết sử dụng ngoại ngữ để tăng cường khả năng giao dịch, kết nối, nghiên cứu tài liệu nước ngoài phục vụ cho côngviệc
- Bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế để công chức có
đủ tri thức, kỹ năng, khả năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳmới Mặt khác, với mục tiêu xây dựng một đội ngũ công chức tại các cơ quan chuyên môn chuyên nghiệp, hiện đại, người công chức cần phải được nhân dân tín nhiệm và thừa nhận Họ cần được thường xuyên giáo dục tư tưởng, đạo đức chính trị
- Bồi dưỡng công chức còn phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch công chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị mà nội dung cụ thể có những phần khác nhau, phù hợp với nhu cầu của công việc, đối tượng người học, để giảm chi phí đào tạo, tránh trùng lặp nội dung, đem lại hiệu quả thiết thực
1.2.3 Vai trò của thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện
Thực thi chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách, nhằm biến chính sách vào hiện thực đời sống xã hội để đạt được các mục tiêu theo định hướng Đối với một chính sách cụ thể như chính sách bồi dưỡng công chức, việc thực hiện chính sách này có vai trò cụ thể như sau:
Thứ nhất, nhằm biến ý đồ chính sách thành hiện thực Chính sách thể
hiện ý chí và thái độ của nhà nước trước một vấn đề cụ thể, hay nói một cách khác chính sách là một công cụ được nhà nước sử dụng để chuyển tải thái độ
Trang 32ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý thông qua một chính sách cụ thể được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật Việc thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ này
về mặt năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng giải quyết công việc, xử lý vấn đề mà mỗi cá nhân được đảm nhận Một chính sách có thể coi là thất bại nếu không được đưa vào tổ chức thực hiện, không biến ý chí của chủ thể ban hành vào trong điều kiện thực tiễn
Thứ hai, nhằm từng bước hiện thực hóa các mục tiêu chính sách và
mục tiêu chung Có thể khẳng định rằng mục tiêu của chính sách bồi dưỡng công chức chỉ đạt được khi chính sách đó được đưa vào thực hiện Bởi lẽ, việc thực hiện chính sách bồi dưỡng bao gồm tổng thể các hoạt động có tổ chức được chính phủ thực hiện nhằm hướng tới các mục tiêu Trong quá trình đưa chính sách bồi dưỡng vào thực hiện các cơ quan thực hiện chính sách phải xây dựng được các chương trình, đề án, kế hoạch và các thủ tục có liên quan để hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách và tiến hành các bước theo quy định để thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch và thủ tục đó
Thứ ba, nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách bồi dưỡng công
chức Tính đúng đắn của chính sách có thể hiểu ở 2 khía cạnh Đầu tiên, khi chính sách được đưa ra đã thể hiện tính đúng đắn của nó khi đã nhận ra được các mâu thuẫn, bất cập về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng của CBCC đã nảy sinh trong thực thi công vụ cần giải quyết bằng chính sách Đồng thời, khi chính sách được các chủ thể ban hành thừa nhận tính đúng đắn, chúng phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của một chính sách tốt trước khi đưa vào thực hiện Tính đúng đắn của chính sách biểu hiện ở mức độ cao hơn khi chúng được hưởng ứng một cách rộng rãi trong thực tiễn, nhất là phía CBCC đối tượng thụ hưởng chính sách
Thứ tư, nhằm giúp cho chính sách bồi dưỡng công chức ngày càng hoàn chỉnh Việc hoạch định chính sách bồi dưỡng công chức không thể tránh
Trang 33được yếu tố chủ quan từ phía tập thể xây dựng chính sách hay khoảng trống về mặt thời gian giữa lúc hoạch định tới khi đưa vào thực hiện Bên cạnh đó cũng phải bàn thêm về sự vận động liên tục của các yếu tố bên ngoài môi trường Thông qua việc thực hiện chính sách bồi dưỡng cụ thể bằng các chương trình, đề
án, kế hoạch, các cơ quan, đơn vị hay cá nhân tổ chức thực thiện chính sách gặp phải những vướng mắc cần phải có sự thay đổi về biện pháp chính sách nhằm hoàn chỉnh chính sách Đồng thời có những kinh nghiệm được đúc rút trong hoạch định chính sách bồi dưỡng trong thời gian tới
1.2.4 Chủ thể thực thi chính sách
Chính sách bồi dưỡng công chức là tập hợp các quyết định có tính gắn kết nhằm lựa chọn các mục tiêu và giải pháp thực hiện để giải quyết những vấn đề theo mục tiêu đã xác định Do đó, chủ thể tham gia thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức bao gồm:
- Chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách: các cơ quan, đơn vị và tổ
chức cótrách nhiệm thực hiện nội dung của chính sách bồi dưỡng công chức Bên cạnh đó cũngbao gồm cả đội ngũ công chức thuộc cơ quan chuyên môn - đối tượng thụ hưởng trực tiếp của chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Hay nói cách khác, chủ thể trực tiếp thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức là cơquan, đơn vị, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ QLNN về công chức cấp huyện - Phòng Nội vụ
- Chủ thể gián tiếp thực hiện chính sách: các cơ quan, đơn vị và tổ
chức cótrách nhiệm phối kết hợp trong công tác tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức Cụ thể, trong thực hiện chính sách bồi dưỡng công chứctại cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có sự phối kết hợp của cácbên hữu quan như phòng Tài chính, Phòng Giáo dục và đào tạo, Theo đó, sau khi ban hành chính sách để thực hiện chính sách một cách cụthể cần có sự phối kết hợp một cách nhịp nhàng của nhiều các chủ thể khác nhaumang tính liên ngành, đa ngành Vì thế, để đảm bảo chính sách có tính khả thi, tínhđúng
Trang 34đắn và đạt được các mục tiêu của chính sách cần phải có kế hoạch, phân công,phối hợp thực hiện giữa các bên liên quan
- Chủ thể ban hành chính sách bồi dưỡng công chức: các cơ quan có
thẩm quyền banhành chính sách bao gồm, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Nội vụ,
Sở Nội vụ
1.3 Quy trình thực thi chính sáchbồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
Quy trình thực thi chính sách bồi dưỡng công chức nói chung và công
chức tại CQCM thuộc UBND huyện được thực hiện thông qua 6 bước sau:
1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn
Thực hiện chính sách nói chung và thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại CQCM thuộc UBND huyện nói riêng là một quá trình tương đối phức tạp, có thể diễn ra trong một thời gian dài Vì vậy phải xác định được công tác lập kế hoạch, chương trình để các bên triển khai thực hiện một cách chủ động có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng
Theo đó, kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bồi dưỡng bao gồm rất nhiều các nội dung khác nhau: kế hoạch về thời gian thực hiện chính sách;
kế hoạch tổ chức, điều hành; kế hoạch phân công phối hợp thực hiện; cung cấp các nguồn vật lực; kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách và kế hoạch dự kiến quy chế, nội quy…
1.3.2 Phổ biến tuyên truyền thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn
Nhằm triển khai thực hiện chính sách theo kế hoạch, công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách bồi dưỡng có ý nghĩa vai trò rất quan trọng với cơ quan quản lý nhà nước và đối tượng thực hiện chính sách Làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền sẽ giúp cho công chức là những đối tượng thụ hưởng chính sách hiểu rõ mục đích, yêu cầu, tính khả thi, tính đúng đắn của chính
Trang 35sách bồi dưỡng trong giai đoạn thực hiện chương trình cải cách hành chính hiện nay để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu của chính sách đã ban hành
Đồng thời giúp cho mỗi công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được tính chất, quy mô của chính sách từ đó nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thực hiện các mục tiêu và triển khai chính sách có hiệu quả Để công tác phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao đòi hỏi đội ngũ công chức phải am hiểu mục tiêu, yêu cầu, nội dung, nhiệm
vụ của chính sách bồi dưỡng công chức, phải nhận thức được đầy đủ vai trò của công tác phổ biến, tuyên truyền đến hiệu quả của việc thực hiện chính sách Trên cơ sở đó có sự lựa chọn các kỹ năng, biện pháp phổ biến, tuyên truyềncho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị
1.3.3 Phân công phối hợp giữa các ngành, các cấp trong việc thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn
Chính sách bồi dưỡng có tác động rất lớn, hướng tới nhiều tập thể và cá nhân tham gia thực hiện bao gồm cơ quan thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách Bên cạnh đó, từng mục tiêu của chính sách bồi dưỡng cũng phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian
Bởi vậy, muốn thực hiện chính sách một cách có hiệu quả đòi hỏi cần có
sự phân công, phối hợp trong thực hiện giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và đội ngũ công chức Thông thường công tác phân công, phối hợp thực hiện chính chính sách diễn ra với sự tham gia của các cơ quan như Nội vụ, Tài chính, Kế hoạch và đầu tư, trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ…Trong hoạt động này cần lưu ý tới đặc điểm, thế mạnh của từng cá nhân, cơ quan, đơn vị trong phối hợp thực hiện chính sách tránh tình trạng chống chéo, trùng lắp, không rõ trách nhiệm hoặc không đủ năng lực thực hiện chính sách
Bởi thực tiễn chứng minh rằng hiệu quả, kết quả thực hiện phụ thuộc phần lớn vào năng lực thực hiện, khả năng phối hợp giữa các bên thực hiện
Do vậy, để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, cơ quan, cá nhân…
Trang 361.3.4 Thường xuyên duy trì công tác thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn
Việc duy trì chính sách bồi dưỡng công chức tại CQCM thuộc UBND huyện có ý nghĩa vô cùng quan trọng bảo đảm chính sách này tồn tại và bền vững Để có thể duy trì thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức theo định hướng mục tiêu cần phải thường xuyên kiểm tra quá trình thực hiện, đánh giá thực hiện và đề xuất các giải pháp thực hiện tốt việc duy trì chính sách
Thường xuyên kiểm tra giúp nhà quản lý nắm bắt được điểm mạnh, điểm yếu trong thực hiện từ đó có những điều chỉnh để duy trì chính sách Bên cạnh đó, phải quan tâm đến đánh giá thực hiện chính sách để các đối tượng thực hiện chính sách bồi dưỡng biết được những hạn chế trong quá trình thực hiện, từ đó nhận thức đúng vị trí, trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thực hiện chính sách
Việc kiểm tra, đánh giá nhằm chấn chỉnh công tác tổ chức thực hiện giúp duy trì, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu Trong quá trình
tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng các cơ quan, tổ chức và cá nhân công chức thực hiện chính sách cần có những tham mưu, đề xuất các giải pháp nhằm duy trì chính sách trong điều kiện thực tế Bởi trong quá trình thực hiện
do môi trường thực hiện luôn biến đổi hoặc gặp những khó khăn, tác động nhất định Do đó, đòi hỏi đội ngũ công chức khi thực hiện chính sách bồi dưỡng phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức nhất định để đảm bảo có thể tạo lập được một môi trường thuận lợi nhất cho quán trình thực hiện chính sách trong điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị
1.3.5 Điều chỉnh những nội dung không phù hợp với thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn
Điều chỉnh chính sách là hoạt động cần thiết trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức bởi môi trường thực hiện chính sách luôn luôn thay đổi so với môi trường trước khi ban hành chính sách
Trang 37Theo đó, quá trình điều chỉnh chính sách được hiện thực bởi những cơ quan có thẩm quyền nhằm điều chỉnh chính sách phù hợp với tình hình thực tiễn Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách bồi dưỡng thì cơ quan
đó được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách Tuy nhiên, trên thực tế lại rất linh hoạt, các cơ quan các cấp, các ngành có thể chủ động đưa ra các biện pháp để thực hiện có hiệu quả chính sách miễn là không được làm thay đổi mục tiêu chính sách Bởi vì chỉ có thể điều chỉnh và bổ sung biện pháp, cơ chế thực hiện mục tiêu chứ không được làm thay đổi mục tiêu, nếu điều chỉnh mục tiêu thì chính sách coi như bị thất bại Hoạt động điều chỉnh giải pháp thực hiện chính sách cần phải chính xác và hợp lý nếu không sẽ làm chệch hướng mục tiêu chính sách bồi dưỡng công chức đã đề ra Từ yêu cầu trên, đòi hỏi đội ngũ công chức thực hiện chính sách bồi dưỡng phải có năng lực, kiến thức và kỹ năng tốt để có thể đề xuất các biện pháp phát hiện, điều chỉnh chính sách một cách hợp lý, bảo đảm mục tiêu của chính sách
1.3.6.Thường xuyên kiểm tra thực hiện và tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức tại các cơ quan chuyên môn
Đôn đốc, theo dõi thực hiện chính sách là hoạt động của cơ quan, đơn
vị, cán bộ, công chức có thẩm quyền theo quy định, thông qua công cụ đảm bảo trong quá trình thực hiện như nội quy, quy chế, quy định…nhằm làm cho các chủ thể thực hiện chính sách nêu cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách
Thực tế cho thấy trong quá trình tổ chức thực hiện chính sáchbồi dưỡng không phải cá nhân, cơ quan, đơn vị nào cũng làm tốt, làm đúng vì thế cần có hoạt động đôn đốc, theo dõi để vừa có thể thúc đẩy các chủ thể nỗ lực hơn nữa trong thực hiện chính sáchbồi dưỡng công chức, vừa có thể phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi những hành vi, nguy cơ vi phạm quy định, nội quy, quy chế trong quá trình thực hiện chính sách Từ đó có thể đề xuất các biện pháp
Trang 38nhằm chấn chỉnh việc thực hiện chính sách góp phần hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của chính sách bồi dưỡng
Để đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách, công chức cần phải am hiểu sâu sắc mục tiêu của chính sách, đối tượng thụ hưởng của chính sách và các quy định, công vụ, giải pháp thực hiện chính sách Cần nắm chắc, chính xác các quy định trong kế hoạch thực hiện chính sách, các quy chế, nội quy trong thực hiện chính sách Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức cần phải thu thập, cập nhật đầy đủ các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu thông tin phản ánh về quá trình triển khai và kết quả thực hiện chính sách từ các cơ quan, tổ chức Từ đó, phân tích, xử lý thông tin một cách chính xác tránh những thiếu sót trong công tác lập kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách Kiểm tra, đôn đốc thực hiện chính sách vừa kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách, giúp nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính sách
Trong quá trình duy trì chính sách các cơ quan, đơn vị, cá nhân được giao nhiệm vụ có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực hiện, trong
đó đánh giá toàn bộ được thực hiện sau khi chính sách hết hiệu lực Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện chính sách là hoạt động nhằm đưa ra những kết luận, đánh giá về sự điều hành và chấp hành của các đối tượng liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức Cụ thể, hoạt động đánh giá, tổng kết về chỉ đạo, điều hành và chấp hành thực hiện chính sách bồi dưỡng nhằm vào đối tượng là các cơ quan nhà nước trong quá trình ban hành và thực hiện chính sách Cơ sở để đánh giá, tổng kết là các
kế hoạch được giao và căn cứ vào những nội quy, quy chế đã được xây dựng Đồng thời, cần có sự kết hợp sử dụng một số các văn bản quy phạm, văn bản liên tịch để có thể xem xét, đánh giá tình hình phối hợp thực hiện chính sách của nhà nước với các tổ chức chức chính trị - xã hội
Trang 39Bên cạnh đó cũng cần phải chú trọng xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách bồi dưỡng của các đối tượng công chức tham gia quá trình thực hiện, bao gồm cả đối tượng thụ hưởng từ chính sách Qua trình đánh giá thường hướng tới tinh thần hưởng ứng việc thực hiện mục tiêu của chính sách cũng như đánh giá ý thức chấp hành những quy định, quy chế do cơ quan có thẩm quyền ban hành Nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của chính sách bồi dưỡng Để tổng kết, đánh giá chính xác, ngoài các tiêu chí
ra còn phải căn cứ vào các nguyên tắc đó là toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác các
ưu điểm, nhược kiểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách Từ đó, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách đòi hỏi các cơ quan, tổ chức và các công chức phải có trình độ, kiến thức và kỹ năng nhất định mới có thể đánh giá, tổng kết
và rút ra các bài học kinh nghiệm trong thực hiện chính sách Trong các bước trên thì bước tổ chức thực thi là quan trọng nhất vì đây là bước đầu tiên làm cơ
sở cho các bước tiếp theo, ở bước này đã dự kiến cả việc triển khai thực hiện kế hoạch phân công thực hiện, kiểm tra Hơn nữa tổ chức thực thi là quá trình phức tạp do đó lập kế hoạch cũng là việc làm cần thiết và quan trọng
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bồi dưỡng công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
1.4.1 Các yếu tố kháchquan
Đó là các yếu tố tác động bên ngoài chính sách, vận hành theo quy luật khách quan, có tác động trực tiếp đến công chức và gián tiếp đến kết quả thực hiện chính sách Các yếu tố khách quan cụ thể bao gồm:
Thứ nhất, tính chất vấn đề chính sách bồi dưỡng công chứclà yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện thuận lợi hay khó khăn, kìm hãm hoặc phát triển quá trình tổ chức thực hiện chính sách Nếu thấy được tính chất quan trọng của chính sách bồi dưỡng công chức thì trong quátrình thực thi chính sách sẽ gặp được thuận lợi hơn so với các vấn đềchính sách khác Nói cách khác, tính chất
Trang 40vấn đề chính sách bồi dưỡng công chức là yếu tốtrực tiếp ảnh hưởng đến việc thực hiện thuận lợi hay khó khăn, nhanh hay chậm đếnquá trình thực thi chính sách.
Thứ hai, môi trường thực thi chính sách là yếu tố liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh,… Môi trường chính sách là nơi mà chính sách được tổ chức thực hiện.Theo đó, môi trường thực hiện chính sách bồi dưỡng công chức có nhiềuthuận lợi nhất định: được Đảng, Nhà nước quan tâm, có môi trường chính trị ổn định, các cấp chính quyền có nhận thức cao
về vị trí, vai trò, tầm quan trọng củachính sách bồi dưỡng công chức, nhiệt tình ủng hộ, các tổ chức quốc tế đánh giácao và hợp tác tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
Thứ ba, mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách có liên quan đến sự thống nhất về lợi ích giữa các đối tượng chính sách khi thực hiện mục tiêu chính sách Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách, các đối tượng thống nhất được lợi ích sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện chính sách một cách hiệuquả
Thứ tư, tiềm lực của đối tượng chính sách nghĩa là năng lực của công chứctại các cơ quan chuyên môn Thông qua đó để phân chia các nhóm đối tượng để bồi dưỡng cho phù hợp.Trong trường hợp vì lí do kinh tế mà đội ngũcông chức - đối tượng thụ hưởng chính sách, không thể tiếp cận được với các mục tiêucủa chính sách thì coi như chính sách đó thất bại Bên cạnh đó, các đối tác khôngnhiệt tình tham gia thì mục tiêu chính sách cũng không đạt được
Thứ năm, đặc tính của đối tượng chính sách là bản tính đặc trưng mà đối tượng có được hoặc do môi trường tạo ra trong quá trình làm việc Những đặc tính này liên quan đến tính tự giác, tính độc lập, tính kỷ luật, sự quyết tâm,… Do vậy các chủ thể chính sách cần khuyến khích hay kìm hãm để có kết quả tốt nhất trong quá trình thực hiện chínhsách
1.4.2 Các yếu tố chủquan
Yếu tố chủ quan là yếu tố liên quan đến các cơ quan, đơn vị, công chức tại các cơ quan chuyên môn tham gia trong quá trình thực hiện chính sách bồi