1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động kiểm tra công vụ của ủy ban nhân dân tỉnh tây ninh

124 19 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh được thực hiện bởi Tổ Kiểm tra công vụ do UBND tỉnh giao cho Sở Nội vụ tham mưu thành lập, nguồn lực chủ chốt là công chức từ Sở Nội vụ tỉn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …… /…… …./…

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …… /…… …./…

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ NGỌC DIỄM

HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CÔNG VỤ

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 8340403

Người hướng dẫn: PGS.TS Bùi Đức Kháng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Hoạt động kiểm tra công cụ của Ủy

ban nhân dân tỉnh Tây Ninh” này là công trình nghiên cứu thực sự của cá

nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và xuất phát từ thực tiễn

công tác tại địa phương, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thầy PGS.TS Bùi

Đức Kháng

Các số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực,

chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình, bảo vệ và

công nhận bởi Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý công

Một lần nữa tôi xin khẳng định sự trung thực của lời cam kết trên

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Diễm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CÔNG VỤ CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 8

1.1 Khái quát chung về hoạt động kiểm tra công vụ 8

1.1.1.Khái niệm và vai trò của hoạt động kiểm tra công vụ 8

1.1.2.Chủ thể thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ 15

1.1.3.Hình thức tiến hành kiểm tra công vụ 17

1.1.4.Đối tượng kiểm tra công vụ 18

1.1.5.Nội dung kiểm tra công vụ 19

1.2 Hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 20

1.2.1 Chủ thể giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ 21

1.2.2 Đối tượng kiểm tra công vụ thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 26

1.2.3 Nội dung kiểm tra công vụ thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 28

1.2.4 Hình thức tiến hành kiểm tra công vụ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 31

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh 32

Trang 5

1.3.1.Mức độ hoàn thiện của pháp luật về kiểm tra công vụ 321.3.2.Năng lực của chủ thể được giao thực hiện kiểm tra công vụ 331.3.3.Mức độ quan tâm của lãnh đạo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với hoạt động kiểm tra công vụ 341.3.4. Mức độ hợp tác và sự tham gia của các bên có liên quan trong hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH 38 2.1 Sơ lược về quy trình hoạt động kiểm tra công vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 38 2.2 Thực trạng hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 39

2.2.1.Thực trạng chủ thể tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ 392.2.2. Kết quả thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ của Tổ kiểm tra công vụ 462.2.3.Kết quả xử lý các sai phạm phát hiện qua hoạt động kiểm tra công vụ của Tổ kiểm tra công vụ 54

2.3.Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra công vụ của

Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 59

2.3.1.Mức độ hoàn thiện của pháp luật về kiểm tra công vụ 592.3.2 Năng lực của Tổ kiểm tra công vụ trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ 602.3.3 Mức độ quan tâm của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đối với hoạt động kiểm tra công vụ 60

Trang 6

2.3.4.Mức độ hợp tác và sự tham gia của các bên có liên quan trong hoạt

động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 61

2.4 Đánh giá hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 62

2.4.1.Kết quả tích cực đạt được 62

2.4.2.Hạn chế, bất cập 66

2.4.3.Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 69

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CÔNG VỤ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH 76

3.1 Phương hướng hoàn thiện hoạt động kiểm tra công vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 76

3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra công vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 81

3.2.1.Hoàn thiện quy định của pháp luật về kiểm tra công vụ 81

3.2.2.Nâng cao năng lực của đội ngũ nhân sự thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh 87

3.2.3.Nâng cao động lực làm việc của đội ngũ nhân sự thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ 91

3.2.4.Ban hành quy định về trách nhiệm của các bên có liên quan trong hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh 99

3.2.5.Tăng cường công tác hậu kiểm và tái kiểm tra trong hoạt động kiểm tra công vụ 100

3.2.6 Trang bị cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho hoạt động kiểm tra công vụ 102

Trang 7

3.2.7 Vận động, tuyên truyền người dân tham gia vào hoạt động kiểm tra

công vụ 103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 105

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 1 111

PHỤ LỤC 2 114

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

1 Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tổ kiểm tra công vụ thuộc Ủy ban

2 Bảng 2.1 Trình độ của thành viên Tổ kiểm tra công vụ 44

3 Bảng 2.2 Độ tuổi và giới tính của thành viên Tổ KTCV 45

4 Biểu đồ 2.1 Tổng số cuộc KTCV từ năm 2015-2019 47

5 Biểu đồ 2.2 Tổng số phản ánh của người dân thông qua số điện thoại

6 Bảng 2.3 Số cán bộ, công chức, viên chức vi phạm qua hoạt động

7

Biểu đồ 2.3 Kết quả khảo sát người dân về thực trạng về thái độ của

Cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp tiếp xúc với người dân trong

thời gian qua

11 Bảng 2.5 Kết quả khảo sát người dân về thực trạng về thái độ của

CBCCVC trực tiếp tiếp xúc với người dân trong thời gian qua 64

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Tác giả chọn đề tài “Hoạt động kiểm tra công vụ của Ủy ban nhân dân tỉnh

Tây Ninh” vì những lý do sau:

Thứ nhất, hoạt động KTCV góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành

chính, đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng vặt trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ, nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ của CBCCVC, góp phần quan trọng trong công cuộc cải cách nền hành chính tỉnh Tây Ninh nói riêng và cả nước nói chung

Công cuộc cải cách hành chính hiện nay đã và đang được Đảng, Nhà nước và người dân quan tâm Nhằm giảm bớt các thủ tục hành chính, đẩy mạnh cơ chế một cửa, một cửa liên thông, tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân thực hiện các thủ tục hành chính nhanh chóng và hiệu quả, đồng thời thúc đẩy môi trường kinh doanh cũng như củng cố, tạo niềm tin cho Nhân dân đối với Nhà nước ta Đó cũng

là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ với nhiều nhiệm vụ được chỉ đạo quyết liệt trong thời gian qua Ngoài ra, hoạt động KTCV vô cùng cần thiết và quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính, bởi vì hiện nay tình trạng CBCCVC trong thực thi công vụ thường xuyên nhũng nhiễu, vòi vĩnh tiền của người dân, doanh nghiệp nhằm vụ lợi cá nhân, cho nên kiểm tra việc thực hiện công

vụ của CBCCVC để kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính, đặc biệt là hành vi nhũng nhiễu, quan liêu, vòi vĩnh người dân, kịp thời

có biện pháp chấn chỉnh xử lý nghiêm

Hoạt động KTCV đã và đang từng bước đẩy lùi nạn“tham nhũng vặt” hiện nay, chủ thể được giao thực hiện nhiệm vụ KTCV thường xuyên tiến hành kiểm tra đột xuất, giám sát chặt chẽ từ cấp xã đến cấp trung ương cũng như tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh thông qua số điện thoại đường dây nóng từ người dân trên tất cả các lĩnh vực Nhằm phát hiện những hành vi nhũng nhiễu, vòi vĩnh của CBCCVC trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân Qua đó cho thấy KTCV được xem là một trong những biện pháp đấu tranh phòng chống tham nhũng, trước tiên là

Trang 11

chống “tham nhũng vặt”, đây làm một nhiệm vụ chính trị thường xuyên, liên tục, lâu dài

Mặc khác công tác kiểm tra còn phát hiện một số thủ tục hành chính gây vướng mắc cho người dân và CBCCVC trong thực thi nhiệm vụ, chủ thể kiểm tra sẽ

có những kiến nghị đối với cấp trên xem xét, thay đổi một số thủ tục sao cho phù hợp, tạo thuận lợi cho người dân đến giao dịch làm việc, góp phần cho công cuộc cải cách hành chính của nhà nước ta

Thứ hai, hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh hiện nay chưa được

đảm bảo đầu tư về nguồn lực, vật lực và chưa được thực hiện ở tất cả các cơ quan, đơn vị trên toàn tỉnh cũng như quy định pháp luật về hoạt động KTCV chưa rõ ràng

và còn dàn trãi

Hiện nay hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh được thực hiện bởi Tổ Kiểm tra công vụ do UBND tỉnh giao cho Sở Nội vụ tham mưu thành lập, nguồn lực chủ chốt là công chức từ Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh (đa số là công chức Thanh tra Sở), một số thành viên còn lại là được phối hợp thực hiện từ Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông cùng báo đài tỉnh, Tổ trưởng là Phó Giám đốc Sở nội vụ, Tổ phó là Chánh Thanh tra Sở Nội vụ và một số thành viên, đây là nhiệm vụ KTCV, nên Phòng Thanh tra Sở phụ trách lĩnh vực này, do công việc thanh tra, tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo và một số công việc chuyên môn khác ngày càng nhiều, nên các thành viên của Tổ phải vừa phụ trách chuyên môn tại cơ quan, vừa tiến hành KTCV Mặt khác việc triệu tập các thành viên cùng lúc và thường xuyên cũng rất khó khăn, vì mỗi cơ quan đều có lịch công tác riêng, không thống nhất được thời gian nhất định, cho nên gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nhân lực

Ngoài khó khăn về nguồn nhân lực, hoạt động KTCV còn gặp khó khăn về nguồn vật lực, bởi vì hiện nay các thiết bị ghi âm, ghi hình, máy tính xách tay để phục vụ công tác kiểm tra đã lâu đời và hình ảnh âm thanh không còn rõ nét, hoạt động cấu hình của máy tương đối chậm nên việc ghi hình lại các vi phạm không kịp thời và không chuẩn xác hình ảnh, nhưng đã kiến nghị nhưng vẫn chưa được đầu tư

Trang 12

kịp thời, mặc khác đó là phương tiện đi lại, vì hiện nay theo quy định của UBND tỉnh thu hồi lại 01 xe ô tô, nên Sở Nội vụ chỉ còn 01 xe ô tô công để di chuyển, lịch

đi công tác trong và ngoài tỉnh của lãnh đạo Sở tương đối khá nhiều, nên hạn chế phương tiện đi lại cho Tổ Kiểm tra, việc xử lý các trường hợp phản ánh không còn được kịp thời như giai đoạn trước, hay việc KTCV cũng không được tiến hành thường xuyên được

Điều quan trọng hơn cả là cơ sở pháp lý cho hoạt động KTCV còn chưa rõ ràng, chưa được luật hóa cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể thực hiện hoạt động KTCV cũng như những quy định, chế tài xử lý các trường hợp

vi phạm, trách nhiệm của các bên liên quan Công tác kiểm tra chủ yếu dựa vào các văn bản quy phạm quy định được ban hành theo giai đoạn, theo kiểu “góp nhặt từng nội dung”, từng ngành, lĩnh vực, dựa vào đó tiến hành tổ chức kiểm tra với các nội dung khác nhau Điển hình như tại Tây Ninh, Hà Nội, Nam Định… công tác KTCV chủ yếu với nội dung kiểm tra văn hóa công sở, kỷ luật, kỷ cương hành chính và quy trình giải quyết thủ tục hành chính Nhưng hoạt động KTCV của Bộ Nội vụ tại các tỉnh thì công tác kiểm tra chủ yếu là công tác cán bộ như tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động… ở nội dung này thì lại trùng lắp với nội dung thanh tra chuyên ngành nội vụ Qua đó cho thấy được văn bản quy phạm pháp luật quy định về KTCV chưa được hoàn thiện và thống nhất từ Trung ương đến địa phương

Thứ ba, xuất phát từ tình hình nghiên cứu đề tài Qua tìm hiểu tình nghiên

cứu đề tài (được thể hiện ở mục 2 dưới đây) cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp và có hệ thống về hoạt động KTCV của cả nước nói chung

và của UBND tỉnh Tây Ninh nói riêng Đây là một vấn đề cần được làm rõ ở nhiều khía cạnh về cơ sở pháp lý, nội dung và hoạt động để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện về hoạt động KTCV Trong khi đó hoạt động KTCV là một trong những nội dung quan trọng trong việc cải cách hành chính, nâng cao kỷ luật kỷ cương đối với đội ngũ CBCCVC cả nước nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng Cho nên tác giả chọn đề tài “hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh” để nghiên cứu một cách

có hệ thống và chuyên sâu về vấn đề này

Trang 13

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Hoạt động KTCV là một vấn đề cần được nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống, nhưng chưa có nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn cũng như giới báo chí đề cập và phân tích về vấn đề này, nếu có thì chỉ nêu một phần nhỏ thông qua các bài báo, cho nên trong quá trình nghiên cứu thì tác giả chỉ đưa ra một số đề tài nghiên cứu chỉ mang tính liên quan nhầm mục đích tham khảo:

- Nhóm Luận văn thạc sĩ:

+ Nguyễn Thanh Thủy (2016), “Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực nội

vụ ở tỉnh Nam Định” Luận văn đã làm rõ được cơ sở lý luận thanh tra chuyên ngành nội vụ và thực trạng thanh tra chuyên ngành nội vụ của tỉnh Nam Định, từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp về thể chế, bộ may và tính minh bạch trong công tác thanh tra ngành nội vụ của cả nước chung và tỉnh Nam Định nói riêng

+ Nguyễn Thị Bạch Huệ (2015), “Tổ chức và hoạt động thanh tra ngành nội vụ-từ thực tiễn tại Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh” Luận văn đã đề cập và làm rõ cơ sở lý luận về thanh tra ngành nội vụ cũng như phân tích được thực trạng, các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động thanh tra ngành nội vụ của Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh,

từ đó có những giải pháp khắc phục những hạn chế, kho khăn trong công tác này

- Một số bài viết trên báo chí:

+ Bài báo “công vụ và cải cách công vụ trong điều kiện nhà nước chuyển đổi phát triển” của tác giả TS CVCC Vũ Văn Thái - Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Biên chế, Bộ Nội vụ được đăng trên trang wed về Thông tin cải cách nền hành chính nhà nước (Tháng 4/2016) Tác giả đã làm rõ được khái niệm về công vụ và hoạt động công vụ, cấu trúc của một nền công vụ, từ đó thể hiện được sự cần thiết phải cải cách nền công vụ và làm rõ được những định hướng, giải pháp cải cách nền công vụ trong giai đoạn tới

+ Bài báo “phân biệt giữa thanh tra và kiểm tra trong hoạt động quản lý nhà nước” của tác giả Tuyết Hà, được đăng trên Cổng thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình (Tháng 02/2018) Bài viết này, tác giả đã làm nổi bật được những điểm khác nhau của hai hoạt động thanh tra và kiểm tra, sự khác biệt về tính mục đích,

Trang 14

chủ thể và phương pháp tiến hành, ngoài ra còn nêu được điểm khác biệt từ thời gian tiến hành, trình độ nghiệp vụ và nội dung, phạm vi của hai hoạt động này

+ Bài báo “Hoạt động kiểm tra, giám sát của hệ thống chính trị trong công tác phòng, chống tham nhũng” của Tiến Sĩ Cao Vũ Minh (Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh) đăng trên Tạp Chí Mặt trận tháng 2/2019 Bài báo đã thể hiện rõ được kiểm tra, giám sát là những hoạt động quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát và từng bước xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát Từ đó có những giải pháp nhầm nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nhằm bảo đảm kiểm soát quyền lực nhà nước, đấu tranh đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí

Như vậy, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt động KTCV nói chung và hoạt động KTCV của cấp tỉnh nói riêng Cho nên đề tài mà tác giả chọn là khá mới mẻ và cần thiết để đầu tư nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu, làm rõ hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn triển khai thực hiện các nhiêm vụ

cụ thể sau:

Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động KTCV của

UBND tỉnh Tây Ninh;

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động KTCV của UBND tỉnh

Tây Ninh, từ đó chỉ ra các ưu điểm, các hạn chế, bất cập hiện nay trong hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh, đồng thời phân tích nguyên nhân của các hạn chế, bất cập đó;

Trang 15

Thứ ba, đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm khắc phục nguyên nhân

của các hạn chế, bất cập trong hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh là đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Giai đoạn năm 2015 – 2019

Phạm vi không gian: Tỉnh Tây Ninh

Phạm vi nội dung: Hoạt động KTCV được thực hiện bởi nhiều chủ thể, thực hiện kiểm tra trên nhiều nội dung, nhưng đề tài chỉ nghiên cứu về “hoạt động kiểm tra công vụ của Tổ Kiểm tra công vụ thuộc UBND tỉnh Tây Ninh”

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài lấy Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương pháp luận nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng 03 phương pháp sau đây: (i) Phân tích; (ii) Tổng hợp; (iii) Khảo sát bằng bảng hỏi Trong đó phương pháp (i) và (ii) được sử dụng kết hợp trong tất cả các mục từ Phần Mở đầu đến Phần Kết luận của luận văn Riêng phương pháp (iii) chỉ được sử dụng tại Mục 2.2 và Mục 2.3 của luận văn Cách thức tiến hành phương pháp (iii) được trình bày cụ thể tại Phụ lục của luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Về lý luận, luận văn hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý của hoạt động KTCV của UBND cấp tỉnh

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu thực trạng hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh, chỉ ra được những hạn chế, bất cập, từ đó có những giải pháp cụ thể

Trang 16

có giá trị tham khảo để hoàn thiện hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh nói riêng và cả nước nói chung Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên và đọc giả quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thiết kế thành 03 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động KTCV của UBND cấp tỉnh

Chương 2 Thực trạng hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động KTCV của UBND tỉnh Tây Ninh

Trang 17

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA CÔNG VỤ

CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

1.1 Khái quát chung về hoạt động kiểm tra công vụ

1.1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động kiểm tra công vụ

1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra công vụ

Để làm rõ được nội hàm của khái niệm “kiểm tra công vụ”, trước hết chúng

ta cần làm rõ các thuật ngữ tham gia cấu trúc nên khái niệm nêu trên, gồm các thuật ngữ: kiểm tra và công vụ

Cho đến nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật có định nghĩa cụ thể về kiểm tra, trên phương diện lý luận và thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau Về phương diện hoạt động: Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn Về phương diện quản lý nhà nước: Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc, vì thế

cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: Biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế

để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật Kế đến, về phương diện chính trị - xã hội: Kiểm tra là hoạt động của các cơ quan Đảng, các tổ chức xã hội, các tổ chức quần chúng tham gia hoạt động giám sát công việc hành chính nhà nước, theo phương diện này, kiểm tra hầu như không mang tính quyền

Trang 18

lực nhà nước; không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ tác động đến hoạt động quản lý nhà nước bằng những biện pháp mang tính xã hội

Hiểu theo cách đơn giản theo từ điển Tiếng Việt thì “kiểm tra” được hiểu là

“xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [21, tr.661] Hay theo arold D Koontz là một nhà lý luận tổ chức người Mỹ (1909-1984) thì kiểm tra có thể được hiểu là “ bao gồm các hoạt động mà nhà quản trị thực hiện nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch”

Trong mỗi ngành, lĩnh vực hay bất cứ tổ chức, cơ quan nào trong việc vận hành hoạt động đều cần đến hoạt động kiểm tra, đây là hoạt động vô cùng quan trọng, có thể quyết định đến sự thành bại trong hoạt động của ngành, lĩnh vực hay tổ chức, cơ quan đó Bởi vì kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu

Ngoài tìm hiểu định nghĩa về “kiểm tra”, chúng ta còn phải hiểu thế nào là

“công vụ” Thuật ngữ “công vụ” được sử dụng rất phổ biến trong khu vực công ở Việt Nam và cả các nước trên thế giới Ở Việt Nam công vụ lần đầu tiên được luật hóa trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tuy nhiên trong Luật này vẫn chưa đưa ra khái niệm cụ thể về công vụ, tại Điều 2 Luật này đã đề cập đến hoạt động công vụ như sau: “hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm

vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan” [14]

Cho nên thuật ngữ “công vụ” được hiểu theo các phạm vi rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa rộng thì công vụ thuộc khu vực công tương ứng với hệ thống chính trị, chủ thể trực tiếp hoạt động trong hệ thống này đó là CBCCVC của hệ thống này trong việc thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được cấp có thẩm quyền quy định [17]

Hay theo từ điển Tiếng Việt thì công vụ được hiểu theo nghĩa chung nhất và rất đơn giản đó là “việc công” Các việc này được thực hiện vì lợi ích chung, lợi ích

Trang 19

cộng đồng, lợi ích xã hội, lợi ích của nhà nước Trong khi đó, ở một phạm vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong các hoạt động của nhà nước Đây cũng chính là cách quan niệm về công vụ của nhiều nước trên thế giới Theo cách hiểu này, công

vụ gắn liền với con người làm việc cho cơ quan Nhà nước và những công việc của

cơ quan Nhà nước do những con người trong bộ máy đó thực hiện Cho nên, căn cứ vào những hoạt động của hệ thống các cơ quan Nhà nước, có thể hiểu công vụ là

"hoạt động thực thi nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước do chính những con người của Nhà nước thực hiện"

Đối với từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp thì “công vụ” được hiểu là “công việc mang tính nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của công dân, có tính chuyên nghiệp, chủ yếu do cán bộ, công

chức nhà nước thực hiện” [23, tr.190] Từ đó chúng ta có thể hiểu công vụ có là một

loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đến công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội Ngoài ra, công vụ mang tính tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo trật tự, có tính thứ bậc chặt chẽ, chính quy và liên tục, được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước

Thực tế thì cụm từ KTCV được nhắc đến rất nhiều trong khu vực công hay ở các cơ quan hành chính nhà nước, nhưng thực chất chưa có một định nghĩa nào quy định hay định nghĩa rõ “KTCV” là gì? Và từ những phân tích, khái niệm về thuật

ngữ kiểm tra, công vụ thì có thể định nghĩa rằng: “KTCV là hoạt động xem xét,

đánh giá, xử lý theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với đối với

cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao nhằm đảm bảo cho hoạt động công vụ được hiệu quả”

1.1.1.2 Vai trò của hoạt động kiểm tra công vụ

Nói đến vai trò của hoạt động KTCV, thì chúng ta phải hiểu vai trò là gì? Khi nói đến vai trò là đang nói đến tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát

Trang 20

triển của sự vật, hiện tượng nào đó Vậy vai trò của hoạt động KTCV là chỉ tác dụng, mục đích và sự hiệu quả của hoạt động KTCV mang lại, gồm:

Thứ nhất, góp phần đảm bảo kỷ luật, kỷ cương hành chính:

Công tác KTCV nhằm rà soát, xem xét việc thực hiện các quy định về đạo đức, văn hóa giao tiếp của người CBCCVC, ngoài ra còn xem xét việc CBCCVC sử dụng thời giờ làm việc như thế nào, hạn chế tình trạng sử dụng thời gian làm việc

để làm việc riêng, góp phần thực hiện đúng quy định, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, văn hóa công sở được đảm bảo Kịp thời phát hiện và xử lý kỷ luật nghiêm CBCCVC có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm kỷ luật, kỷ cương hành chính Gắn kết quả thực hiện với công tác đánh giá chất lượng, bình xét thi đua, khen thưởng của cơ quan, đơn vị

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm, tinh thần, thái độ, chất lượng phục vụ Nhân

dân của các cơ quan, đơn vị nhà nước:

Qua công tác KTCV thường xuyên theo kế hoạch và đột xuất của Tổ kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị thì phát hiện các trường hợp cán bộ, công chức có thái

độ, trách nhiệm vụ phục người dân chưa đúng, chưa chuẩn mực, Tổ kiểm tra kịp thời kiến nghị xử lý theo quy định, mặc khác sẽ xử lý trách nhiệm người đứng đầu

để xảy ra vi phạm, đánh giá thi đua đơn vị cuối năm, từ đó tạo được sự răng đe đối với CBCCVC, đặc biệt là bộ phận trực tiếp làm việc với người dân Góp phần xây dựng đội ngũ CBCCVC có phẩm chất đạo đức ở hai mặt nghề nghiệp và công vụ,

có phong cách ứng xử văn minh, có ý thức tôn trọng kỷ luật, kỷ cương hành chính, tuân thủ các quy định trong hoạt động công vụ

Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành

chính của công dân, tổ chức; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh:

Ngoài việc nâng cao thái độ, trách nhiệm phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán

bộ, công chức thì công tác kiểm tra còn góp phần đảm bảo việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện hiệu quả, thường xuyên kiểm tra tránh được phần nào tình trạng người tiếp nhận và xử lý “vẽ” thêm các thủ tục, các bước

để gây khó dễ, nhũng nhiễu người dân Các trường hợp vi phạm được xử lý nghiêm,

Trang 21

tạo nên một quy trình giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo được nhanh chóng, thuận lợi và đúng quy định cho người dân và doanh nghiệp, đó cũng là bước cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung Mặc khác, qua các cuộc kiểm tra, Tổ kiểm tra còn phát hiện ra những bất cập, vướng mắc trong các thủ tục hành chính, từ đó có những kiến nghị lên lãnh đạo tỉnh xem xét và hoàn thiện các bộ thủ tục hành chính

1.1.1.3 Nguyên tắc của hoạt động kiểm tra công vụ

Hoạt động KTCV là một hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, các cơ quan, cá nhân được cơ quan cấp trên phân công thực hiện chức năng, nhiệm vụ KTCV, nhằm kiểm soát và chấn chỉnh kịp thời hoạt động quản lý nhà nước, cho nên hoạt động KTCV phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định Đề cập đến thuật ngữ

“nguyên tắc” thì chúng ta có thể hiểu “nguyên tắc là hệ thống các quan điểm, tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo” và nguyên tắc là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo

Từ khái niệm “nguyên tắc” vừa nêu trên và khái niệm “hoạt động KTCV” ở

mục 1.1.1.1 thì có thể khái quát lại “nguyên tắc hoạt động KTCV là những quy tắc

chỉ đạo, tiêu chuẩn hành động xuyên suốt trong quá trình tiến hành kiểm tra của các cơ quan, cá nhân được giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ KTCV phải đảm bảo tuân theo” Hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định về

nguyên tắc trong hoạt động KTCV Nhưng từ những điểm tương đồng giữa thanh tra và kiểm tra, hay mặt khác đó là mối quan hệ đan xen nhau, bổ sung mật thiết cho nhau, nên nguyên tắc hoạt động KTCV được xây dựng dựa trên nguyên tắc của hoạt động thanh tra được quy định tại Điều 7 Luật Thanh tra năm 2010 [11], các nguyên tắc của hoạt động KTCV bao gồm:

Một là, hoạt động KTCV phải đảm bảo tuân theo pháp luật:

Khi tiến hành KTCV, nguyên tắc tuân theo pháp luật được xem là đảm bảo tính quyền lực Nhà nước và tính độc lập tương đối của các cơ quan được giao thực hiện chức năng KTCV Việc tìm hiểu và nắm vững nguyên tắc này tạo điều kiện

Trang 22

cho các cơ quan trong quá trình tiến hành KTCV kết luận chính xác, đúng pháp luật, chống được các biểu hiện tiêu cực, tuỳ tiện trong việc đưa ra các kết luận, kiến nghị

Bởi vì, hoạt động KTCV là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước

Vì thế trong quá trình tiến hành hoạt động KTCV không thể khẳng định được cơ quan, cá nhân được giao nhiệm vụ luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà Nhà nước trao cho Vì vậy, lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động kiểm tra sẽ mất đi hiệu lực, hiệu quả của nó nếu nguyên tắc tuân theo pháp luật không được đảm bảo Sự vi phạm nguyên tắc này dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, sự thoái hóa của quyền lực và dĩ nhiên mục đích của hoạt động KTCV không thể đạt được

Nguyên tắc này đặt ra hai yêu cầu căn bản đó là: (i) Mọi công việc cần tiến hành trong hoạt động KTCV phải được thực hiện trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành; (ii) Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động KTCV Việc can thiệp không có căn cứ pháp luật của bất kỳ cơ quan, cá nhân nào đều là bất hợp pháp và tùy theo mức độ nặng, nhẹ sẽ bị

xử lý theo các quy định của pháp luật

Tóm lại, tiến hành hoạt động KTCV phải tuân theo pháp luật nội dung được hiểu là căn cứ vào pháp luật nội dung đưa ra những kết luận thật đúng, thật sát với bản chất của vấn cần đề kiểm tra, không được vi phạm pháp luật để đối tượng được kiểm tra phải “tâm phục, khẩu phục”, tránh lãng phí nguồn lực và vụ lợi khi thực thi pháp luật

Hai là, hoạt động KTCV phải đảm bảo chính xác, khách quan, trung thực,

công khai, dân chủ và kịp thời:

KTCV là hoạt động kiểm soát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị và của CBCCVC, trên cơ sở đó đề ra những kiến nghị biện pháp xử lý thích hợp, đảm bảo cho chính sách, pháp luật được tôn trọng thực hiện Mỗi kết luận, kiến nghị trong hoạt động KTCV đều rất quan trọng bởi nó phải làm

rõ tính đúng sai, nêu rõ tình hình, tính chất, hậu quả của sự việc, xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nếu họ sai phạm và yêu cầu các đối tượng này có những biện pháp tích cực khắc phục những sai phạm đó Vì vậy, tính chính xác phải được

Trang 23

coi là một nguyên tắc của hoạt động KTCV Bản thân nguyên tắc tuân theo pháp luật trong hoạt động kiểm tra đã tạo ra cơ sở quan trọng để đảm bảo cho nguyên tắc chính xác Điều này có nghĩa là hoạt động KTCV phải được tiến hành trên cơ sở có đầy đủ những căn cứ rõ ràng đã được quy định trong pháp luật, việc thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn, các quyền và nghĩa vụ pháp lý khác hoàn toàn phải phù hợp với quy định của pháp luật

Tính khách quan, trung thực đòi hỏi mọi công việc tiến hành trong hoạt động này phải xuất phát từ thực tiễn quản lý hành chính nhà nước Mọi quyết định, kết luận hay kiến nghị trong hoạt động KTCV đều phải xuất phát từ thực tiễn khách quan đó chứ không phải là kết quả của việc suy diễn chủ quan, hời hợt hay mang tính áp đặt, bóp méo sự thật Muốn khách quan trong hoạt động này, đòi hỏi chủ thể

có nhiệm vụ KTCV phải có trình độ hiểu biết về chính trị, pháp luật, am hiểu chuyên môn nghiệp vụ để có thể độc lập, khách quan trong suy nghĩ và hành động của mình

Nguyên tắc công khai, dân chủ đòi hỏi: Nội dung kiểm tra, kế hoạch và việc ghi nhận các nội dung đã kiểm tra phải được thông báo một cách đầy đủ và rộng rãi cho mọi đối tượng có liên quan biết, phải thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào hoạt động KTCV, đảm bảo phát huy mạnh mẽ tính dân chủ của hoạt động này Các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý vi phạm phải được thông báo công khai cho các đối tượng có liên quan biết, đặc biệt là trong các kỳ họp, chất vấn các sở, ngành, được phương tiện thông tin đại chúng đưa tin rộng rãi Nhưng trong phương pháp tiến hành kiểm tra mà tác giả sẽ đề cập đến ở mục 1.1.3 thì có tiến hành KTCV đột xuất, đây được xem là phương pháp chủ yếu trong hoạt động này, ở phương pháp này thì việc KTCV sẽ không được công khai, thông báo trước, vì nếu công khai thì đối tượng được kiểm tra sẽ có sự chuẩn bị, che lấp các vi phạm của mình, từ đó làm hạn chế hiệu quả KTCV

Kịp thời là một yêu cầu mang tính đặc thù trong hoạt động của KTCV Yêu cầu này nhằm đảm bảo phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những việc làm vi

Trang 24

phạm pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và các cá nhân trong xã hội

Ba là, hoạt động KTCV không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ

quan, tổ chức và cá nhân là đối tượng kiểm tra:

Thực hiện hoạt động KTCV nhằm góp phần đảm bảo tuân thủ pháp chế và

kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý hành chính nhà nước Pháp luật trao cho cơ quan, đơn vị, CBCCVC những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt để tiến hành hoạt động KTCV nhằm đạt được mục tiêu quan trọng nêu trên Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt động KTCV, trong đó có việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt này, cơ quan, cá nhân được giao nhiệm vụ, quyền hạn kiểm tra phải đảm bảo không cản trở đến hoạt động bình thường của các

cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân là đối tượng kiểm tra Việc kiểm tra được tiến hành theo giờ hành chính, vì thế công tác kiểm tra hạn chế đến mức tối thiểu việc cản trở, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra, vì nếu chỉ phục vụ cho công tác kiểm tra, thì xử lý công việc chuyên môn hay việc tiếp nhận, trả kết quả cho người dân chậm trễ, như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến người dân hơn nữa Có như vậy, hoạt động KTCV mới thực sự là công cụ để củng cố, tăng cường pháp chế và kỷ luật nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

1.1.2 Chủ thể thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ

Chủ thể thực hiện KTCV hiện nay được quy định rất rộng, nhưng pháp luật hiện hành không quy định cụ thể, mà từ việc quy định gián tiếp thông qua việc quy định về thẩm quyền của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện chức năng, nhiệm

vụ và quyền hạn của mình Các cơ quan, đơn vị quản lý CBCCVC thuộc thẩm quyền của mình đều có các quyền hạn về phân công nhiệm vụ, điều động, khen thưởng, kỷ luật, kiểm tra, mà đơn thuần hơn chính là hoạt động kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong thực thi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn, cho nên thực hiện KTCV đều là trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị

Trong các văn bản quy phạm pháp luật tuy không đề cập cụ thể đến thẩm quyền kiểm tra của các cơ quan, đơn vị, nhưng đề cập đến thẩm quyền quản lý

Trang 25

CBCCVC, trong hoạt động quản lý thì tất nhiên để quản lý tốt, đạt hiệu lực hiệu quả thì phải cần đến công tác kiểm tra, cụ thể đó là kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và việc thực hiện theo pháp luật của CBCCVC, điển hình như sau:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 96 Luật Tổ chức Chính phủ về nhiệm vụ và

quyền hạn của Chính phủ là “thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; thực

hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức và công vụ trong các cơ quan nhà nước…”[13], hay tại Điểm b, Điểm c, Điểm d Điều 28 Luật Tổ chức Chính phủ có

quy định Chính phủ “chỉ đạo và thống nhất quản lý CBCCVC trong hệ thống hành

chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thanh tra, kiểm tra các hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức trong hệ thống hành chính nhà nước; Lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, thanh tra công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương và người đứng đầu cơ quan, đơn

vị trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương” [13]

Theo các quy định nêu trên thì cho thấy được Chính phủ có thẩm quyền KTCV trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, cụ thể tiến hành kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương

Đối với chính quyền địa phương, việc KTCV cũng được quy định thông qua hoạt động quản lý nhà nước, tại Khoản 6 Điều 21 Luật Tổ chức chính quyền địa

phương quy định: Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến

pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [12]

Hay tại Khoản 8 Điều 29 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương quy định

đối với UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện có nhiệm vụ: Tổ chức việc

Trang 26

thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy định của pháp luật [14]

Tóm lại, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ và trách nhiệm tiến hành kiểm tra đối với cơ quan, đơn vị của mình, cụ thể tại Khoản 1 Điều 7 Luật Cán

bộ, công chức năm 2008 quy định: Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức là cơ quan,

tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền quản lý, phân công, bố trí, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức Tại Khoản 2 Điều 10 Luật này

cũng quy định về nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu đó là kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức [14]

1.1.3 Hình thức tiến hành kiểm tra công vụ

Hình thức KTCV là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động kiểm tra Có nhiều hình thức kiểm tra khác nhau, điều này phụ thuộc vào các cách phân loại khác nhau hay còn gọi là phụ thuộc vào các căn cứ phân loại khác nhau

Nhưng căn cứ vào thực tiễn và tính chất của hoạt động KTCV, thì hoạt động KTCV được phân loại theo căn cứ vào chương trình kiểm tra thì bao gồm các hình thức sau: KTCV theo kế hoạch, KTCV thường xuyên và KTCV đột xuất

Một là, KTCV theo kế hoạch: Là hình thức kiểm tra được tiến hành theo kế

hoạch đã được phê duyệt Kế hoạch kiểm tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu

về kiểm tra của cơ quan thực hiện KTCV trong 01 năm do Thủ trưởng cơ quan thực hiện kiểm tra xây dựng để thực hiện định hướng chương trình KTCV và yêu cầu quản lý của cơ quan, đơn vị Ngoài ra kế hoạch KTCV cần được xây dựng dựa trên các căn cứ sau: (i) Yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của cấp, ngành cần tiến hành KTCV

để phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp, ngành đó; (ii) Những vấn đề bất cập, bức xúc mà quá trình quản lý đã phát hiện nhưng chưa được giải quyết hoặc chưa được giải quyết dứt điểm; (iii) Những vấn đề do phản ánh, kiến nghị của công dân Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm phê duyệt chương trình,

kế hoạch KTCV

Hai là, KTCV thường xuyên: được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ

của cơ quan trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước Hoạt động KTCV được

Trang 27

tiến hành thường xuyên và liên tục, theo thực tiễn thì hoạt động kiểm tra theo hình thức này thì được thực hiện hàng ngày, hàng tuần hay hàng tháng, quá trình kiểm tra với tần suất cao, không thông báo trước giờ và cơ quan để kiểm tra, giúp cho hiệu quả quản lý ngày càng tốt, do liên tục kiểm tra nên kịp thời phát hiện các sai phạm để chấn chỉnh và khắc phục ngay

Ba là, KTCV đột xuất: Kiểm tra đột xuất là hình thức kiểm tra được tiến

hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo thông tin phản ánh của cá nhân, tổ chức hoặc do yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định KTCV đột xuất thường gắn với những vấn đề cấp thiết, bức xúc nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

1.1.4 Đối tƣợng kiểm tra công vụ

Căn cứ vào mục 1.1.2 Chủ thể KTCV chúng ta xác định được đối tượng của hoạt động KTCV Nhưng trước ta chúng ta cần khái quát về “đối tượng KTCV” là như thế nào? Bằng thực tiễn cho ta thấy, đối tượng KTCV là CBCCVC có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong thực thi công vụ thuộc sự quản lý trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị mình công tác, ngoài ra đối tượng KTCV còn là các CBCCVC của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hệ thống dọc, chịu sự quản lý của

cơ quan cấp trên Ví dụ như theo quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm d Điều 28 Luật

Tổ chức Chính phủ năm 2015 có quy định Chính phủ “chỉ đạo và thống nhất quản

lý cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thanh tra, kiểm tra các hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức trong hệ thống hành chính nhà nước; Lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, thanh tra công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương; Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương và người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương” [13] Vậy đối tượng KTVC gồm 03 nhóm

sau:

Trang 28

(i) Chính phủ có thẩm quyền KTCV của các cơ quan hành chính nhà nước từ

trung ương đến địa phương, từ đó có thể thấy đối tượng KTCV là CBCCVC thuộc Chính phủ bao gồm CBCCVC của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và một số cơ quan khác thuộc Chính phủ, ngoài ra còn có CBCCVC của UBND các cấp đều là đối tượng KTCV của Chính phủ Nhưng theo tình hình thực tế cho thấy, ở địa phương, Chính phủ chỉ tiến hành kiểm tra đối với UBND cấp tỉnh (bao gồm các Sở và tương đương), hoạt động KTCV của Chính phủ đối với địa phương tương đối còn ít, vì khi tiến hành kiểm tra thì kiểm tra trên diện rộng, nhiều nội dung và lĩnh vực

(ii) Đối với UBND cấp tỉnh thì đối tượng KTCV là CBCCVC thuộc UBND

cấp tỉnh, UBND cấp huyện và UBND cấp xã

(iii) Ngoài ra, Thủ trưởng các cơ quan của Chính phủ như các Bộ trưởng, thủ

trưởng cơ quan ngang bộ sẽ tiến hành KTCV đối với CBCCVC thuộc thẩm quyền quản lý của mình, đây có thể được gọi là công các tự kiểm tra, cũng tương tự như vậy, đối với UBND các cấp, thì Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện, thủ trưởng các

Sở, tương đương Sở, thủ trưởng các phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, hay Chủ tịch UBND cấp xã cũng tiến hành KTCV đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản lý của mình

1.1.5 Nội dung kiểm tra công vụ

Có thể thấy rằng hoạt động kiểm tra là một trong những đều quan trọng và cấp thiết trong quá trình quản lý nhà nước Nội dung KTCV có thể được hiểu là việc Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm soát, giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC thuộc thẩm quyền mình quản lý Hoạt động KTCV tiến hành kiểm tra 02 nhóm nội dung chính sau đây:

Thứ nhất, kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của

CBCCVC:

Việc KTCV đối với CBCCVC trong việc thực thi nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho công việc được vận hành thông suốt, cho nên chủ thể KTCV tiến hành kiểm tra việc thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC được giao và việc bảo vệ, quản lý

Trang 29

và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao Việc kiểm tra này giúp cho công tác đánh giá cuối năm được khách quan và chính xác, đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ trong công vụ đạt hiệu lực hiệu quả cao

Thứ hai, kiểm tra việc thực hiện và chấp hành kỷ luật, kỷ cương của

CBCCVC:

Thủ trưởng cơ quan, đơn vị tiến hành kiểm tra về việc chấp hành nội quy, quy chế văn hóa công sở, quy tắc ứng xử tại các cơ quan nhà nước theo quy định Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và thực hiện một số quy định về văn hóa công sở được Thủ tướng Chính phủ ban hành: về trang phục công sở, giờ giấc làm việc, việc đeo thẻ khi thực thi công vụ, việc CBCCVC có sử dụng rượu bia, thuốc lá trong giờ làm việc và trong trụ sở làm việc, đối với tình trạng này, hiện nay đã giảm rất nhiều, nhờ sự kiểm tra gắt gao của Thủ trưởng cơ quan và cơ quan cấp trên, đặc biệt có sự phản ánh từ người dân

Ngoài ra thủ trưởng còn tiến hành kiểm tra cách giao tiếp của đội ngũ CBCCVC đối với đồng nghiệp, đặc biệt là đối với người dân Vì hiện nay, giao tiếp ứng xử của CBCCVC đối với người dân là vấn đề tương đối nhạy cảm và thường xuyên bị báo chí đưa tin phản ánh, thời đại công nghệ thông tin hiện đại, người dân dần dần ứng dụng công nghệ thông tin rất tốt, đặc biệt khi đến cơ quan nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính, nếu người CBCCVC có thái độ quan liêu, ứng xử không đúng mực thì dễ dàng bị người dân ghi hình, ghi âm và đưa lên mạng xã hội,

mà đều đó thì ảnh hưởng không tốt về uy tín của chính CBCCVC đó, cả cơ quan nơi người đó công tác và cả uy tín của cơ quan nhà nước ta, làm mất lòng tin Nhân dân, dễ dàng là điểm yếu để các thế lực thù địch tấn công Hoạt động kiểm tra văn hóa công sở nhằm mục đích bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước và xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của CBCCVC trong hoạt động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

1.2 Hoạt động kiểm tra công vụ của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Trang 30

1.2.1 Chủ thể giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện hoạt động kiểm tra công vụ

UBND tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm quản lý hành chính nhà nước ở địa phương UBND tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước theo lãnh thổ địa giới hành chính đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực thuộc địa phương mình, bảo đảm việc thi hành văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên và của HĐND cấp tỉnh, giám sát việc thi hành pháp luật cùa các đơn

vị cơ sở của các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương đóng tại địa phương trong phạm vi những vấn đề thuộc quyền quản lí lãnh thổ Là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung nên thẩm quyền của UBND tỉnh được xác lập trên

cơ sở quyền hạn của tập thể UBND tỉnh và quyền hạn của chủ tịch UBND tỉnh Cho nên ngoài hoạt động KTCV thì UBND tỉnh còn thực hiện quản lý rất nhiều ngành, lĩnh vực, địa giới hành chính Là chủ thể có nhiều thẩm quyền nhưng lãnh đạo UBND không thể nào tự tiến hành các hoạt động quản lý, UBND tỉnh có các cơ quan chuyên môn giúp việc, các cơ quan chịu sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo UBND tỉnh

Bởi theo tại Khoản 1, Điều 20 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm

2015 thì UBND tỉnh gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Mà UBND tỉnh

loại I có không quá 04 Phó Chủ tịch, UBND tỉnh loại II và III có không quá 03 Phó Chủ tịch Ủy viên UBND tỉnh gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, Ủy viên phụ trách quân sự và Ủy viên phụ trách công an

[14] Cho nên tuy UBND tỉnh có thẩm quyền rất rộng nhưng không thể tự mình tiến

hành KTCV vì về mặt nhân sự không thể nào đáp ứng

Mặt khác theo Khoản 2 tại điều này cũng quy định, cơ cấu tổ chức của UBND tỉnh ngoài các thành phần nêu ở Khoản 1 thì còn có các cơ quan chuyên môn cấu thành tổ chức của UBND tỉnh, gồm các sở và các cơ quan tương đương sở Các cơ quan chuyên môn này sẽ là những chủ thể giúp UBND tỉnh tiến hành hoạt động KTCV Theo mặt lý luận và thực tiễn cho thấy các cơ quan chuyên môn có

Trang 31

chức năng, nhiệm vụ về ngành, lĩnh vực của mình phù hợp có thể giúp UBND tỉnh tiến hành hoạt động KTCV gồm:

Một là, Sở Nội vụ: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số

15/2014/TT-BNV ngày 31/10/2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Phòng Nội vụ thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

thì Sở Nội vụ có chức năng: Tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về:

tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với CBCCVC, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn

vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức và cán

bộ, công chức cấp xã; đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC và cán bộ, công chức cấp xã; những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; tổ chức hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng [1]

Về cơ bản có thể thấy rằng, Sở Nội vụ thực hiện tham mưu các vấn đề liên quan đến CBCCVC trên địa bàn tỉnh, đặc biệt trong đó có nhiều nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến vị trí việc làm, bộ máy cơ quan, đào tạo, bồi dưỡng…từ CBCCVC cấp tỉnh đến cấp xã, đây là cơ quan thường xuyên tiếp xúc với CBCCVC trên địa bàn tỉnh, cũng như nắm rõ một số tình hình về việc thực hiện công vụ, nhiệm vụ của CBCCVC, đặc biệt là quy định tại Khoản 15, Khoản 18, Khoản 19 Điều 2 Thông tư

số 15/2014/TT-BNV quy định Sở Nội vụ có chức năng, nhiệm vụ “tham mưu về

công tác thi đua - khen thưởng, thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác nội vụ theo quy định của pháp luật và theo

sự phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh; thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí;

xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật, hoặc tham mưu cho cấp có thẩm

Trang 32

quyền xử lý các vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực công tác được giao theo quy định của pháp luật; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác nội vụ và các lĩnh vực khác được giao đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh, đối với UBND cấp huyện, UBND cấp xã giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo các lĩnh vực công tác được giao đối với các tổ chức của các bộ, ngành trung ương và địa phương khác đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh”[1]

Cho nên đây là những nhiệm vụ liên quan trực tiếp đến việc thực thi công vụ của CBCCVC trên địa bàn tỉnh, từ những kết quả kiểm tra, Sở Nội vụ có thể tiến hành chấm thi đua hoặc tham mưu UBND cấp tỉnh ban hành các quy định liên quan đến công vụ nhằm phát động thi đua các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Qua đó

có thể nhận định rằng, Sở Nội vụ là một trong những chủ thể quan trọng giúp UBND cấp tỉnh thực hiện hoạt động KTCV thường xuyên trên địa bàn tỉnh, đây cũng là cơ quan phù hợp vì liên quan mật thiết đến những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC

Hai là, Thanh tra tỉnh, thành phố (sau đây gọi tắt là Thanh tra cấp tỉnh):

Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật Theo Điểm b Khoản 6 Điều 2 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Thanh tra tỉnh có chức năng:

Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; thanh tra vụ việc phức tạp có liên quan đến trách nhiệm của nhiều sở, UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Chủ

Trang 33

tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập và các cơ quan, đơn vị khác theo kế hoạch được duyệt hoặc đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật [16]

Đối với chức năng và nhiệm vụ của Thanh tra tỉnh, thì đây cũng là một chủ thể có thể giúp UBND cấp tỉnh tiến hành hoạt động KTCV, đặc biệt là trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, đây cũng là vấn đề được hệ thống chính trị quan tâm

và thực hiện nghiêm, cho nên góp phần vào công tác này cũng kể đến hoạt động KTCV, bởi mục đích của kiểm tra là hạn chế tình trạng tham nhũng, nhiều nhất là tham nhũng vặt hiện nay

Mặt khác Thanh tra tỉnh là cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các

cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thuộc tỉnh, về tính nghiệp vụ thì đội ngũ công chức thanh tra tỉnh đã được đào tạo, bồi dưỡng cho nên chuyên môn có thể phục vụ tốt cho hoạt động thanh tra, kiểm tra Ngoài ra việc thực hiện tham mưu hay giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh cũng là chức năng, nhiệm

vụ chính của Thanh tra tỉnh, cho nên về chuyên môn và đội ngũ công chức thực hiện công tác này cũng được bảo đảm về số lượng và về chuyên môn,

Ba là, Văn phòng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi

chung là cấp tỉnh): Theo quy định tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số

01/2015/TTLT-VPCP-BNV ngày 23/10/2015 của Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội

vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của văn phòng

UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì: Văn phòng UBND cấp tỉnh là cơ

quan thuộc UBND cấp tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức, quản lý và công bố các thông tin chính thức về hoạt động của UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh; đầu mối Cổng Thông tin điện tử, kết nối hệ thống thông tin hành chính điện tử chỉ đạo, điều hành của UBND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh; quản lý công báo và phục vụ các hoạt động của UBND cấp tỉnh; giúp Chủ tịch UBND cấp tỉnh (bao gồm cả các Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh) thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền; quản lý văn thư - lưu trữ và công tác quản trị nội bộ của Văn phòng [24]

Trang 34

Có thể thấy rằng Văn phòng UBND cấp tỉnh là đầu mối mọi hoạt động của UBND cấp tỉnh, đặc biệt là cơ quan đầu mối tiếp nhận, xử lý, quản lý và phát hành văn bản với nhiều thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp, tham mưu xử lý và thực hiện công tác xử lý đơn thư, khiếu nại tố cáo của công dân, cho nên Văn phòng UBND cấp tỉnh cũng là chủ thể nồng cốt giúp UBND tỉnh thực hiện hoạt động KTCV Đặc biệt trong năm 2017, đã chuyển giao chức năng kiểm soát thủ tục hành chính từ Sở Tư pháp về Văn phòng UBND cấp tỉnh, cụ thể theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính: Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều, khoản của Nghị định

số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các

cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương như sau:

Bỏ cụm từ “kiểm soát thủ tục hành chính” tại khoản 2 Điều 8; Văn phòng UBND cấp tỉnh tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh về: Chương trình, kế hoạch công tác; kiểm soát thủ tục hành chính; tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã…” [4]

Với chức năng kiểm soát thủ tục hành chính, triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã…mà đó lại là vấn đề thường xuyên gây khó khăn, bức xúc cho người dân, cần tiến hành KTCV thường xuyên ở lĩnh vực này Cho nên Văn phòng UBND cấp tỉnh giúp UBND cấp tỉnh thực hiện hoạt động KTCV cũng rất phù hợp

Qua phân tích và xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Sở Nội vụ và Văn phòng UBND tỉnh thấy được rằng đó là 02 cơ quan phù hợp nhất để giúp UBND tỉnh thực hiện hoạt động KTCV Nhưng theo thực tế cho thấy, hoạt động KTCV chưa được quy định cụ thể về chủ thể, đối tượng lẫn nội dung và thực hiện chưa được nghiêm ngặt, thường xuyên, cho nên căn cứ vào Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ

Trang 35

quan hành chính nhà nước các cấp thì UBND cấp tỉnh thành lập hoặc giao cho Sở Nội vụ thành lập một Tổ KTCV thuộc UBND cấp tỉnh để thực hiện hoạt động KTCV thường xuyên và tiến hành từ cấp tỉnh đến cấp xã Do Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn quản lý hầu như các vấn đề về CBCCVC trên địa bàn tỉnh, cho nên thường thì Tổ KTCV gồm các thành viên chủ yếu là từ Sở Nội vụ, lãnh đạo Sở cũng

là Tổ trưởng của Tổ Kiểm tra này, điển hành như tỉnh Tây Ninh, tỉnh Tiền Giang, thành phố Hà Nội… Các thành viên trong tổ cũng được phối hợp từ các sở, ban, ngành tỉnh, như có sự phối hợp từ các thành viên là công chức của Văn phòng UBND tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình, Báo đài…Nhưng ở một số tỉnh thì Tổ trưởng được giao cho công chức thuộc Văn phòng UBND tỉnh

Đây là Tổ Kiểm tra chỉ phục vụ cho công tác KTCV giúp UBND tỉnh, chịu

sự chỉ đạo trực tiếp từ lãnh đạo UBND tỉnh, thường xuyên báo cáo tình hình cũng như kết quả về UBND tỉnh, ngoài ra còn tham mưu kịp thời các kiến nghị, hình thức

xử lý đối với các trường hợp vi phạm hay các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động công vụ của các cơ quan, đơn vị, CBCCVC trên địa bàn tỉnh

1.2.2 Đối tƣợng kiểm tra công vụ thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Một là, các sở và cơ quan tương đương cấp tỉnh, các đơn vị sự nghiệp cấp

tỉnh:

Đối với các sở và cơ quan tương đương thì đây là các cơ quan chuyên môn

và đơn vị sự nghiệp thuộc và trực thuộc UBND cấp tỉnh quản lý Theo Điều 9 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP thì cơ quan chuyên môn thuộc UBND được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo

sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên [5] Về tổ chức và hoạt động thì cơ quan chuyên môn thuộc UBND chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế

và công tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên

Trang 36

Như vậy, Sở là cơ quan thuộc UBND cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương theo quy định của pháp luật và theo phân công hoặc ủy quyền của UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh Cho nên Sở và cơ quan tương đương Sở chịu sự quản lý trực tiếp của UBND cấp tỉnh, là cơ quan giúp việc cho UBND tỉnh, mặc nhiên UBND cấp tỉnh sẽ có thẩm quyền kiểm tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này, hay gọi là KTCV đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh Còn đối với các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh: Thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phê duyệt hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch mạng lưới tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý của cấp mình theo quy định của luật chuyên ngành [6] Cho nên các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh, mặc nhiên sẽ là đối tượng KTCV của UBND cấp tỉnh

Hai là, UBND các thành phố, thị xã, huyện (sau đây gọi tắt là UBND cấp

huyện): UBND cấp huyện là cơ quan hành chính cấp dưới của UBND cấp tỉnh,

được UBND cấp tỉnh phân cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn phân cấp theo quy định Theo Thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thì có thẩm quyền chỉ đạo Chủ tịch UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện phải chịu trách nhiệm về hoạt động và tổ chức trước UBND cấp tỉnh Cho nên UBND cấp huyện là đối tượng KTCV của UBND cấp tỉnh

Ba là, UBND các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là UBND cấp xã):

Theo sự phân cấp thì UBND cấp xã ở nông thôn hay đô thị theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thì chịu sự quản lý của UBND cấp trên (UBND cấp huyện) theo sự phân cấp quản lý của UBND cấp tỉnh Căn cứ vào Khoản 4 Điều 24 thì chính quyền địa phương ở huyện trong đó có UBND cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã, trong đó có hoạt động KTCV Chỉ báo cáo việc thực hiện KTCV về UBND tỉnh theo định kỳ hoặc theo yêu cầu Cho nên theo sự phân cấp thì UBND

Trang 37

cấp xã không chịu sự quản lý trực tiếp từ UBND cấp tỉnh, mà là từ UBND cấp huyện

Nhưng thời gian trước đây cho thấy, UBND cấp huyện tiến hành KTCV về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã chưa đạt hiệu quả cao, việc kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên thậm chí là bị buông lỏng, gây nên tình trạng các cán bộ, công chức cấp xã hách dịch, cửa quyền, rời xa quần chúng Nhân dân Cho nên để khắc phục tình trạng đó và chấn chỉnh lại việc thực thi công vụ của chính quyền địa phương cấp xã thì ngoài giao cho UBND cấp huyện tự KTCV, thì UBND cấp tỉnh sẽ tiến hành hoạt động KTCV đối với UBND cấp xã Hiện nay thấy được rằng kết hợp cùng các mục tiêu cải cách hành chính trên các phương diện thì việc KTCV đối với UBND cấp xã đã và đang mang lại tín hiệu tốt, hiệu quả công trong thực thi công vụ, giải quyết các thủ tục hành chính cho người dân được nhanh chóng, hiệu quả

1.2.3 Nội dung kiểm tra công vụ thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Căn cứ vào Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ

về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp và một số văn bản liên quan thì nội dung KTCV do Tổ KTCV của UBND tỉnh bao gồm như sau:

Thứ nhất, về việc chấp hành nội quy, quy chế văn hóa công sở, quy tắc ứng

xử tại các cơ quan hành chính nhà nước:

Đối với nội dung này, việc kiểm tra chủ yếu là việc chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, việc tiến hành triển khai và thực hiện Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước, Quy chế này quy định về trang phục, giao tiếp và ứng xử của CBCCVC khi thi hành nhiệm vụ, bài trí công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

và UBND các cấp Việc kiểm tra còn thực hiện các nội dung trong hoạt động

Trang 38

phòng, chống tác hại của thuốc lá, nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

Trong thi hành công vụ CBCCVC phải đảm bảo về trang phục công sở, giờ giấc làm việc Trong khi thi hành công vụ, CBCCVC phải đeo thẻ và có biển tên để bàn đầy đủ, để người dân dễ dàng biết được người mà mình cần liên hệ, ngoài ra khi người dân biết họ tên, chức danh của công chức thì dễ dàng phản ánh với cấp trên hoặc qua Tổ KTCV của UBND tỉnh và tiến hành xác minh, xử lý vi phạm nếu có một cách chính xác, khách quan Nơi công sở nghiêm cấm sử dụng rượu bia, thuốc

lá trong giờ làm việc, đảm bảo cách giao tiếp của đội ngũ CBCCVC đối với đồng nghiệp, đặc biệt là đối với người dân, trong giao tiếp và ứng xử CBCCVC phải nhã nhặn, thái độ tôn trọng, lắng nghe ý kiến, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về các quy định liên quan đến công việc, CBCCVC không được có thái độ hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ Với việc kiểm tra các nội dung cụ thể trên, bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, ngoài ra còn xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của CBCCVC trong hoạt động công vụ, hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ CBCCVC

có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

Thứ hai, về việc thực hiện các quy định về tiếp nhận và giải quyết thủ tục

hành chính, dịch vụ công đối với cá nhân và tổ chức:

Với nội dung này, căn cứ vào một số văn bản như Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong công tác quản lý công chức, viên chức và thi đua, khen thưởng; Nghị định số 61/2018/NĐ-

CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính Tập trung kiểm tra việc giải quyết hồ sơ hành chính của cá nhân, tổ chức theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông và việc thực hiện các quy định liên quan đến công tác tiếp công dân: Kiểm tra các nội dung về sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, về việc đẩy mạnh

Trang 39

phòng, chống tiêu cực trong công tác quản lý công chức, viên chức và thi đua, khen thưởng; Đặc biệt đó là thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính

Đây là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động KTCV, vì trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính thường xuyên xảy ra các vướng mắc

về thủ tục, tình trạng nhũng nhiễu, thái độ thiếu trách nhiệm của CBCCVC đối với người dân, các phản ánh của người dân thông qua số điện thoại đường dây nóng hầu hết là các phản ánh về lĩnh vực tài nguyên môi trường, cụ thể là về đất đai, đây là vấn đề nóng cả nước nói chung, Tổ kiểm tra có nhiệm vụ xác minh làm rõ vấn đề phản ánh, từ đó có những biện pháp xử lý hay kiến nghị hướng giải quyết Thường xuyên hơn đó là công tác kiểm tra được tiến hành trên cả phần mềm xử lý thủ tục hành chính, xác định được tình trạng của hồ sơ, đặc biệt là các hồ sơ trễ hạn trả kết quả, từ đó xác định được nguyên nhân trễ hạn

Qua công tác kiểm tra đối với nội dung này, thông qua kiểm tra phần mềm còn kiểm tra được trình độ công nghệ thông tin của CBCCVC sử dụng phần mềm,

từ đó có những kiến nghị phù hợp với tình hình thực tế Nhằm tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin, cập nhật kịp thời các văn bản chính sách mới để có giải pháp nhanh gọn, hiệu quả, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, quan tâm bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp trên hệ thống phần mềm một cửa điện tử cho đội ngũ CBCCVC chuyên môn

Thứ ba, tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh về các thái độ, trách nhiệm

của CBCCVC và quy trình giải quyết thủ tục hành chính thông qua số điện thoại đường dây nóng:

Căn cứ vào Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ về tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính và một số văn bản liên quan thì mỗi địa phương cũng sẽ ban hành quy chế tiếp nhận phản ánh và phối hợp giải quyết các phản ánh cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ của từng địa phương Với nội dung quan trọng đánh vào bức xúc, quyền lợi của người dân, thì việc tiếp nhận và xử lý các phản ánh vô cùng cần thiết và mang lại hiệu quả

Trang 40

cao trong công tác KTCV Tổ KTCV của UBND cấp tỉnh còn tiếp nhận và xử lý các vướng mắc, phản ánh của người dân về quy trình giải quyết thủ tục hành chính

và thái độ, trách nhiệm của CBCCVC thông qua số điện thoại đường dây nóng, hộp thư điện tử hoặc cổng thông tin hành chính của tỉnh, đây là một nhiệm vụ cần được nhân rộng trên cả nước, nhiệm vụ này cần được phối hợp đa ngành đa lĩnh vực, vì liên quan đến khía cạnh của tư pháp, công thương hay nhiều nhất là tài nguyên môi trường

Sau khi tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân, Tổ KTCV đã tiến hành thẩm tra, xác minh nội dung phản ánh, đồng thời tiến hành kiểm tra cụ thể hồ sơ và các nội dung có liên quan, nếu kết quả kiểm tra đúng theo nội dung phản ánh, Tổ KTCV lập biên bản đề nghị Thủ trưởng cơ quan, đơn vị xem xét giải quyết dứt điểm nội dung phản ánh của người dân, đồng thời xem xét xử lý trách nhiệm đối với CBCCVC có sai phạm Ngoài ra còn xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị để xảy ra sai phạm Qua đó nâng cao được tính trách nhiệm của CBCCVC và thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ

1.2.4 Hình thức tiến hành kiểm tra công vụ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Đối với hoạt động KTCV của UBND cấp tỉnh thường được thực hiện theo 03 hình thức sau:

Một là, KTCV theo kế hoạch: Là hình thức kiểm tra được tiến hành theo kế

hoạch đã được phê duyệt Kế hoạch kiểm tra xác định nhiệm vụ chủ yếu cần được kiểm tra trong 01 năm hoặc theo giai đoạn do Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Việc kiểm tra theo kế hoạch chủ yếu căn cứ các nội dung trọng tâm và đối tượng kiểm tra

mà kế hoạch đã đề ra

Hai là, KTCV thường xuyên: Hoạt động KTCV được tiến hành thường xuyên

và liên tục, được thực hiện hàng tuần hay hàng tháng, quá trình kiểm tra với tần suất cao, không thông báo trước giờ và đối tượng kiểm tra

Ba là, KTCV đột xuất: Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi có thông tin

phản ánh thông qua số điện thoại đường dây nóng hoặc hộp thư điện tử, cổng thông

Ngày đăng: 05/11/2020, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w