1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập kinh tế quốc tế: Phần 2

163 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 14,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 2 ebook Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập WTO gồm có 2 chương với những nội dung chính của từng chương như sau: Chương 3 - Mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu ba năm sau hội nhập WTO, chương 4 - Kết quả xuất/nhập khẩu với nước bạn lớn, bạn hàng lớn ba năm sau hội nhập WTO. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Chương 3

MẶT HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG XUẤT NHẬP KHẨU CHỦ YẾU BA NĂM

SAU HỘI NHẬP WTO

Thị trường xuất/nhập khẩu nước ta không ngừng được mở rộng và phát triển trong kỳ đổi mới mở cửa, đặc biệt là từ khi chính thức hội nhập WTO, đến nay chúng ta đã xuất/nhập khẩu hàng chục mặt hàng và có quan hệ buôn bán với hàng trăm nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Tuy nhiên, trong chương này sẽ không thể giới thiệu và phân tích được hết kết quả xuất, nhập khẩu với tất cả các mặt hàng và thị trường, mà chỉ tập trung vào một số mặt hàng chủ lực và một số thị trường chủ yếu nhất

3.1 XUẤT KHẨU MẶT HÀNG CHỦ YẾU THEO THỊ TRƯỜNG BA NĂM SAU HỘI NHẬP WTO

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu nước ta theo thống kê cập nhật hằng tháng và hằng năm hiện nay gồm khoảng 40 mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng, trong đó một số mặt hàng, nhóm mặt hàng đạt kim ngạch khá lớn với hàng tỷ USD/năm, nhưng cũng có nhiều mặt hàng, nhóm mặt hàng kim ngạch xuất khẩu còn khá khiêm tốn, chỉ mới đạt khoảng vài triệu, vài chục triệu hoặc thậm chí có mặt hàng chỉ đạt từ vài chục đến vài trăm nghìn USD/năm Về thị trường xuất khẩu của nhiều mặt hàng, nhóm mặt hàng hiện nay đã từ vài chục cho đến gần 100 hay trên một trăm nước và vùng lãnh thổ khác nhau, trải rộng trên hầu hết các châu lục và khu vực thị trường trên thế giới

3.1.1 Thị trường xuất khẩu dệt may, mặt hàng chủ lực lớn nhất

Dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO

Trang 2

đạt gần 8,6 tỷ USD/năm, chiếm 15,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung Dệt may không chỉ là mặt hàng có kim ngạch lớn nhất mà còn là mặt hàng có thị trường xuất khẩu rộng nhất Hằng năm, các sản phẩm dệt may Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 150 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Hay nói cách khác là hàng dệt may Việt Nam đã có mặt ở hầu khắp các thị trường tiêu dùng trên thế giới, một số thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 3 năm sau hội nhập WTO như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu hàng dệt may nước ta là Mỹ, kim ngạch xuất khẩu bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 4,9 tỷ USD/năm, chiếm thị phần áp đảo thị trường xuất khẩu dệt may nước ta với bình quân 56,2%/năm, nghĩa là thị phần xuất khẩu hàng dệt may với thị trường Mỹ đã chiếm hơn một nửa trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung hàng dệt may nước ta trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 58,9% so với năm 2006, trước khi nước ta chính thức gia nhập WTO

Thị trường có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 của mặt hàng dệt may nước ta là Nhật Bản, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO đạt 821,5 triệu USD/năm, chiếm 9,6%/năm thị phần chung của hàng dệt may và tăng 33,3% so với năm 2006 Trong 3 năm sau hội nhập WTO, hàng dệt may nước ta xuất khẩu sang Nhật Bản đã tăng với tốc độ khá cao, từ kim ngạch

690 triệu USD năm 2007 lên 820 triệu USD năm 2008; trong năm 2009, mặc dù bị tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nước ta sang thị trường Nhật Bản vẫn tăng 134 triệu và đạt 954 triệu USD

Thị trường xuất khẩu đứng thứ 3 của mặt hàng dệt may nước ta là Đức, bình quân đạt gần 395 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, chiếm 4,61%/năm thị phần xuất khẩu chung của hàng dệt may và tăng 16,3% so với năm 2006 Đức là thị trường xuất khẩu hàng dệt may khá ổn định của nước ta sau hội nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu trong cả

3 năm 2007 - 2009 đều gần bằng nhau là 395,1 triệu USD, 395,5 triệu USD và 394,1 triệu USD

Vương quốc Anh là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 4 của nước ta, bình quân hàng năm sau hội nhập WTO đạt 291 triệu USD/năm, chiếm 3,4%/năm trong thị phần xuất khẩu chung hàng dệt

Trang 3

may Thứ 5 là Đài Loan đạt 220 triệu USD/năm, chiếm thị phần 2,57%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO Thứ 6 là Tây Ban Nha đạt

219 triệu USD/năm và chiếm 2,56%/năm thị phần chung Thứ 7 là Canađa đạt 165,4 triệu USD/năm và chiếm 1,93%/năm thị phần chung Thứ 8 là Hàn Quốc đạt 151 triệu USD/năm, chiếm bình quân 1,76%/năm trong thị trường xuất khẩu chung hàng dệt may Thứ 9 là thị trường Pháp đạt bình quân 149 triệu USD/năm, chiếm bình quân 1,74%/năm thị phần chung và thứ 10 là thị trường Hà Lan, đạt bình quân 140 triệu USD/năm

và chiếm bình quân 1,64%/năm trong thị trường chung hàng xuất khẩu dệt may nước ta trong 3 năm sau hội nhập WTO

Ngoài 10 thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt từ trên 140 triệu đến gần 5 tỷ USD/năm nói trên còn có 2 thị trường châu Âu khác cũng có kim ngạch trên 100 triệu USD/năm sau hội nhập WTO là Bỉ và Italia, trong đó Bỉ đạt gần 112 triệu/năm và Italia là 107 triệu/năm với thị phần bình quân là 1,31%/năm và 1,25%/năm; các thị trường còn lại nhìn chung kim ngạch còn khá nhỏ

- Ở mức kim ngạch từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO chỉ có một thị trường là Nga, đạt 77 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 0,9%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của hàng dệt may;

- Ở mức kim ngạch từ 30 đến dưới 50 triệu USD/năm, tương ứng với thị phần chiếm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của hàng dệt may từ 0,37%/năm đến 0,53%/năm có 10 thị trường và lần lượt từ lớn đến nhỏ là: Séc, Trung Quốc, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Đan Mạch, Thụy Điển, Inđônêxia, Đặc khu hành chính Hồng Kông Trung Quốc, Xingapo và Cămpuchia;

- Ở mức kim ngạch từ 10 triệu đến dưới 30 triệu USD/năm, tương ứng với thị phần từ 0,13%/năm đến 0,35%/năm cũng có 10 thị trường và lần lượt từ lớn đến nhỏ là Ôxtrâylia, Malaixia Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất, Ba Lan, Ucraina, Ảrập Xêút, Thái Lan, Áo, Hunggari

và Braxin

Như vậy có thể thấy, thị trường xuất khẩu hàng dệt may nước ta là rất rộng và trải ra hầu khắp các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, nhưng số

Trang 4

thị trường có kim ngạch tương đối lớn, từ 10 triệu USD/năm trở lên chỉ chiếm khoảng 20%, trong đó chỉ có khoảng 7% đạt kim ngạch trên 100 triệu USD/năm; khoảng 13% đạt từ 10 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm

và khoảng 80% số thị trường còn lại đều có kim ngạch khá nhỏ, dưới 10 triệu USD đến vài trăm ngàn USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Hình 3.1 Biểu đồ thị phần 10 thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất sau hội nhập WTO

3.1.2 Thị trường xuất khẩu dầu thô, mặt hàng kim ngạch đứng thứ 2

Dầu thô là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta sau hội nhập WTO, bình quân đạt gần 8,2

tỷ USD/năm, chiếm thị phần 15%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung Trên thực tế từ năm 2008 trở về trước, mặt hàng dầu thô luôn có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất nước ta, còn dệt may chỉ đứng thứ 2, nhưng

do năm 2009 giá dầu thô xuất khẩu giảm rất mạnh, bình quân đã giảm đi gần một nửa so với năm 2008, nên mặc dù khối lượng xuất khẩu giảm không đáng kể, nhưng yếu tố giá đã làm kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm gần một nửa Trong khi kim ngạch dệt may chỉ giảm rất ít so với năm 2008, nên bình quân chung cả 3 năm sau hội nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu dầu thô đã thụt xuống vị trí thứ 2 và nhường vị trí đầu bảng cho dệt may

Ngược lại với dệt may là mặt hàng có thị trường xuất khẩu vào loại rộng nhất, thì dầu thô lại là mặt hàng có số thị trường xuất khẩu vào loại ít nhất trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta Thị trường xuất khẩu

Trang 5

dầu thô hằng năm của nước ta chỉ trong phạm vi chưa đến 10 nước và vùng lãnh thổ, kết quả xuất khẩu đối với một số thị trường chính trong 3 năm sau hội nhập WTO như sau:

Thị trường xuất khẩu dầu thô lớn nhất nước ta là Ôxtrâylia, khối lượng xuất khẩu bình quân trong 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 4,3 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 2,7 tỷ USD/năm, chiếm thị phần bình quân 32,86%/năm, tức chiếm gần 1/3 trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung mặt hàng dầu thô, tuy nhiên đã giảm 14% so với năm 2006 Thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu dầu thô đứng thứ 2

là Xingapo, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO đạt 2,4 triệu tấn/năm với kim ngạch hơn 1,4 tỷ USD/năm, chiếm 17,4%/năm thị phần chung thị trường xuất khẩu dầu thô nước ta và tăng 4,2% so với năm 2006

Thị trường xuất khẩu dầu thô đứng thứ 3 sau hội nhập WTO là Nhật Bản, bình quân đạt gần 1,9 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch trên 1,2 tỷ USD/năm, chiếm 15,04%/năm thị phần chung và tăng 69,1% so với năm 2006 Nhật Bản là thị trường xuất khẩu dầu thô chưa ổn định trong 3 năm hội nhập WTO, từ khối lượng xuất khẩu hơn 1,7 triệu tấn trong năm

2007 với kim ngạch hơn 1 tỷ USD, đến năm 2008 tăng vọt lên gần 3 triệu tấn và kim ngạch gần 2,2 tỷ USD, nhưng năm 2009 lại tụt xuống chỉ còn 1 triệu tấn, tương ứng với kim ngạch 480 triệu USD, chỉ còn bằng hơn 20%

so với năm 2008 Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu dầu thô với thị trường Nhật Bản trong năm 2009 đột biến giảm gần 80% là do cả khối lượng và giá xuất khẩu năm 2009 đều cùng giảm rất mạnh, trong đó khối lượng giảm gần 2/3 và giá giảm đi gần một nửa đã tạo nên một tốc độ giảm theo cấp

số nhân

Malaixia là thị trường xuất khẩu dầu thô đứng thứ 4, bình quân đạt gần 1,5 triệu tấn/năm, với kim ngạch hơn 807 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 9,87%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 16,9%

so với năm 2006

Thị trường xuất khẩu dầu thô thứ 5 là Mỹ, bình quân đạt hơn 1,3 triệu tấn/năm với kim ngạch hơn 755 triệu USD/năm, bình quân chiếm 9,87%/ năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của dầu thô Khối lượng và

Trang 6

kim ngạch xuất khẩu dầu thô đối với thị trường Mỹ đang có xu hướng giảm, từ gần 1,5 triệu tấn trong 2 năm 2007 và 2008 đã xuống chỉ còn hơn

1 triệu tấn trong năm 2009; kim ngạch cũng từ 798 triệu USD năm 2007

và 998 triệu USD năm 2008 đã xuống chỉ còn gần 470 triệu USD trong năm 2009, nguyên nhân cũng do cả hai yếu tố giá và lượng đều cùng giảm tác động

Thứ 6 là thị trường Trung Quốc, đạt 814 nghìn tấn/năm, với kim ngạch gần 459 triệu USD/năm và chiếm thị phần bình quân 5,61%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO Khối lượng xuất khẩu dầu thô sang thị trường Trung Quốc có xu hướng ngày càng tăng sau hội nhập WTO, từ

573 nghìn tấn năm 2007 đã lên 837 nghìn tấn năm 2008 và đạt hơn 1 triệu tấn trong năm 2009

Hình 3.2 Biểu đồ thị phần 8 thị trường xuất khẩu dầu thô lớn nhất sau hội nhập WTO

Inđônêxia là thị trường xuất khẩu dầu thô thứ 7, đạt bình quân 544 nghìn tấn/năm, tương ứng với 276 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 3,37%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, giảm rất mạnh và chỉ còn bằng 41,6% so với năm 2006 Kim ngạch xuất khẩu dầu thô với thị trường Inđônêxia sau hội nhập WTO giảm mạnh so với năm 2006 chủ yếu

do khối lượng xuất đã từ gần 1,3 triệu tấn trong năm 2006 xuống 876 nghìn tấn năm 2007, xuống 336 nghìn tấn trong năm 2008 và chỉ còn đạt gần 420 nghìn tấn trong năm 2009, khối lượng xuất khẩu trong năm 2008

và 2009 đã giảm đi hơn 2/3 so với với năm 2006

Thứ 8 là thị trường Thái Lan, đạt bình quân 430 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 230 triệu USD/năm, chiếm 1,74% thị phần xuất khẩu chung mặt hàng dầu thô trong 3 năm hội nhập WTO và giảm 6,7% so với

Trang 7

năm 2006 Xuất khẩu dầu thô đối với thị trường Thái Lan cũng không ổn định, từ 486 nghìn tấn năm 2006 xuống 369 nghìn tấn năm 2007, xuống chỉ còn hơn 190 nghìn tấn năm 2008, nhưng lại tăng vọt lên 731 nghìn tấn năm 2009, gấp gần 4 lần năm 2008

Trên đây là 8 thị trường xuất khẩu dầu thô lớn nhất nước ta và chiếm đến 96,2% thị phần kim ngạch xuất khẩu chung của mặt hàng này, thị phần xuất khẩu đối với các thị trường còn lại không đáng kể

3.1.3 Thị trường xuất khẩu giày dép, mặt hàng kim ngạch lớn thứ 3

Giày dép là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 3 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 4,2 tỷ USD/năm, chiếm 7,7%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, tăng 17,7% so với năm 2006 và tăng 37,6% so với bình quân

3 năm liền kề trước hội nhập WTO từ 2004 - 2006

Hằng năm mặt hàng giày dép nước ta đã xuất khẩu đến rất nhiều nước

và vùng lãnh thổ trên thế giới, bình quân từ trên 120 đến 130 thị trường khác nhau, trong đó một số thị trường quan trọng và có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 3 năm hội nhập WTO như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu mặt hàng giày dép nước ta là Mỹ, kim ngạch bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 1 tỷ USD/năm, chiếm bình quân 23,62%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của mặt hàng giày dép và tăng 24,5% so với năm 2006

Thị trường có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 của mặt hàng giày dép

là Vương quốc Anh, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 510 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 12,62%/năm, nhưng giảm 1,5% so với năm 2006 trước khi hội nhập WTO là do kim ngạch năm 2009 đã giảm khá mạnh do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế chung của thế giới cũng như việc tiếp tục áp thuế bán phá giá của EU đối với mặt hàng này cùng tác động

Thị trường xuất khẩu đứng thứ 3 của mặt hàng giày dép là Đức, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 353 triệu USD/năm, chiếm thị phần 8,34%/năm và tăng 4,3% so với năm 2006 trước khi nước chính thức hội nhập WTO Đức không những chỉ là một thị trường xuất khẩu khá ổn

Trang 8

định đối với mặt hàng dệt may mà còn là thị trường xuất khẩu khá ổn đối với mặt hàng giày dép của nước ta trong 3 năm sau hội nhập WTO, từ năm

2006 đến 2009 kim ngạch xuất khẩu giày dép đối với thị trường này luôn đạt từ 300 - 350 triệu USD/năm, chỉ riêng năm 2008 đạt cao hơn là 392 triệu USD

Hà Lan là thị trường xuất khẩu hàng giày dép đứng thứ 4 của nước ta, bình quân đạt 317 gần triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 7,48%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 48,9% so với năm 2006 Thứ 5 là thị trường Bỉ, bình quân đạt hơn 259 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 6,12%/năm và tăng 11,5% so với năm 2006 Thứ 6 là thị trường Italia đạt 217 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 5,13%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 11,7% so với năm 2006 Thứ 7 là thị trường Pháp đạt 185,4 triệu USD/năm, chiếm thị phần 4,38%/năm và giảm 5,2% so với năm 2006 Thứ 8 là thị trường Tây Ban Nha đạt 182 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 4,3%/năm và tăng 73,4% so với năm

2006 Thứ 9 là thị trường Nhật Bản đạt bình quân 125 triệu USD/năm, chiếm bình quân 2,96% trong thị trường xuất khẩu chung mặt hàng giày dép nước ta trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 10,6% so với năm

2006 trước khi nước ta chính thức hội nhập WTO

Trong 9 thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất và đạt trên 100 triệu USD/năm về giày dép trong 3 năm sau hội nhập WTO nói trên thì có đến 7 thị trường châu Âu, chỉ có một thị trường châu Á là Nhật Bản và một thị trường châu Mỹ là Hoa Kỳ

Đạt ở mức bình quân từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm với thị phần bình quân từ 1,19% đến 2,14%/năm về kim ngạch xuất khẩu mặt hàng giày dép của nước ta trong 3 năm sau hội nhập WTO có 4 thị trường

và lần lượt từ trên xuống là Trung Quốc đạt hơn 90 triệu USD/năm, Canađa đạt gần 87 triệu USD/năm, Thụy Điển 54 triệu USD/năm và Áo 50,4 triệu USD/năm

Đạt mức bình quân từ 10 triệu đến dưới 50 triệu USD/năm và chiếm thị phần bình quân từ 0,27% đến 1,15%/năm về kim ngạch xuất khẩu giày dép trong 3 năm sau hội nhập WTO có 13 thị trường và lần lượt từ lớn đến nhỏ là: Đặc khu hành chính Hồng Kông - Trung Quốc đạt bình quân 48,5

Trang 9

triệu USD/năm; Ôxtrâylia đạt bình quân 42,6 triệu USD/năm; Đài Loan đạt gần 40 triệu USD/năm; Braxin đạt 38 triệu USD/năm; Nam Phi 35,6 triệu USD/năm; Liên bang Nga 33,6 triệu USD/năm; Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất đạt 20,7 triệu USD/năm; Hy Lạp đạt 20,2 triệu USD/năm; Malaixia đạt gần 20 triệu USD/năm; Thụy Sỹ đạt 19,7 triệu USD /năm; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 17,4 triệu USD /năm; Đan Mạch 17 triệu USD/năm và Xingapo đạt 11,3 triệu USD/năm sau 3 năm hội nhập WTO Ngoài 26 thị trường, chiếm khoảng 20% tổng số thị trường có kim ngạch xuất từ trên 10 triệu đến đến dưới 1 tỷ USD/năm ở trên, còn khoảng 80% các thị trường xuất khẩu giày dép khác đều có kim ngạch khá nhỏ, bình quân chỉ ở mức vài trăm nghìn USD đến dưới 10 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

3.1.4 Thị trường xuất khẩu hải sản, mặt hàng có kim ngạch lớn thứ 4

Hải sản là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 4 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 4,1 tỷ USD/năm, chiếm 7,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, tăng 21,5% so với năm 2006 và tăng 47,5% so với bình quân 3 năm trước hội nhập WTO năm 2004 - 2006

Hằng năm mặt hàng hải sản nước ta đã xuất khẩu đến trên 130 nước

và vùng lãnh thổ khác nhau của thế giới, trong đó có một số thị trường quan trọng và có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu hải sản nước ta là Nhật Bản, kim ngạch bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 782 triệu USD/năm, chiếm bình quân 19,17%/năm, thị phần xuất khẩu hải sản chung, giảm 7,6% so với năm 2006 trước khi nước ta chính thức gia nhập WTO Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hải sản khá ổn định, kim ngạch từ năm 2006 - 2009 luôn đạt từ trên 750 triệu đến dưới 850 triệu USD/năm

Thị trường xuất khẩu hải sản đứng thứ 2 là Mỹ, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 727 triệu USD/năm, chiếm bình quân 17,81%/năm thị phần xuất khẩu chung của mặt hàng hải sản nước ta và tăng 8,9% so với năm 2006

Trang 10

Thị trường xuất khẩu hải sản đứng thứ 3 của nước ta là Hàn Quốc, đạt bình quân 297 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 7,27%/năm trong

3 năm sau hội nhập WTO, tăng 40,3% so với năm 2006 Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu hải sản có kim ngạch liên tục tăng trong những năm gần đây, từ hơn 211 triệu USD năm 2006 đã lên 276 triệu USD trong năm

2007, lên 302 triệu USD năm 2008 và lên 313 triệu năm 2009

Tây Ban Nha là thị trường xuất khẩu hải sản đứng thứ 4, bình quân đạt 149 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 3,64%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 43% so với năm 2006 Thứ 5 là thị trường Liên bang Nga, bình quân đạt 141 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 3,46%/năm và tăng 9,5% so với năm 2006 Thứ 6 là thị trường Italia đạt bình quân 133,5 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 3,27%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 39,7% so với năm 2006 Thứ 7 là thị trường Hà Lan đạt 130 triệu USD/năm, chiếm thị phần 3,19%/năm và tăng 29% so với năm 2006 Thứ 8 là thị trường Ôxtrâylia đạt 128 triệu USD/năm, chiếm thị phần 3,14%/năm trong 3 năm hội nhập WTO và tăng 1,1% so với năm 2006 Thứ 9 là thị trường Đài Loan đạt 107 triệu USD/năm, chiếm 2,63%/năm và tăng 7% so với năm 2006 Thứ 10 là là thị trường Canađa đạt 103,5 triệu USD/năm, chiếm thị phần 2,54%/năm

và tăng 29,1% so với năm 2006 và thứ 11 là thị trường Bỉ đạt 100 triệu USD/năm, chiếm 2,46%/năm và tăng 6,3% so với năm 2006 trước khi nước ta chính thức hội nhập WTO

Trên đây là 11 thị trường xuất khẩu hải sản đạt kim ngạch bình quân

từ 100 triệu USD/năm trở lên trong 3 năm sau hội nhập WTO Các thị trường đạt từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm, với thị phần chiếm từ 1,41% đến 2,42%/năm có 8 thị trường là: Trung Quốc đạt bình quân gần

99 triệu USD/năm; Ucraina 92 triệu USD/năm; Hồng Kông 81,4 triệu/ năm; Pháp gần 80 triệu USD/năm; Ba Lan 77 triệu USD/năm; Anh 69 triệu USD/năm, Thái Lan 60 triệu USD/năm và Xingapo cũng đạt 58 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Đạt bình quân ở mức từ 10 triệu đến dưới 50 triệu USD/năm và chiếm thị phần bình quân từ 0,27% đến 1,02%/năm về kim ngạch xuất khẩu hải sản trong 3 năm sau hội nhập WTO có 10 thị trường và lần lượt từ trên xuống là Malaixia đạt 42 triệu USD/năm; Thụy Sỹ đạt 35 triệu USD/năm;

Trang 11

Bồ Đào Nha gần 32,6 triệu USD/năm; Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất 27,4 triệu USD/năm; Đan Mạch 21,7,6 triệu USD/năm; Ảrập Xê út

18 triệu USD/năm; Thụy Điển 14,6 triệu USD/năm; Cămpuchia đạt 13,8 triệu USD/năm; Hy Lạp 13,2 triệu USD/năm và Philippin đạt 10,9 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Như vậy là, trong số hơn 130 thị trường xuất khẩu hàng hải sản của nước ta đã có 30 thị trường đạt kim ngạch bình quân từ trên 10 triệu USD/năm trở lên, còn lại khoảng 100 thị trường còn lại đều có kim ngạch dưới 10 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Hình 3.3 Biểu đồ thị phần 10 thị trường xuất khẩu hải sản lớn nhất sau hội nhập WTO

3.1.5 Thị trường xuất khẩu điện tử, máy tính và linh kiện - mặt hàng kim ngạch thứ 5

Điện tử máy vi tính và linh kiện là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 5 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 2,5 tỷ USD/năm, bình quân chiếm 4,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, tăng 37,1% so với năm

2006 và tăng 75,5% so với bình quân 3 năm trước thềm hội nhập WTO năm 2004 - 2006

Hằng năm, mặt hàng điện tử máy tính và linh kiện nước ta đã xuất khẩu đến khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó một số thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện của nước ta là Thái Lan, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 354 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 14,29%/năm trong tổng kim

NhËt B¶n:19,2% Mü: 17,8%

Hµ Lan 3,2% 3,2%

¤-xtr©y-li-a: 3,1% 3,1%

§µi Loan: 2,6% 2,6%

Trang 12

ngạch xuất khẩu chung của mặt hàng mặt hàng này của nước ta, tăng 2,8%

so với năm 2006, năm trước khi nước ta chính thức hội nhập WTO Thái Lan là thị trường xuất khẩu hàng điện tử máy tính và linh kiện ngày càng tăng trong hai năm đầu hội nhập WTO, tuy nhiên đến năm 2009 đã có xu hướng giảm do tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, kim ngạch từ 344 triệu USD trong năm 2006 lên 370 triệu USD năm 2007 và lên 405 triệu USD năm 2008 nhưng đã xuống 288 triệu USD trong năm 2009

Thị trường xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đứng thứ 2

là Nhật Bản, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 342 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 3,8%/năm và tăng 35,4% so với năm 2006 trước hội nhập WTO

Thị trường xuất khẩu đứng thứ 3 về hàng điện tử, máy tính và linh kiện là Mỹ, đạt bình quân 337 triệu USD/năm, chiếm bình quân 13,6%/năm thị phần xuất khẩu chung trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 28,8% so với năm 2006 Mỹ là thị trường xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện có xu hướng liên tục tăng sau hội nhập WTO, từ kim ngạch hơn 262 triệu USD năm 2006 đã lên 274 triệu USD trong năm

2007, lên 305 triệu USD năm 2008 và lên 433 triệu trong năm 2009 Trung Quốc là thị trường xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đứng thứ 4, bình quân đạt 227 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung

là 9,15%/năm trong 3 năm hội nhập WTO và gấp 3,3 lần so với năm 2006 Trung Quốc là một trong các thị trường có tốc độ xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện tăng mạnh nhất nước ta sau hội nhập WTO, từ kim ngạch gần 70 triệu USD trong năm 2006 đã lên 120 triệu USD năm 2007, lên 274 triệu USD năm 2008 và lên 287 triệu USD năm 2009 Thứ 5 là thị trường Hà Lan, bình quân đạt 196 triệu USD/năm, chiếm thị phần 7,92%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 75,8% so với năm

2006 Thứ 6 là thị trường Xingapo đạt bình quân 165,4 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 6,67%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và tăng 39,7% so với năm 2006 Xingapo, cũng là thị trường xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện liên tục tăng mạnh, từ 83 triệu USD năm

2006 đã lên 133 triệu USD năm 2007, lên 163 triệu USD năm 2008 và đạt gần 200 triệu USD trong năm 2009

Trang 13

Thứ 7 là thị trường Philippin bình quân đạt 133 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 5,35%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO và giảm 8,9% so với năm 2006; thứ 8 là thị trường Hồng Kông đạt bình quân

119 triệu USD/năm, chiếm thị phần 4,82%/năm trong 3 năm hội nhập WTO và tăng 39,9% so với năm 2006

Như vậy, đã có 7 thị trường xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đạt kim ngạch xuất khẩu từ trên 100 triệu USD/năm trở lên trong 3 năm hội nhập WTO Mức kim ngạch từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm chỉ có một thị trường duy nhất là Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất, bình quân đạt 58,6 triệu USD/năm, chiếm thị phần trong thị trường xuất khẩu chung của hàng điện tử máy tính và linh kiện nước ta là 2,63% và tăng 120% so với năm 2006

Hình 3.4 Biểu đồ thị phần 10 thị trường xuất khẩu hàng điện tử,

máy tính và linh kiện lớn nhất sau hội nhập WTO

Đạt kim ngạch bình quân từ 10 triệu USD/năm đến dưới 50 triệu USD/năm, tương ứng với thị phần bình quân từ 0,42% đến dưới 2,36%/năm có đến 17 thị trường xuất khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện, đó là Hàn Quốc bình quân đạt 47 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 1,9%/năm và tăng 18,9%; Phần Lan đạt 40,7 triêu USD/năm, chiếm thị phần 1,64%/năm và tăng 22,1%; Malaixia đạt 35,8 triệu USD/ năm, chiếm 1,44%/năm và tăng 143,4%; Anh đạt 30,6 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 1,23%/năm và tăng 25,3%; Ấn Độ đạt 28 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 1,13%/năm và gấp gần 8 lần; Braxin

Trang 14

đạt 25,2 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 1,02%/năm và gấp 8,8 lần; Ôxtrâylia cùng đạt 25,2 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 1,02%/năm và tăng 7,1% so với năm 2006 trước khi nước ta chính thức hội nhập WTO

Như vậy trong tổng số khoảng 100 thị trường xuất khẩu của mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện nước ta đã có 26 thị trường đạt kim ngạch từ trên 10 triệu USD/năm trở lên, còn lại khoảng 75 thị trường còn lại có kim ngạch khá nhỏ, từ bình quân vài ba trăm nghìn đến dưới 10 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

3.1.6 Thị trường xuất khẩu gạo, mặt hàng kim ngạch đứng thứ 6

Gạo là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 6 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta Khối lượng xuất khẩu bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 5,1 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch hơn 2,3 tỷ USD/năm, bình quân chiếm 4,2%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, tăng 9,6% về khối lượng và tăng 84,2% về kim ngạch so với năm 2006 năm trước khi nước ta chính thức gia nhập WTO; tăng 94% so với kim ngạch bình quân 3 năm trước hội nhập WTO

Hằng năm mặt hàng gạo nước ta đã xuất khẩu đến khoảng 140 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó một số thị trường quan trọng, có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn trong 3 năm hội nhập WTO như sau: Đứng đầu thị trường xuất khẩu gạo nước ta là Philippin, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 1,62 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 854,4 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 36,36%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung mặt hàng này, tăng 7,4% về lượng và tăng 99% về kim ngạch so với năm 2006 Philippin luôn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất và duy nhất đạt trên 1 triệu tấn/năm; từ năm 2006 đến năm

2009 khối lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này luôn đạt trên dưới 1,5 triệu tấn/năm Cụ thể năm 2006 đạt 1,5 triệu tấn, 2007 đạt 1,46 triệu tấn,

2008 đạt 1,69 triệu tấn và năm 2009 đạt 1,7 triệu tấn

Thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo đứng thứ 2 là Malaixia, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 490 ngàn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch là 187,7 triệu USD/năm, chiếm thị phần 9,36%/

Trang 15

năm và tăng 57,7% so với năm 2006 Khối lượng gạo xuất khẩu sang Malaixia có xu hướng ngày càng tăng trong 3 năm sau hội nhập WTO, từ gần 380 nghìn tấn trong năm 2007 đã lên hơn 477 nghìn tấn năm 2008 và lên hơn 613 nghìn tấn trong năm 2009

Thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của mặt hàng gạo là Cuba, đạt bình quân 464 ngàn tấn/năm, tương ứng với 187,7 triệu USD/năm, chiếm thị phần kim ngạch xuất khẩu gạo chung là 7,99%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 2,4% về khối lượng và tăng 43,1% về kim ngạch so với năm 2006

Inđônêxia là thị trường xuất khẩu gạo đứng thứ 4, bình quân đạt 421 ngàn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 140,3 triệu USD/năm, chiếm thị phần kim ngạch xuất khẩu gạo chung 5,97%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 23,9% về khối lượng và tăng 34,1% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng xuất khẩu gạo sang thị trường Inđônêxia cũng có

xu hướng tăng trong 3 năm sau hội nhập WTO, từ gần 117 nghìn tấn năm

2007 đã lên 178 nghìn tấn năm 2009

Thị trường xuất khẩu gạo đứng thứ 5 là Irắc, bình quân đạt 174 ngàn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 79 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 3,97%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 91,7% về khối lượng, gấp 3,1 lần về kim ngạch so với 2006 trước khi nước ta hội nhập WTO

Thứ 6 là thị trường Xingapo đạt 165 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 66,6 triệu USD/năm, chiếm thị phần xuất khẩu chung của mặt hàng gạo là 2,83%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 60,2% về khối lượng và tăng 148,9% về kim ngạch so với năm 2006 Xingapo cũng

là thị trường xuất khẩu gạo tăng khá mạnh trong 3 năm sau hội nhập WTO, từ khối lượng xuất 82,4 nghìn tấn năm 2007 đã lên 86 nghìn tấn năm 2008 và tăng vọt lên 327,5 nghìn tấn trong năm 2009

Trên đây là 6 thị trường chính có khối lượng gạo xuất khẩu lớn nhất

và đạt bình quân từ trên 100 nghìn tấn/năm trở lên trong 3 năm sau hội nhập WTO Ở mức từ 50 nghìn tấn/năm đến dưới 100 ngàn tấn/năm có 2 thị trường là Đài Loan và Liên bang Nga, trong đó Đài Loan đạt 84,6 ngàn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 34,5 triệu USD/năm, chiếm 1,97% thị phần xuất khẩu chung của mặt hàng gạo, gấp 9,3 lần về khối lượng và gấp

Trang 16

14,5 lần về kim ngạch so với năm 2006; Liờn bang Nga đạt 60,8 nghỡn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 27,5 triệu USD/năm, chiếm thị phần chung 1,17%, giảm 1,3% về khối lượng, nhưng tăng 58,7% về kim ngạch

so với năm 2006, năm trước khi nước ta chớnh thức hội nhập WTO

Hỡnh 3.5 Biểu đồ thị phần 10 thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất sau hội nhập WTO

Đạt khối lượng xuất khẩu từ 10 nghỡn tấn/năm đến dưới 50 nghỡn tấn/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO cú 5 thị trường Đú là thị trường Nam Phi đạt 33,5 ngàn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 13,4 triệu USD/ năm; Nhật Bản gần 28 ngàn tấn/năm với kim ngạch 8,8 triệu USD/năm; Trung Quốc 22,9 nghỡn tấn/năm, với kim ngạch 8,7 triệu USD/năm; Ucraina 21,6 nghỡn tấn/năm, với kim ngạch 8,7 triệu USD/năm và Đặc khu hành chớnh Hồng Kụng của Trung Quốc đạt 16,8 nghỡn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch là 7,6 triệu USD/năm

Như vậy là chỉ cú 13 thị trường xuất khẩu gạo của nước ta hằng năm trong 3 năm hội nhập WTO cú khối lượng xuất đạt từ 10 nghỡn tấn/năm trở lờn, tương ứng với kim ngạch từ 7,6 triệu USD/năm trở lờn Cũn khoảng trờn 120 thị trường xuất khẩu gạo khỏc cú khối lượng xuất khỏ nhỏ

và rất nhỏ, chỉ dưới mức 10 nghỡn tấn/năm cho đến một vài tấn/năm, tương ứng với kim ngạch chỉ đạt vài nghỡn USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

3.1.7 Thị trường xuất khẩu cà phờ, mặt hàng thứ 7 về kim ngạch

Cà phờ là mặt hàng cú kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 7 trong cỏc mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta Khối lượng xuất khẩu bỡnh quõn 3 năm

Phi-li-pin: 36,4% Ma-lai-xi-a: 9,4%

Cu Ba: 8%

In-đô-nê-xi-a: 6% Irắc: 3,4%

Xin-ga-po: 2,8%

Đài Loan: 2% Nga: 1,2%

Nam Phi: 0,6% U-crai-na: 0,5%

Trang 17

sau hội nhập WTO đạt hơn 1,15 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch hơn 1,8 tỷ USD/năm, chiếm thị phần 3,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của nước ta, tăng 17,6% về khối lượng và tăng 49% về kim ngạch so với năm 2006; tăng 121,7% so với kim ngạch xuất khẩu bình quân 3 năm 2004 - 2006 trước hội nhập WTO

Hằng năm mặt hàng cà phê nước ta đã xuất khẩu đến khoảng từ 80 -

90 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó một số thị trường quan trọng có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn trong 3 năm hội nhập WTO như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu cà phê nước ta là Đức, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 150 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch hơn 251 triệu USD/năm, chiếm 13,85%/năm thị trường xuất khẩu chung về cà phê của nước ta, giảm 0,6% về khối lượng, nhưng tăng 30,4%

về kim ngạch so với năm 2006 Đức là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất và ổn định nhất của Việt Nam, luôn đạt từ trên 350 nghìn tấn đến 370 nghìn tấn trong 4 năm từ 2006 đến 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê đứng thứ 2

là Mỹ, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 123,3 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch là 207 triệu USD/năm, chiếm thị phần 11,41%/năm trong thị trường xuất khẩu chung về cà phê nước ta và tăng 24,4% so với năm 2006; khối lượng xuất khẩu cà phê với thị trường Mỹ khá ổn định ở mức từ 110 - 130 nghìn tấn/năm trong 4 năm từ 2006 đến 2009

Thị trường có khối lượng xuất khẩu cà phê đứng thứ 3 là Italia, đạt bình quân 91 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 152,4 triệu USD/năm, chiếm thị phần xuất khẩu chung của thị trường cà phê nước ta 8,4%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 70,7% về khối lượng và tăng 129% về kim ngạch so với năm 2006; khối lượng xuất khẩu cà phê đối với Italia cũng khá ổn định, bình quân đạt từ 86 - 96 nghìn tấn/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Bỉ là thị trường xuất khẩu cà phê đứng thứ 4, bình quân đạt 89 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 143,6 triệu USD/năm, chiếm thị phần 7,92%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, gấp 4 lần về khối lượng và gấp hơn 5 lần về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng cà phê xuất

Trang 18

khẩu sang thị trường Bỉ đang có xu hướng tăng rất mạnh sau 3 năm hội nhập WTO, từ 22 nghìn tấn năm 2006 đã lên 45,5 nghìn tấn trong năm

2007, lên 88,5 nghìn tấn năm 2008 và lên 132,2 nghìn tấn năm 2009 Thị trường xuất khẩu cà phê đứng thứ 5 là Tây Ban Nha, bình quân đạt 83,7 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 139,2 triệu USD/năm, chiếm thị phần 7,67%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 11% về khối lượng và tăng 54,5% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng cà phê xuất khẩu sang thị trường Tây Ban Nha dao động từ 75 - 95 nghìn tấn/năm trong 4 năm từ 2006 đến 2009

Thứ 6 là thị trường Nhật Bản đạt 54,4 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 98,1 triệu USD/năm, chiếm thị phần 5,41%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 54,6% về khối lượng và tăng 118,4% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng cà phê xuất khẩu sang Nhật Bản dao động từ 47 - 59 nghìn tấn/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Trên đây là 6 thị trường chính có khối lượng cà phê xuất khẩu lớn nhất và đạt bình quân từ trên 50 nghìn tấn/năm trở lên trong 3 năm sau hội nhập WTO của nước ta Trong 6 thị trường có khối lượng xuất khẩu lớn nhất này có 4 thị trường châu Âu, còn châu Mỹ và châu Á mỗi châu chỉ có

1 thị trường Ở mức đạt từ 30 đến dưới 50 nghìn tấn/năm có 3 thị trường là Thụy Sỹ, Hàn Quốc và Vương quốc Anh, trong đó Thụy Sỹ đạt 46 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 70,4 triệu USD/năm, chiếm thị phần 3,8%, tăng 8% về khối lượng và tăng 27% về kim ngạch so với năm 2006; Hàn Quốc đạt 34,4 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 58,3 triệu USD/năm, chiếm thị phần 3,22%, tăng 6,4% về khối lượng và tăng 51,4%

về kim ngạch và Vương quốc Anh đạt 32,7 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 53,6 triệu USD/năm, giảm 21,5% về khối lượng nhưng tăng 4,3% về kim ngạch so với năm 2006

Đạt khối lượng xuất khẩu bình quân từ 10 đến dưới 30 nghìn tấn/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO có 8 thị trường Đó là thị trường Pháp bình quân đạt 27,3 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch bình quân 44,8 triệu USD/năm; Hà Lan đạt 27 nghìn tấn/năm với kim ngạch 43,4 triệu USD/năm; Malaixia 18,8 nghìn tấn/năm, với kim ngạch 33,8 triệu USD/năm; Inđônêxia 18,6 nghìn tấn/năm, với kim ngạch 27,2 triệu

Trang 19

USD/năm; Liên bang Nga gần 18 nghìn tấn/năm với kim ngạch 29,8 triệu USD/năm; Philippin 17,7 nghìn tấn/năm với kim ngạch 29,2 triệu USD/năm; Trung Quốc 16,7 tấn/năm với kim ngạch 27,3 triệu USD; Xingapo 16 nghìn tấn/năm với kim ngạch gần 28 triệu USD/năm; Ba Lan

14 nghìn tấn/năm với kim ngạch gần 23 triệu USD/năm và Ôxtrâylia đạt 10,8 nghìn tấn/năm, với kim ngạch là 17,6 triệu USD/năm

Hình 3.6 Biểu đồ thị phần 10 thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất sau hội nhập WTO

Trong hơn 80 thị trường xuất khẩu cà phê hằng năm sau hội nhập WTO chỉ có 19 thị trường có khối lượng xuất khẩu tương đối lớn, từ 10 đến dưới 150 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch bình quân từ trên

17 triệu USD đến hơn 250 triệu USD/năm Còn gần 70 thị trường xuất khẩu cà phê khác của nước ta có khối lượng xuất khá nhỏ, thậm chí rất nhỏ, chỉ dưới mức 10 nghìn tấn/năm, trong đó có một số thị trường chỉ đạt vài chục hoặc 100 tấn/năm, với kim ngạch bình quân vài chục hoặc vài nghìn USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

3.1.8 Thị trường xuất khẩu cao su, mặt hàng thứ 8 về kim ngạch

Cao su là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 8 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta Khối lượng xuất khẩu bình quân trong 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 700 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 1,4 tỷ USD/năm, chiếm bình quân 2,5%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, giảm 0,5% về khối lượng, nhưng tăng 8,6% về kim ngạch so với năm 2006 trước khi Việt Nam chính thức hội nhập WTO; tăng 57,2% so với kim ngạch xuất khẩu bình quân 3 năm liền kề trước thềm hội nhập WTO năm 2004 - 2006

Trang 20

Hằng năm, mặt hàng cao su nước ta đã xuất khẩu đến khoảng 70 nước

và vùng lãnh thổ trên thế giới, một số thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 3 năm sau hội nhập WTO như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu cao su nước ta là Trung Quốc, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 456 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 918 triệu USD/năm, chiếm thị phần áp đảo thị trường xuất khẩu chung của mặt hàng cao su nước ta với tỷ trọng bình quân 65,69%/năm, giảm 2% về khối lượng nhưng tăng 7,8% về kim ngạch so với năm 2006 Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su khá ổn định và

có xu hướng tăng lên sau hội nhập WTO, từ gần 428 nghìn tấn năm 2007 lên 431 nghìn tấn năm 2008 và lên 510 nghìn tấn trong năm 2009

Đài Loan là thị trường có khối lượng cao su xuất khẩu đứng thứ 2, bình quân đạt 26,4 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 57,3 triệu USD/năm, chiếm thị phần 4,11%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 17,55 về khối lượng và tăng 28,6% về kim ngạch so với năm 2006 Thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su thứ 3 là Hàn Quốc, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 31,6 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 57 triệu USD/năm, chiếm bình quân 4,07%/năm thị phần xuất khẩu chung mặt hàng cao su nước ta, giảm 2,2% về khối lượng, nhưng tăng 12,1% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng xuất khẩu cao su đối với thị trường Hàn Quốc có xu hướng giảm nhẹ, từ 37,5 nghìn tấn trong năm 2007 đã xuống 29 nghìn tấn năm 2008 và xuống 28,4 nghìn tấn năm 2009

Thị trường có khối lượng xuất khẩu cao su đứng thứ 4 là Malaixia, đạt bình quân 28,6 nghìn tấn/năm, tương ứng với 56,3 triệu USD/năm, chiếm thị phần 4,03%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 183,3% về khối lượng và tăng 189% về kim ngạch so với năm 2006

Thị trường xuất khẩu cao su đứng thứ 5 là Đức, bình quân đạt 25,1 ngàn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 54 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 3,86%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, giảm 16,5%

về khối lượng và giảm 7,9% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng cao su xuất khẩu sang thị trường Đức đang có xu hướng giảm, từ trên 30

Trang 21

nghìn tấn năm 2006 đã xuống 29,4 nghìn tấn năm 2007, xuống 24,5 nghìn tấn năm 2008 và xuống 21,4 nghìn tấn năm 2009

Thứ 6 là thị trường Mỹ đạt 20,5 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 31,8 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 2,28%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 18,7% về khối lượng và tăng 14,2% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng cao su xuất khẩu sang Mỹ cũng có xu hướng giảm trong 3 năm sau hội nhập WTO, từ 22,9 nghìn tấn năm 2007, xuống 20,1 nghìn tấn năm 2008 và xuống còn 18,7 nghìn tấn trong năm

2009

Liên bang Nga là thị trường có khối lượng cao su xuất khẩu lớn thứ 7, bình quân đạt 13,9 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 31,7 triệu USD/năm, chiếm thị phần 2,27%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, giảm 32,3 về khối lượng và giảm 24,3% về kim ngạch so với năm 2006 Nhật Bản là thị trường có khối lượng cao su xuất khẩu thứ 8, bình quân đạt 11,2 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 23,8 triệu USD/ năm, chiếm thị phần 1,85%/năm trong 3 năm hội nhập WTO, giảm 2,7 về khối lượng nhưng tăng 8,2% về kim ngạch so với năm 2006

Hình 3.7 Biểu đồ thị phần 8 thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất sau hội nhập WTO

Ngoài 8 thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất với khối lượng xuất từ

10 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch từ 25 triệu USD/năm trở lên ở trên còn có trên 60 thị trường khác khối lượng xuất tương đối nhỏ và nhỏ, trong đó đạt từ 5 nghìn tấn đến dưới 10 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch từ 9,7 triệu đến dưới 20 triệu USD/năm có 7 thị trường là Thổ Nhĩ

Trang 22

Kỳ, Italia, Bỉ, Tây Ban Nha, Bỉ, Inđônêxia và Braxin; có 11 thị trường đạt khối lượng từ trên 1 ngàn tấn đến dưới 5 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch từ 2,9 triệu đến dưới 8,7 triệu USD/năm là Ấn Độ, Pháp, Vương quốc Anh, Xingapo, Phần Lan, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Canađa, Séc, Ucraina, Xlôvakia và Thụy Điển; có khoảng 45 thị trường có khối lượng xuất rất nhỏ, từ vài chục tấn với kim ngạch vài chục nghìn USD đến dưới 1 nghìn tấn/năm và kim ngạch khoảng từ 2 triệu USD/năm trở xuống.

3.1.9 Thị trường xuất khẩu than đá, mặt hàng thứ 9 về kim ngạch

Than đá là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 9 trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nước ta Khối lượng xuất khẩu 3 năm sau hội nhập WTO đạt bình quân hơn 25,5 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch hơn 1,2 tỷ USD/năm, chiếm bình quân 2,2%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung, giảm 12,9% về khối lượng, nhưng tăng 35% về kim ngạch so với năm 2006 trước khi Việt Nam chính thức hội nhập WTO; tăng 90,6% so với kim ngạch xuất khẩu bình quân trong 3 năm liền

kề trước thềm hội nhập WTO (năm 2004 - 2006)

Thị trường xuất khẩu than đá nước ta hàng năm có khoảng từ 20 đến

25 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới; một số thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 3 năm hội nhập WTO như sau:

Đứng đầu thị trường xuất khẩu mặt hàng than đá nước ta là Trung Quốc, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 20,5 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch hơn 776 triệu USD/năm, chiếm thị phần áp đảo 62,86%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của than đá, giảm 13,5% về khối lượng, nhưng tăng 30,5% về kim ngạch so với năm 2006 Trung Quốc là thị trường xuất khẩu than đá lớn nhất, nhưng chưa ổn định

và có xu hướng giảm trong 3 năm sau hội nhập WTO, từ 23,7 triệu tấn năm 2006 lên 26,5 tấn năm 2007, nhưng lại xuống 14,6 triệu tấn năm 2008

và lại lên 20,5 triệu tấn năm 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch xuất khẩu than đá thứ 2 là Nhật Bản, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 1,8 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 19,5 triệu USD/năm, chiếm thị phần

Trang 23

15,78%/năm, giảm 29,8% về khối lượng nhưng vẫn tăng 18,5% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng xuất khẩu than đá sang thị trường Nhật Bản có xu hướng giảm rõ rệt, từ 2,6 triệu tấn trong năm 2006 đã xuống 2,1 triệu tấn năm 2007, xuống 1,9 triệu tấn năm 2008 và xuống chỉ còn gần 1,4 triệu tấn trong năm 2009

Thị trường có khối lượng than đá xuất khẩu đứng thứ 3 là Hàn Quốc, đạt bình quân gần 1,2 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch 76,5 triệu USD/năm, chiếm thị phần 6,2%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, tăng 70,3% về khối lượng và tăng 127% về kim ngạch so với năm 2006 Khối lượng xuất khẩu than đá với thị trường Hàn Quốc có xu hướng tăng mạnh sau hội nhập WTO, từ 694 nghìn tấn năm 2006 đã lên 787 nghìn tấn năm

2007, lên 940 nghìn tấn năm 2008 và lên gần 1,8 triệu tấn trong năm 2009 Sau 3 thị trường lớn nhất và đạt khối lượng xuất khẩu từ trên 1 triệu tấn/năm trong 3 năm hội nhập WTO ở trên là 5 thị trường có khối lượng xuất khẩu đạt ở mức khá, từ trên 100 nghìn tấn đến trên 350 nghìn tấn là Thái Lan đạt 354 nghìn tấn/năm với kim ngạch hơn 29 triệu USD/năm; Philippin đạt 300 nghìn tấn/năm với kim ngạch gần 30 triệu USD/năm; Ấn

Độ đạt 199 nghìn tấn với kim ngạch 31,2 triệu USD/năm; Malaixia đạt 181,5 nghìn tấn/năm với kim ngạch 20,5 triệu USD/năm và Pháp đạt 115,8 nghìn tấn/năm với kim ngạch 9,4 triệu USD/năm

Hình 3.8 Biểu đồ thị phần 3 thị trường xuất khẩu than đá lớn nhất sau hội nhập WTO

3.1.10 Thị trường xuất khẩu một số mặt hàng có kim ngạch lớn khác 3 năm sau hội nhập WTO

Ngoài 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu bình quân trên 1 tỷ USD đến dưới 10 tỷ USD/năm ở trên, còn có một số mặt hàng khác như gỗ và

Trung Quèc: 62,9%

NhËt B¶n: 15,8%

Hµn Quèc: 6,2%

ThÞ tr-êng cßn l¹i 15,2%

Trang 24

sản phẩm gỗ cũng có kim ngạch xuất khẩu rất lớn, bình quân đạt 2,6 tỷ USD/năm sau 3 năm hội nhập WTO và một số mặt hàng khác đạt từ trên

100 USD/năm đến dưới 1 tỷ USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO Thị trường xuất khẩu của các mặt hàng này cũng rất rộng với hàng trăm quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới

Về thị trường xuất khẩu mặt hàng gỗ, sản phẩm từ gỗ, một thành

viên của “Câu lạc bộ tỷ USD” kim ngạch xuất khẩu, hằng năm mặt hàng này đã xuất khẩu đến khoảng 140 nước và vùng lãnh thổ khác nhau, trong

đó Mỹ là thị trường lớn nhất chiếm thị phần bình quân hơn 40%/năm; thứ

2 là thị trường Nhật Bản, chiếm thị phần bình quân trên 15%/năm; tiếp đến là thị trường Anh chiếm hơn 10%/năm; thị trường Đức và Pháp mỗi thị trường chiếm bình quân khoảng 5%/năm; Hàn Quốc và Ôxtrâylia mỗi thị trường chiếm hơn 3%/năm; thị trường Hà Lan và Canađa mỗi thị trường chiếm trên 2%/năm; các thị trường Bỉ, Tây Ban Nha, Italia, Đài Loan, Ailen, Đan Mạch mỗi thị trường chiếm từ bình quân từ 1 - 1,5%/năm; các thị trường Thụy Điển, Trung Quốc, Niu Dilân chiếm gần 1%/năm thị phần chung của mặt hàng xuất khẩu gỗ, sản phẩm từ gỗ Ngoài ra còn khoảng 120 thị trường khác xuất khẩu mặt hàng này nhưng kim ngạch xuất rất nhỏ, bình quân chỉ từ 10 nghìn USD/năm đến dưới 10 triệu USD/năm

Về thị trường xuất khẩu mặt hàng dây điện và cáp điện, kim ngạch

bình quân trong 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 908 triệu USD/năm với

số thị trường xuất khẩu khoảng 40 nước và vùng lãnh thổ khác nhau, trong

đó Nhật Bản là thị trường lớn nhất, chiếm thị phần áp đảo đến 74,46%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO; thứ hai là thị trường Mỹ bình quân chiếm 9,95%/năm; thị trường Hàn Quốc đứng thứ 3 chiếm bình quân 4,02%/năm; Ôxtrâylia ở vị trí thứ 4 chiếm bình quân 1,54%/năm; Hồng Kông thứ 5 chiếm bình quân 1,39%/năm; tiếp theo là Xingapo chiếm bình quân 1,28%/năm, Thái Lan chiếm bình quân 1,19%/năm; Philippin chiếm bình quân 1,12%/năm; Trung Quốc chiếm bình quân 0,88%/năm; Cămpuchia chiếm 0,62%/năm; Pháp chiếm 0,57%/năm; Đài Loan chiếm 0,52%/năm Còn khoảng gần 30 thị trường khác kim ngạch rất nhỏ, bình quân chỉ từ vài chục nghìn USD đến dưới 1 triệu USD, với thị phần chiếm không đáng kể, bình quân chỉ từ vài phần nghìn đến dưới 0,25%

Trang 25

Về thị trường xuất khẩu mặt hàng hạt điều, kim ngạch bình quân đạt

780 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, có số thị trường xuất khẩu hằng năm khoảng 70 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm thị phần bình quân 31,8%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của hạt điều; thứ 2 là Trung Quốc chiếm bình quân 18,92%/năm thị phần; thị trường Hà Lan đứng thứ 3 chiếm bình quân 15,88%/năm thị phần; Ôxtrâylia là thị trường thứ 4 bình quân chiếm 7,58%/năm thị phần; tiếp theo là Vương quốc Anh chiếm 5,15%/năm thị phần; Canađa chiếm 3,4%/năm thị phần, Liên bang Nga chiếm bình quân 1,15%/năm thị phần; Tây Ban Nha chiếm bình quân 1,05%/năm thị phần; Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất chiếm bình quân 0,81%/năm thị phần; Đài Loan chiếm 0,73%/năm; Nhật Bản chiếm 0,62%; Na Uy chiếm 0,59%; Hồng Kông chiếm 0,56%/năm; Pakixtan chiếm 0,55%/năm; Italia chiếm 0,53%/năm, Ucraina chiếm 0,39%/năm; Hy Lạp và Bỉ cùng chiếm 0,38%/năm; Philippin và Látvia cùng chiếm 0,3%/năm; Malaixia chiếm 0,26%/năm thị phần xuất khẩu chung của hạt điều Ngoài ra còn khoảng

45 thị trường khác có kim ngạch rất nhỏ, chỉ từ vài chục nghìn USD đến dưới 2 triệu USD với thị phần từ vài phần nghìn đến dưới 0,25%/năm

Về thị trường mặt hàng túi xách, ví, vali, ô dù, kim ngạch xuất khẩu

bình quân hơn 679 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, với số thị trường xuất khẩu hằng năm khoảng 85 nước và vùng lãnh thổ, trong đó

Mỹ là thị trường lớn nhất, chiếm thị phần bình quân 31,48%/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO; thứ hai là thị trường Bỉ chiếm bình quân 10,14%/năm; thị trường Đức đứng thứ 3 bình quân chiếm 10,09%/năm thị phần; Nhật Bản thị trường thứ 4 chiếm bình quân 9,92%/năm thị phần; tiếp theo là Pháp chiếm 6,29%/năm thị phần; Tây Ban Nha chiếm 3,38%/năm thị phần, Hàn Quốc chiếm 3,11%/năm thị phần; Canađa chiếm 3,08%/năm thị phần; Hà Lan chiếm 2,71%/năm thị phần; Vương quốc Anh chiếm 2,63% thị phần; Italia chiếm 2,48% thị phần; Hồng Kông chiếm 1,24%/năm thị phần; Trung Quốc chiếm 1,11%/năm thị phần; Braxin chiếm 0,93%/năm thị phần; Liên bang Nga chiếm 0,91% thị phần; Xingapo chiếm 0,65%/năm thị phần; Mêhicô chiếm 0,56%/năm thị phần; Thụy Sỹ chiếm 0,55%/năm thị phần Còn lại khoảng 65 thị trường khác kim ngạch xuất rất nhỏ, bình quân chỉ từ vài chục nghìn USD đến dưới 3 triệu USD/năm và thị phần bình quân chỉ chiếm từ 0,02% đến dưới 0,5%/năm

Trang 26

Về thị trường xuất khẩu mặt hàng gốm sứ, bình quân kim ngạch đạt

gần 303 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, với số thị trường xuất khẩu hàng năm khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Đài Loan là thị trường lớn nhất, chiếm thị phần 16,71%/năm trong kim ngạch xuất khẩu chung hàng gốm sứ; thứ 2 là thị trường Nhật Bản chiếm thị phần bình quân 12,38%/năm; thị trường Mỹ đứng thứ 3 chiếm 12,05%/năm; Đức là thị trường thứ 4 chiếm 9,33%/năm; tiếp theo là Pháp chiếm 7,21%/năm; Vương quốc Anh chiếm 4,61%/năm, Hà Lan chiếm 4,2%/năm; Hàn Quốc chiếm 3,86%/năm; Thái Lan chiếm 2,49%/năm; Cămpuchia chiếm 2,07%/ năm; Tây Ban Nha chiếm 1,3%/năm; Italia chiếm 1,82%/năm; Malaixia chiếm 1,48%/năm; Bỉ chiếm 1,44%/năm; Đan Mạch và Canđa cùng chiếm thị phần 1,43%; Thụy Điển chiếm 1,07%/năm; Thụy Sỹ chiếm 1,05%/ năm; Trung Quốc chiếm 0,77%; Liên bang Nga chiếm 0,71%/năm Còn lại khoảng 80 thị trường khác kim ngạch xuất bình quân chỉ từ 10 nghìn USD đến dưới 2 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Về thị trường xuất khẩu mặt hàng mây, tre, cói, lá, kim ngạch đạt

gần 204 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, với số thị trường xuất khẩu hằng năm gần 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Đức là thị trường lớn nhất, chiếm thị phần bình quân 17,58%/năm; thứ 2 là Mỹ bình quân chiếm thị phần 14,94%/năm; thị trường Nhật Bản đứng thứ 3 bình quân chiếm thị phần 11,88%/năm; Pháp là thị trường thứ 4 bình quân chiếm 6,21%/năm; tiếp theo là Tây Ban Nha chiếm 4,87%/năm; Đài Loan chiếm 4,68%/năm, Italia chiếm 4,35%/năm; Vương quốc Anh chiếm 4,05%/năm; Bỉ chiếm 3,65%/năm; Hà Lan chiếm 3,48%/năm; Ôxtrâylia chiếm 2,88%/năm; Hàn Quốc chiếm 2,53%/năm; Ba Lan chiếm 2,17%/ năm; Liên bang Nga chiếm 2,9%/năm; Thụy Điển chiếm 1,71%; Canađa chiếm 1,41%/năm; Đan Mạch chiếm 1,32%/năm; Braxin chiếm 0,8%/năm; Thụy Sỹ chiếm 0,7%/năm; Malaixia chiếm 0,66%/năm; Ấn Độ chiếm 0,62%/năm, Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 0,6%/năm và Trung Quốc chiếm 0,57%/năm Còn lại khoảng 75 thị trường khác kim ngạch xuất chỉ từ 10 nghìn USD đến dưới 1 triệu USD/năm và chiếm thị phần không đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung của mặt hàng mây, tre, cói, lá

Trang 27

Về thị trường xuất khẩu mặt hàng hạt tiêu, kim ngạch xuất đạt bình

quân gần 291 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, với số thị trường xuất khẩu hằng năm khoảng 85 nước và vùng lãnh thổ, trong đó

Mỹ là thị trường lớn nhất, bình quân chiếm thị phần 12,71%/năm; thứ 2 là Đức chiếm thị phần bình quân 10,88%/năm; Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất đứng thứ 3 chiếm bình quân 8,3%/năm; Hà Lan là thị trường thứ 4 chiếm 6,7%/năm; tiếp theo là Ai Cập chiếm 5,63%/năm; Pakixtan chiếm 5,47%/năm, Liên bang Nga chiếm 4,43%/năm; Ấn Độ chiếm 4,35%/năm; Xingapo chiếm 4,27%/năm; Tây Ban Nha chiếm 3,36%; Ba Lan chiếm 3,13%; Ucraina chiếm 2,49%/năm thị phần; Nhật Bản chiếm 2,49%/năm thị phần; Vương quốc Anh chiếm 2,45%/năm; Pháp chiếm 2,11%/năm; Hàn Quốc chiếm 1,79%/năm; Thổ Nhĩ Kỳ chiếm 1,75%/năm; Malaixia chiếm 1,65%; Italia chiếm 1,52%/năm; Philippin chiếm 1,43%/năm; Nam Phi chiếm 1,18%/năm Còn lại khoảng 65 thị trường khác kim ngạch xuất khá nhỏ và rất nhỏ, bình quân chỉ từ 17 nghìn USD đến dưới 1 triệu USD/ năm và chiếm thị phần không đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung hằng năm của mặt hàng hạt tiêu

Ngoài các mặt hàng kể trên, còn khá nhiều mặt hàng khác kim ngạch xuất khẩu bình quân trong 3 năm sau hội nhập WTO cũng khá lớn và được xuất khẩu đến rất nhiều thị trường khác nhau trên thế giới: Mặt hàng rau hoa quả đạt 384 triệu USD/năm hằng năm, được xuất khẩu đến khoảng 90 thị trường khác nhau; mặt hàng sản phẩm chất dẻo, kim ngạch xuất khẩu bình quân 817 triệu USD/năm được xuất khẩu đến hơn 130 nước và vùng lãnh thổ; mặt hàng xe đạp và phụ tùng đạt 85 triệu USD/năm, xuất khẩu đến gần 50 thị trường; dầu mỡ động, thực vật kim ngạch đạt bình quân 74 triệu USD/năm, xuất khẩu đến hơn 20 nước và vùng lãnh; mặt hàng chè bình quân kim ngạch xuất khẩu đạt 153 triệu USD/năm và được xuất đến gần 60 thị trường; sữa và sản phẩm chế biến từ sữa đạt bình quân 47 triệu USD/năm, xuất khẩu đến khoảng 15 thị trường; mặt hàng thiếc kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 35 triệu USD/năm, được xuất khẩu đến gần 10 nước; mặt hàng sơn mài mỹ nghệ, kim ngạch xuất hằng năm khoảng hơn

200 triệu USD, được xuất đến khoảng 30 thị trường khác nhau; mặt hàng thêu hằng năm có kim ngạch xuất khoảng 150 triệu USD, xuất khẩu đến

Trang 28

khoảng 50 thị trường; sản phẩm chế biến từ ngũ cốc, bột, tinh bột hoặc sữa, các loại bánh kim ngạch xuất khẩu hằng năm gần 200 triệu USD và được xuất đến khoảng 80 thị trường khác nhau; mặt hàng thịt chế biến kim ngạch hằng năm khoảng 50 triệu USD, được xuất khẩu đến gần 30 thị trường; sản phẩm bằng sắt thép kim ngạch xuất khẩu hằng năm khoảng

400 triệu USD, được xuất đến hơn 100 thị trường; mặt hàng đồ chơi trẻ

em năm 2007 đạt 35 triệu USD, năm 2008 đạt 111 triệu USD, được xuất khẩu đến hơn 50 thị trường khác nhau trên thế giới…

3.2 NHẬP KHẨU MẶT HÀNG CHỦ YẾU THEO THỊ TRƯỜNG BA NĂM SAU HỘI NHẬP WTO

3.2.1 Thị trường nhập khẩu xăng dầu, mặt hàng kim ngạch lớn nhất

Xăng dầu là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất trong các mặt hàng nhập khẩu chính của nước ta, bình quân đạt gần 8,6 tỷ USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, chiếm bình quân 11,8%/năm trong tổng kim ngạch nhập khẩu chung của nước ta Tuy xăng dầu là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất nhưng số thị trường nhập lại không rộng và chỉ tập trung ở một số thị trường sau:

Đứng đầu thị trường nhập khẩu xăng dầu nước ta là Xingapo, khối lượng nhập khẩu bình quân trong 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 6 triệu tấn/năm, với kim ngạch hơn 3,7 tỷ USD/năm, chiếm tỷ trọng bình quân 44,28%/năm và tăng 14% so với năm 2006 Khối lượng nhập khẩu xăng dầu từ thị trường Xingapo trong ba năm sau hội nhập WTO đang có xu hướng giảm, từ gần 7 triệu tấn trong năm 2007 đã xuống 6,1 triệu tấn năm

2008 và xuống chỉ còn hơn 4,9 triệu tấn trong năm 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu xăng dầu đứng thứ

2 là Đài Loan, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO đạt gần 2,5 triệu tấn/năm, tương ứng với kim ngạch gần 1,8 tỷ USD/năm, chiếm thị phần bình quân 20,91%/năm trong kim ngạch nhập khẩu chung của xăng dầu và tăng 93,8% so với năm 2006 Khối lượng xăng dầu nhập khẩu từ Đài Loan trong 3 năm sau hội nhập WTO cũng có xu hướng giảm, từ 2,8 triệu tấn năm 2007 đã xuống 2,6 triệu tấn năm 2008 và xuống chỉ còn 2 triệu tấn năm 2009

Trang 29

Thị trường nhập khẩu xăng dầu đứng thứ 3 Hàn Quốc, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO nhập hơn 1,3 triệu tấn, tương ứng với kim ngạch

931 triệu USD/năm, chiếm thị phần 11,08%/năm và tăng 79,5% so với năm 2006 Khối lượng xăng dầu nhập khẩu từ Hàn Quốc khá ổn định trong 3 năm sau hội nhập WTO, năm 2007 đạt gần 1,3 triệu tấn, năm 2008

là 1,4 triệu và năm 2009 là 1,3 triệu tấn

Trung Quốc là thị trường nhập khẩu xăng dầu lớn thứ 4, bình quân khối lượng nhập hằng năm sau hội nhập WTO đạt hơn 1,2 triệu tấn, tương ứng với kim ngạch 736,6 triệu USD/năm, chiếm thị phần 8,76%/năm và tăng 32,6% so với năm 2006 Khối lượng xăng dầu nhập khẩu từ Trung Quốc trong 3 năm sau hội nhập WTO có xu hướng giảm mạnh, từ 736 nghìn tấn năm 2007 đã xuống 551 nghìn tấn năm 2008 và xuống chỉ còn

243 nghìn tấn trong năm 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu xăng dầu đứng thứ

5 là Thái Lan, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO nhập gần 728 nghìn tấn, tương ứng với kim ngạch gần 548 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 6,52%/năm và tăng 78,7% so với năm 2006 Khối lượng xăng dầu nhập khẩu từ Thái Lan trong 3 năm sau hội nhập WTO có xu hướng tăng nhưng không ổn định, từ 533 nghìn tấn năm 2006, lên gần 618 nghìn tấn năm 2007, lên gần 881 nghìn tấn năm 2008 nhưng lại xuống còn 685 nghìn tấn trong năm 2009

Hình 3.9 Biểu đồ thị phần 5 thị trường nhập khẩu xăng dầu lớn nhất sau hội nhập WTO

Trên đây là 5 thị trường chính có khối lượng nhập khẩu xăng dầu lớn nhất nước ta, tiếp theo có 3 thị trường có khối lượng nhập khẩu cũng tương đối lớn từ trên 200 nghìn tấn đến dưới 500 nghìn tấn/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO là Malaixia bình quân đạt 482 nghìn tấn/năm, Liên bang Nga đạt 348 nghìn tấn/năm và Nhật Bản 260 nghìn tấn/năm;

Trang 30

một số thị trường còn lại như Hồng Kông, Inđônêxia, Ấn Độ khối lượng nhập rất nhỏ chỉ từ hơn 10 nghìn tấn đến dưới 50 nghìn tấn/năm

3.2.2 Thị trường nhập khẩu sắt thép, mặt hàng kim ngạch đứng thứ 2

Sắt thép là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 2 trong các mặt hàng nhập khẩu chính của nước ta, bình quân đạt hơn 5,8 tỷ USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, chiếm 8,1%/năm trong tổng kim ngạch nhập khẩu chung Hằng năm mặt hàng sắt thép được nước ta nhập khẩu từ trên 50 thị trường khác nhau, dưới đây là tình hình và kết quả nhập khẩu

từ một số thị trường lớn nhất:

Đứng đầu thị trường nhập khẩu sắt thép của nước ta là Trung Quốc, khối lượng nhập khẩu bình quân trong 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 2,8 triệu tấn/năm, với kim ngạch hơn 1,8 tỷ USD/năm, chiếm tỷ trọng 31,48%/năm trong kim ngạch nhập khẩu chung của sắt thép và tăng 39,1%

so với năm 2006 Khối lượng nhập khẩu sắt thép từ thị trường Trung Quốc trong 3 năm sau hội nhập WTO đang có xu hướng giảm rất mạnh, từ gần 4,2 triệu tấn năm 2007 đã xuống gần 2,9 triệu tấn năm 2008 và xuống chỉ còn 1,3 triệu tấn năm 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu sắt thép đứng thứ 2

là Nhật Bản, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO nhập hơn 1,2 triệu tấn, tương ứng với kim ngạch hơn 854 triệu USD/năm, chiếm thị phần kim ngạch nhập khẩu chung 14,67%/năm và tăng 73,2% so với năm 2006 Ngược lại với thị trường Trung Quốc, khối lượng sắt thép nhập khẩu từ Nhật Bản trong 3 năm sau hội nhập WTO đang có xu hướng tăng lên, từ gần 805 nghìn tấn năm 2006 đã lên 1 triệu tấn năm 2007, lên gần 1,3 triệu tấn năm 2008 và lên gần 1,5 triệu tấn trong năm 2009

Thị trường nhập khẩu sắt thép đứng thứ 3 là Đài Loan, bình quân khối lượng nhập hằng năm sau hội nhập WTO đạt 923 nghìn tấn, tương ứng với kim ngạch 681 triệu USD/năm, chiếm thị phần 11,69%/năm và tăng 146,5% so với năm 2006 Tương tự thị trường Nhật Bản, khối lượng sắt thép nhập khẩu từ Đài Loan 3 năm sau hội nhập WTO đang có xu hướng tăng lên rõ rệt, từ 390 nghìn tấn năm 2006 đã lên 749 nghìn tấn năm 2007, lên 850 nghìn tấn năm 2008 và lên gần 1,2 triệu tấn trong năm 2009

Trang 31

Liên bang Nga là thị trường nhập khẩu sắt thép thứ 4, bình quân khối lượng nhập hằng năm sau hội nhập WTO đạt hơn 885 nghìn tấn/năm, tương ứng với kim ngạch là 462,5 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 7,94%/năm và gấp hơn 3 lần so với năm 2006 Khối lượng sắt thép nhập khẩu từ Liên bang Nga trong 3 năm sau hội nhập WTO đã tăng khá ngoạn mục, từ 298 nghìn tấn năm 2007 đã tăng vọt lên 613 nghìn tấn năm

2008 và tiếp tục tăng vọt lên hơn 1,7 triệu tấn trong năm 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu sắt thép đứng thứ 5

là Hàn Quốc, bình quân khối lượng nhập hằng năm sau hội nhập WTO đạt hơn 699 nghìn tấn, tương ứng với kim ngạch gần 530 triệu USD/năm, chiếm thị phần 9,1%/năm và tăng 141% so với năm 2006 Tương tự như thị trường Nga, khối lượng sắt thép nhập khẩu từ Hàn Quốc trong 3 năm sau hội nhập WTO đã tăng ngoạn mục, từ 281 nghìn tấn trong năm 2006, lên gần 335 nghìn tấn năm 2007, tăng vọt lên gần 681 nghìn tấn năm 2008

và tiếp tục tăng vọt lên 1,1 triệu tấn trong năm 2009

Thị trường có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu sắt thép đứng thứ 6

là Malaixia, bình quân hằng năm sau hội nhập WTO nhập 573 nghìn tấn, tương ứng với kim ngạch gần 332 triệu USD/năm, chiếm thị phần 6,9%/ năm và gấp 7,2 lần so với năm 2006 Khối lượng sắt thép nhập khẩu từ Malaixia trong 3 năm sau hội nhập WTO biến động rất thất thường, từ 81 nghìn tấn năm 2006, tăng vọt lên 623 nghìn tấn năm 2007, nhưng lại xuống 369 nghìn tấn năm 2008 và lại tăng vọt lên 726 nghìn tấn tấn trong năm 2009

Trên đây là 6 thị trường chính có khối lượng nhập khẩu sắt thép lớn nhất nước ta, bình quân hằng năm đã đạt từ trên 500 nghìn tấn đến gần

3 triệu tấn/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO Tiếp theo, đạt khối lượng nhập khẩu từ trên 100 nghìn tấn/năm đến dưới 500 nghìn tấn/năm có 5 thị trường là Thái Lan đạt bình quân 295 nghìn tấn/năm, Ucraina đạt gần 156 nghìn tấn/năm, Inđônêxia đạt 115 nghìn tấn/năm,

Ấn Độ đạt gần 107 nghìn tấn/năm và Ôxtrâylia đạt 106 nghìn tấn/năm Đạt bình quân từ 50 nghìn tấn/năm đến dưới 100 nghìn tấn/năm có 3 thị trường là Mỹ đạt 84 nghìn tấn/năm, Xingapo đạt 64 nghìn tấn/năm và Nam Phi 50 nghìn tấn/năm Đạt bình quân từ 10 đến dưới 50 nghìn

Trang 32

tấn/năm có 10 thị trường là Cadăcxtan, Braxin, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức, Philippin, Bỉ, Hồng Kông, Hà Lan, Pháp và Niu Dilân

Hình 3.10 Biểu đồ thị phần 6 thị trường nhập khẩu sắt thép lớn nhất sau hội nhập WTO

3.2.3 Thị trường nhập khẩu vải, mặt hàng kim ngạch đứng thứ 3

Vải các loại là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 3 trong các mặt hàng nhập khẩu chính của nước ta, bình quân đạt hơn 4,2 tỷ USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, chiếm bình quân 6%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung Hằng năm mặt hàng vải các loại được nhập khẩu từ trên 75 thị trường khác nhau:

Đứng đầu thị trường nhập khẩu mặt hàng vải các loại của nước ta là Trung Quốc, kim ngạch nhập bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 1,5 tỷ USD/năm, chiếm thị phần bình quân 35,18%/năm và tăng 76,4% so với năm 2006 Kim ngạch nhập khẩu vải các loại từ thị trường Trung Quốc trong 3 năm sau hội nhập WTO có xu hướng tăng mạnh, từ 843 triệu USD năm 2006 lên hơn 1,3 tỷ USD năm 2007, lên hơn 1,5 tỷ USD năm

2008 và đạt gần 1,7 tỷ USD trong năm 2009

Thị trường có kim ngạch nhập khẩu mặt hàng vải các loại đứng thứ hai là Hàn Quốc, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 882 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 22,68%/năm và tăng 41,1% so với năm 2006 Nhập khẩu vải các loại từ thị trường Hàn Quốc 3 năm sau hội nhập WTO cũng có xu hướng tăng khá mạnh, từ kim ngạch nhập 624 triệu USD năm 2006 lên hơn 817 triệu USD năm 2007, lên hơn 892 triệu USD năm 2008 và lên hơn 938 triệu USD trong năm 2009

Thị trường có kim ngạch nhập khẩu vải các loại đứng thứ 3 là Đài Loan, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 799 triệu USD/năm,

Trang 33

chiếm thị phần bình quân 18,91%/năm và tăng 30,1% so với năm 2006 Nhập khẩu mặt hàng vải các loại từ thị trường Đài Loan cũng có xu hướng tăng nhưng chưa bền vững, từ kim ngạch 614 triệu USD năm 2006 lên 748 triệu USD năm 2007, lên hơn 863 triệu USD năm 2008 nhưng lại giảm xuống chỉ đạt gần 786 triệu USD trong năm 2009

Đặc khu hành chính Hồng Kông - Trung Quốc là thị trường nhập khẩu mặt hàng vải các loại thứ 4, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 361 triệu USD/năm, chiếm thị phần 8,54%/năm và tăng 54,3% so với năm 2006 Tương tự như thị trường Đài Loan, nhập khẩu mặt hàng vải từ Hồng Kông cũng có xu hướng tăng nhưng chưa liên tục, từ kim ngạch 234 triệu USD năm 2006 lên hơn 396 triệu USD năm 2007, lên gần 426 triệu USD năm 2008 nhưng lại xuống chỉ đạt 260 triệu USD trong năm 2009 Nhật Bản là thị trường nhập khẩu vải các loại thứ 5, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO kim ngạch đạt hơn 338 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 7,99%/năm và tăng 2,8% so với năm 2006 Nhập khẩu vải từ thị trường Nhật Bản khá ổn định với kim ngạch đạt trong khoảng từ 320 đến

355 triệu USD/năm, cụ thể năm 2006 nhập 329 triệu USD, năm 2007 nhập hơn 324 triệu USD, năm 2008 nhập 355 triệu USD và năm 2009 nhập 334 triệu USD

Trên đây là 5 thị trường chính có kim ngạch nhập khẩu vải các loại lớn nhất nước ta, hằng năm đạt từ 300 triệu USD trở lên, các thị trường tiếp theo đều có kim ngạch tương đối nhỏ, từ dưới 100 triệu USD trở xuống Ở mức kim ngạch bình quân từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm chỉ có thị trường Thái Lan đạt 78,5 triệu USD/năm; đạt kim ngạch bình quân từ 10 triệu đến dưới 50 triệu USD/năm có 9 thị trường lần lượt từ lớn đến nhỏ là Malaixia, Italia, Inđônêxia, Đức, Ấn Độ, Mỹ, Xingapo, Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ; bình quân đạt từ 5 triệu USD đến dưới 10 triệu USD/năm có 3 thị trường là Đan Mạch, Bồ Đào Nha và Vương quốc Anh; bình quân đạt từ 1 triệu USD đến dưới 5 triệu USD/năm có 11 thị trường lần lượt từ lớn đến nhỏ là Látvia, Bỉ, Cămpuchia, Philippin, Thụy

Sỹ, Canađa, Thụy Điển, Ôxtrâylia, Tây Ban Nha, Hà Lan và Áo Số thị trường có kim ngạch nhập khẩu vải các loại chỉ đạt dưới 1 triệu USD/năm chiếm khá lớn với khoảng 45 nước và vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó

Trang 34

có rất nhiều thị trường bình quân chỉ đạt từ 10 nghìn USD đến 20 nghìn USD/năm

Hình 3.11 Biểu đồ thị phần 5 thị trường nhập khẩu vải các loại

lớn nhất sau hội nhập WTO

3.2.4 Thị trường nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện, mặt hàng kim ngạch đứng thứ 4

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 4 trong các mặt hàng nhập khẩu chính nước ta, bình quân đạt hơn 3,5 tỷ USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO, chiếm bình quân 5%/năm trong tổng kim ngạch nhập khẩu chung Hằng năm mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện được nhập khẩu từ hơn 70 thị trường khác nhau trên thế giới:

Đứng đầu thị trường nhập khẩu mặt hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện của nước ta là Trung Quốc, kim ngạch bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 868 triệu USD/năm, chiếm thị phần 24,51%/năm và tăng gấp 4 lần so với năm 2006 Nhập khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện từ thị trường Trung Quốc trong 3 năm sau hội nhập WTO đã tăng mạnh, từ kim ngạch 214 triệu USD năm 2006 đã lên 485 triệu USD năm 2007, lên hơn

654 triệu USD năm 2008 và tăng vọt lên gần 1,5 tỷ USD trong năm 2009 Thị trường có kim ngạch nhập khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đứng thứ 2 là Nhật Bản, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 774 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 21,84%/năm và tăng 55,8% so với năm 2006 Nhập khẩu hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện từ thị trường Nhật Bản 3 năm sau hội nhập WTO cũng có xu hướng tăng nhưng chưa liên tục, từ 497 triệu USD năm 2006 lên 553 triệu USD năm 2007, lên 929 triệu USD năm 2008 nhưng lại xuống hơn 839 triệu USD năm 2009

Trang 35

Thị trường có kim ngạch nhập khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện đứng thứ ba là Xingapo, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần

609 triệu USD/năm, chiếm thị phần 17,19%/năm và tăng 17,6% so với năm 2006 Nhập khẩu hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện từ thị trường Xingapo 3 năm sau hội nhập WTO cũng chưa ổn định, từ kim ngạch 774 triệu USD năm 2007 lên 815 triệu USD năm 2008 nhưng lại tụt xuống rất mạnh chỉ còn 278 triệu USD trong năm 2009

Hình 3.12 Biểu đồ thị phần 6 thị trường nhập khẩu máy tính,

sản phẩm điện tử và linh kiện lớn nhất sau hội nhập WTO

Trên đây là 3 thị trường chính có kim ngạch nhập khẩu hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện lớn nhất nước ta, các thị trường còn lại có khoảng cách khá xa so với 3 thị trường này, trong đó lớn nhất là Hồng Kông kim ngạch chỉ đạt bình quân 211 triệu USD/năm, tiếp đến là Hàn Quốc đạt bình quân 198 triệu USD/năm, Đài Loan đạt bình quân 196 triệu USD/năm, Malaixia bình quân 148 triệu USD/năm, Mỹ bình quân 105 triệu USD/năm trong 3 năm hội nhập WTO Nhóm đạt kim ngạch bình quân từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm có 2 thị trường là Thái Lan

và Inđônêxia; nhóm có kim ngạch bình quân từ 10 triệu USD đến dưới 50 triệu USD/năm có 4 thị trường là Đức, Philippin, Thụy Sỹ và Italia; đạt bình quân từ 5 triệu USD đến dưới 10 triệu USD/năm có 3 thị trường là Đan Mạch, Pháp và Vương quốc Anh; bình quân đạt từ 1 triệu USD đến dưới 5 triệu USD/năm có 9 thị trường lần lượt từ lớn đến nhỏ là Ba Lan, Canađa, Ấn Độ, Thụy Điển, Hà Lan, Tây Ban Nha, Ốxtrâylia, Phần Lan

và Ucraina Số thị trường kim ngạch nhập khẩu hàng điện tử, máy tính và linh kiện bình quân chỉ đạt dưới 1 triệu USD/năm chiếm khá lớn, gần 45 nước và vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó có nhiều thị trường kim ngạch chỉ đạt từ 10 - 20 nghìn USD/năm, chiếm thị phần trong tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này không đáng kể trong 3 năm hội nhập WTO

Trang 36

3.2.5 Thị trường nhập khẩu chất dẻo, mặt hàng kim ngạch thứ 5

Chất dẻo nguyên liệu là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 5 trong các mặt hàng nhập khẩu chính nước ta, bình quân đạt gần 2,8 tỷ USD/năm trong 3 năm hội nhập WTO, chiếm bình quân 3,9%/năm trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung; hằng năm mặt hàng chất dẻo nguyên liệu được nước ta nhập khẩu từ hơn 65 thị trường khác nhau

Đứng đầu thị trường nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu của nước ta là Đài Loan, kim ngạch bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 487 triệu USD/năm, chiếm thị phần bình quân 17,61%/năm và tăng 48% so với năm

2006 Nhập khẩu chất dẻo từ thị trường Đài Loan trong 3 năm sau hội nhập WTO có xu hướng tăng nhưng bị chững lại trong năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế chung tác động, từ kim ngạch 329 triệu USD năm 2006 lên 460 triệu USD năm 2007, lên 545 triệu USD năm 2008 nhưng lại xuống hơn 455 triệu USD trong năm 2009 Thị trường có kim ngạch nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu thứ 2 là Hàn Quốc, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 447 triệu USD/năm, chiếm thị phần 16,7%/năm và tăng 73,1% so với năm 2006 Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường Hàn Quốc 3 năm sau hội nhập WTO có

xu hướng tăng khá rõ rệt, từ kim ngạch 258 triệu USD năm 2006 lên 351 triệu USD năm 2007, lên 478 triệu USD năm 2008 và lên gần 516 triệu USD trong năm 2009

Thái Lan là thị trường có kim ngạch nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đứng thứ 3, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 360 triệu USD/năm, chiếm thị phần 13,03%/năm và tăng 25,9% so với năm 2006 Nhập khẩu chất dẻo từ thị trường Thái Lan 3 năm sau hội nhập WTO cũng

có xu hướng tăng nhưng bị chững lại trong năm 2009, từ kim ngạch 286 triệu USD năm 2006 lên 328 triệu USD năm 2007, lên 422 triệu năm 2008 nhưng lại xuống còn hơn 330 triệu USD trong năm 2009

Xingapo là thị trường có kim ngạch nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu đứng thứ 4, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt hơn 327 triệu USD/năm, chiếm thị phần 11,83%/năm và tăng 20,2% so với năm 2006 Nhập khẩu chất dẻo từ thị trường Xingapo 3 năm sau hội nhập WTO đã có

Trang 37

xu hướng giảm, từ kim ngạch 404 triệu USD năm 2007 xuống 374 triệu USD năm 2008 và xuống chỉ còn hơn 202 triệu USD trong năm 2009

Hình 3.13 Biểu đồ thị phần 8 thị trường nhập khẩu chất dẻo

lớn nhất sau hội nhập WTO

Trên đây là 4 thị trường chính, có kim ngạch nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu lớn nhất nước ta, các thị trường còn lại kim ngạch chỉ đạt dưới

200 triệu USD/năm Trong đó đạt từ 100 triệu đến dưới 200 triệu USD/năm có 5 thị trường là Nhật Bản đạt bình quân 194,4 triệu USD/năm, tiếp đến là Malaixia bình quân đạt 167 triệu USD/năm, Ảrập Xêút bình quân đạt hơn 158 triệu USD/năm, Mỹ bình quân đạt 143 triệu USD/năm

và Trung Quốc bình quân đạt 118,4 triệu USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO Nhóm kim ngạch bình quân đạt từ 50 triệu đến dưới 100 triệu USD/năm có 2 thị trường là Ấn Độ và Hồng Kông; nhóm có kim ngạch bình quân đạt từ 10 triệu đến dưới 50 triệu USD/năm có 7 thị trường là Inđônêxia, Đức, Các Tiểu Vương quốc Ảrập Thống nhất, Cô Oét, Philippin, Hà Lan và Bỉ; bình quân đạt từ 5 triệu USD đến dưới 10 triệu USD/năm có 6 thị trường là Italia, Canađa, Braxin, Pháp, Quata và Ôxtrâylia; bình quân đạt từ 1 triệu đến dưới 5 triệu USD/năm có 6 thị trường lần lượt từ lớn đến nhỏ là Tây Ban Nha, Vương quốc Anh, Thụy Điển, Nam Phi, Áo và Thụy Sỹ Số thị trường nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu kim ngạch bình quân chỉ đạt dưới 1 triệu USD/năm còn khoảng 35 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều thị trường chỉ đạt bình quân từ

20 - 50 nghìn USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Trang 38

3.2.6 Thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may da giày, mặt hàng kim ngạch thứ 6

Nguyên phụ liệu dệt may, da giày là mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 6 trong các mặt hàng nhập khẩu chính nước ta, bình quân đạt hơn 2,1 tỷ USD/năm trong 3 năm hội nhập WTO, chiếm 3%/năm trong tổng kim ngạch nhập khẩu chung Hằng năm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da giày nước ta được nhập khẩu từ hơn 65 thị trường khác nhau: Đứng đầu thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày nước ta là Hàn Quốc, kim ngạch bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt

339 triệu USD/năm, chiếm thị phần 15,81%/năm và tăng 47,6% so với năm 2006 Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày từ thị trường Hàn Quốc trong 3 năm sau hội nhập WTO có xu hướng tăng nhưng bị chững lại trong năm 2009, từ kim ngạch 230 triệu USD năm 2006 lên 232 triệu USD năm 2007, lên 402 triệu USD năm 2008 nhưng lại xuống còn gần

384 triệu USD trong năm 2009

Thị trường có kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày thứ 2 là Trung Quốc, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt gần 334 triệu USD/năm, chiếm thị phần 15,55%/năm và tăng 61,1% so với năm

2006 Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày từ thị trường Trung Quốc sau 3 năm hội nhập WTO có xu hướng tăng rõ rệt, từ kim ngạch 207 triệu USD năm 2006 lên 233 triệu USD năm 2007, lên 361 triệu USD năm

2008 và lên hơn 407 triệu USD trong năm 2009

Đài Loan là thị trường có kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày đứng thứ 3, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 310 triệu USD/năm, chiếm thị phần 14,44%/năm và tăng 11,7% so với năm

2006 Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may da giày từ thị trường Đài Loan

3 năm sau hội nhập WTO không ổn định, kim ngạch từ 278 triệu USD năm 2006 xuống 98 triệu USD năm 2007, lên 465 triệu năm 2008 nhưng lại xuống 367 triệu USD năm 2009

Hồng Kông là thị trường có kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày đứng thứ 4, bình quân 3 năm sau hội nhập WTO đạt 206 triệu USD/năm, chiếm thị phần 9,48%/năm và tăng 1% so với năm 2006

Trang 39

Nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may da giày từ thị trường Hồng Kông 3 năm sau hội nhập WTO cũng không ổn định, từ kim ngạch 201 triệu USD năm 2006 xuống 181 triệu USD năm 2007 lại lên 285 triệu USD năm

2008 và lại xuống chỉ còn hơn 144 triệu USD trong năm 2009

Trên đây là 4 thị trường chính có kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may da giày lớn nhất nước ta, bình quân hàng năm đạt kim ngạch

từ 200 triệu USD/năm trở lên, các thị trường còn lại kim ngạch nhập khẩu bình quân chỉ đạt dưới 100 triệu USD/năm Trong đó đạt từ 50 triệu USD đến dưới 100 triệu USD/năm có 4 thị trường là Mỹ đạt bình quân 98 triệu USD/năm, Nhật Bản bình quân đạt 97 triệu USD/năm, Thái Lan bình quân đạt hơn 87 triệu USD/năm và Braxin đạt 70 triệu USD/năm trong 3 năm hội nhập WTO Nhóm đạt kim ngạch bình quân từ 10 triệu đến dưới 50 triệu USD/năm có 8 thị trường là Italia, Ấn Độ, Đức, Áchentina, Inđônêxia, Ôxtrâylia, Canađa và Vương quốc Anh; nhóm có kim ngạch bình quân từ 5 triệu USD đến dưới 10 triệu USD/năm gồm 3 thị trường là Malaixia, Pháp và Niu Zilân; nhóm kim ngạch bình quân đạt từ 1 triệu USD đến dưới 5 triệu USD/năm có 10 thị trường là Xingapo, Tây Ban Nha, Áo, Đan Mạch, Philippin, Hà Lan, Thổ Nhĩ kỳ, Bồ Đào Nha, Thụy Điển và Látvia Số thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may da giày bình quân kim ngạch chỉ đạt dưới 1 triệu USD/năm còn khoảng 35 nước

và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều thị trường chỉ đạt từ trên 10 - 50 nghìn USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO

Hình 3.14 Biểu đồ thị phần 7 thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu

dệt may da giày lớn nhất sau hội nhập WTO

Trang 40

3.2.7 Thị trường nhập khẩu một số mặt hàng lớn khác 3 năm sau hội nhập WTO

Ngoài 6 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu bình quân trên 2 tỷ USD/năm trở lên ở trên, còn có một số mặt hàng khác như hóa chất; phân bón; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; ôtô nguyên chiếc; dược phẩm; nguyên liệu dược phẩm; dầu mỡ động thực vật; sữa và sản phẩm sữa; xe máy; linh kiện xe máy; bông xơ; sợi dệt; thức ăn gia súc và nguyên liệu thức ăn gia súc… cũng có kim ngạch nhập khẩu khá lớn, bình quân từ đạt hàng trăm triệu USD/năm đến trên 1 tỷ USD/năm trong 3 năm sau hội nhập WTO; thị trường nhập khẩu của các mặt hàng này cũng rất rộng, từ vài chục đến hàng trăm quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới

Về thị trường nhập khẩu hóa chất, một thành viên của nhóm có kim

ngạch nhập khẩu hàng năm trên 1 tỷ USD và bình quân trong 3 năm hội nhập WTO đạt gần 1,7 tỷ USD/năm, có số thị trường nhập khẩu gần 70 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Đài Loan là thị trường lớn nhất, chiếm thị phần bình quân 23,92%/năm; thứ 2 là Trung Quốc chiếm thị phần bình quân 23,90%/năm; tiếp đến là Xingapo chiếm thị phần bình quân 8,38%/ năm; Nhật Bản chiếm thị phần bình quân 7,92%/năm; Hàn Quốc chiếm thị phần bình quân 6,83%/năm; Malaixia chiếm bình quân 6,72%/năm, Thái Lan chiếm bình quân 4,98%/năm; Inđônêxia chiếm bình quân 3,88%/năm;

Mỹ chiếm bình quân 2,46%/năm; Ấn Độ chiếm bình quân 2,13%/năm; Đức chiếm bình quân 1,54%/năm; Bỉ chiếm bình quân 1,29%/năm

Các thị trường có thị phần nhập khẩu chiếm bình quân từ 0,5% đến dưới 1%/năm gồm 3 thị trường lần lượt từ trên xuống là Hồng Kông, Pháp

và Ôxtrâylia

Các thị trường chiếm thị phần bình quân từ 0,2% đến dưới 0,5%/năm lần lượt là Hà Lan, Italia, Liên bang Nga, Braxin và Vương quốc Anh Ngoài ra còn khoảng 50 thị trường khác kim ngạch rất nhỏ, chỉ đạt bình quân từ trên 10 nghìn USD/năm đến dưới 2,6 triệu USD/năm và chiếm thị phần không đáng kể trong kim ngạch nhập khẩu chung hằng năm của mặt hàng hóa chất trong 3 năm sau hội nhập WTO

Về thị trường nhập khẩu sản phẩm hóa chất, cũng là thành viên của

nhóm có kim ngạch nhập khẩu hằng năm trên 1 tỷ USD và bình quân

Ngày đăng: 05/11/2020, 09:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w