1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập kinh tế quốc tế: Phần 1

150 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng những số liệu mới nhất về kết quả xuất nhập khẩu của Việt Nam trong hơn ba năm qua, chi tiết tới những mặt hàng quan trọng, thị trường và bạn hàng chủ yếu, cuốn sách “Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập WTO” không chỉ đưa ra các số liệu mà còn có những phân tích đánh giá khách quan, logic, khoa học về những ưu, nhược điểm của ngoại thương Việt Nam sau hơn ba năm gia nhập WTO. Nội dung sách gồm có 4 chương và được chia thành 2 phần ebook, Mời các bạn cùng tham khảo phần 1 ebook Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập WTO sau đây.

Trang 1

XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

SAU HỘI NHẬP WTO

Trang 3

BỘ CÔNG THƯƠNG

XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

SAU HỘI NHẬP WTO

(BỘ SÁCH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ)

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG

HÀ NỘI 2010

Trang 4

Mã số:HN04ĐH10

Trang 5

L ỜI NÓI ĐẦU

Ngày 11 tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ

150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là một thời điểm rất đáng ghi nhớ của Việt Nam sau 12 năm kiên trì tiếp xúc, đàm phán để gia nhập WTO

Sự kiện này đã đánh dấu một bước tiến mới của Việt Nam trên đường hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới

Việc trở thành thành viên tổ chức WTO không chỉ mang lại những cơ hội thuận lợi mà cả những thách thức đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Từ

đó tới nay đã hơn ba năm, thời gian chưa phải là dài nhưng cũng đủ để nhìn lại, phân tích, suy ngẫm và rút ra bài học cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Với tinh thần đó, Nhà xuất bản Công Thương đã tổ chức biên soạn cuốn

“Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập WTO” Bằng những số liệu mới

nhất về kết quả xuất nhập khẩu của Việt Nam trong hơn ba năm qua, chi tiết tới những mặt hàng quan trọng, thị trường và bạn hàng chủ yếu, cuốn sách “Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập WTO” không chỉ đưa ra các số liệu mà còn có những phân tích đánh giá khách quan, logic, khoa học về những ưu, nhược điểm của ngoại thương Việt Nam sau hơn ba năm gia nhập WTO Đây là cuốn sách duy nhất đến thời điểm này tập hợp đầy đủ số liệu và có những phân tích đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu từ khi gia nhập WTO đến nay

Cuốn sách gồm bốn chương:

Chương 1: Tổng quan xuất nhập khẩu Việt Nam thời kỳ mở cửa trước hội

nhập WTO 1986-2006

Chương 2: Thực trạng xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam ba

năm sau hội nhập WTO

Trang 6

Chương 3: Mặt hàng và thị trường xuất nhập khẩu chủ yếu ba năm sau hội

nhập WTO

Chương 4: Kết quả xuất nhập khẩu với nước bạn lớn, bạn hàng lớn ba năm

sau hội nhập WTO

Với những nội dung trên, Nhà xuất bản Công Thương hy vọng cuốn sách

Xuất nhập khẩu Việt Nam sau hội nhập WTO không chỉ là tài liệu quý đối với

các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu kinh tế mà còn rất hữu ích đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và những độc giả quan tâm Trong quá trình thực hiện khó tránh khỏi những sơ suất, Nhà xuất bản Công Thương mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để hoàn thiện cuốn sách trong những lần tái bản

tiếp theo

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về:

Nhà xuất bản Công Thương

Địa chỉ: 46 Ngô Quyền, Hà Nội

Điện thoại: 04- 3826 0835 Email: nxbct@moit.gov.vn

NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG

Trang 7

đã phát triển mạnh mẽ cả về qui mô thị trường, số lượng mặt hàng cũng như kim ngạch xuất và nhập khẩu trong thời kỳ đổi mới, mở cửa khá dài trước hội nhập WTO từ năm 1986 đến năm 2006 Trong quá trình chuẩn

bị ra sân chơi toàn thế giới, thương mại Việt Nam cũng đã từng bước vươn

ra tham gia các sân chơi có tính chất khu vực với phạm vi khác nhau, như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN năm 1995); Diễn đàn kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC năm 1998); bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Mỹ và trở thành quan sát viên của WTO từ năm 1995, ký kết Hiệp định thương mại với 61 nước, trong đó có Mỹ (tháng 7 năm 2000)… đã tạo đà phát triển mạnh mẽ và là những bước đệm quan trọng trước khi chính thức gia nhập WTO

1.1 QUAN HỆ NGOẠI THƯƠNG PHÁT TRIỂN MẠNH THỜI KỲ

MỞ CỬA TRƯỚC HỘI NHẬP WTO

Ngoại thương Việt Nam trong một thời kỳ bao cấp khá dài chủ yếu chỉ tập trung quan hệ ở trong phạm vi các nước xã hội chủ nghĩa (khu vực I) mà Liên Xô và các nước Đông Âu có vị trí quan trọng nhất Nhưng từ khi có đường lối đổi mới phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với đường lối đối ngoại mở cửa, đa phương hóa,

đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế thì hoạt động xuất nhập khẩu

Trang 8

nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu

Từ số nước có quan hệ thương mại với Việt Nam là 40 nước, trong đó

33 nước có quan hệ xuất khẩu và 33 nước có quan hệ nhập khẩu trong năm 1985 Khi thực hiện sự nghiệp đổi mới, mở cửa chuyển nền kinh tế từ

cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được đánh dấu bằng Nghị quyết của Đại hội lần thứ VI của Đảng vào cuối năm 1986 đã lên 56 nước trong năm 1990, rồi tăng rất nhanh lên 100 nước trong năm 1995, lên

142 nước trong năm 1996 Chỉ sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới,

mở cửa thị trường xuất nhập khẩu nước ta đã gấp hơn 3 lần so với năm

1985 Hàng hoá Việt Nam đã xuất khẩu đến 132 nước trên thế giới (tăng gấp hơn 4 lần sau 10 năm đổi mới, mở cửa) Tương tự, thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng từ 33 nước trong năm 1985 đã lên 110 nước trong năm 1996, sau 10 năm đổi mới, mở cửa hàng hóa của nước ta

đã có mặt tại 110 nước khác nhau (gấp hơn 3 lần so với 10 năm trước đó)

Có thể thấy, thời điểm khó khăn nhất về thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong những năm đầu đổi mới, mở cửa trước khi chính thức hội nhập WTO là vào năm 1991, khi toàn bộ thị trường truyền thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô bị mất đi một cách chóng vánh đã làm cho hoạt động xuất nhập khẩu nước ta rơi vào tình trạng hụt hẫng rất lớn Tổng mức lưu chuyển ngoại thương từ mức gần 5,2

tỷ USD, trong đó xuất khẩu hơn 2,4 tỷ USD (bình quân 36,6 USD/người), kim ngạch nhập khẩu gần 2,8 tỷ USD trong năm 1990 đã xuống chỉ còn hơn 4,4 tỷ USD về tổng mức lưu chuyển, trong đó hơn 2 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, bình quân chỉ còn 31,2 USD/người và kim ngạch nhập khẩu chỉ còn hơn 2,3 tỷ USD với các tỷ lệ đã giảm tương ứng so với năm

1990 lần lượt là: -14,2%, -13,2%, -14,9% và -15% Có thể nói đây là một

“cú sốc” rất lớn đối với thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam trong năm 1991 Sở dĩ chúng ta bị sốc mạnh từ sự kiện các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu và Liên Xô tan rã là do chúng ta đã có một thời gian rất dài lệ thuộc quá lớn vào các thị trường truyền thống này Tuy nhiên, từ đây cũng cho chúng ta thấy, trong “cái khó lại ló cái khôn” của Việt Nam và nhờ có đường lối đối ngoại đổi mới, mở cửa, đa phương hóa,

đa dạng hóa các quan hệ kinh tế quốc tế đúng đắn của Đảng, nên chỉ trong

Trang 9

một thời gian rất ngắn sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan

rã chúng ta đã không những chỉ tìm được thị trường xuất nhập khẩu thay thế mà còn mở rộng, phát triển với số lượng thị trường lớn hơn rất nhiều:

từ số nước có quan hệ ngoại thương với nước ta là 57 nước, trong đó có 51 nước xuất khẩu, 42 nước nhập khẩu năm 1991 đến năm 1995 đã tăng gần hai lần với 100 nước có quan hệ trong đó 97 nước xuất khẩu, 72 nước nhập khẩu, trong khi đó gần như toàn bộ thị trường truyền thống Đông Âu

và Liên Xô đã bị mất

Khu vực thị trường xuất nhập khẩu mà Việt Nam đã tìm được để thay thế cho các thị trường truyền thống Đông Âu và Liên Xô bị mất đi trong giai đoạn 1991 - 1995 chủ yếu là các thị trường trong khu vực Đông Nam

Á và Đông Á Điều đó đã được thể hiện ở sự thay đổi về thị phần kim ngạch xuất nhập khẩu của các khu vực thị trường này, trong khi tỷ trọng của khu vực Đông Âu từ chiếm 58% trong giai đoạn 1986 - 1990 đã xuống chỉ còn 5,4% trong giai đoạn từ 1991 - 1995 thì tỷ trọng của các nước khu vực Đông Nam Á đã từ chiếm 7,4% lên 27%; khu vực Đông Á từ chiếm 12,9% lên 43,2% Ngoài ra, tỷ trọng của một số khu vực thị trường khác

xa hơn cũng đã có những chuyển biến ban đầu khả quan, như tỷ trọng của khu vực thị trường Tây Âu đã từ chiếm 6,6% lên 8,7%; Bắc Âu từ 0,4% lên 1,6%; Nam Âu từ 0,3% lên 0,7%; châu Mỹ từ chiếm 0,6% lên 1,9%; châu Đại Dương, mà chủ yếu là Ôxtrâylia và Niu Dilân từ chiếm 0,3% lên 1,1% cũng trong giai đoạn này

Giai đoạn 5 năm tiếp theo 1996 - 2000, tỷ trọng khu vực thị trường truyền thống Đông Âu tiếp tục thu hẹp và chỉ còn chiếm 2,4%, trong khi khu vực Đông Á vẫn giữ vững là một khu vực thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất nước ta với tỷ trọng chiếm 43,8%; khu vực Đông Nam Á tuy có bị giảm sút, nhưng vẫn là khu vực thị trường xuất nhập khẩu hàng hóa lớn thứ hai nước ta, với thị phần giai đoạn này là 23,5% Ngoài hai khu vực thị trường lớn nhất như trên, một số khu vực thị trường khác cũng được mở rộng và phát triển với tốc độ khá nhanh như khu vực Tây Âu từ chiếm 8,7% trong giai đoạn 1991 - 1995 đã lên 11,1% trong 5 năm từ 1996 - 2000; Bắc

Âu từ 1,6% lên 3%; Nam Âu từ 0,7% lên 1,7%; thị trường châu Mỹ từ 1,9% lên chiếm 4,4%; châu Đại Dương từ 1,1% lên 3,8%

Trang 10

Giai đoạn trước thềm Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ

150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 2001 - 2006, tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện sự phân chia lại

tỷ trọng thị trường, trong khi khu vực các thị trường lớn Đông Á, Đông Nam Á và Tây Âu có dấu hiệu bị co lại thì thị phần thị trường khu vực châu Mỹ mà chủ yếu là Bắc Mỹ và tỷ trọng thị trường châu Đại Dương đã vươn ra chiếm lĩnh khá mạnh mẽ

Bảng 1.1 TỶ TRỌNG MỨC LƯU CHUYỂN NGOẠI THƯƠNG THEO CHÂU LỤC VÀ KHU VỰC THỊ TRƯỜNG QUA MỘT SỐ GIAI ĐOẠN

Châu Đại Dương 0,3 1,1 3,8 4,9

Nguồn: Tổng cục Thống kê

1.2 KẾT QUẢ XUẤT NHẬP KHẨU TĂNG TRƯỞNG CAO TRONG

1.2.1 Về tổng mức lưu chuyển ngoại thương sau mở cửa

Đường lối đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước ta đã đem lại những kết quả kỳ diệu cho sự phát triển kinh tế nói chung và lĩnh vực xuất nhập khẩu nói riêng ở nước ta trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO (1986 - 2006) Tổng mức lưu chuyển ngoại thương đến năm

2006, năm trước thềm của thời kỳ hội nhập WTO đã đạt 84,7 tỷ USD gấp gần 30 lần so với năm 1986 là năm bắt đầu có đường lối đổi mới mở cửa

Trang 11

và tốc độ tăng trưởng mức lưu chuyển ngoại thương bình quân mỗi năm trong cả thời kỳ này đã đạt 1,5 lần/năm Tổng mức lưu chuyển ngoại thương từ bình quân 3,9 tỷ USD/năm trong giai đoạn 1986 - 1990 đã lên gần 8 tỷ USD/năm giai đoạn 1991 - 1995, tăng hơn 2 lần so với giai đoạn

1986 - 1990 Nếu như tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 1986 -

1990 mới chỉ đạt 15,1%/năm thì giai đoạn 1991 - 1995 đã lên bình quân tăng 23,4%/năm Tổng mức lưu chuyển ngoại thương bình quân giai đoạn

1996 - 2000 đã lên 22,7 tỷ USD/năm, gấp gần 3 lần so với giai đoạn

1991 - 1995, gấp hơn 6 lần so với giai đoạn 1986 - 1990 Đây là những con số kỳ diệu và các tốc độ tăng trưởng ngoạn mục về ngoại thương trong

20 năm đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO của Việt Nam

Có thể thấy tốc độ tăng trưởng tổng mức lưu chuyển ngoại thương giai đoạn 1996 - 2000 của thời kỳ 20 năm mở cửa trước hội nhập WTO lại chững lại, chỉ còn tăng 17,9%/năm, thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng của giai đoạn trước là có nguyên nhân khách quan do tác động khá mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Đông Á đã nổ ra ở đầu giai đoạn này

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương giai đoạn trước thềm chính thức hội nhập WTO 2001 - 2006 đã đạt 54,2 tỷ USD/năm, gấp 2,4 lần giai đoạn

1996 - 2000, gấp 6,8 lần giai đoạn 1991 - 1995 và gấp hơn 13,7 lần giai đoạn 1986 - 1990 Tốc độ tăng trưởng bình quân năm giai đoạn 2001 -

2006 đạt 19,1%/năm, thấp hơn giai đoạn 1991 - 1995 nhưng đã cao hơn các giai đoạn 1986 - 1990 và giai đoạn 1996 - 2000

Như vậy chính giai đoạn 1991 - 1995 tưởng chừng sẽ là giai đoạn gặp khó khăn nhất cho hoạt động xuất nhập khẩu nước ta (vì khi mới bắt đầu bước vào đầu giai đoạn này toàn bộ thị trường truyền thống Đông Âu và Liên Xô gần như đã bị mất hết) thì lại là giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong thời kỳ đổi mới, mở cửa trước hội nhập WTO của nước ta Phải chăng chính từ bước hụt hẫng và sốc mạnh năm 1991 đã thúc ép chúng ta phải nhanh chóng đi tìm thị trường thay thế và từ đó một điều kỳ diệu đã đến là chúng ta không những đã nhanh chóng tìm được thị trường

Trang 12

xuất nhập khẩu thay thế mà còn mở rộng và đạt tốc độ tăng trưởng ngoạn mục nhất

Hình 1.1

1.2.2 Kim ngạch xuất khẩu thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

Đến năm 2006 trước thềm chính thức hội nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu nước ta đã đạt gần 40 tỷ USD, gấp hơn 35 lần so với năm 1986, năm

mở đầu thời kỳ đổi mới mở cửa Kim ngạch xuất khẩu các năm trong giai đoạn cận kề hội nhập WTO (các năm từ 2001 – 2006) đạt khá cao, bình quân 25,1 tỷ USD/năm, gấp hơn 2,4 lần so với giai đoạn 1996 - 2000, gấp hơn 7,3 lần giai đoạn 1991 - 1995 và gấp gần 10,5 lần giai đoạn 1986 -

1990 là giai đoạn mở đầu thời kỳ đổi mới, mở cửa thực hiện theo đường lối Đại hội VI của Đảng Tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2001 - 2006 đạt 18,7%/năm; giai đoạn 1996 - 2000 là 22,1%/năm; giai đoạn 1991 - 1995 là 19,3%/năm và giai đoạn 1986 - 1990 đạt 30,8%/năm Sở dĩ tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn

1986 - 1990 đã nhảy vọt cao nhất là do năm 1989 kim ngạch xuất khẩu đã tăng kỷ lục 87,5% Sự nhảy vọt ngoạn mục kim ngạch xuất khẩu năm

1989 là do năm này nước ta bắt đầu có dầu thô xuất khẩu với khối lượng lớn, hơn 1,5 triệu tấn tương ứng với kim ngạch gần 200 triệu USD Năm

1989 cũng là năm đầu tiên Việt Nam có khối lượng gạo xuất khẩu lớn nhất

Trang 13

từ trước đó, đạt hơn 1,4 triệu tấn tương ứng với kim ngạch 290 triệu USD, gấp hơn 15 lần so với khối lượng 91 nghìn tấn và hơn 10,7 lần so với kim ngạch 27 triệu USD của năm 1988 trước đó Ngoài ra, trong năm này các mặt hàng thủy sản, may mặc, cà phê, cao su cũng có kim ngạch khá lớn và tốc độ tăng trưởng khá cao so với năm 1988

Hình 1.2

Kim ngạch xuất khẩu tính bình quân đầu người trong thời kỳ đổi mới

mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 cũng tăng khá ngoạn mục, từ 12,9 USD/người trong năm mở đầu 1986 đã lên 473,2 USD/người trong năm 2006 gấp 36 lần so với năm 1986 Trong đó tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đầu người giai đoạn 1986 - 1990 đạt 26,3%/năm, giai đoạn

1991 - 1995 đạt 17,1%/năm, giai đoạn 1996 - 2000 đạt 20,3%/năm và giai đoạn cận kề hội nhập WTO đạt 17,1%/năm Kết quả kỳ diệu đã đạt được

về xuất khẩu của nước ta trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO là nhờ đường lối đổi mới và phát triển kinh tế Đại hội VI của Đảng

đề ra đã nhanh chóng được cụ thể hóa bằng nhiều chính sách kinh tế vĩ mô

và vi mô đã trực tiếp và gián tiếp khuyến khích cho xuất khẩu nước ta phát triển Nếu lấy năm 1989 làm gốc so sánh thì tốc độ tăng trưởng bình quân

từ năm 1990 đến năm 2000 của xuất khẩu đã cao gấp 2,6 lần tốc độ tăng trưởng GDP Và với kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người tính đến

Trang 14

năm 2000 đã đạt 186,6 USD/người thì nước ta đã chính thức được đưa ra khỏi danh sách các nước có nền ngoại thương kém phát triển

1.2.2.1 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo SITC thể hiện chất lượng xuất khẩu được cải thiện

Cơ cấu xuất khẩu theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương trong 20 năm đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO đã có một sự chuyển dịch mạnh, từ thực trạng chủ yếu xuất khẩu hàng thô hay sơ chế đã sang tỷ trọng xuất khẩu hàng chế biến hay tinh chế ngày càng cao Điều này đã chứng tỏ xuất khẩu của Việt Nam không những chỉ tăng trưởng cao về khối lượng mà chất lượng hàng xuất khẩu cũng đã ngày càng được cải thiện Cụ thể từ tỷ trọng xuất khẩu hàng thô hay sơ chế giai đoạn 1986 -

1990 còn chiếm đến 70,2% và hàng chế biến hay tinh chế chỉ chiếm 28,9% thì đến giai đoạn 1996 - 2000 tỷ trọng hàng thô hay sơ chế đã xuống chỉ còn 54,8% và hàng chế biến hay tinh chế đã lên 45,2% và đến giai đoạn trước thềm hội nhập WTO 2001 - 2006 thì tỷ trọng xuất khẩu hàng thô hay sơ chế đã xuống dưới 50%, chỉ còn 48,8% và xuất khẩu hàng chế biến hay tinh chế đã lên 51,1% chính là minh chứng rõ nét về sự chuyển biến về chất của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, mở cửa trước thời kỳ hội nhập sâu rộng và toàn diện với thị trường thế giới theo lộ trình WTO

Hình 1.3 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo SITC 1986 - 2006

Trang 15

1.2.2.2 Cơ cấu xuất khẩu theo phân tổ kế hoạch Nhà nước hàng công nghiệp tăng mạnh

Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng hóa theo danh mục kế hoạch Nhà nước thời kỳ đổi mới, mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 lại cho chúng ta thấy bức tranh tăng trưởng về chất lượng của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam ở một khía cạnh khác, đó là tỷ trọng hàng công nghiệp đã liên tục tăng lên và chiếm ngày càng lớn, còn tỷ trọng xuất khẩu hàng nông lâm thủy sản ngày càng giảm rõ rệt Cụ thể, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đã tăng từ tỷ lệ chiếm 8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 1986 đã lên 36,2% năm 2006 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp cũng

từ chiếm 28,8% năm 1986 đã lên chiếm 41,2% năm 2006 Như vậy là trong cả thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đã tăng 4,5 lần, còn hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đã chiếm lĩnh thêm 11,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nước ta Ngược lại, hàng nông sản và nông sản chế biến, mặc dù kim ngạch xuất khẩu vẫn liên tục tăng với tốc độ khá cao, năm 2006 đã gấp 16,8 lần so với năm 1986, nhưng tỷ trọng chiếm trong tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn liên tục giảm, từ chiếm 40,4% trong năm 1986 đã xuống chỉ còn 32,6% trong năm 1990, xuống còn 32% trong năm 1995, tiếp tục thu hẹp nhanh và xuống chỉ còn 17,7% trong năm 2000

và xuống chỉ còn 13,4% trong năm 2006 Tính chung cả thời kỳ đổi mới

mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 tỷ trọng xuất khẩu hàng nông sản và nông sản chế biến đã bị thu hẹp đến 27% (40,4% - 13,4%) Tuy nhiên, đáng chú ý nhất là tỷ trọng xuất khẩu hàng lâm sản đã giảm đi rất nhanh trong thời kỳ này, cụ thể từ chiếm 9,1% trong năm 1986 đã xuống chỉ còn 5,3% trong năm 1990, giảm xuống chỉ còn 1,1% trong năm 2000

và đến năm 2006 thì chỉ còn 0,7%, mặc dù kim ngạch xuất khẩu lâm sản năm 2006 vẫn tăng gấp 4,2 lần so với năm 1986

Thủy sản là một ngành xuất khẩu mũi nhọn trong những năm qua, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản cũng ngày càng bị thu hẹp, mặc dù tốc độ tăng trưởng ngành này trong nhiều năm của thời kỳ này vẫn rất ngoạn mục Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2006 đã tăng đến 31,7 lần so với năm 1986, trong đó bình quân hàng năm giai đoạn

1986 - 1990 đã tăng đến 27,2%/năm, giai đoạn 1991 - 1995 tăng

Trang 16

21,9%/năm; giai đoạn 1996 - 2000 tăng 19,9%/năm và giai đoạn gần đây nhất từ 2001 - 2006 vẫn tăng 14,8%/năm Tuy nhiên, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản vẫn lần lượt bị thu hẹp từ chiếm 13,4% trong năm

1986 đã xuống 12,2% năm 1990, xuống 11,4% năm 1995, rồi xuống 10,2% năm 2000 và xuống chỉ còn 8,4% trong năm 2006, cả thời kỳ 1986

- 2006 thị phần xuất khẩu ngành thủy sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu

đã bị thu hẹp 5% Tính chung tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của

cả ngành công nghiệp (bao gồm cả công nghiệp nặng, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp (TTCN)) chiếm 36,8% trong năm 1986 đã lên 77,4% năm 2006, tức đã tăng gấp hơn 2 lần từ năm

1986 đến năm 2006; ngược lại tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực nông lâm và thủy sản từ chiếm gần 63% trong năm 1986 đã xuống chỉ còn 22,5% năm 2006, đã bị thu hẹp gần 3 lần trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO

Kim ngạch và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa theo cơ cấu kế hoạch Nhà nước qua một số mốc thời gian và giai đoạn quan trọng của thời kỳ đổi mới, mở cửa trước hội nhập WTO như sau:

Bảng 1.2 KIM NGẠCH VÀ TỶ TRỌNG XUẤT KHẨU THEO CƠ CẤU

Hàng thủy sản

Trang 17

Hình 1.4 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo phân tổ danh mục kế hoạch Nhà nước 1986 - 2006

Các số liệu thống kê nêu trên đã cho thấy rất rõ về tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung cũng như trong từng ngành hàng từ công nghiệp đến nông lâm nghiệp và thủy sản đều đã liên tục tăng với tốc độ cao trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hộ nhập WTO 1986 - 2006 Đây là

sự tăng trưởng xuất khẩu về mặt số lượng rất đáng ghi nhận Mặt khác, theo kết quả phân tổ theo các danh mục tiêu chuẩn ngoại thương và phân

tổ theo cơ cấu kế hoạch Nhà nước lại cho thấy khá rõ nét về chất lượng của xuất khẩu hàng hóa nước ta cũng đã ngày càng nâng cao rất đáng kể trong thời kỳ này Bởi vì phân tổ theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương thì tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến và tinh chế đã chiếm ngày càng lớn và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng thô hay sơ chế đã ngày càng được thu hẹp Còn phân tổ theo danh mục cơ cấu kế hoạch Nhà nước thì tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp (kể cả công nghiệp nặng, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nhẹ và TTCN) đều chiếm lĩnh ngày càng cao và hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm lĩnh ngày càng thấp Đây chính là một sự biểu hiện khá rõ nét về kết quả đã đạt được của quá trình thực hiện theo đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ này

Trang 18

1.2.2.3 Nguyên nhân tăng trưởng về số lượng và chất lượng xuất khẩu thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

Kết quả tăng trưởng đã đạt được cả về mặt lượng và chất của hàng hóa xuất khẩu nước ta trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO

1986 - 2006 như đã nêu là do có một số nguyên nhân quan trọng sau:

- Trước hết phải kể đến là do sự phát triển mạnh của các ngành sản xuất là tiền đề quan trọng nhất cho xuất khẩu mà trước hết là sự phát triển của các ngành nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp, với mũi nhọn là các ngành: sản xuất lương thực, trồng cây công nghiệp, nuôi trồng, khai thác thủy sản, các ngành công nghiệp khai khoáng, dầu khí, công nghiệp dệt may, da giày, công nghiệp điện tử máy tính, công nghiệp chế biến gỗ…

- Thứ hai là môi trường pháp lý cho xuất khẩu đã từng bước được hoàn thiện hơn tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các ngành, các thành phần kinh tế, trong đó có khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài yên tâm đầu tư lâu dài Sau khi có đường lối đổi mới mở cửa đến năm 1987, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được thông qua; năm 1990 Luật Công

ty ra đời; năm 1991 Qui chế hoạt động của khu chế xuất, khu công nghiệp cũng được ban hành với các điều kiện ưu đãi cho các nhà đầu tư; đến năm

1994 có thêm Luật Đầu tư trong nước và Luật Doanh nghiệp tư nhân, năm

1995 tiếp tục có Luật Doanh nghiệp Nhà nước ra đời…

- Thứ ba là các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước đã ngày càng tạo môi trường thông thoáng cho xuất khẩu, trước hết là ở các chính sách tỷ giá, chính sách thuế quan Năm 1989, Nhà nước đã thực hiện thống nhất tỷ giá hối đoái trên cơ sở giá thị trường thay thế cho việc sử dụng tỷ giá cố định và tỷ giá kết toán nội bộ; đến năm 1997, Nhà nước lại cho phép các ngân hàng thương mại được linh hoạt trong giá mua bán ngoại tệ bằng biện pháp sử dụng biên độ dao động so với tỷ giá chính thức khoảng từ 1% đến 5%, rồi đến 10% Việc thống nhất tỷ giá bám sát với tỷ giá thị trường đã góp phần kích thích xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ, đem lại lợi ích cho người xuất khẩu, hạn chế những tiêu cực trong kinh doanh Chính sách thuế xuất nhập khẩu đã được đổi mới, năm 1988 Luật Thuế xuất nhập khẩu được ban hành; thuế suất cho hàng xuất khẩu được giảm dần qua các giai đoạn, riêng

Trang 19

mặt hàng gạo đã giảm từ 10% xuống chỉ còn 2% trong năm 1997 và xuống 0% trong năm 1998 nhằm khuyến khích xuất khẩu gạo…

- Việc xóa bỏ độc quyền của Nhà nước đối với hoạt động ngoại thương đã tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế tham gia xuất nhập khẩu, trong đó có khu vực tư nhân đã làm cho số lượng các đơn vị tham gia xuất nhập khẩu tăng lên rất nhanh; những qui định, thủ tục rườm rà như: các điều kiện về vốn tối thiểu, về giấy phép kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu, giấy phép vận chuyển… cũng dần được bãi bỏ trong thời

kỳ này

- Các chính sách hỗ trợ vốn tín dụng cho người xuất khẩu; thưởng cho các đơn vị có xuất khẩu mặt hàng mới; giao quyền tự chủ sản xuất kinh doanh và tiêu thụ cho người sản xuất cũng tác động rất lớn đến tăng xuất khẩu Công tác điều hành xuất nhập khẩu của Chính phủ cũng được thay đổi, hàng năm cơ chế điều hành xuất nhập khẩu đều đã đưa ra được các mục tiêu và các biện pháp lớn, các mặt hàng cần kiểm soát thông qua hạn ngạch, các mặt hàng cấm xuất nhập, hàng hóa chịu quản lý của chuyên ngành… Việc phân bổ hạn ngạch, cho một số mặt hàng chủ lực như gạo, dệt may, giày dép xuất khẩu được cải tiến theo hướng thông báo sớm ngay

từ cuối năm trước để các đơn vị xuất khẩu có kế hoạch, chủ động triển khai thực hiện tốt hơn Quản lý hải quan cũng được cải tiến nhằm tạo thuận lợi cho người xuất khẩu và tiếp cận được với các chuẩn mực quốc tế như áp dụng Hệ thống HS cho biểu thuế hải quan; một số điều khoản của Công ước Kyôtô về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan, cải tiến tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu theo khuyến nghị của Liên hợp quốc Với việc tham gia AFTA, hải quan đã thực hiện phân luồng trong kiểm tra hàng hóa, áp dụng các thiết bị hiện đại trong quản lý hải quan, giảm thời gian giải phóng hàng hóa đáng kể; để hỗ trợ cho xuất khẩu, kiểm tra hải quan còn được thực hiện ngay tại nơi tập kết hàng, các phiền hà về thủ tục được giảm bớt

- Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và khu vực không những đã mở rộng được thị trường xuất khẩu mà còn làm cho chính sách thương mại được tiến hành theo tiến trình minh bạch hóa và nhất quán, nâng cao sức cạnh

Trang 20

tranh của sản phẩm thông qua lịch trình giảm thuế, loại bỏ hạn ngạch định lượng theo khuôn khổ CEPT/AFTA cũng như các hiệp định khác và việc thực hiện tiến trình này cũng góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu gia tăng trong thời kỳ này

- Ngoài ra, những biến động thị trường, giá cả thế giới cũng có lợi và góp phần tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nước ta Đặc biệt, nó đã góp phần làm gia tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực như gạo, dầu thô Cụ thể là sự biến động về thị trường gạo đã có lợi cho xuất khẩu mặt hàng gạo nước ta trong hai năm 1998 và năm 1999 khi một

số nước trong khu vực như Inđônêxia, Philippin… gặp khó khăn về sản xuất lương thực Biến động về tăng giá dầu thô trên thế giới từ cuối năm

1999 và đặc biệt cao vào năm 2000 đã góp phần đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu nước ta trong 2 năm này và nhiều năm tiếp theo, vì mặt hàng dầu thô luôn chiếm một tỷ trọng rất lớn có lúc đã lên đến trên 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nước ta

1.2.3 Kim ngạch nhập khẩu liên tục tăng cao sau mở cửa trước hội nhập WTO

Cùng với sự tăng trưởng chung về kinh tế và xuất, nhập khẩu trong thời kỳ đổi mới, mở cửa trước hội nhập WTO cũng liên tục tăng trưởng với tốc độ cao Hoạt động nhập khẩu trong thời kỳ này chủ yếu hướng vào các mục tiêu lớn là phục vụ cho chiến lược phát triển xuất khẩu và đáp ứng một số yêu cầu thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước; cơ cấu nhập đã thay đổi theo hướng tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất và giảm nhập khẩu hàng tư liệu tiêu dùng; thị trường nhập khẩu được mở rộng, chất lượng hàng nhập khẩu được nâng cao, góp phần đổi mới trang bị kỹ thuật

và công nghệ cho sản xuất, năng cao sức cạnh tranh của hàng sản xuất trong nước

Đến năm 2006, sau 20 năm đổi mới mở cửa và là năm trước thềm hội nhập WTO, kim ngạch nhập khẩu nước ta đã đạt gần 45 tỷ USD, gấp 20,8 lần so với năm 1986, năm mở đầu của sự nghiệp đổi mới; gấp 16 lần so với năm 1990; gấp 18 lần so với bình quân 5 năm từ 1986 - 1990; gấp gần

6 lần so với 1995; gấp 10 lần so với bình quân giai đoạn 1991 - 1995; gấp

Trang 21

3 lần so với năm 2000, gấp 4 lần so với bình quân giai đoạn 1996 - 2000

và tăng 22,1% so với năm 2005

Sự liên tục tăng trưởng cao về kim ngạch nhập khẩu trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 cũng thể hiện rõ nét ở tốc

độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu bình quân hàng năm qua các giai đoạn 5 năm trong thời kỳ này Cụ thể trong giai đoạn 5 năm đầu tiên 1986

- 1990, kim ngạch nhập khẩu bình quân là 2,5 tỷ USD/năm và tốc độ tăng trưởng bình quân 8,5%/năm; giai đoạn 1991 - 1995 kim ngạch nhập khẩu bình quân lên 4,6 tỷ USD/năm và tốc độ tăng bình quân vọt lên 27,3%/năm; giai đoạn 1996 - 2000 kim ngạch nhập khẩu bình quân 15,6 tỷ USD/năm và tốc độ tăng trưởng bình quân là 15%/năm và giai đoạn 2001

- 2006 kim ngạch nhập khẩu lên 29,1 tỷ USD/năm và tốc độ tăng trưởng là 19,5%/năm Như vậy là trong tất cả các giai đoạn 5 năm của thời kỳ đổi mới 20 năm trước hội nhập WTO 1986 - 2006 thì kim ngạch nhập khẩu bình quân hàng năm đều liên tục tăng với tốc độ khá cao, trong đó tăng thấp nhất là giai đoạn 1986 - 1990 cũng tăng 8,5%/năm và cao nhất là giai đoạn 1991 - 1995 đã tăng 27,3%/năm

Số liệu thống kê về kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu qua các giai đoạn trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 còn cho thấy một xu hướng có tính qui luật bù trừ về tốc độ tăng trưởng giữa xuất và nhập khẩu là những giai đoạn nào có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thì giai đoạn đó tăng trưởng nhập khẩu lại thấp và ngược lại Cụ thể trong giai đoạn 1986 - 1990 có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất thì tốc độ tăng trưởng nhập khẩu lại đạt thấp nhất và giai đoạn 1996 - 2000 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao thứ hai thì tăng trưởng nhập khẩu cũng ở mức thấp thứ hai Ngược lại giai đoạn 1991 - 1995 là một trong 2 giai đoạn có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thấp nhất thì tốc độ tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu đã đạt cao nhất Còn đến giai đoạn trước thềm hội nhập WTO 2001 - 2006 thì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và nhập khẩu bình quân hàng năm đã tiến về ở mức khá cân bằng với nhau Kim ngạch và tốc

độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu bình quân qua các giai đoạn trong thời kỳ từ mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 như trong bảng 1.3 và hình 1.5, 1.6

Trang 22

Hình 1.5 Kim ngạch xuất và nhập khẩu qua các giai đoạn trong thời kỳ 1986 - 2006 Bảng 1.3 KIM NGẠCH VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG XUẤT NHẬP KHẨU

BÌNH QUÂN THEO GIAI ĐOẠN THỜI KỲ 1986 - 2006

Giai đoạn

Kim ngạch bình quân năm

(triệu USD)

Tốc độ tăng trưởng bình quân năm (%) Xuất khẩu Nhập khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu

Trang 23

1.2.3.1 Cơ cấu nhập khẩu phân tổ theo SITC chuyển dịch theo hướng tích cực

Cơ cấu xuất khẩu phân tổ theo phân tổ của danh mục tiêu chuẩn ngoại thương trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO chuyển dịch theo xu hướng khá tích cực, tỷ trọng nhập khẩu hàng thô hay sơ chế đã ngày càng tăng lên và tỷ trọng nhập khẩu hàng chế biến hay tinh chế ngày càng giảm Cụ thể tỷ trọng nhập khẩu hàng thô hay sơ chế từ bình quân chiếm 66,1% trong giai đoạn 1986 - 1990 đã lên 74,8% giai đoạn 1991 - 1995 và lên 80,7% giai đoạn 1996 - 2000 Ngược lại, tỷ trọng hàng chế biến hay tinh chế từ chiếm 33,9% trong giai đoạn 1986 - 1990 xuống chỉ còn 25,2% giai đoạn 1991 - 1995 và xuống chỉ còn 19,3% giai đoạn 1996 - 2000 Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 2001 - 2006 lại có xu hướng đảo chiều tỷ trọng nhập khẩu hàng thô hay sơ chế đang giảm dần và bình quân giai đoạn này

đã từ 80,7% trong giai đoạn trước xuống chỉ còn chiếm 74,4% và tỷ trọng hàng chế biến hay tinh chế từ 19,3% đã lên 25,6% Đây là một xu hướng tiêu cực đã xuất hiện trong nhập khẩu của ta cần được quan tâm phân tích nguyên nhân và tìm biện pháp khắc phục Kim ngạch và cơ cấu kim ngạch nhập khẩu phân tổ theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương quốc tế qua một

số giai đoạn trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO 1996 - 2006

cụ thể như trong bảng 1.4 và các hình 1.7 và 1.8

Bảng 1.4 CƠ CẤU KIM NGẠCH NHẬP KHẨU THEO SITC MỘT SỐ

GIAI ĐOẠN THỜI KỲ 1986 - 2006

Giai đoạn

Kim ngạch nhập khẩu (triệu USD)

Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu (%)

Hàng thô hay sơ chế

Hàng chế biến hay tinh chế

Hàng thô hay sơ chế

Hàng chế biến hay tinh chế

Trang 24

Hình 1.7 Kim ngạch nhập khẩu theo SITC một số giai đoạn thời kỳ 1996-2006

Hình 1.8 Cơ cấu nhập khẩu theo SITC một số giai đoạn thời kỳ 1986 - 2006

1.2.3.2 Cơ cấu nhập khẩu theo phân tổ kế hoạch Nhà nước tỷ trọng hàng tư liệu sản xuất ngày càng lớn

Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu hàng hóa theo danh mục kế hoạch Nhà nước thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 cũng cho

ta thấy tình hình nhập khẩu của Việt Nam có nhiều triển vọng, khi tỷ trọng nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất đã theo xu hướng chiếm lĩnh ngày càng lớn và tỷ trọng nhập khẩu hàng tư liệu tiêu dùng ngày càng giảm rõ nét

Trang 25

Cụ thể, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất đã từ chiếm 87,3% trong giai đoạn 1986 - 1990 lên 91,3% giai đoạn 1996 - 2000 và lên 92,3% giai đoạn 2001 - 2006 Ngược lại, tỷ trọng nhập khẩu hàng tư liệu tiêu dùng từ chiếm 12,7% giai đoạn 1986 - 1990 đã xuống chỉ còn 8,7% giai đoạn 1996 - 2000 Tuy nhiên, giai đoạn 1991 - 1995 do sự kiện tan rã thị trường Liên Xô - Đông Âu đã làm cho tỷ trọng nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất lại có xu hướng giảm so với giai đoạn 1986 - 1990 và tập trung sụt giảm mạnh ở tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị, từ chiếm 33,4% giai đoạn 1986 - 1990 xuống chỉ còn 24,4%, trong đó giảm mạnh nhất là năm 1991, tỷ trọng chỉ còn 21,8% và 1992 chỉ còn 21,5%, đã giảm gần 12% so với giai đoạn 1986 - 1990 Còn tỷ trọng hàng nguyên, nhiên, vật liệu nhập khẩu trong giai đoạn này vẫn tiếp tục tăng từ 53,9% lên 61,2% Như vậy sau 20 năm đổi mới thì tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu hàng

tư liệu sản xuất nước ta đã tăng 4%, còn tư liệu tiêu dùng đã giảm xuống tương ứng là 4%, đây là một biểu hiện rõ nét về xu hướng nhập khẩu tích cực của nước ta trong thời kỳ này

Kim ngạch và tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa theo cơ cấu kế hoạch Nhà nước theo giai đoạn thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 như trong bảng sau:

Bảng 1.5 CƠ CẤU KIM NGẠCH NHẬP KHẢU THEO DANH MỤC

Máy móc, TB, DCPT

Nguyên nhiên vật liệu Kim

ngạch trọng Tỷ Kim

ngạch trọng Tỷ

Kim ngạch trọng Tỷ

Trang 26

Hình 1.9 Kim ngạch nhập khẩu theo cơ cấu kế hoạch Nhà nước

qua các giai đoạn thời kỳ 1986 - 2006

1.2.3.3 Nguyên nhân nhập khẩu đạt kết quả tích cực thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

Sở dĩ kim ngạch nhập khẩu trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 đã đạt kết quả tích cực, vừa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, vừa nâng cao được chất lượng hàng nhập khẩu và kiểm soát được tỷ trọng nhập hàng tư liệu tiêu dùng là do có các nguyên nhân quan trọng sau:

- Trước hết là do chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước đã tập trung quản lý nguồn ngoại tệ cho yêu cầu nhập khẩu phục vụ cho các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát nhập khẩu hàng tiêu dùng và ổn định thị trường ngoại tệ trong nước Theo tinh thần này, năm 1988 Nhà nước đã qui định các tổ chức và cá nhân buộc phải gửi ngoại tệ vào tài khoản tại ngân hàng, ngoài số ngoại tệ được sử dụng cho nhu cầu nhập khẩu của đơn vị, số còn lại phải bán cho Nhà nước theo tỷ giá qui định

- Thứ hai là chính sách thuế đã góp phần tích cực trong việc khuyến khích, bảo hộ sản xuất trong nước và kiểm soát nhập khẩu theo định hướng của Nhà nước Cùng với việc ban hành Luật Thuế xuất nhập khẩu năm 1988, biểu thuế nhập khẩu cũng qui định thuế suất nhập khẩu cho 124 loại hàng hóa Từ năm 1989 đến nay biểu thuế nhập khẩu đã nhiều lần

Trang 27

được Nhà nước sửa đổi với các khung thuế suất, mức thuế suất tối đa và số dòng thuế khác nhau; từ năm 1997 biểu thuế gồm 3.165 dòng thuế với 26 mức thuế suất từ 0% đến 100% Biểu thuế nhập khẩu ban hành cuối năm

1988 dựa trên danh mục hàng hóa HS đã chi tiết đến cấp mã 8 chữ số, cụ thể hóa thành 6.500 dòng thuế với 18 mức thuế suất từ 0% đến 100%, trong đó tỷ trọng dòng thuế từ 0% - 5% chiếm khoảng 60% Nhìn chung các mặt hàng tiêu dùng đều chịu mức thuế suất cao (trừ một số mặt hàng được coi là thiết yếu) Tư liệu sản xuất, đặc biệt là nguyên, nhiên vật liệu thô có mức thuế suất thấp hơn hoặc không phải đóng thuế; đối với hàng gia công cho nước ngoài hoặc hàng hóa nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng đưa vào khu chế xuất đều không phải chịu thuế hoặc được hoàn thuế sau khi sản phẩm được xuất khẩu

- Thứ ba là các chính sách phi thuế cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát nhập khẩu: Để hỗ trợ việc kiểm soát nhập khẩu thông qua rào cản thuế quan, Chính phủ đã áp dụng các biện pháp như phân bổ hạn ngạch nhập khẩu một số hàng hóa cho các đơn vị được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu (phân bón, xăng dầu, phôi thép…), hạn chế nhập khẩu các mặt hàng trong nước đã sản xuất được Để kiểm soát nhập khẩu hàng tiêu dùng, Chính phủ đã qui định danh mục hàng hóa tiêu dùng cần hạn chế nhập khẩu (14 nhóm mặt hàng trước năm 1999 và danh mục chi tiết theo HS 8 chữ số) Ngoài ra còn áp dụng các chính sách và biện pháp khác như kiểm soát của ngân hàng thông qua L/C, chính sách dán tem một số hàng tiêu dùng nhập khẩu như xe đạp, quạt điện, sứ vệ sinh…

Tuy nhiên, công tác nhập khẩu cũng còn một số hạn chế, nhất là vấn

đề chất lượng hàng hóa nhập khẩu Đây là vấn đề cần được quan tâm, có như vậy mới bảo đảm phát triển sản xuất, tiếp thu được những công nghệ mới theo kịp với các nước trên thế giới Hiện tượng buôn lậu và gian lận thương mại cũng cần phải có những biện pháp tích cực để hạn chế; công tác qui hoạch sản xuất, dự báo nhu cầu cần được làm thường xuyên và nâng cao chất lượng hơn để tránh những “cơn sốt” không cần thiết, hoặc tồn đọng hàng hóa, đảm bảo phát triển hợp lý giữa nhu cầu sản xuất với nhập khẩu

Trang 28

1.2.4 Cán cân thương mại có xu hướng thu hẹp trong thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

Do đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu nên cán cân thương mại nhập siêu trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO

đã theo xu hướng ngày càng được thu hẹp Từ tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu 173,1% trong năm 1986 đã xuống chỉ còn 12,7% năm 2006, đã giảm thấp ngoạn mục sau 20 năm từ 1986 - 2006

Cán cân thương mại xuất - nhập khẩu bình quân theo các giai đoạn trong thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 cũng cho thấy tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu của nước ta đang theo xu hướng ngày càng thu hẹp Từ tỷ lệ nhập siêu bình quân 80,4%/năm trong giai đoạn 1986 - 1990

đã xuống chỉ còn 32,8% trong giai đoạn 1991 - 1995, xuống còn bình quân 18,9% trong giai đoạn 1996 - 2000 và xuống chỉ còn 16,1% trong giai đoạn trước thềm hội nhập WTO 2001 - 2006 Đây là một kết quả rất tích cực của chủ trương đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu của nước ta trong thời kỳ đổi mới mở cửa trước hội nhập WTO

Tuy nhiên, nếu xét về các con số tuyệt đối kim ngạch nhập siêu qua các giai đoạn từ 1986 - 2006 thì vẫn có xu hướng ngày càng tăng lên, thậm chí có giai đoạn còn tăng với tốc độ cao Cụ thể đã từ nhập siêu bình quân 1,1 tỷ USD/năm trong giai đoạn 1986 - 1990 và giai đoạn 1991 - 1995 lên gần 2 tỷ USD/năm trong giai đoạn 1996 - 2000 và lên hơn 4 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2001 - 2006 Tuy nhiên có thể thấy việc nhập siêu này là cần thiết và khách quan trong điều kiện của một nước đang trong quá trình phát triển như nước ta khi mà kim ngạch xuất khẩu còn thấp, nhiều loại máy móc thiết bị, vật tư, nguyên nhiên vật liệu từ nguồn sản xuất ở trong nước chưa đáp được yêu cầu tăng trưởng nhanh kinh tế thì việc phải nhập siêu với một tỷ lệ nhất định hàng năm cũng là tất yếu không thể khác được Vấn đề của nước ta hiện nay là, để kiểm soát được tỷ lệ nhập siêu ở mức cho phép thì cần phải tăng nhanh hơn nữa kim ngạch xuất khẩu trên

cơ sở khai thác tốt các lợi thế tiềm năng của đất nước về tài nguyên, lao động và đất đai; đồng thời phải nhanh chóng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để hạn chế nhập khẩu các loại phụ kiện, phụ tùng cũng như nguyên, nhiên, vật liệu; mặt khác phải nâng cao năng suất, chất lượng

Trang 29

hàng tiêu dùng trong nước để thay thế được hàng nhập khẩu là một nhiệm

vụ cần được thường xuyên quan tâm

Cán cân xuất nhập khẩu nước ta trong thời kỳ 1986 - 2006 nếu xem xét riêng đối với từng khu vực thị trường và trong từng giai đoạn cụ thể đang có một số đặc điểm đáng chú ý sau đây:

Trên góc độ châu lục và khu vực thị trường cho thấy, nếu như trong giai đoạn 1986 - 1990, cán cân nhập siêu lớn nhất của Việt Nam là từ thị trường châu Âu, trong giai đoạn này bình quân hàng năm cả nước ta nhập siêu 1.131 triệu USD/năm thì có đến 1.120 triệu USD, chiếm 99% là từ châu Âu mà chủ yếu là từ khu vực thị trường Đông Âu và Liên Xô, chỉ có

11 triệu là nhập siêu từ châu Đại Dương Còn các giai đoạn từ sau năm

1991, tức là sau khi các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô tan rã, đi theo

đó gần như toàn bộ thị trường xuất nhập khẩu truyền thống khu vực này bị mất theo thì nhập siêu của nước ta chủ yếu đã chuyển sang châu Á mà trong đó cũng chỉ tập trung ở khu vực thị trường Đông Á và Đông Nam Á, còn các châu lục và khu vực thị trường khác nhập siêu rất ít, cụ thể:

- Giai đoạn 1991 - 1995 cả nước ta nhập siêu 1.126 triệu/năm thì có

700 triệu USD/năm, chiếm 67,2% nhập siêu từ châu Á, trong đó 680 triệu USD của khu vực Đông Nam Á và nhập siêu từ châu Âu bình quân 240 triệu USD/năm, chiếm 21,3%

Hình 1.10

Kim ngạch nhập siêu bình quân năm qua các giai đoạn của

thời kỳ 1986 2006

Trang 30

- Giai đoạn 1996 - 2000 kim ngạch nhập siêu từ châu Á gần 3,4 tỷ USD/năm, trong đó khu vực Đông Nam Á gần 1,3 tỷ USD và Đông Á 2,1

tỷ USD, nhưng chúng ta lại xuất siêu với các thị trường châu Âu bình quân 813 triệu USD/năm, trong đó Tây Âu 575 triệu USD/năm, Bắc Âu

212 triệu USD/năm; xuất siêu sang châu Đại Dương bình quân 333 triệu USD/năm và châu Mỹ 234 triệu USD/năm

Hình 1.11

- Giai đoạn 2001 - 2006 chúng ta tiếp tục nhập siêu từ các thị trường gần trong khu vực châu Á và xuất siêu đối với tất cả các khu vực thị trường xa ở các châu lục còn lại Cụ thể đã nhập siêu bình quân 10,5 tỷ USD/năm từ châu Á, trong đó chủ yếu từ Đông Á gần 6,8 tỷ và Đông Nam Á gần 3,4 tỷ; còn xuất siêu sang thị trường châu Âu bình quân hơn 1,4 tỷ USD/năm, sang thị trường châu Mỹ bình quân hơn 3,7 tỷ USD/năm

và xuất siêu sang các thị trường châu Đại Dương bình quân gần 1,5 tỷ USD/năm

1.2.5 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của Việt Nam

Mặt hàng xuất khẩu trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới trước hội nhập WTO 1986 - 2006 chủ yếu vẫn là các mặt hàng về nông lâm thủy sản, khoáng sản và một số mặt hàng tiểu thủ công nghiệp; về sau xuất hiện thêm các mặt hàng công nghiệp có kim ngạch ngày càng lớn và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, giày dép, điện tử, máy tính và

Trang 31

linh kiện, sản phẩm gỗ… Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất qua các giai đoạn trong thời kỳ 1986 - 2006 như sau:

- Trong giai đoạn 1986 - 1990 là dầu thô, hàng thủy sản, gạo, dệt may,

cà phê, cao su, rau quả tươi, lạc nhân, chè các loại, than đá… trong đó mới

có 4 mặt hàng có kim ngạch xuất đạt bình quân trên 100 triệu USD/năm, đứng đầu là dầu thô bình quân 333,8 triệu USD/năm, tiếp đến là thủy sản bình quân 172,3 triệu USD/năm, gạo 132,1 triệu USD/năm và hàng dệt may đạt 130,9 triệu USD/năm Trên thực tế thì mặt hàng dầu thô mới xuất khẩu

từ năm 1989 với khối lượng 1,5 triệu tấn và mặt hàng gạo cũng mới có khối lượng xuất khẩu lớn là 1,42 triệu tấn cũng bắt đầu từ năm 1989, còn trước

đó hàng năm mới xuất được khoảng 100 nghìn tấn gạo

- Đến giai đoạn 1991 - 1995 đã xuất hiện thêm một số mặt hàng chủ lực có khối lượng và kim ngạch tăng vọt và đã có 7 mặt hàng đạt kim ngạch bình quân trên 100 triệu USD/năm Đứng đầu các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn này vẫn là dầu thô, đạt bình quân 826,2 triệu USD/năm, thứ hai là mặt hàng thủy sản đạt 438,6 triệu USD/năm, tiếp theo là dệt may 363,2 triệu USD/năm, rồi đến cà phê đạt 241,1 triệu USD/năm, gạo và cao su cùng đạt 102,9 triệu USD/năm và giày dép 102,3 triệu USD/năm

- Giai đoạn 1996 - 2000 nhiều mặt hàng xuất khẩu tiếp tục bùng nổ và

đã có 3 mặt hàng kim ngạch xuất khẩu vọt lên từ đơn vị tính là triệu USD/năm lên đơn vị tính là tỷ USD/năm, đó là dầu thô đạt gần 12,2 triệu tấn, gấp hơn 2 lần so với 6 triệu tấn/năm trong giai đoạn 1991 - 1996 và kim ngạch bình quân đạt hơn 1,9 tỷ USD/năm; dệt may đạt bình quân 1,5

tỷ USD/năm, gấp hơn 4,1 lần so với giai đoạn 1991 - 1995; giày dép đạt bình quân gần 1,1 tỷ USD/năm, gấp hơn 10 lần giai đoạn trước đó Ngoài

ra còn có 7 mặt hàng đạt bình quân từ trên 100 triệu USD/năm đến dưới 1

tỷ USD/năm, đó là mặt hàng thủy sản đạt bình quân 956 triệu USD/năm; gạo đạt gần 3,7 triệu tấn/năm với kim ngạch 884 triệu USD/năm, gấp hơn

8 lần giai đoạn trước; cà phê đạt 516 triệu USD/năm; cao su 178 triệu USD/năm; hạt điều 113 triệu USD/năm; rau quả tươi 148 triệu USD/năm

và than đá 102,1 triệu USD/năm

Trang 32

- Giai đoạn 2001 - 2006, ngoài 3 mặt hàng chủ lực là dầu thô, dệt may, giày dép tiếp tục có thêm 2 mặt hàng chủ lực nữa là hàng thủy sản và hàng điện tử máy tính và linh kiện gia nhập “câu lạc bộ tỷ USD” Cụ thể mặt hàng dầu thô đã quay trở lại đứng đầu trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với khối lượng xuất bình quân 17,4 triệu tấn/năm và kim ngạch đạt gần 5,3 tỷ USD/năm; thứ hai là mặt hàng dệt may đạt hơn 3,7 tỷ USD/năm; tiếp theo là mặt hàng giày dép đạt 2,5 tỷ USD/năm; rồi mặt hàng điện tử máy tính và linh kiện đạt gần 1,1 tỷ USD/năm Có 4 mặt hàng đạt bình quân từ trên 500 triệu USD/năm đến dưới 1 tỷ USD/năm là sản phẩm gỗ đạt 988 triệu USD/năm, gạo đạt bình quân hơn 4,1 triệu tấn/năm với kim ngạch 951 triệu USD/năm; cà phê đạt 878,5 nghìn tấn/năm, gấp 2 lần thời kỳ trước đó với kim ngạch 636 triệu USD/năm; cao su bình quân đạt 494,3 nghìn tấn/năm với kim ngạch 584 triệu USD/năm Ngoài ra còn có khá nhiều mặt hàng đạt bình quân từ trên 100 triệu USD/năm đến dưới 500 triệu USD/năm như than đá, hạt điều, hạt tiêu, dây điện cáp điện, sản phẩm từ plastic, gốm sứ, rau quả tươi…

1.2.6 Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nhiều mặt hàng từ đơn vị % lên lần

Mặt hàng nhập khẩu trong thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO 1986

- 2006 chủ yếu vẫn là các mặt hàng về tư liệu sản xuất như máy móc, thiết

bị, dụng cụ, phụ tùng, vật tư, nguyên nhiên vật liệu, hóa chất, chất dẻo, phương tiện vận tải và một số tư liệu tiêu dùng như vải may mặc, đường sữa, bột mỳ, máy thu hình, máy thu thanh, máy casette, xe máy…

Một số mặt hàng có khối lượng và kim ngạch nhập khẩu lớn qua các giai đoạn trong thời kỳ 1986 - 2006 như sau:

- Trong giai đoạn 1986 - 1990, mặt hàng ô tô tải bình quân đã nhập 4.442 chiếc/năm; ôtô con bình quân 1.769 chiếc/năm; sắt thép bình quân nhập 346 nghìn tấn/năm; xăng dầu các loại bình quân nhập gần 2,5 triệu tấn/năm, trong đó xăng 680 nghìn tấn, diesel 1,25 triệu tấn, mazut 568 nghìn tấn và dầu hỏa 229 nghìn tấn; phân bón các loại nhập bình quân 1,64 triệu tấn/năm, trong đó urê 784 nghìn tấn/năm; clinke nhập bình quân

260 nghìn tấn/năm; bột mỳ 88 nghìn tấn/năm; tân dược 32 triệu USD/năm;

Trang 33

thuốc trừ sâu 13 triệu USD/năm; chất dẻo 19 triệu USD/năm; phụ liệu sản xuất thuốc lá 6 triệu USD/năm và phụ liệu dệt may 35 triệu USD/năm

- Giai đoạn 1991 - 1995, mặt hàng ôtô tải bình quân nhập 7.975 chiếc/năm, gấp gần 2 lần giai đoạn trước; ôtô con nhập bình quân 4.897 chiếc/năm, gấp gần 3 lần giai đoạn trước; sắt thép bình quân nhập 720 nghìn tấn/năm, gấp hơn 2 lần; xăng dầu các loại nhập hơn 3,9 triệu tấn/năm, trong đó xăng 862 nghìn tấn, diesel 1,76 triệu tấn, mazut 718 nghìn tấn và dầu hỏa 272 nghìn tấn; phân bón các loại bình quân nhập 2,2 triệu tấn/năm, trong đó urê gần 1,1 triệu/năm; clinke bình quân nhập 590 nghìn tấn/năm; bột mỳ 198 nghìn tấn/năm; tân dược 53/triệu USD/năm; thuốc trừ sâu 55 triệu USD/năm; chất dẻo 127 triệu USD/năm; phụ liệu sản xuất thuốc lá 52 triệu USD/năm và phụ liệu dệt may 187 triệu USD/năm

- Giai đoạn 1996 - 2000, mặt hàng ô tô tải bình quân nhập 10.376 chiếc/năm gấp 1,3 lần giai đoạn trước; ôtô con bình quân nhập 4.434 chiếc/năm, giảm 463 chiếc; sắt thép bình quân nhập gần 2,1 tấn/năm, gấp hơn 2,9 lần giai đoạn trước; xăng dầu các loại bình quân nhập gần 7,1 triệu tấn/năm, gấp 1,8 lần giai đoạn trước, trong đó xăng gần 1,3 triệu tấn, diesel 3,4 triệu tấn, gấp gần 2 lần giai đoạn trước, mazut 1,6 triệu tấn, gấp hơn 2 lần và dầu hỏa 311 nghìn tấn; phân bón các loại bình quân nhập 3,4 triệu tấn/năm, gấp 1,6 lần giai đoạn trước, trong đó urê gần 1,8 triệu/năm; clinke bình quân nhập 473 nghìn tấn/năm; bột mỳ 161 nghìn tấn/năm; tân dược 131 triệu USD/năm, gấp gần 2,5 lần giai đoạn trước; thuốc trừ sâu 126 triệu USD/năm, gấp hơn 2 lần; chất dẻo 381 triệu USD/năm, gấp 3 lần giai đoạn trước; phụ liệu sản xuất thuốc lá 98 triệu USD/năm, gấp gần 2 lần và phụ liệu dệt may 773 triệu USD/năm, gấp hơn 4 lần so với giai đoạn 1991 - 1995

- Giai đoạn 2001 - 2006 mặt hàng ô tô tải bình quân nhập 13.137 chiếc/năm, tăng 30% so với giai đoạn trước; ôtô con bình quân nhập 2.406 chiếc/năm, giảm 1.028 chiếc so giai đoạn trước; sắt thép bình quân nhập gần 5,2 tấn/năm, gấp hơn 2,5 lần giai đoạn trước; xăng dầu các loại bình quân nhập gần 10,9 triệu tấn/năm, gấp hơn 1,5 lần giai đoạn trước, trong

đó xăng gần 2,6 triệu tấn, gấp 2 lần, diesel 5,4 triệu tấn, tăng 2 triệu tấn so

Trang 34

với giai đoạn trước, mazut 2,2 triệu tấn, tăng 60 vạn tấn và dầu hỏa 336 nghìn tấn; phân bón các loại bình quân nhập 3,6 triệu tấn/năm, tăng 20 vạn tấn so với giai đoạn trước, trong đó urê gần 1,3 triệu/năm, giảm 5 vạn tấn; clinke bình quân nhập 4 triệu tấn/năm, gấp 10 lần giai đoạn trước; bột mỳ

44 nghìn tấn/năm; tân dược 110 triệu USD/năm, giảm 21 triệu so với giai đoạn trước; thuốc trừ sâu 162 triệu USD/năm, tăng 28,6%; chất dẻo gần 1,4 tỷ USD/năm, gấp 3,6 lần giai đoạn trước; phụ liệu sản xuất thuốc lá

146 triệu USD/năm, tăng 49,2% và phụ liệu dệt may 1,3 tỷ USD/năm, tăng 70,6% so với giai đoạn trước đó

1.3 QUAN HỆ TỶ GIÁ XUẤT/NHẬP KHẨU CÓ LỢI CHO VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỞ CỬA TRƯỚC HỘI NHẬP WTO 1.3.1 Giá xuất nhập khẩu tăng là xu hướng chủ đạo thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

Nhìn chung giá cả thị trường thế giới trong thời kỳ 1986 - 2006 luôn biến động và theo hướng ngày càng tăng cao, mặc dù, bên cạnh các năm giá liên tục tăng cũng có năm giá ít biến động hay có xu hướng giảm Từ đó giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng có những diễn biến phức tạp, tuy nhiên, nhìn chung cả thời kỳ thì xu hướng tăng giá vẫn là chủ đạo, đặc biệt giá xuất nhập khẩu hàng nguyên nhiên vật liệu, lương thực, thực phẩm

đã tăng khá cao, còn giá máy móc thiết bị và giá hàng tư liệu tiêu dùng phi lương thực - thực phẩm tăng ít hơn Do Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các loại hàng nguyên nhiên vật liệu thô, lương thực thực phẩm và nhập khẩu các loại máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng… nên nhìn chung trong quá trình trao đổi hàng hóa thông qua xuất nhập khẩu với nước ngoài trong thời kỳ này Việt Nam thường được lợi về giá nhiều hơn

1.3.1.1 Số năm giá xuất khẩu tăng nhiều hơn giảm và tốc độ tăng cao hơn giảm

Thống kê chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu Việt Nam hàng năm từ năm

1986 đến năm 2006 cho thấy, số năm chỉ số giá tăng chiếm nhiều hơn số năm chỉ số giá giảm và đứng, cụ thể trong dẫy chỉ số giá xuất khẩu 21 năm

đã có 12 năm chỉ số tăng, chiếm hơn 57,1%, trong khi số năm chỉ số giảm

là 8, chiếm 38,1% và chỉ có 1 năm giá đứng, chiếm 4,7% Trên thực tế số

Trang 35

năm có chỉ số giá xuất khẩu giảm chỉ tập trung nhiều nhất ở giai đoạn

1986 - 1990 là các năm 1987, 1988, 1989; ở giai đoạn 1991 - 1995 có 2 năm là 1992 và 1993; giai đoạn 1986 - 2000 có 2 năm là 1998, 1999 và giai đoạn 2001 - 2006 chỉ có năm 2001 giảm Điều đó chứng tỏ giá xuất khẩu nước ta thời kỳ 1986 - 2006 chỉ có xu hướng giảm nhiều trong các giai đoạn đầu, còn các giai đoạn càng về sau thì số năm giảm càng ít đi và

số năm tăng đã chiếm đa số, điều này cũng chứng tỏ giá xuất khẩu hàng hóa nước ta đang có xu hướng ngày càng tăng trong thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

So sánh về mức độ tăng và giảm của chỉ số giá xuất khẩu qua các năm trong thời kỳ này cũng cho thấy, tốc độ giảm thường thấp hơn khá nhiều

số với tốc độ tăng: cụ thể năm có chỉ số giá xuất khẩu giảm nhiều là năm

2001 chỉ giảm 6,8%, trong khi năm có chỉ số giá xuất khẩu cao nhất là năm 2005 đã tăng đến 13,9%; giảm nhiều thứ hai là năm 1992 chỉ giảm 3,8%, còn tăng cao thứ hai là năm 1995 đã tăng 13,1%; giảm nhiều thứ 3

là năm 1998 chỉ giảm 3,4%, còn tăng cao thứ 3 là năm 2004 đã tăng đến 12% Chỉ số giá xuất khẩu năm 2006 so với năm 1985 đã tăng 44,7% và

so với năm 1990 đã 31,9%

1.3.1.2 Giá xuất khẩu hàng tư liệu sản xuất tăng cao hơn tư liệu tiêu dùng

Chỉ số giá xuất khẩu hàng tư liệu sản xuất đã tăng cao hơn khá nhiều

so với chỉ số giá xuất khẩu hàng tư liệu tiêu dùng trong thời kỳ này, nhất

là trong giai đoạn 1991 - 2006, cụ thể chỉ số giá xuất khẩu hàng tư liệu sản xuất năm 2006 so với năm 1990 đã tăng gấp gần 3 lần, trong khi chỉ số giá xuất khẩu hàng tư liệu tiêu dùng chỉ tăng 19,9% Trong hàng tư liệu sản xuất chủ yếu là giá nguyên nhiên vật liệu tăng mạnh nhất, đã gấp 3,1 lần

so với năm 1990, trong đó có năm đã tăng đến 34,2% như năm 2005, năm

2004 tăng 27,8%, năm 2003 tăng 17,4% và năm 2006 tăng 14,1% Còn chỉ số giá xuất khẩu máy móc thiết bị năm 2006 so với năm 1990 không những không tăng mà còn giảm 4,3%, trong đó có một số năm giảm khá mạnh như năm 1999 đã giảm 19,7%, năm 1988 giảm 5,1% Chỉ số giá xuất khẩu hàng tư liệu tiêu dùng tăng thấp chủ yếu là do giá hàng tiêu dùng phi lương thực - thực phẩm, chỉ số năm 2006 so với năm 1990 chỉ

Trang 36

tăng 2,3% Ngược lại chỉ số giá xuất khẩu hàng lương thực - thực phẩm năm 2006 so với năm 1990 đã tăng đến 27,5%, trong đó năm 1995 đã tăng cao nhất là 19,2%, các năm từ 2002 đến 2006 hàng năm đều tăng từ 6 đến gần 9%

Tuy nhiên, sự tăng giá các nhóm hàng này là có lợi cho Việt Nam, bởi

vì hàng xuất khẩu Việt Nam chủ yếu là tập trung ở một số mặt hàng là nguyên nhiêu liệu như dầu thô, than đá, khoáng sản và các mặt hàng lương thực - thực phẩm như gạo, thủy sản, cao su, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, chè, rau quả tươi… còn hàng tiêu dùng phi lương thực - thực phẩm và máy móc thiết bị ta xuất khẩu không đáng kể

1.3.1.3 Số năm giá nhập khẩu tăng nhiều hơn giảm

Thống kê chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu hàng năm thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 cho thấy, số năm chỉ số giá nhập khẩu tăng nhiều hơn khá nhiều so với số năm chỉ số giá nhập khẩu giảm, cụ thể

đã có 16 năm, chiếm 76,2% số năm chỉ số giá nhập khẩu tăng, trong khi số năm giảm chỉ là 5, chỉ chiếm 23,8% Số năm chỉ số giá nhập khẩu giảm là các năm 1999 đã giảm 9,9%, năm 1992 giảm 5,2%, năm 1998 giảm 2%, năm 2001 giảm 1,7% và năm 2002 giảm 0,1% Các năm chỉ số giá nhập khẩu tăng cao trong thời kỳ này là năm 2004 đã tăng 9,6%, năm 2005 tăng 7,8%, năm 1995 tăng 7,3%, năm 1996 tăng 4,8%, năm 2006 tăng 3,6%, năm 1997 tăng 3,6%, năm 2000 và 2003 tăng 3,4%, năm 1994 tăng 3,2%, năm 1990 tăng 3,1%, các năm còn lại tăng từ 0,4% đến 2,2%

1.3.1.4 Giá nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất tăng cao hơn hàng tư liệu tiêu dùng

Cũng tương tự như tình hình biến động về giá xuất khẩu, chỉ số giá nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất đã tăng cao hơn nhiều so với chỉ số giá hàng tư liệu tiêu dùng trong thời kỳ này Chỉ số giá nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất năm 2006 so với năm 1990 đã tăng 43,8%, trong khi chỉ số giá nhập khẩu hàng tiêu dùng chỉ tăng 1,5% Nhóm nguyên, nhiên, vật liệu trong hàng tư liệu sản xuất đã tăng mạnh nhất là 50,2% so với năm 1990, trong đó có năm đã tăng đến 14,8% như năm 2004, năm 2005 tăng 11,6%, năm 1995 tăng 7,7% và năm 2000 tăng 5,5% Còn nhóm máy móc thiết

bị chỉ tăng 20,5%, trong đó có một số năm không những không tăng mà

Trang 37

còn giảm như năm 1999 đã giảm 4,8%, năm 2000 giảm 1,5% Chỉ số giá nhập khẩu hàng tư liệu tiêu dùng tăng thấp chủ yếu là do nhóm hàng phi lương thực - thực phẩm không những không tăng mà giảm đi như năm

2006 so với năm 1990 đã giảm 7,2% Ngược lại chỉ số giá hàng lương thực - thực phẩm năm 2006 so với năm 1990 đã tăng đến 26,8%, trong đó năm 1995 đã tăng cao nhất là 16,5%, các năm từ năm 2003 đến năm 2006 hàng năm tăng tư 3,4 đến gần 5,9%

1.3.2 Chỉ số tỷ giá cánh kéo xuất/nhập khẩu nghiêng phần có lợi cho Việt Nam thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

Trong cả thời kỳ 1986 - 2006 đã có khá nhiều năm chỉ số giá xuất khẩu tăng cao hơn chỉ số giá nhập khẩu, nhất là thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2006 Chỉ số giá xuất khẩu năm 2006 so với năm 1985 đã tăng 69,7%, trong khi chỉ số giá nhập khẩu chỉ tăng 44,7% Do chỉ số giá xuất khẩu tăng cao hơn chỉ số giá nhập khẩu nên chỉ số tỷ giá cánh kéo giữa xuất khẩu và nhập khẩu (chỉ số tỷ giá xuất/nhập khẩu) hay còn được gọi là chỉ số điều kiện ngoại thương (Term of Trade) trong thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 đã nghiêng phần có lợi khá lớn cho Việt Nam, đặc biệt là từ sau năm 1991 khi chúng ta đã chuyển dịch thành công từ thị trường xuất nhập khẩu truyền thống Đông Âu và Liên Xô sang các thị trường khác trong khu vực và thế giới Chỉ số tỷ giá xuất/nhập khẩu năm

2006 so với năm 1985 là 117,2%, có nghĩa là trong quan hệ trao đổi hàng hóa thông qua xuất nhập khẩu trong thời kỳ mở cửa trước hội nhập WTO

1986 - 2006 Việt Nam đã được lợi về giá là 17,2% Trong đó, giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2006 chúng ta được lợi nhiều nhất, còn giai đoạn 1986 -

1990 khi chủ yếu chúng ta chỉ xuất nhập khẩu hàng hóa trong phạm vi thị trường truyền thống đã bị thiệt khá nhiều về giá Cụ thể chỉ số tỷ giá xuất/nhập khẩu chung năm 1990 so với năm 1985 đã giảm 8,2%, điều đó có nghĩa là chúng ta đã bị thiệt thòi 8,2% về giá trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa trong giai đoạn này, còn chỉ số tỷ giá xuất/nhập khẩu năm 2006 so với năm 1990 đã tăng 27,7%, có nghĩa là trong quan hệ trao đổi hàng hóa thông qua xuất nhập khẩu của Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2006 đã được lợi về giá 27,7% Trong đó các đơn vị chuyên xuất nhập khẩu ngành hàng tư liệu sản xuất đã được hưởng lợi về giá nhiều hơn so với các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trong lĩnh vực hàng tư liệu tiêu dùng Cụ thể chỉ

Trang 38

số tỷ giá xuất/nhập khẩu năm 2006 so với năm 1990 hàng tư liệu sản xuất

đã tăng 107,4%, tức tăng hơn 2 lần hay đã được lợi về giá hơn 2 lần, thì chỉ

số tỷ giá xuất/nhập khẩu hàng tư liệu tiêu dùng chỉ tăng 18,1%, có nghĩa là chỉ được lợi về giá 18,1% trong cùng thời kỳ 1991 - 2006

Trong hàng tư liệu sản xuất thì chủ yếu là chỉ số tỷ giá xuất/nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu tăng cao nhất, còn máy móc thiết bị không những không tăng mà còn giảm, cụ thể chỉ số tỷ giá xuất/nhập khẩu năm 2006 so với năm 1990 của nguyên nhiên vật liệu đã tăng hơn 2 lần, trong khi máy thiết bị đã giảm 20,6% Trong hàng tư liệu tiêu dùng thì chỉ số tỷ giá xuất/nhập hàng phi lương thực - thực phẩm tăng cao hơn, còn hàng lương thực - thực phẩm tăng thấp hơn do chỉ số giá hàng lương thực - thực phẩm

cả xuất và nhập đều cùng tăng gần bằng nhau, nên chỉ số tỷ giá xuất/nhập chỉ tăng 0,6%, nhưng hàng tiêu dùng phi lương thực - thực phẩm thì chỉ số giá xuất tăng 2,3% trong khi chỉ số giá nhập lại giảm 7,2% nên chỉ số tỷ giá xuất/nhập đã tăng 10,1% cao hơn khá nhiều so với chỉ số tỷ giá xuất/nhập của hàng lương thực - thực phẩm

Qua chuỗi chỉ số tỷ giá cánh kéo xuất/nhập khẩu hàng năm thời kỳ

1986 - 2006 cho thấy, toàn bộ 5 năm trong giai đoạn đầu khi thị trường xuất nhập khẩu nước ta chủ yếu là khu vực Đông Âu và Liên Xô thì chỉ số

tỷ giá xuất/nhập khẩu đã liên tục giảm: năm 1986 và năm 1990 giảm 0,4%, năm 1987 giảm 2,9% và năm 1989 giảm 4,2%, điều đó có nghĩa là chúng ta đã liên tục bị thiệt thòi về giá trong quan hệ xuất nhập khẩu thời

kỳ này Trong thời kỳ từ năm 1991 - 2006 thì chỉ có 4 năm có chỉ số tỷ giá cánh kéo xuất/nhập khẩu giảm, đó là năm 1993 giảm 1,9%, năm 1996 giảm 1,2%, năm 1997 giảm 3%, năm 1998 giảm 1,4% và năm 2001 giảm 5,2%, còn các năm khác đều tăng, trong đó năm 1999 tăng cao nhất là 9,8%, năm 2003 và năm 2005 cũng tăng 5,7%, năm 1995 tăng 5,4%, năm

2006 tăng 3,6%, năm 1994 tăng 2,6%, năm 2004 tăng 2,2%, năm 2002 tăng 1,5%, năm 2000 tăng 1% và năm 2002 tăng thấp nhất là 0,8%, điều chứng tỏ phần lớn số năm trong thời kỳ này trong quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đã được lợi về giá

Về hàng tư liệu sản xuất từ năm 1991 đến năm 2006 đã có 7 năm chỉ

số tỷ giá xuất/nhập khẩu giảm và có 9 năm tăng, trong đó nguyên nhiên

Trang 39

vật liệu có 6 năm giảm và 10 năm tăng; chỉ số tỷ giá hàng tư liệu tiêu dùng chỉ có 5 năm giảm và 11 năm tăng, riêng hàng lương thực - thực phẩm cũng có 5 năm giảm và 11 năm tăng, còn hàng phi lương thực - thực phẩm thì có 6 năm giảm và 10 năm tăng

Hình 1.12 Chỉ số giá xuất và nhập khẩu thời kỳ 1986 – 2006

(Năm trước = 100%)

Hình 1.13 Chỉ số giá xuất và nhập khẩu thời kỳ 1991 - 2006

(Năm 1990 = 100%)

Trang 40

Như vậy là từ góc độ quan sát biến động giá cả thị trường thế giới

thông qua chỉ số giá xuất nhập khẩu Việt Nam trong thời kỳ hơn 20 năm

mở cửa trước hội nhập WTO 1986 - 2006 cho thấy đã có nhiều biến động phức tạp, có giai đoạn liên tục tăng, nhưng cũng có nhiều năm lại giảm, tuy nhiên xu hướng giảm ít hơn tăng và tốc độ tăng thường cao hơn tốc độ giảm nên tổng hợp chung cả thời kỳ thì mặt bằng giá cả xuất nhập khẩu nước ta đã tăng lên khá cao, đồng nghĩa với mặt bằng giá cả thế giới thời

kỳ này cũng tăng khá cao Cụ thể chỉ số giá xuất khẩu năm 2006 so với năm 1985 đã tăng gần 70%, nhập khẩu tăng gần 45% và do đó chỉ số tỷ giá giữa xuất và nhập khẩu đã tăng hơn 17%, cũng có nghĩa là tỷ giá cánh kéo giữa xuất khẩu và nhập khẩu đã nghiêng phần có lợi cho Việt Nam hơn 17% trong hơn 20 năm mở cửa trước hội nhập WTO

1.4 CÁC BIỂU SỐ LIỆU XUẤT NHẬP KHẨU VÀ GIÁ XUẤT NHẬP KHẨU THỜI KỲ 1986 – 2006 (1)

Bảng 1.6 SỐ NƯỚC CÓ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VỚI VIỆT NAM THỜI KỲ MỞ CỬA TRƯỚC HỘI NHẬP WTO 1986 - 2006

Tổng số nước có quan hệ ngoại thương

Trong tổng số (năm trước = 100%) Chỉ số phát triển

Số nước xuất khẩu

Số nước nhập khẩu

Tổng số nước

Số nước xuất khẩu

Số nước nhập khẩu

Ngày đăng: 05/11/2020, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w