1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương ôn thi môn tư tưởng hồ chí minh học viện tài chính

16 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 737,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền...Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành trên cơ sở khoa học và cách mạng, có quá trình trưởng thành liên tục trong đấu tranh cách mạn

Trang 1

NOVEMBER 21

Authored by: Học Viện Tài Chính

ĐỀ CƯƠNG TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ CƯƠNG TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trang 2

Mục lục

Câu 1: Các giai đoạn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

Câu 2: Nội dung độc lập dân tộc Vận dụng.

Câu 3: Vai trò lãnh đạo của Đảng Vận dụng.

Câu 4: Lực lượng đại đoàn kết dân tộc.

Câu 5: Xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh Vận dụng.

Câu 6: Chuẩn mực cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư Vận dụng.

Trang 3

Câu 1

: Các giai đoạn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

 Thời kì trước ngày 5/6/1911 : hình thành tư tưởng yêu nước và có chí hướng đi tìm con đường cứu nước mới Bác tiếp thu truyền thống dân tộc, hấp thụ vốn văn hoá Quốc học và Hán học, tiếp xúc với văn hoá phương Tây, chứng kiến cuộc sống khổ cực của đồng bào Bác nảy ý định đi tìm đường cứu nước, sang phương Tây tìm hiểu xem thế giới làm gì rồi trở về giúp đồng bào mình

 Thời kì từ giữa năm 1911-cuối năm 1920 : dần dần hình thành tư tưởng cứu nước , giải phóng dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản

 Năm 1911, Bác sang Pháp, sau đó sang Anh, Mỹ

 Năm 1913, Người từ Mỹ quay lại Anh tham gia công đoàn thuỷ thủ Anh

 Năm 1917, Người từ Anh lại sang Pháp vào lúc nổ ra cách mạng Tháng Mười Nga, Pa-ri sôi động tìm hiểu cách mạng tháng Mười

 Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc ra nhập Đảng xã hội Pháp Tháng 8/1919, Bác gửi bản yêu sách của nhân dân An-nam đến hội nghị Véc-xay Đại hội XVIII Đảng xã hội Pháp thảo luận vấn đề gia nhập Quốc tế III, ngày 30/12/1920 Hồ Chí Minh biểu quyết tán thành Đảng cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản Giai đoạn này đánh dấu sự phát triển vượt bậc thế giới quan của Hồ Chí Minh từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc đến giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ chiến sĩ chống thực dân trở thành chiến sĩ cộng sản Việt Nam Đây là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa vạch đường cho cách mạng Việt Nam

 Thời kì cuối năm 1920 – đầu năm 1930 :hình thành những nọi dung cơ bản hình thành những nội dung cơ bản về tư tưởng Cách mạng Việt Nam Đây là thời kì Hồ Chí Minh có những hoạt dộng thực tiễn và lý luận hết sức sôi nổi, phong phú

Về hoạt động thực tiễn

-Hồ Chí Minh đi qua nhiều nước: Pháp(1921-1923), Liên Xô(1923-1924),Trung Quốc(1924-1927),Thái Lan(1928-1929)

-HCM viết nhiều bài báo tố cáo tội ác chủ nghĩa thực dân đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa CM thuộc địa và Cách mạng vô sản chính quốc khẳng định Cách mạng dân tộc thuộc địa

là một bộ phận của CM vô sản thế giới

+ PHÁP: HCM hoạt động với cương vị trưởng tiểu bang Phương Đông trong bang nghiên

cứu thuộc địa của đảng cộng sản Pháp tham dự đại hội 1 và 2 của đại hội Pháp.Trong các đại hội này người đã phê bình đảng cộng sản Pháp chưa quan tâm đúng mức đến vẫn đề thuộc địa kêu gọi đảng quan tâm hơn nữa đến vấn đề này Tháng 7/1921, cùng với những nhà hoạt động Cách mạg các nước thuộc địa ở Pháp người đã tham gia sáng lập hội liên hiệp thuộc địa xuất bản báo người cùng khổ mà người là chủ nhiệm kiêm chủ bút HCM viết bài đăng trên nhiều tờ báo khác của Pháp và quốc tế nhằm khẳng định nguyện vọng chính đáng của nhân dân VN tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân tuyên truyền cho đường lối CM

Trang 4

+ LIÊN XÔ: Tháng 6/1923 HCM sang Liên Xô đến tháng 10 tham dự hội nghị quốc tế nông

dân,người là đại biểu duy nhất của nhân dân thuộc địa được mời phát biểu ,người được bầu vào đoàn chủ tịch quốc tế nhân dân Năm 1924, người tham dự đại hội quốc tế cộng sản lần thứ 5

và các đại hội quốc tế thanh niên

=> Hoạt động sôi nổi của HCM tại Liên Xô đã giúp người luận giải một cách khoa học những vấn đề thuộc địa vai trò của thuộc địa trong mối quan hệ khăng khít với sự nghiệp Cách mạng của giai cấp vô sản thế giới phát triển sáng tạo lý luận về CM thuộc địa của lenin góp phần bổ sung làm phong phú kho tàng lý luận maclenin đồng thời có thời gian khảo nghiệm nhà nước

xô viết

+ TRUNG QUỐC: Cuối năm 1924, HCM về quảng châu Trung Quốc Được sự ủy nhiệm của

đoàn chủ tịch quốc tế nông dân người tham gia phong trào nông dân ở Trung Quốc và một số nước Châu Á

Tại Quảng Châu người sáng lập VN thanh niên CM đồng chí hội xuất bản báo thanh niên và

mở lớp huấn luyện trực tiếp đào tạo cán bộ cho CM VN,các bài giảng của người tại lớp học này đã được tập hợp thành cuốn đường cách mệnh năm 1927

Tháng 2/1930, Người chủ trì hội nghị hợp nhất thành lập đảng cộng sản VN và trực tiếp thảo ra các văn kiện chính cương vắn tắt sách lược vắn tắt chương trình điều lệ vắn tắt và lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng

Về hoạt động lý luận

- Trong thời kỳ này HCM viết nhiều bài báo nhiều tác phẩm đặc biệt là 3 tp:bản án chế độ thực dân Pháp (1925),Đường cách mệnh (1927),cương lĩnh đầu tiên của Đảng (1930).Những tp

có tính chất lý luận trên chứa đựng những nội dung cơ bản sau:

+ Bản chất của chủ nghĩa thực dân là ăn cướp và giết người

+ CM giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường CM vô sản và là một bộ phận của CM thế giới

+ CM giải phóng dân tộc thuộc địa và CM vô sản ở chính quốc có mối quan hệ khăng khít với nhau nhưng không phụ thuộc vào nhau

+ CM thuộc địa trước hết là một cuộc dân tộc cách mệnh đánh đuổi bọn ngoại xâm dành độc lập tự do

+ CM giải phóng dân tộc muốn giành dk thắng lợi cần phải thu phục lôi cuốn được nông dân đi theo xây dựng khối công nông liên minh làm động lực cho CM cần phải thu hút tập hợp rộng rãi các giai tầng xã hội khác vào trận chiến đấu tranh chung của dân tộc

+ CM muốn thành công trước hết cần phải có đảng lãnh đạo và đi theo chủ nghĩa maclenin + CM là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải là việc của một vài người

 Thời kì đầu năm 1930 – đầu năm 1941 : Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp Cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo Đâythời kỳ thử thách, kiên trì giữ vững quan điểm, nêu cao tư tưởng độc lập, tự do và quyền dân tộc cơ bản Đây là thời kỳ thắng lợi của tư tưởng

Hồ Chí Minh cả về phương diện lý luận và phương diện thực tiễn Khẳng định quan điểm của

Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam là đúng đắn Thời kỳ này Hồ Chí Minh và Quốc tế cộng sản mâu thuẫn trong nhận thức về liên minh các lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh đã giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng "tả" của Quốc tế

Trang 5

cộng sản, lãnh đạo cách mạng Việt Nam thắng lợi Điều này phản ánh quy luật của cách mạng Việt Nam, giá trị và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh

 Thời kì từ đầu năm 1941 – tháng 9/1969, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển thực hiện soi đường cho sự nghiệp Cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Đây là thời kỳ mà Hồ Chí Minh cùng trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta vừa tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, vừa xây dựng chế độ dân chủ nhân dân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ; tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc Tư tưởng Hồ Chí Minh có bước phát triển mới:

 Tư tưởng kết hợp kháng chiến với kiến quốc, tiến hành kháng chiến kết hợp với xây dựng chế

độ dân chủ nhân dân, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau

 Tư tưởng chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính

 Xây dựng quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân

- Xây dựng Đảng Cộng sản với tư cách là một Đảng cầm quyền Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành trên cơ sở khoa học và cách mạng, có quá trình trưởng thành liên tục trong đấu tranh cách mạng chống kẻ thù, chống nhận thức chưa phù hợp giữa trong nước và quốc tế về cách mạng Việt Nam Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, là nhọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do,

vì giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tư tưởng Hồ Chí Minh là một chân lý, có ý nghĩa lớn trong những năm đầu thế kỷ XXI này

Câu 2: Trình bày những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân

tộc Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay.

2.1 Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc

a Độc lập tự do là quyền thiên liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.

- Trong bản tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bằng việc trích dẫn 2 câu trong tuyên ngôn bất hủ của Pháp và Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra, ai cũng có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

- Hồ Chí Minh đã phát triển quyền con người thành quyền dân tộc bằng việc “Suy dần ra, câu

ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

- Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy

b Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, cơm no áo ấm và hạnh phúc của nhân dân.

- Thực chất, đây chính là nội dung độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

- Đây là tư tưởng cốt lõi và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của con đường cách mạng Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ bản chất của chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ ách áp bức dân tộc mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp thì nhân dân lao động vẫn chưa được giải phóng Như Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì Do đó, giành độc lập rồi tất yếu phải tiến lên chủ nghĩa xã

Trang 6

hội, đây là con đường triệt để nhất vì chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, là mọi người được ăn no mặc ấm, sung sướng, tự do

c Độc lập dân tộc phải là nền độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để.

- Theo Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là độc lập thật sự, hoàn toàn và triệt để trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao; trong đó, độc lập về chính trị là quan trọng nhất Các dân tộc sẽ chẳng có độc lập thật sự nếu trước đó không có độc lập về chính trị, nó là cơ sở cho độc lập về kinh tế, văn hóa, ngoại giao Ngoài ra, độc lập phải gắn với quyền tự quyết của dân tộc Mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia của dân tộc nào phải do người công dân của chính dân tộc quốc gia đó giải quyết chứ không phải là sự can thiệp từ bên ngoài

d Độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

- Trong Hiến pháp năm 1946, tại Điều 2 Chương I đã khẳng định: “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất, Trung – Nam – Bắc không thể phân chia”

- Đến Hiến pháp năm 1959, vấn đề quyền dân tộc cơ bản đã được đưa lên Điều 1 Chương I:

“Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất không thể chia cắt”

- Sau này, Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định một chân lý bất hủ: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn Song, chân lý đó không bao giờ thay đổi”

Ý nghĩa

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc là kết quả của quá trình vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin ở Việt Nam

 Góp phần bổ sung, làm phong phú kho tàng lý luận Mác – Lênin

Là cơ sở nền tảng để Đảng ta đề ra các chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với tình hình cách mạng

2.2 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong công cuộc đổi mới hiện nay

1- Khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, nguồn động lực mạnh

mẽ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hội nghị TW 6 (khoá 7) đã xác định rõ nguồn lực và phát huy nguồn lực để xây dựng

và phát triển đất nước Trong đó nguồn lực con người cả về thể chất và tinh thần là quan trọng nhất Cần khơi dậy truyền thống yêu nước của con người Việt Nam biến thành động lực để chiến thắng kẻ thù, hôm nay xây dựng và phát triển kinh tế

2- Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trên quan điểm giai cấp.

Khẳng định rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, của Đảng Cộng sản, kết hợp vấn đề dân tộc và giai cấp đưa cách mạng Việt Nam từ giải phóng dân tộc lên CNXH Đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công- nông và tầng lớp trí thức do Đảng lãnh đạo Trong đấu tranh giành chính quyền phải sử dụng bạo lực của quần chúng cách mạng chống bạo lực phản cách mạng Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH

Trang 7

3- Chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các dân tộc

anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu: vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng Lịch sử ghi nhận công lao của các dân tộc miền núi đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược Hồ Chí Minh nói: Đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt

Trong công tác đền ơn, đáp nghĩa Hồ Chí Minh chỉ thị, các cấp bộ Đảng phải thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc sao cho đạt mục tiêu: nhân dân no ấm hơn, mạnh khoẻ hơn Văn hoá sẽ cao hơn Giao thông thuận tiện hơn Bản làng vui tươi hơn Quốc phòng vững vàng hơn

Câu 3: Vai trò lãnh đạo của Đảng Vận dụng.

3.1.Vai trò

a Tính tất yếu cần thiết phải có Đảng

 Quan điểm của Mác-Lênin

- Từ thực tiễn đấu tranh của gc CN ở một số nước trên TG, CN Mác-Lênin đã chỉ ra rằng:

+ Giai cấp CN là giai cấp duy nhất có khả năng chủ động về mặt xã hội và chỉ gc

CN mới có bản chất cm

+ “Trong cuộc đấu tranh của mình chống quyền lực liên hợp của các gc hữu sản, GCCN chỉ khi được tổ chức thành một chính đảng độc lập đối lập với tất cả các chính đảng cũ

do giai cấp hữu sản lập nên thì mới có thể hoạt động với tư cách là một giai cấp Đó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho cm xã hội thu được thắng lợi và thực hiện được mục đích cuối cùng là xóa bỏ giai cấp”

 Quan điểm Hồ Chí Minh

- Trong cuốn “ Đường cách mệnh” (1927) Hồ Chí Minh viết : “Cách mệnh trước hết phải

có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài ra thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản gc mọi nơi Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.”

- Nhận thức được vai trò to lớn của Đảng, Hồ Chí Minh đã tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản của CN quốc tế, trực tiếp chuẩn bị mọi điều kiện về chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của ĐCSVN (mở lớp huấn luyện cán bộ CM tại Quảng Châu – TQ 1925-1927)

b ĐCS là nhân tố quan trọng của sự thắng lợi của CMVN

- Đảng CSVN được trang bị bằng học thuyết Mác – Lenin, học thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân, có khả năng đề ra đường lối, chủ trương, phương pháp, cách mạng đúng đắn cho mọi giai đoạn, mọi thời kì của cách mạng ( VD : CM T8 năm 1945)

- Đảng có khả năng đoang kết, giác ngộ, tổ chức quần chúng nhân dân, thực hiện thành công đường lối, chủ trương đó

- Đảng được tổ chức chặt chẽ theo nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân nên đã tạo được sự thống nhất trong Đảng về mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức

- Đảng viên của Đảng là những người ưu tú, tiên tiến nhất của dân tộc

Trang 8

- Đảng là đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của gc CN, của dân tộc và của dân tộc, Đảng luôn tận tâm, tận lực phục vụ tổ quốc và nhân dân, tuyệt đối trung thành với lợi ích của nhân dân, gc, dân tộc, ngoài lợi ích của gc, của nhân dân, của dân tộc Đảng không có lợi ích gì khác

- Đảng phải có khả năng đoàn kết quốc tế

=> Để giữ vững vai trò lãnh đạo của mình, Đảng phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn, đổi mới

* Ý nghĩa :

- Lí luận : là cơ sở, nền tảng để Đảng ta đề ra được những quan điểm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sự nghiệp đổi mới

- Thực tiễn : trong đổi mới Đảng ta luôn phát huy được vai trò sức mạnh của mình, lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới

- Tuy nhiên, Đảng còn nhiều hạn chế, đòi hỏi khắc phục hạn chế để đáp ứng yêu cầu, nhiệm

vụ tình hình mới, xứng đáng với vai trò của tổ chức hiện nay

c Vai trò của Đảng trong đổi mới của nước ta hiện nay:

- Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay, sự lãnh đạo của Đảng là vô cùng cần thiết, như các văn kiện của Đảng đã kết luận

- Đảng lãnh đạo đề ra những đường lối, chủ trương đúng đắn về KT, VH, QP,AN để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

- Để có thể xóa bỏ được những âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch

3.2.Vận dụng

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức sâu sắc

vị thế của Ðảng duy nhất cầm quyền Do đó phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"

Lịch sử Việt Nam trong những năm 30 của thế kỷ 20 đến nay đã đánh dấu nhiều mốc son chói lọi, gắn liền với sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam Ðó là các sự kiện dân tộc ta đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thống nhất đất nước và nay đang thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" Sứ mệnh và vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định ngay từ khi mới thành lập, được chỉ rõ trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt

Nhờ đó, "Ðảng đã lãnh đạo nhân dân giành được những thắng lợi vĩ đại: Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa

xã hội" Những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong hơn 30 năm đổi mới càng khẳng định tầm vóc to lớn về vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với hệ thống chính trị và trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 9

Tuy nhiên, cho đến nay, trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết của Ðảng hiệu quả chưa cao, chưa tạo được sự lan tỏa lớn Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong, còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Ðặc biệt, có cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân

Ðể khắc phục những hạn chế của mình, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, hơn lúc nào hết Ðảng cần và phải nâng cao năng lực lãnh đạo của mình Theo đó, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, củng cố và mở rộng nền tảng xã hội của Ðảng, tiếp tục giành được sự ủng hộ tuyệt

đối của nhân dân

Với Ðảng ta, trong quá trình củng cố và mở rộng nền tảng xã hội của Ðảng thì vấn đề mấu chốt là Ðảng phải kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng sáng tạo, phát triển Là một tổ chức lãnh đạo, Ðảng phải có đủ trí tuệ và bản lĩnh chính trị, đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, vượt qua mọi khó khăn thử thách đưa sự nghiệp cách mạng không ngừng tiến lên; thực hiện trọn vẹn mục tiêu, lý tưởng Ðảng đã lựa chọn, xứng đáng với niềm tin tưởng tuyệt đối của nhân dân Bởi, hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên của Ðảng phải thực sự "hết lòng vì dân", mới "được dân hết lòng vì Ðảng"

Hai là, phòng, chống triệt để những biểu hiện quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, cơ hội

chủ nghĩa, kiêu ngạo cộng sản

Cần khẳng định rằng, Ðảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị là nguyên tắc không thể thay đổi Tuy nhiên, ngoài những mặt rất cơ bản, tích cực của một đảng duy nhất cầm quyền, sẽ không tránh khỏi những mặt hạn chế nhất định, những nguy

cơ có thể xảy ra Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đặc biệt chú ý nguy cơ sai lầm về đường lối và suy thoái của cán bộ, đảng viên ngay sau khi giành được chính quyền Người yêu cầu cần phải chiến thắng ba thứ giặc nội xâm là tham ô, lãng phí, quan liêu; nếu không sẽ làm đổ

vỡ cả sự nghiệp của một đảng cầm quyền

Ðối với Ðảng ta hiện nay, các nguy cơ đó có thể bị ngăn ngừa, đẩy lùi, bằng việc từng bước đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà trước hết là dân chủ trong Ðảng, dân chủ trong các cơ quan quyền lực nhà nước và trong toàn

xã hội Mỗi cán bộ, đảng viên của Ðảng quán triệt và thực hiện tốt chức trách và công việc được giao, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện: "Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ

Ba là, lãnh đạo thực hiện hiệu quả Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng

viên, xây dựng hình tượng cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm khiết

Ðối với nước ta, tệ tham nhũng và sự kém hiệu quả trong đấu tranh chống tệ nạn này có

nguyên nhân từ sự thiếu gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lýsuy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ,chạy theo danh lợi Từ đó làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Ðảng, vào bản chất tốt đẹp của chế độ

Trang 10

Vậy nên trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy chế của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Kiên quyết khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; nâng cao lập trường cách mạng, bản chất giai cấp công nhân của Ðảng; ra sức học tập đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng dưới mọi hình thức; nêu cao tính đảng, tính gương mẫu trong quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

Câu 4: Lực lượng đại đoàn kết dân tộc.

- Hồ Chí Minh chỉ ra lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc là toàn dân trong đó lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng.

+ Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nước lấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cách mạng là ngày hội của quần chúng”, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cái cẩm nang thần kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở lực lượng vô địch của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân, nhân dân có một nội hàm rất rộng Người dùng các khái niệm này để chỉ tất cả mọi con dân của nước Việt Nam, những người được gọi là “con Lạc cháu Hồng” Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người là đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các chính đảng, đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người trước đây lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, quay về với chính nghĩa của dân tộc Đoàn kết trong tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mở rộng và tranh thủ tất cả những lực lượng và bộ phận

có thể tranh thủ Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi được dựa trên điểm tương đồng là: “Bất kỳ ai

mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”

+ Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế Nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”, và sau này Người bổ sung thêm nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa công nhân, nông dân với trí thức: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối”

Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp hài hòa, quyện chặt và nhất quán giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp Đoàn kết dân tộc trên cơ sở lấy liên minh công nông làm gốc, không một lúc nào quên đi lợi ích giai cấp song Người cũng có một tư duy vượt trước khi khẳng định chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của cách mạng Việt Nam

+ Theo Người, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ được phát huy khi tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.Cả dân tộc hay toàn dân chỉ có thể tạo nên một sức mạnh to lớn, trở thành lực lượng vô địch khi được tổ chức thành một khối chặt chẽ, được giác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng, được định hướng bởi một đường lối chính trị

Ngày đăng: 05/11/2020, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w