Từ góc độ hoạt động nghiên cứu, nhiều nhà kinh tế trên thế giới đồng tình vớiảnh hưởng tích cực lên đầu tư của khu vực tư nhân từ chi tiêu công Aschauer, 1989;Blejer và Khan, 1984; Ghura
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HÀ NỘI - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
HÀM Ý CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 9340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 2020
Nghiên cứu sinh
Lê Việt An
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập nghiên cứu sinh tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tôi
đã được thụ hưởng một môi trường học thuật tuyệt vời cùng sự tận tâm, nhiệt tình củaquý Thầy, Cô và đội ngũ cán bộ nhân viên nhà trường Đây thật sự là quãng thời gianquý báu và ấn tượng trong cuộc đời đi học của tôi
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu, Viện Đào tạoSau Đại học trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôitrong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thànhđến TS Đặng Anh Tuấn, TS Trịnh Thị Thúy Hồng đã tận tâm hướng dẫn và giúp tôihoàn thành hướng nghiên cứu, cũng như có những lời góp ý, phản biện và lời khuyênquý báu để tôi có thể hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin dành những lời cảm ơn chân thành đến Viện Ngân hàng - Tài chínhtrường Đại học Kinh tế Quốc dân; đặc biệt là PGS TS Cao Thị Ý Nhi - Trưởng Bộ môn Lýthuyết Tài chính Tiền tệ, PGS TS Hồ Đình Bảo - Trưởng Khoa Kinh tế học đã có nhữnggóp ý quan trọng và chia sẻ kinh nghiệm quý báu trong quá trình thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, đồng nghiệp, các anh chị cán bộ nhàtrường đã đồng hành, hỗ trợ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiệnluận án này
Luận án này chứa đựng nhiều sự cố gắng của tôi, nhưng vẫn không tránh khỏi saisót, hạn chế Kính mong nhận được sự góp ý, chia sẻ từ quý thầy, cô và đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 2020
Nghiên cứu sinh
Lê Việt An
Trang 5MỤC LỤC
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Những đóng góp mới của luận án 4
1.7 Kết cấu luận án 4
2.1 Chi tiêu công 9
2.1.1 Quan niệm về chi tiêu công 9
2.1.2 Vai trò của chi tiêu công 10
2.1.3 Đặc điểm của chi tiêu công 12
2.1.4 Phân loại chi tiêu công 13
2.2 Đầu tư tư nhân 14
2.2.1 Quan niệm về đầu tư tư nhân 14
2.2.2 Các nhân tố tác động đến đầu tư tư nhân 15
2.3 Tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân 23
2.3.1 Hiệu ứng lấn át đầu tư 23
2.3.2 Hiệu ứng bổ trợ đầu tư 29
2.4 Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân 30
Trang 62.4.1 Hiệu ứng lấn át đầu tư 30
2.4.2 Hiệu ứng bổ trợ đầu tư 31
2.4.3 Khoảng trống nghiên cứu về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân 33
3.1 Quy trình nghiên cứu 37
3.2 Mô hình nghiên cứu 38
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 38
3.2.3 Giả thuyết nghiên cứu của phương trình chi tiêu công 44
3.3 Phương pháp nghiên cứu 46
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 47
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 48
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 49
4.1 Tình hình chi tiêu công và đầu tư tư nhân ở một số nền kinh tế châu Á 52
4.1.1 Tình hình chi tiêu công 52
4.1.2 Tình hình đầu tư tư nhân 55
4.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân ở một số nền kinh tế châu Á 58
4.2.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 58
4.2.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến số 63
4.2.3 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân 64
4.2.3.3 Kết quả hồi quy phương trình tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân 68 4.3 Tình hình chi tiêu công và đầu tư tư nhân ở Việt Nam 75
4.3.1 Chi tiêu công ở Việt Nam 75
4.3.2 Đầu tư tư nhân ở Việt Nam 82
4.3.3 Tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân ở Việt Nam 88
Trang 75.1 Kết luận chung về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân 101
5.2 Hàm ý chính sách đối với Việt Nam 104
5.2.1 Đối với hoạt động chi tiêu công 105
5.2.2 Một số khuyến nghị khác 110
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 112
5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 112
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2SLS Two-Stage Least Squares Mô hình hồi quy 2 giai đoạn
3SLS Three-Stage Least Squares Mô hình hồi quy 3 giai đoạn
ADB Asia Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
ECM Error Correction Model Mô hình hiệu chỉnh sai số
FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
GMM Generalized Method of Moment Mô hình mô-men tổng quát
HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người
ICOR Incremental Capital-Ouput Ratio Hệ số gia tăng vốn - sản lượng
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ quốc tế
LPI Logistics Performance Index Chỉ số kết quả hậu cần
PCI Provincial Competitiveness Index Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnhPPP Public-Private Partnership Hợp đồng đối tác công - tư
SVAR Structural Vector AutoRegression Mô hình vectơ tự hồi quy dạng cấu trúcVAR Vector AutoRegression Mô hình vectơ tự hồi quy
VECM Vector Error Correction Model Mô hình vectơ hiệu chỉnh sai số
WDI World Development Indicators Báo cáo Chỉ số phát triển thế giớiWEO World Economic Outlook Báo cáo Tổng quan kinh tế thế giớiWGI Worldwide Governance Indicators Chỉ số quản trị toàn cầu
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng kết một số kết quả từ các phương pháp nghiên cứu 34
Bảng 3.1 Giới thiệu các biến nghiên cứu trong mô hình 40
Bảng 4.1 Cơ cấu gói kích thích kinh tế của Trung Quốc (tỷ nhân dân tệ) 55
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 58
Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong phương trình 1 63
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong phương trình 2 64
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy phương trình 2 66
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy phương trình 1 69
Bảng 4.7 Kết quả đối chiếu giữa giả thuyết và kết quả hồi quy 74
Bảng 4.8 Số bằng sáng chế được cấp phép, 2006-2016 88
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mô hình bằng 3SLS cho trường hợp Việt Nam 90
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cơ chế tác động của hiệu ứng lấn át đầu tư 23
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 37
Hình 3.2 Quan hệ giữa các biến số trong phương trình 1 41
Hình 3.3 Quan hệ giữa các biến số trong phương trình 2 44
Hình 4.1 Tỷ lệ chi tiêu công/GDP của một số nước châu Á 52
Hình 4.2 GDP và chi tiêu công thực tế của Bangladesh (tỷ USD) 53
Hình 4.3 Tỷ lệ đầu tư tư nhân/GDP của một số nước châu Á (%) 56
Hình 4.4 Giá trị vốn đầu tư tư nhân ở một số nước châu Á 57
Hình 4.5 Quan hệ giữa thu ngân sách và chi tiêu công của từng nước 65
Hình 4.6 Xu hướng quan hệ giữa thu ngân sách và chi tiêu công của 14 nước 67
Hình 4.7 Quan hệ giữa chi tiêu công và đầu tư tư nhân của từng nước 68
Hình 4.8 Xu hướng quan hệ giữa chi tiêu công và đầu tư tư nhân của 14 nước 70
Hình 4.9 Tình hình chi tiêu công của Việt Nam 75
Hình 4.10 Cơ cấu chi tiêu công của Việt Nam 76
Hình 4.11 Cơ cấu chi thường xuyên của Việt Nam 77
Hình 4.12 So sánh mức lương khu vực công của Việt Nam với khu vực 77
Hình 4.13 Tốc độ tăng của chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển 80
Hình 4.14 Giá trị tuyệt đối của 1% tăng trưởng chi tiêu công 81
Hình 4.15 Số vốn và số lượng doanh nghiệp thành lập mới qua các năm 83
Hình 4.16 Vốn và cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế ở Việt Nam 84
Hình 4.17 Giá trị GDP của các khu vực kinh tế ngoài nhà nước 84
Hình 4.18 Số lượng doanh nghiệp qua các năm 85
Hình 4.19 Năng suất lao động các khu vực kinh tế ở Việt Nam 86
Hình 4.20 Mối quan hệ giữa chi tiêu công và đầu tư tư nhân ở Việt Nam 89
Hình 4.21 Kết quả đầu tư vào cơ sở hạ tầng của một số nước châu Á 91
Hình 4.22 Điểm chất lượng cơ sở hạ tầng (1 = thấp nhất, 5 = tốt nhất) 91
Hình 4.23 Khả năng tiếp cận đất đai của doanh nghiệp - PCI 2017 97
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Nhiều lý thuyết kinh tế đã chứng minh rằng chi tiêu công là một trong nhữngnguồn vốn quan trọng trong quá trình tăng trưởng kinh tế Trong quá trình đó, chi tiêucông còn tác động đến một nhân tố quan trọng khác của nền kinh tế, đó là đầu tư củakhu vực tư nhân trong nước Mối quan hệ giữa chi tiêu công và đầu tư tư nhân đã thuhút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu Câu hỏi đặt ra là, đầu tư tư nhân (đầu tư của khuvực tư nhân trong nước, không tính FDI) có thể được khuếch đại bởi những ảnh hưởngthuận chiều (hiệu ứng bổ trợ đầu tư) hay bị giảm sút bởi những tác động tiêu cực (hiệuứng lấn át đầu tư)?
Từ góc độ hoạt động nghiên cứu, nhiều nhà kinh tế trên thế giới đồng tình vớiảnh hưởng tích cực lên đầu tư của khu vực tư nhân từ chi tiêu công (Aschauer, 1989;Blejer và Khan, 1984; Ghura và Goodwin, 2000; Blanchard và Perotti, 2002; Erden vàHolcombe, 2005; Gjini và Kukeli, 2012) Điều này được giải thích theo hướng vốn côngđược coi là một nhân tố sản xuất bổ trợ, giúp làm tăng năng suất biên của vốn tư nhân
Vì thế, mối quan hệ giữa 2 nhân tố này diễn ra cùng chiều, nghĩa là chi tiêu công kíchthích đầu tư tư nhân gia tăng Ngược lại, một số tác giảkhác khẳngđịnh hiệuứng lấn átvới đầu tư tư nhân là có diễn ra (Argimon và cộng sự, 1997; Furceri và Sousa, 2011, Su
và Bui, 2016) Sựgia tăng trong chi tiêu chính phủkéo theo tổng cầu hàng hóa dịch vụtăng lên, từ đó đẩy mức lãi suất lên cao, làm chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn, khiến mức
độ tiếp cận vốn của khu vực tư nhân giảm xuống Nói một cách khác, vốn nhà nước đãlấn át đầu tư tư nhân Nhận định bổ trợ và lấn át đầu tư tư nhân xảy ra đối với nhiềunước đang phát triển ở khu vực châu Á, nhưng các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở số liệuđến năm 2013 Từ đó đến nay, trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, hiện tượnglấn
át hay bổ trợ đầu tư tư nhân hiện đang diễn biến như thế nào ở khu vực mới nổi và đangphát triển châu Á? Câu hỏi đó đặt ra yêu cầu cho các nghiên cứu tiếp theo để tìm hiểu vềmối quan hệ giữa các nhân tố đặc biệt quan trọng này
Từ thực tế, tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân đã thể hiện khá rõ Mộtmặt, nhiều đánh giá cho thấy chi tiêu công là nguồn vốn quan trọng đầu tư vào cơ sở hạtầng kinh tế - kỹ thuật - xã hội của một quốc gia, từ đó tạo dựng những nền tảng ban đầucho một môi trường kinh doanh thuận lợi, góp phần thu hút vốn đầu tư của các khu vực,đặc biệt là khu vực tư nhân Nguồn chi của chính phủ cũng góp phần hỗ trợ, vực dậynền kinh tế các nước nói chung, khu vực tư nhân nói riêng thoát khỏi những trục trặc
Trang 12kinh tế, đặc biệt là giai đoạn sau khủng hoảng tài chính Đông Á 1997, 1998 và suy thoáikinh tế đi kèm lạm phát cao đến 2 con số những năm 2008 Chẳng hạn, tốc độ tăng GDPcủa Việt Nam có xu hướng đi theo một đường thẳng, từ mức thấp nhất sau khủng hoảng
là 5,25% năm 2012 lên mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây với con số 7,08%năm 2018 Tương tự, nhiều nước châu Á khác cũng đạt được thành tích tăng trưởng tốttrong năm 2018 như Trung Quốc (6,1%), Ấn Độ (5,1%), Indonesia (5,02%), hayPhilippines (6,4%) Đồng thời, khu vực tư nhân cũng ngày càng phát triển đến mứcNakao (2020) đã khẳng định thành công của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triểnchâu Á chủ yếu dựa vào thị trường và khu vực tư nhân, đóng vai trò như những động cơtăng trưởng Những tín hiệu khả quan của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triểnkhu vực châu Á có được từ sự đóng góp của nhiều chính sách, trong đó có chính sáchchi tiêu công Do vậy, vai trò tích cực của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân luôn đượckhẳng định
Mặt khác, một số nhà kinh tế lại không đồng tình với điều này khi tìm ra nhữngtác động tiêu cực của chi tiêu công lên đầu tư tư nhân Chẳng hạn, một vấn đề nổi cộm
là sự ưu ái của các doanh nghiệp khối vốn nhà nước so với khối vốn tư nhân trong việctiếp cận các nguồn lực sản xuất, khiến khu vực tư nhân bị cản trở cơ hội đầu tư hoặcphải đầu tư với chi phí cao hơn nhiều Vì thế, nếu các quốc gia tiếp tục mở rộng chi tiêu
để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội khác, vấn đềcần quan tâm là hướng tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân Trong bối cảnhkhu vực tư nhân ngày càng lớn mạnh và đóng vai trò quan trọng trong hoạt độngkinhtế nhiều nước, việc xác định sự ảnh hưởng này là cần thiết để điều chỉnh chính sáchchi tiêu cho phù hợp
Bên cạnh đó, ở nhiều nước, một số bất ổn của hoạt động chi tiêu công đang bộc
lộ khi một số nước phải đối mặt với tình hình nợ công còn cao, khoảng cách thu - chingân sách bị nới rộng, không gian tài khóa hạn hẹp, tính bền vững trong nền tài chínhcông bị đe dọa, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nguyên nhân cơ bản là do hoạt độngchi tiêu công ở các nước còn chứa nhiều hạn chế, tốc độ tăng chi cao, đồng nghĩa vớiviệc nợ công có nguy cơ phình to, cùng nhiều áp lực lên chính sách tài khóa, kiểm soátlạm phát mà vẫn phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế, ít ảnh hưởng tiêu cực đến các khuvực kinh tế khác trong nền kinh tế Do vậy, các nước vẫn đang tìm kiếm giải pháp phùhợp cho hoạt động chi tiêu trong điều kiện kinh tế biến động mạnh như hiện nay
Như vậy, xét trên nhiều khía cạnh, từ lý thuyết, các nghiên cứu, đến thực tế; dùđứng ở góc độ nhà hoạch định chính sách hay nhà nghiên cứu, chúng ta cũng nên đánhgiá được sự tác động của chi tiêu công lên đầu tư tư nhân để có cái nhìn chuyên
Trang 13Như vậy, xem xét ảnh hưởng của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân ở các nền kinh
tế mới nổi và đang phát triển châu Á; từ đó có thể đưa ra những giải pháp hợp lý chochính sách chi tiêu công ở Việt Nam Đây chính là lý do mà luận án tiến sĩ của nghiên
cứu sinh lựa chọn vấn đề “Tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân - Nghiên
cứu ở một số nền kinh tế châu Á và hàm ý chính sách đối với Việt Nam” làm đề tài
nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài “Tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân - Nghiên cứu ở một số
nền kinh tế châu Á và hàm ý chính sách đối với Việt Nam” được thực hiện nhằm hướng
tới các mục tiêu sau:
i- Xem xét tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân ở một số nền kinh tế châu Á ii- Đánh giá tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân trong trường hợp Việt Nam.iii- Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm gia tăng ảnh hưởng tích cực và hạnchế ảnh hưởng tiêu cực của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân ở Việt Nam
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu đặt ra sẽ là:1- Các nhà nghiên cứu kinh tế có đánh giá như thế nào về tác động của chi tiêucông đến đầu tư tư nhân?
2- Chi tiêu công tác động đến đầu tư tư nhân theo hướng nào ở một số nền kinh
tế mới nổi và đang phát triển ở khu vực châu Á?
3- Tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân trong trường hợp Việt Nam giốnghay khác xu hướng tác động ở các nền kinh tế châu Á nói trên Nói một cách khác, chi tiêucông tác động đến đầu tư tư nhân như thế nào trong trường hợp Việt Nam?
Trang 144- Những chính sách khả thi nào mà chính phủ Việt Nam có thể sử dụng để tăngcường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của chi tiêu công đến đầu tư tưnhân trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hướng tác động của chi tiêu công đến đầu tư tưnhân ở một số nền kinh tế mới nổi và đang phát triển châu Á
Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Thời gian lựa chọn để nghiên cứu là từ năm 2000 đến năm
2018 Khoảng thời gian nghiên cứu là 19 năm, đảm bảo độ dài một cách tương đối để cóthể phát hiện ra các mối quan hệ mang tính bản chất và quy luật giữa các biến số trong
mô hình nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu này phân tích trường hợp của một số nướcchâu Á Cụ thể, đây là 14 nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ở khu vực châu Á Cácquốc gia này có nhiều đặc điểm kinh tế xã hội gần như tương đồng với nhau, có thể đưavào cùng một mẫu quan sát Lúc đó, dữ liệu thu được sẽ là dữ liệu bảng với số lượng là
266 quan sát (bằng 14 nước x 19 năm)
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích định lượng là phương pháp nghiên cứu chính trong luận
án này Trong đó, tác giả tiến hành hồi quy bằng mô hình kinh tế lượng để đánh giá sựảnh hưởng của chi tiêu công lên đầu tư tư nhân Mô hình cụ thể được sử dụng là môhình hồi quy ba giai đoạn Đối tượng nghiên cứu của luận án gồm nhiều quốc gia, trảidài qua nhiều năm nên dữ liệu bảng được sử dụng cho luận án Tác giả cũng sử dụngcác kiểm định cần thiết để kiểm tra các khuyết tật của mô hình, từ đó tiến hành khắcphục những sai sót Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp định tính khi phântích tình hình thực tế về mối quan hệ giữa chi tiêu công và đầu tư tư nhân ở một số nềnkinh tế châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng; đây là cơ sở cho việc đề xuất nhữngchính sách cải thiện mối quan hệ giữa hai nhân tố trên
1.6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án này được thực hiện với những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, đặcbiệt là đối với Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, trên cơ sở lý thuyết về hiệu ứng lấn át và bổ trợ đầu tư, nội dung luận
án đã hệ thống lại kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công đếnđầu tư tư nhân, cho thấy ảnh hưởng khá đa dạng, cả thuận chiều lẫn nghịch chiều Khác
Trang 15với các nghiên cứu trước đó thường tập trung vào một nước hoặc một nhóm nước, luận
án vừa xem xét tác động của chi tiêu công lên đầu tư tư nhân ở một số nước châu Á vừanghiên cứu chi tiết trường hợp Việt Nam
Thứ hai, luận án đã làm rõ sự liên quan giữa các biến số vĩ mô với vốn đầu tư củakhu vực tư nhân, đặc biệt là chi tiêu công; trong khi chi tiêu công lại chịu ảnh hưởng củamột số nhân tố khác Mối quan hệ đồng thời này được xử lý bằng phương pháp hồi quy
3 giai đoạn (3SLS) Cách thức này giải quyết được vấn đề nội sinh, tự tương quan vàkhắc phục yếu điểm từ việc ước lượng từng phương trình riêng biệt (bằng các phươngpháp khác như OLS, FE, RE ) Vì thế, kết quả ước lượng sẽ nhất quán và hiệu quả,giúp đánh giá một cách đầy đủ và chính xác hơn những ảnh hưởng của chi tiêu công đếnđầu tư tư nhân So với các nghiên cứu tương tự, đây cũng là phương pháp chưa được sửdụng nhiều với nhóm nước nói chung và chưa được sử dụng với Việt Nam nói riêng -trong phạm vi hiểu biết của tác giả; do vậy tạo nên đóng góp mới về mặt phương phápnghiên cứu
Thứ ba, nghiên cứu một lần nữa khẳng định tác động tích cực của chi tiêu cônglên đầu tư của khu vực tư nhân ở một số quốc gia mới nổi và đang phát triển khu vựcchâu Á với thời gian cập nhật hơn, đến năm 2018 so với năm 2013 của các nghiên cứutương tự
Thứ tư, luận án chứng tỏ ảnh hưởng thuận chiều của chi tiêu công lên đầu tư tưnhân ở Việt Nam bằng phân tích định lượng (3SLS) và phân tích định tính (phươngpháp theo dõi quá trình, suy luận mô tả và phân tích tình huống), khác với nhận định củamột số nghiên cứu trước đây về tác động lấn át đầu tư tư nhân
Thứ năm, luận án đã xem xét ảnh hưởng của môi trường thể chế kinh tế Đây lànhân tố ngày càng thể hiện vai trò quan trọng đối với các hoạt động kinh tế, được đề cậpnhiều trong các mô hình phân tích tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân vớimẫu quan sát là nhóm nước nhưng ít được đề cập trong nghiên cứu về Việt Nam, do đó
sẽ tạo sự khác biệt cho nghiên cứu này Việc nghiên cứu về vai trò của thể chế sẽ là căn
cứ để các giải pháp đề ra chú trọng hơn vào việc cải cách các yếu tố có liên quan đến thểchế như phân cấp, cách thức thực hiện ngân sách, tạo dựng môi trường thuận lợi chodoanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thứ sáu, để gia tăng ảnh hưởng tích cực của chi tiêu công lên đầu tư tư nhân ởViệt Nam, dựa trên kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách được đưa ra là Nhà nước nêntập trung vào việc tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng hoạt động đấuthầu; kiểm soát chi thường xuyên bằng cách sáp nhập một số cơ quan chuyên môn, thực
Trang 16hiện KPI trong khu vực công; minh bạch trong chi tiêu công; tạo điều kiện để doanhnghiệp nhỏ phát triển.
1.7 Kết cấu luận án
Ngoài các phần phụ, luận án gồm 5 chương với nội dung chính trong từngchương như sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu
Chương 1 giới thiệu những vấn đề chung của luận án như: lý do chọn đề tài, mụctiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứucũng như những đóng góp mới của luận án
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân
Chương 2 trình bày đánh giá của các nghiên cứu trước đây về tác động của chitiêu công đến đầu tư tư nhân cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm, từ đó xem xét mốitương quan này trong thực tế các quốc gia diễn biến như thế nào Việc tổng quan cácnghiên cứu này là cơ sở để phát hiện khoảng trống nghiên cứu, từ đó đưa ra định hướngnghiên cứu cho luận án Đồng thời, trong chương này còn trình bày những vấn đề lýthuyết cơ bản về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân như: khái niệm chi tiêucông, cơ chế, kênh tác động, chiều tác động… từ các khoản chi tiêu công đến hoạt độngđầu tư của khu vực tư nhân
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thể hiện cách thức thực hiện nghiên cứu, từ quy trình đến mô hìnhnghiên cứu và các biến số cụ thể Nguồn dữ liệu, phương pháp cụ thể cho việc nghiêncứu cũng được mô tả trong chương này Việc đánh giá những ảnh hưởng của chi tiêucông lên đầu tư tư nhân sẽ được tiến hành dựa trên thiết kế nghiên cứu này
Chương 4: Phân tích tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân ở một số nền kinh tế châu Á và Việt Nam
Chương 4 trình bày kết quả hồi quy từ mô hình và phương pháp nghiên cứu được
đề cập trong chương 3 Từ đó, tiến hành phân tích kết quả để đưa ra những nhận định vềtác động của hoạt động chi tiêu công đến đầu tư của khu vực tư nhân ở một số nền kinh
tế mới nổi và đang phát triển khu vực châu Á và Việt Nam Quá trình này sẽ giúp làm rõảnh hưởng của chi tiêu từ khu vực công trong giai đoạn nghiên cứu là hỗ trợ hay lấn átđầu tư của khu vực tư Đồng thời, kết quả phân tích cũng thể hiện vai trò của các nhân
tố ảnh hưởng khác đến tình hình đầu tư tư nhân
Trang 17Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Chương 5 đưa ra những đánh giá chung về tình hình đầu tư tư nhân tại Việt Namdưới sự ảnh hưởng của chi tiêu công Những đánh giá trên kết hợp với kết quả nghiêncứu được thảo luận ở chương 4 là cơ sở để đề xuất một số chính sách cho Việt Nam.Các chính sách này liên quan đến việc giảm bớt tác động tiêu cực, gia tăng tác động tíchcực của chi tiêu chính phủ đến đầu tư tư nhân Bên cạnh đó, các hạn chế của nghiên cứunày cũng được đưa ra để gợi mở định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo trong tươnglai
Trang 18KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 giới thiệu một số nội dung cơ bản của luận án Trước hết là bối cảnhnghiên cứu để từ đó đưa ra lý do lựa chọn đề tài Xét trên nhiều góc độ, về lý thuyết lẫncác nghiên cứu thực nghiệm đều cho thấy chi tiêu công có những ảnh hưởng nhất địnhđến đầu tư của khu vực tư nhân Về thực tế, hoạt động chi tiêu công của Việt Nam đã cónhiều biến động lớn cùng với những thăng trầm của nền kinh tế và có những tác động,
kể cả tích cực lẫn tiêu cực Việc đánh giá được chiều hướng và quy mô của ảnh hưởngnày là rất quan trọng để có thể gợi mở những hàm ý chính sách hợp lý cho hoạt động chitiêu công ở Việt Nam Từ đây, luận án đã đưa ra 3 mục tiêu nghiên cứu và cụ thể hóathành 4 câu hỏi nghiên cứu Tác giả cũng xác định đối tượng nghiên cứu là tình hình chitiêu công của 14 nền kinh tế mới nổi và đang phát triển khu vực châu Á giai đoạn 2000-
2018 Để phân tích dữ liệu của các đối tượng trên và trả lời câu hỏi nghiên cứu, luận ánlựa chọn phương pháp hồi quy hệ phương trình đồng thời theo 3 giai đoạn; cộng vớiphân tích định tính tình hình cụ thể tại Việt Nam Luận án được thiết kế thành 5 chương
để có thể truyền tải hết các nội dung nghiên cứu
Từ những vấn đề cơ bản trên, tác giả cũng kỳ vọng luận án sẽ đóng góp điểmmới cho hoạt động nghiên cứu và thực tiễn ở Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN ĐẦU TƯ TƯ NHÂN 2.1 Chi tiêu công
2.1.1 Quan niệm về chi tiêu công
Trên thế giới có không ít các nghiên cứu về vai trò của Chính phủ đối với hoạtđộng kinh tế Thực tế cho thấy, bàn tay vô hình không thể tự mình giải quyết hoàn toànnhững khúc mắc của thị trường Đôi khi quyết định của khu vực tư nhân không đem lạihiệu quả kinh tế, đòi hỏi khu vực công phải can thiệp nhằm bình ổn hoạt động vĩ mô(Keynes, 1936; Stiglitz, 1997) Lúc này, khu vực công sẽ cung ứng ra một lượng hànghóa công nhất định Theo nhà kinh tế học hiện đại P.A Samuelson, hàng tiêu dùng tậpthể (collective consumption goods) - ngày nay quen gọi bằng thuật ngữ “hàng hóa công”(public goods) - là hàng hóa mà việc tiêu dùng của người này không gây loại trừ đối vớiviệc tiêu dùng của người khác (Samuelson, 1954) Nếu coi hoạt động của khu vực côngnhư một quy trình sản xuất, chúng ta thấy rằng khu vực công cũng sử dụng vốn, nhânlực và các nguồn lực khác để sản xuất ra hàng hóa công cộng Thật ra, nếu đi vào chitiết, người ta có thể phân thành hai giai đoạn là sản xuất và cung cấp hàng hóa công.Chẳng hạn, Chính phủ có thể cung cấp hàng hóa công, nhưng đồng thời cho phép khuvực tư nhân sản xuất ra nó Nhưng cho dù khu vực công là một nhà sản xuất hay nhàcung cấp thì nó cũng cần có những khoản chi tiêu để tạo ra hàng hóa công cho xã hội.Những khoản chi này được gọi là “chi tiêu công” Đó là các khoản chi phát sinh bởi cácđơn vị trong khu vực công, từ cấp trung ương đến cấp địa phương để thỏa mãn nhu cầuchung của người dân Chi tiêu công giúp chính phủ có thể sản xuất và mua sắm hànghóa dịch vụ nhằm cung ứng hàng hóa công và tái phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế
xã hội
Tương tự, Sử Đình Thành (2009) cho rằng chi tiêu công phản ánh giá trị của cácloại hàng hóa dịch vụ mà chính phủ đã mua về để hình thành nên hàng hóa, dịch vụcông, từ đó cung ứng cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước; đồng thờithực hiện chính sách tái phân phối thu nhập Lúc đó, có thể hiểu rằng tất cả các khoảnchi tiêu của chính quyền các cấp, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp
do chính phủ tài trợ là chi tiêu công Nói một cách khác, chi tiêu công chủ yếu là cáckhoản chi ngân sách Tương tự, Dương Đăng Chinh và Phạm Văn Khoan (2009) nhậnđịnh chi tiêu công là việc phân phối và sử dụng các quỹ công mà chủ yếu là quỹ ngânsách nhà nước (NSNN), nhằm phục vụ cho hoạt động của bộ máy nhà nước, thực
Trang 20hiện các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước, duy trì sự hoạt động bình thường củanền kinh tế xã hội.
Như vậy, hầu hết quan niệm chi tiêu công đều xoay quanh các khoản chi từ phíachính phủ cho việc duy trì bộ máy nhà nước và thực hiện chức năng của nó Trong luận
án này, thuật ngữ chi tiêu công được sử dụng dựa trên quan điểm của IMF Đó là tất cảcác khoản chi của chính phủ và chi ròng cho đầu tư tài sản phi tài chính (như mua lại tàisản vốn cố định, cổ phiếu chiến lược, đất đai và tài sản vô hình) Cụ thể, đó là các khoảnchi tiêu của chính phủ được tài trợ bởi ngân sách nhà nước; gồm tất cả các khoản chitiêu của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương để trang trải kinh phí chocác hoạt động của chính phủ, từ việc nuôi dưỡng bộ máy khu vực công đến cung ứnghàng hóa, dịch vụ công
2.1.2 Vai trò của chi tiêu công
Rõ ràng chi tiêu công là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động của mọichính phủ và nền kinh tế Tuy nhiên, để tìm một điểm chung về quan điểm của các nhàkinh tế học về vai trò của chi tiêu công thì không phải là điều dễ dàng Trên thế giới cókhông ít các nghiên cứu về vai trò của chi tiêu chính phủ đối với hoạt động kinh tế Về
cơ bản, có thể chia thành hai nhóm quan điểm: (1) ủng hộ sự điều tiết của thị trường, (2)ủng hộ vai trò của chính phủ thông qua công cụ chi tiêu
Quan điểm ủng hộ sự điều tiết của thị trường nhận được sự hậu thuẫn của cácnhà kinh tế học cổ điển Trường phái này chủ yếu xoay quanh vai trò của thị trường theohướng hoạt động một cách tự do và không bị ngăn cản Họ tin rằng sự can thiệp củachính phủ sẽ là trở ngại cho dòng lưu chuyển tự do của hàng hóa dịch vụ và làm mọiviệc trở nên xấu đi, gây ra nhiều thiệt hại hơn là lợi ích Đồng thời, nguồn thu của chínhphủ được lấy từ khu vực sản xuất, trong khi các khoản chi của họ lại không sinh lời; gâytổn thất cho nền kinh tế Vì thế, cần phải giảm thiểu sự chi phối của chính phủ đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh Để khuyến khích tăng trưởng, chính phủ nên đảm bảo cho tự
do thương mại, tự do thị trường và ngân sách cân bằng Chức năng chính của chính phủchỉ là các chức năng truyền thống như đảm bảo an ninh quốc phòng, duy trì luật lệ vàtrật tự quốc gia, phát triển công cộng Mọi việc còn lại sẽ do bàn tay vô hình của thịtrường tự động hướng các hoạt động kinh tế đến điểm cân bằng tối ưu Do vậy, nhữngchức năng khác ngoài ba chức năng trên được coi là vượt quá phạm vi của nhà nước vàchi tiêu cho chúng được xem như bất công, lãng phí (Smith, 1976) Như vậy, ngay cảnhững nhà kinh tế học ủng hộ bàn tay vô hình của thị trường cũng vẫn thừa nhận vai tròcủa chính phủ, nhưng họ giới hạn phạm vi
Trang 21Tuy nhiên, nhận định về vai trò của chi tiêu công theo hướng tuyệt đối hóa vaitrò của thị trường hay nhà nước cũng đều không hợp lý trong quản lý kinh tế Vì vậy,trong kinh tế học hiện đại, hầu hết các nhà kinh tế học thiên về xu hướng cả chính phủ
và thị trường cùng điều tiết nền kinh tế Cụ thể, khu vực tư nhân được khuyến khíchphát triển trong điều kiện thị trường tự do dưới sự kiểm soát về chính trị và chính sáchkinh tế của chính phủ Mặt khác, khu vực công sẽ tham gia vào quá trình tăng trưởng vàphát triển các tiện ích công cộng Một số nghiên cứu khác từ hiện tượng thần kỳ Đông Á
và sự thành công của Hoa Kỳ cũng khẳng định tư tưởng này (Stiglitz, 1997) Theo đó,chính phủ có 6 vai trò cực kỳ quan trọng là: phát triển giáo dục, công nghệ, hỗ trợ khuvực tài chính, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, ngăn ngừa sự suy thoái môi trường, tạo lập vàduy trì một xã hội an toàn Bên cạnh đó, nhà nước còn đóng vai trò quan trọng là cungcấp hàng hóa công cho nền kinh tế - đó là hàng hóa mà việc tiêu dùng của người nàykhông gây loại trừ đối với việc tiêu dùng của người khác (Samuelson, 1954) Muốn vậy,chính phủ phải bỏ ra các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện các mục tiêu kể trên
Như vậy, có thể nói rằng, sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế thông quakênh chi tiêu công là một lẽ đương nhiên Một mặt, chính phủ có trách nhiệm khắc phụccác thất bại thị trường, giúp thị trường đạt được tối ưu trong việc sử dụng các yếu tố đầuvào Lúc này, chi tiêu công được xem như một công cụ để thực hiện việc phân bổ các
Trang 22nguồn lực một cách hiệu quả Chi tiêu công có trách nhiệm trong việc tạo dựng cơ sở hạtầng cho nền kinh tế - xã hội, cung ứng hàng hóa công, duy trì một xã hội an toàn Bêncạnh đó, các khoản chi từ khu vực công còn bổ sung vào những khoảng trống mà khuvực tư nhân không thể đầu tư; làm nhiệm vụ dẫn dắt, định hướng cho hoạt động đầu tư
tư nhân Mặt khác, chi tiêu công thể hiện vai trò phân phối lại thu nhập, đảm bảo an sinh
xã hội Điều này được thực hiện thông qua các khoản chi trợ cấp cho các đối tượngchính sách; cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục cơ bản, một số dịch vụ xã hội khác Ngoài
ra, chi tiêu công có một vị trí quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô Là công
cụ cơ bản để thực thi chính sách tài khóa, chi tiêu công sẽ góp phần giải quyết nhữngtrục trặc của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết vấn đề thất nghiệp và lạmphát Nói tóm lại, chi tiêu công là một nhân tố cực kỳ quan trọng và thiết yếu trong hoạtđộng kinh tế vĩ mô
2.1.3 Đặc điểm của chi tiêu công
Chi tiêu công mang những đặc điểm cơ bản sau:
Hoạt động chi tiêu công gắn liền với bộ máy nhà nước, thực hiện những chứcnăng và nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước Các khoản chi này được chínhphủ sử dụng để cung ứng hàng hóa công, xây dựng cơ sở hạ tầng, phân bổ nguồn lực…trong nền kinh tế
Chi tiêu công mang tính chất công, nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng.Điều đó xuất phát từ một trong các chức năng của nhà nước là quản lý toàn diện nềnkinh tế xã hội; do vậy, các hoạt động chi tiêu của nhà nước phải nhằm phục vụ cho đại
đa số người dân Tuy nhiên, ở một số quốc gia, các hoạt động của chính phủ đôi khi chỉhướng đến một số nhóm đối tượng cụ thể, nhất là những khu vực liên quan đến việc bầu
cử Lúc đó, các chính trị gia có xu hướng rót nhiều khoản chi tiêu công vào những chínhsách, dự án có lợi cho những người đã bỏ phiếu cho mình (Von-Hagen, 1998) Tuynhiên, đa phần hoạt động này vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội nói chung
Chi tiêu công được thực hiện theo nguyên tắc không mang tính hoàn trả hoặchoàn trả không trực tiếp Điều đó được phản ánh thông qua sự tương quan giữa mức chi
và kết quả chi Các khoản chi có thể không tương ứng với kết quả chi về không gian,thời gian; về mức chi và chất lượng chi với khối lượng, chất lượng của kết quả chi tiêu.Nhiều dự án được tài trợ bằng quỹ công có ý nghĩa cả về mặt kinh tế lẫn xã hội nên khóthể lượng hóa được mức độ ảnh hưởng Đôi khi lợi ích kinh tế thu về của các dự án nàythấp hơn mức chi phí bỏ ra, nhưng giá trị xã hội còn lớn hơn khoản đầu tư ban đầu
Trang 23Chi tiêu công cũng liên quan đến yếu tố độ trễ chính sách, bao gồm cả độ trễtrong và độ trễ ngoài Nghĩa là, từ lúc các khoản chi tiêu được hoạch định, thông qua,triển khai đến khi có tác động thường mất một khoảng thời gian nhất định Chính sáchchi tiêu thường đối mặt với vấn đề “độ trễ trong” nhiều hơn bởi vì khâu thiết kế, hoạchđịnh và thông qua của chính phủ thường phải thực hiện theo đúng quy trình, mất nhiềuthời gian Trong quá trình đó, tình hình kinh tế, xã hội có thể thay đổi; hoặc công tác dựbáo và thiết kế không chính xác, buộc chính sách chi tiêu công phải điều chỉnh theo,khiến độ trễ càng bị kéo dài
2.1.4 Phân loại chi tiêu công
Việc phân loại chi tiêu công được thực hiện dựa trên nhiều cơ sở khác nhau như:tính tương đồng của các hạng mục chi tiêu cụ thể, hoặc mục tiêu phân loại Chẳng hạn,Plehn (trích trong Guest, 1930) cho rằng chi tiêu công được thực hiện nhằm đem lại lợiích cho xã hội, do vậy việc phân loại sẽ được thực hiện dựa trên lợi ích mà các khu vựctrong xã hội nhận được Smith (1976) lại dựa trên các chức năng chính của chính phủ đểtiến hành phân loại Lúc này, các khoản chi tiêu từ chính phủ được chia thành: (1) Chi
để thực hiện chức năng bảo vệ, (2) Chi để thực hiện chức năng thương mại và
(3) Chi để thực hiện chức năng phát triển Pigou (1932) lại căn cứ vào tính chất chuyểngiao - tức là sự phân phối lại thu nhập, trong đó các khoản chi không thể hiện việc mua sắm hànghóa dịch vụ, không tương ứng với bất kỳ lượng sản phẩm nào mới được tạo ra Hoạt động nàylàm tăng thu nhập của đối tượng thụ hưởng nhưng không thay đổi giá trị sản xuất của nền kinh
tế Lúc này, chi tiêu công gồm 2 loại:
(1) Chi có tính chất chuyển giao - liên quan tới các khoản chi không có khả năng thu hồi,chỉ là chuyển giao một chiều từ phía chính phủ cho các đối tượng; và (2) Chi không có tínhchuyển giao - liên quan các khoản chi tạo ra thu nhập, sản lượng trực tiếp hoặc gián tiếp
Hiện nay, cách phân loại của Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund
- IMF) được áp dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu Theo đó, có hai cách chính đểphân loại chi tiêu công Thứ nhất là theo tính chất kinh tế - dựa trên loại hình hoặc đặc điểm kinh
tế của khoản chi Theo đó, chi tiêu chính phủ bao gồm 2 loại chính là chi đầu tư và chi thườngxuyên (IMF, 1986, trang 175) Chi thường xuyên là các khoản chi phát sinh thường xuyên, cầnthiết cho hoạt động quản lý và các hoạt động khác của khu vực công Còn chi đầu tư phát triểnđảm nhận nhiệm vụ tài trợ cho việc thực hiện chức năng phát triển kinh tế của đất nước như đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế… Thứ hai là theo chức năng - dựa trên mục đíchhoặc chức năng hướng đến trực tiếp của khoản chi Lúc này, có 4 nhóm: chi dịch
Trang 24vụ kinh tế, dịch vụ cộng đồng và xã hội, dịch vụ chính phủ nói chung và chức năng khác(IMF, 1986, trang 144).
Chẳng hạn, dựa trên mức độ hiệu quả của nội dung chi, Ghosh và Gregoriou(2008) đề cập đến hai khoản mục chi đầu tư và chi thường xuyên Tương tự, Kormendi
và Meguire (1985) cũng phân loại chi tiêu chính phủ thành đầu tư công và chi chuyểngiao Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết, cách phân loại của một số tác giả xuất hiện sự khácbiệt Trong khi Kormendi và Meguire (1985) xem chi cho quốc phòng và giáo dục nhưmột khoản chi tiêu chính phủ không mang tính chất đầu tư phát triển; thì Barro (1990)xếp chúng vào hạng mục chi đầu tư Ông coi giáo dục là khoản đầu tư cho nguồn vốnnhân lực trong tương lai; còn chi cho quốc phòng sẽ đảm bảo quyền lợi về tài sản củangười dân, giúp nhà đầu tư yên tâm tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh
Devarajan và cộng sự (1996), Gong và Zou (2002) tiến hành phân loại dựa trên cả 2cách thức trên; tuy nhiên nội dung trong chi theo chức năng của 2 nghiên cứu này có sựkhác nhau ở mức độ chi tiết Cụ thể, ngoài 3 hạng mục giống nhau là chi cho quốc phòng,chi cho giáo dục, chi giao thông vận tải và thông tin liên lạc; Gong và Zou (2002) bổ sungthêm chi cho dịch vụ công cộng, chi phúc lợi và chi cho dịch vụ kinh tế; còn Devarajan vàcộng sự (1996) thêm mục chi cho y tế Cũng phân theo chức năng, nhưng có sự liên quanđến khả năng tạo đầu ra của khoản chi tiêu, nghiên cứu của Bleaney và cộng sự (2001)nhóm thành 3 loại: (1) Chi tiêu mang tính chất phi đầu tư (unproductive expenditure): làkhoản chi cho an sinh xã hội, chi cho tái tạo và chi cho dịch vụ kinh tế;
(2) Chi tiêu mang tính chất đầu tư (productive expenditure): gồm chi cho dịch vụ côngcộng nói chung, quốc phòng, giáo dục, sức khỏe, nhà cửa, giao thông và thông tin liên lạc; và (3)Chi khác
Với các nghiên cứu trong nước, khi xem xét về chi tiêu chính phủ tại các địaphương ở Việt Nam, các tác giả thường căn cứ vào tính chất kinh tế để chia thành chithường xuyên và chi đầu tư phát triển (Mai Đình Lân, 2012; Sử Đình Thành, 2013)
2.2 Đầu tư tư nhân
2.2.1 Quan niệm về đầu tư tư nhân
Theo WB (2019), đầu tư tư nhân là các khoản chi của khu vực tư nhân, kể cả các
tổ chức phi lợi nhuận của tư nhân, vào việc bổ sung cho tài sản cố định trong nước Chitiết hơn, có thể hiểu đầu tư tư nhân là việc khu vực tư nhân mua sắm tài sản vốn với kỳvọng tạo ra một khoản thu nhập, giá trị lớn hơn trong tương lai Trong phạm vi luận ánnày, đầu tư tư nhân sẽ là đầu tư của khu vực tư nhân trong nước
Trang 25tư nhân Tuy nhiên, với Wuhan và Khurshid (2015), mối quan hệ âm này chỉ diễn ratrong dài hạn, còn trong ngắn hạn lại cùng chiều Nghiên cứu này được thực hiện vớitrường hợp của tỉnh Giang Tô, Trung Quốc từ năm 2003 đến năm 2012.
Tuy nhiên, một số tác giả khác có nhận định ngược lại McKinnon (1973), Shaw(1973), Lugo (2008) bắt đầu ủng hộ trường phái tự do hóa tài chính như một phươngtiện thúc đẩy tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng Điều này được dựa trên lập luận rằng lãisuất thực thường mang giá trị âm ở các nước đang phát triển vì các biện pháp kiểm soáthành chính thường tập trung vào lãi suất danh nghĩa cùng với các quy định khá cứngnhắc trên thị trường tài chính Trường phái này cho rằng sự gia tăng của lãi suất thực tế
sẽ kích thích hoạt động tiết kiệm và loại bỏ các dự án đầu tư có năng suất thấp, giữ lạinhững dự án sinh lợi tốt Do vậy, lãi suất có tác động tích cực đến quy mô và chất lượngvốn đầu tư Bằng quan sát nền kinh tế Ấn Độ trong hơn 40 năm, 1955-1995, Athukorala(1998) đã chứng minh rằng, lãi suất thực cao hơn dường như sẽ thúc đẩy tài chính vàtiết kiệm, kích thích đầu tư tư nhân Tương tự, nghiên cứu về Pakistan giai đoạn 1973-
2007 của Munir và cộng sự (2010) cũng khẳng định quan hệ cùng chiều giữa lãi suấtthực tế và đầu tư tư nhân như giả thuyết của McKinnon-Shaw (1973)
Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes chia ra hai trường hợp là ngắn hạn
và dài hạn Trong ngắn hạn, lãi suất thực tế, đầu tư tư nhân và sản lượng có liên hệ mật
Trang 26thiết với nhau Tuy nhiên, trong dài hạn, điều này không xảy ra (Woodford, 2003) Trongdài hạn, lãi suất thực thường đạt được ở mức cân bằng trên thị trường vốn và được gọi là lãisuất tự nhiên Tại đó, lạm phát không đổi, khoảng cách sản lượng bằng 0 (sản lượng thực tếtrùng với sản lượng tiềm năng), tiết kiệm bằng với đầu tư Nghiên cứu từ Nigeria giai đoạn2980-2010 của Osundina và Osundina (2014) cho kết luận tương đồng với quan điểm này.Nhóm tác giả trên không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào đủ thuyết phục để chứng tỏtồn tại mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư tư nhân.
2.2.2.2 Nguồn tài chính của các khu vực kinh tế khác
Chi tiêu công
Chi tiêu công là một nhân tố đặc biệt khi vừa có thể hỗ trợ vừa có thể lấn át hoạtđộng đầu tư của khu vực tư nhân Đây cũng là nội dung chính của nghiên cứu này và sẽđược trình bày cụ thể ở các phần sau
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Mối liên hệ giữa vốn FDI và đầu tư trong nước của khu vực tư nhân đã thu hútnhiều nghiên cứu khác nhau Các nhà khoa học thường tranh cãi xoay quanh hai xuhướng: FDI sẽ có hiệu ứng tràn theo hướng tích cực hay tiêu cực đến đầu tư tư nhân
Theo hướng thứ nhất, các nghiên cứu đã tập trung về một số lập luận cơ bản Một
là, khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp trong nước có quan hệlàm ăn với doanh nghiệp FDI sẽ có cơ hội tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu, tạothuận lợi đẩy mạnh xuất khẩu Hai là, việc cọ xát với các doanh nghiệp FDI ngay trênthị trường nội địa giúp các doanh nghiệp trong nước có cơ hội học tập kinh nghiệm quản
lý, hoạt động và phải tham gia vào cuộc đua nâng cao chất lượng sản phẩm cũng nhưkhả năng tổ chức quản lý doanh nghiệp; từ đó tăng tính năng động, khả năng cạnh tranh
Ba là, nếu dòng vốn FDI chảy vào các lĩnh vực mà trong nước còn yếu hoặc chưa đápứng được thì sẽ khai phá, tạo xu hướng và bổ trợ cho các nhà đầu tư tư nhân tìm hiểuhoạt động này (Romer, 1993) Quan điểm này nhận được sự ủng hộ của Kim và Seo(2003), Haskel và cộng sự (2007), Xu và Wang (2007), Altaleb và Alokor (2012), Al-Sadig (2013), Omri và Kahouli (2014) Chẳng hạn, Omri và Kahouli (2014) đã tiếnhành quan sát 13 quốc gia Trung Đông và Bắc Phi Theo đó, mô hình định lượng đượcxây dựng cho chuỗi thời gian 21 năm, từ 1990 đến 2010 Phân tích thực nghiệm chothấy, FDI có quan hệ tích cực đến đầu tư tư nhân Dài hơi hơn, Al-Sadig (2013) điều tradiện rộng trên 91 nước đang phát triển trong giai đoạn 1970-2000 và cũng đưa ra kếtquả tương tự Hơn nữa, hiệu ứng bổ trợ này sẽ mạnh hơn nếu thể chế chính trị tốt (Omri
& Kahouli, 2014), hoặc mức độ sẵn có của vốn nhân lực (Al-Sadig, 2013)
Trang 27Ngược lại, theo hướng thứ hai, việc gia tăng nguồn vốn FDI có thể gây khó khăn chodòng vốn tư nhân trong nước Nhiều doanh nghiệp FDI với tiềm lực tài chính lớn, kinhnghiệm quản lý tốt, hiệu suất làm việc cao… tạo áp lực với các doanh nghiệp nội địa Hơnnữa, nếu vốn FDI đi vào các lĩnh vực mà nhà đầu tư trong nước đang thực hiện, tính chấtcạnh tranh có thể trở nên gay gắt hơn, thậm chí đe dọa đến sự tồn tại của doanh nghiệp nộiđịa (Romer, 1993) Để minh chứng điều này, Adams (2009) tiến hành quan sát tình hình của
42 nước châu Phi khu vực cận Sahara trong các năm 1990-2003 Nghiên cứu định lượng đãcung cấp thêm bằng chứng về tương quan âm giữa FDI và đầu tư tư nhân ở nước sở tại Kếtquả cũng chỉ ra biến trễ FDI có ảnh hưởng cùng chiều đến đầu tư tư nhân Tuy nhiên, mức
độ ảnh hưởng ròng của biến số FDI và biến trễ FDI là âm; do đó nhìn chung FDI vẫn có sựlấn át đầu tư tư nhân Nhận định này được khẳng định lại ở nghiên cứu củaUdomkerdmongkol và Morrissey (2012) Nhóm tác giả đã thu thập dữ liệu của 36 nước cóthu nhập trung bình và thấp giai đoạn 1995-2001 Danh sách gồm 8 nước châu Á, 5 nướcchâu Phi, 10 nước châu Âu, 13 nước châu Mỹ La tinh và Caribe Kết quả chỉ ra FDI ảnhhưởng ngược chiều lên đầu tư tư nhân nội địa ở các nước đang phát triển, và mức độ chènlấn này sẽ cao hơn ở những nước có thể chế tốt hơn
Đa dạng hơn, Agosin và Mayer (2000) đã phân tích tác động này trong cáckhoảng thời gian khác nhau Nghiên cứu được thực hiện trên dữ liệu của 16 nền kinh tếmới nổi trong 30 năm, sử dụng hệ phương trình đồng thời, mỗi phương trình đại diệncho một nước Bằng mô hình hồi quy 3 giai đoạn (3SLS), nhóm tác giả nhận thấy mốitương quan giữa FDI và đầu tư tư nhân phụ thuộc vào bối cảnh từng quốc gia Về ngắnhạn, đa phần vốn FDI các nước có ảnh hưởng tích cực lên đầu tư của khu vực tư nhântrong nước Về dài hạn, FDI có ảnh hưởng trung lập ở hầu hết các quốc gia; số còn lạitồn tại hoặc bổ trợ hoặc lấn át đầu tư tư nhân Ở nghiên cứu tiếp theo của một trong cáctác giả này, kết quả tương tự cũng xảy ra Agosin và Machado (2005) phân tích dữ liệugiai đoạn 1971-2000 của 12 nước khu vực châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh Các lập luậncho thấy FDI có xu hướng thay thế vốn đầu tư tư nhân trong nước ở châu Mỹ La tinh;trong khi ảnh hưởng không rõ nét ở 2 châu lục còn lại
2.2.2.3 Tín dụng cho đầu tư tư nhân
Sự khan hiếm trong nguồn tài trợ vốn được nhìn nhận là một trong các yếu tố cảntrở hoạt động đầu tư tư nhân Minh chứng cho nhận định này, Loungani và Rush (1995)chỉ ra rằng nhiều chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, rấtkhó tiếp cận nguồn tài chính một cách trực tiếp trên thị trường chứng khoán Họ thườngtìm đến hệ thống các tổ chức tài chính và phụ thuộc khá nhiều vào nguồn tín dụng ngân
hàng Vả lại, như đã đề cập ở nhân tố Lãi suất, việc đi vay là phổ biến với các nhà đầu
Trang 28tư Nguồn tài chính càng dồi dào thì việc cung ứng vốn cho hoạt động đầu tư càng diễn
ra dễ dàng Hơn nữa, nguồn cung vốn ở mức cao có thể kéo giảm lãi suất cho vayxuống, khiến nhà đầu tư thuận lợi hơn khi tiếp cận vốn Do vậy, việc mở rộng tín dụngcho khu vực tư nhân được xem là chỉ báo tốt cho dòng vốn khu vực này
Từ cơ sở lý thuyết này, nhiều nghiên cứu đã đưa biến số tính khả dụng của tíndụng vào mô hình để đánh giá ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân, từ phạm vi một quốc gia(Ribeiro và Teixeira, 2001; Acosta và Loza, 2005; Tadeu và Silva, 2013); cho đến mộtnhóm nước như 24 nước đang phát triển giai đoạn 1971-1979 (Blejer và Khan, 1984),các quốc gia Tây Phi giai đoạn 1995-2014 (Combey, 2016)
Quan hệ cùng chiều giữa nguồn tài chính với đầu tư tư nhân nhận được sự ủng hộcủa Acosta và Loza (2005) khi xem xét bối cảnh Argentina giai đoạn 1970-2000 Cũngtập trung vào trường hợp của một quốc gia - Brazil - là nghiên cứu được thực hiện bởiTadeu và Silva (2013), Ribeiro và Teixeira (2001) Nhóm tác giả này đặt ra giả thuyếtcác doanh nghiệp ở Brazil phải đối mặt với những khó khăn trong tín dụng Lúc đó, tăngtín dụng cho khu vực tư nhân sẽ tạo đà cho việc mở rộng hoạt động đầu tư khu vực nàytrong năm đó Kết quả cùng chiều này không đổi khi sử dụng mô phỏng Monte Carlo để
dự đoán cho 6 năm tiếp theo, từ 2012 đến 2017
Nhận định này cũng nhất quán với nghiên cứu của Ghura và Goodwin (2000) khitiến hành quan sát 31 nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh năm 1975-
1992 Kết quả đưa ra cho thấy tỷ lệ tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân có ảnh hưởngthuận chiều đến tỷ trọng đầu tư tư nhân trong GDP, trừ các nước ở khu vực châu MỹLatinh Đây cũng là những gì mà Blejer và Khan (1984) tìm thấy trong các nghiên cứucủa mình
2.2.2.4 Tăng trưởng kinh tế
Sức khỏe của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu đầu tư trong nước.Kinh tế tăng trưởng, thu nhập người dân cao hơn sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ hàng hóagia tăng, kích thích các nhà đầu tư mở rộng sản xuất Việc mở rộng này đòi hỏi các nhàđầu tư phải cung ứng vốn nhiều hơn cho nền kinh tế Điều này đồng nghĩa với việc đãxảy ra hiệu ứng tăng tốc (accelerator effect) của tổng cầu đến đầu tư; nghĩa là sự giatăng trong thu nhập, tiêu dùng dẫn đến sự gia tăng trong đầu tư Nói một cách khác, tăngtrưởng kinh tế đã tạo động lực thúc đẩy hoạt động đầu tư tư nhân
Bên cạnh đó, GDP được cải thiện, đem lại thu nhập cao cũng tạo điều kiện chohoạt động tiết kiệm trong dân cư Điều này cực kỳ quan trọng với thị trường vốn khi mànhiều nhà đầu tư phải đi tìm nguồn tài trợ Lúc đó, tiết kiệm sẽ là nguồn lực dồi dào để
Trang 29tư nhân trong GDP cũng cao Đây cũng là nhận định của Acosta và Loza (2005) trongtrường hợp Argentina Sử dụng dữ liệu chuỗi của quốc gia này giai đoạn 1970-2000, cảtrong ngắn lẫn dài hạn, Acosta và Loza (2005) đều chứng tỏ quy mô sản lượng đầu ra lànhân tố tích cực thúc đẩy gia tăng đầu tư tư nhân với mức ý nghĩa thống kê rất cao.
cả trên thị trường Một mặt, mức giá chung tăng lên sẽ ảnh hưởng đến giá cả các yếu tốđầu vào của doanh nghiệp, khiến chi phí sản xuất gia tăng, gây khó khăn cho hoạt độngsản xuất và làm giảm nhu cầu đầu tư Mặt khác, lạm phát xảy ra làm méo mó thông tintrên thị trường, khiến việc phân bổ nguồn lực trở nên kém hiệu quả, cũng gây tốn kémcho nhà đầu tư Như vậy, lạm phát và đầu tư tư nhân có quan hệ ngược chiều nhau Vìvậy, nhiều nghiên cứu đã sử dụng tỷ lệ lạm phát như một thang đo phù hợp cho sựkhông chắc chắn của nền kinh tế (Greene và Villanueva, 1991; Beaudry và cộng sự,2001; Le, 2004; Erden và Holcombe, 2005; Acosta và Loza, 2005)
Chẳng hạn, Le (2004) khi tìm hiểu về 25 nước đang phát triển giai đoạn 1975-1995
đã khẳng định mối liên hệ nghịch giữa lạm phát và đầu tư tư nhân bằng nhiều mô hình hồiquy khác nhau Tương tự, Greene và Villanueva (1991) cũng sử dụng dữ liệu bảng và kếtluận, lạm phát cao có tác động ngược chiều một cách mạnh mẽ lên đầu tư của khu vực tư.Trực tiếp phân tích ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân, Erden và Holcombe(2005) đồng thời đưa lạm phát vào mô hình nghiên cứu Nhóm tác giả này quan sát 19 nướcđang phát triển và 12 nước phát triển giai đoạn 1980-1997 Bằng nhiều phương pháp khácnhau như OLS, FE, RE, 2SLS, các tác giả chỉ ra tương quan âm giữa
Trang 30lạm phát và đầu tư tư nhân Thu hẹp phạm vi nghiên cứu còn trong một quốc gia,Acosta và Loza (2005) vẫn cho thấy kết luận trên là không đổi.
Bên cạnh đó, lạm phát cũng làm xói mòn sức mua của đồng tiền, nhu cầu tích lũy
để gửi tiết kiệm của các hộ gia đình giảm xuống Từ đây, việc huy động vốn của cácngân hàng thương mại khó khăn hơn, quỹ cho vay bị thu hẹp, lãi suất cho vay có thểphải tăng lên Diễn biến này kéo theo cơ hội tiếp cận vốn của khu vực tư nhân trở nênbất lợi Như vậy, tồn tại mối quan hệ nghịch biến giữa lạm phát và đầu tư tư nhân(Hassan và Salim, 2011)
từ đó tiết kiệm chi phí sản xuất Điều này sẽ kích thích nhu cầu đầu tư được mở rộng(Pischke, 2005) Ngoài ra, yếu tố nhân lực còn được nhắc đến trong nhiều mô hình phântích sự tăng trưởng kinh tế theo hướng tích cực (Kormendi và Meguire, 1985; Zhang vàZou, 1998; Bleaney và cộng sự, 2001) Tăng trưởng tốt sẽ tạo điều kiện mở rộng đầu tư
Do vậy, từ sự đóng góp cho quá trình tăng trưởng kinh tế, nguồn nhân lực sẽ gián tiếpthúc đẩy mở rộng đầu tư
Ghura và Goodwin (2000) khi tìm hiểu thành phần của đầu tư tư nhân cũng ủng
hộ quan điểm trên Ngoài ra, nhóm tác giả còn chỉ ra vốn nhân lực có liên quan mật thiếtđến trình độ công nghệ của doanh nghiệp Việc đầu tư vào vốn nhân lực sẽ kích thíchtiến trình đổi mới công nghệ, kéo theo việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sảnxuất, làm tăng lợi nhuận dài hạn; từ đó tạo ngoại tác tích cực lên đầu tư
Một nghiên cứu thực nghiệm gần đây của Su và Bui (2016) khi bàn về tác độngcủa các khoản chi chính phủ đến đầu tư tư nhân cũng đưa yếu tố nhân lực vào mô hình.Các tác giả này đã sử dụng một nhóm biến số phản ánh yếu tố nhân lực gồm quy mô lựclượng lao động và tỷ lệ nhập học bậc cao đẳng trở lên Nghiên cứu này đặt trong bốicảnh 63 tỉnh thành ở Việt Nam giai đoạn 2005-2013 Bằng phương pháp GMM, kết quả
Trang 31độ mở thương mại lên đầu tư tư nhân, cho dù có sự khác nhau về thang đo biến số,phương pháp tiếp cận, đặc điểm mẫu điều tra… (Balasubramanyam và cộng sự, 1996;Combey, 2016; Su và Bui, 2016).
Tuy nhiên, mặt trái của sự mở cửa là có thể gây ra những cú sốc khi tiếp cận độtngột với sự cạnh tranh từ dòng vốn nước ngoài Lúc đó, một số nhà đầu tư tư nhân cóthể không chịu nổi sức ép cạnh tranh và buộc phải tháo lui hoạt động đầu tư (Serven,2003)
Sự ổn định chính trị
Ngoài các khía cạnh trên, sự ổn định về chính trị xã hội cũng tác động không nhỏđến hoạt động của các doanh nghiệp thuộc khu vực tư Chính trị xã hội ổn định sẽ tạomôi trường đầu tư thuận lợi, giúp các doanh nghiệp yên tâm tiến hành hoạt động đầu tư
và mở rộng sản xuất Sự ổn định đó còn là dấu hiệu quan trọng đảm bảo rằng chính phủ
và nền kinh tế có thể hỗ trợ nhà đầu tư tư nhân giảm thiểu, khắc phục những rủi ro trongđiều kiện khách quan Đặc biệt, khi nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư trong dài hạn,
số vốn bỏ ra thường lớn, nhất là các khoản chi cho hạ tầng, máy móc thiết bị Số vốnnày không dễ thu hồi trong tương lai, nên các doanh nghiệp cũng khó lòng đảo chiềuhoạt động đầu tư hoặc rút vốn về Nếu quốc gia bất ổn về chính trị thì rất có thể cácchính sách kinh tế, các quy định pháp luật sẽ bị thay đổi, thậm chí gây khó khăn và tổn
Trang 32thất tài sản đầu tư Do vậy, nhà đầu tư luôn mong muốn tình hình xã hội ổn định để đảmbảo cho khả năng sinh lời của dòng vốn (Serven, 2003; Manyong và cộng sự, 2005).Nói tóm lại, tình hình chính trị ổn định là nhân tố tác động tích cực đến đầu tư tư nhân,đặc biệt là đầu tư trong dài hạn (Stasavage, 2002; Le, 2004; Combey, 2016).
Sự ổn định chính trị có thể được đo bằng tần số của các cuộc cách mạng, đảochính hoặc chiến tranh (Mankiw và cộng sự, 1995); hoặc sự thay đổi chế độ thườngxuyên, hay sự không chắc chắn về chính trị và bạo lực (Persson và Tabellini, 2006);hoặc sự tự do chính trị và chỉ số dân chủ (Feng, 2001); hoặc sự ổn định chính trị vàkhông có bạo lực (Kaufmann và cộng sự, 2010)
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã tập trung vào các khu vực bất ổn chính trị đểchứng minh tầm quan trọng của chính trị đến hoạt động đầu tư tư nhân (Mauro, 1998;Guillaumont và cộng sự, 1999; Everhart và Sumlinski, 2001; Everhart và cộng sự,2009) Chẳng hạn, Guillaumont và cộng sự (1999) chỉ ra rằng những xáo trộn trong nềnchính trị là chìa khóa quan trọng để giải thích sự kém hiệu quả một cách hệ thống củanhiều quốc gia Kết luận này được đưa ra sau khi quan sát các nước châu Phi giai đoạn1970-1990 Tương tự, khi nghiên cứu về 11 nước khu vực Trung Đông và Bắc Phinhững năm 2000-2009, Zouhaier and Kefi (2012) cũng phát hiện thấy tương tác ngượcchiều giữa sự bất ổn chính trị và đầu tư Le (2004) mô tả về tình hình bất ổn chính trị,thể hiện thông qua những sự chống đối Mẫu nghiên cứu của tác giả này là 25 nướcđang phát triển giai đoạn 1975-1995 Theo đó, bất ổn chính trị - xã hội đặc trưng bởi cáccuộc biểu tình không bạo động sẽ thúc đẩy đầu tư tư nhân, trong khi các cuộc nổi dậymang tính bạo lực lại kiềm chế đầu tư
Cùng với đó, một số nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng minh rằng thể chế chínhtrị có ảnh hưởng tích cực đến đầu tư tư nhân Özler và Rodrik, 1992; Udomkerdmongkol vàMorrissey (2012) Özler và Rodrik (1992) quan sát 32 quốc gia trong giai đoạn 1975-1985
và đưa ra kết luận rằng việc đưa ra các quyền chính trị sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt độngcung ứng vốn của khu vực tư nhân Quốc gia nào càng có chế độ chính trị cởi mở, quốc gia
đó sẽ ít phải đối mặt với sự suy giảm vốn nếu có xảy ra những cú sốc tiêu cực cho nền kinh
tế Udomkerdmongkol và Morrissey (2012) phản ánh bản chất của chế độ chính trị theo 4thang đo cơ bản là tiếng nói và trách nhiệm giải trình, chất lượng của các quy định pháp lý,
sự ổn định chính trị và mức độ kiểm soát tham nhũng Kết quả cho thấy bộ máy chính trịcàng tốt thì tỷ lệ đầu tư tư nhân trong nền kinh tế càng cao
Đẩy phạm vi nghiên cứu đi xa hơn chứ không dừng ở thể chế tĩnh, Stasavage(2002), Le (2004) tiến hành đánh giá sự chuyển đổi của hệ thống chính trị Stasavage
Trang 33(2002) tìm được những bằng chứng cho thấy nếu chuyển từ một chế độ độc tài sang hệ
thống tam quyền phân lập, hoặc ít nhất là cơ quan hành pháp và lập pháp được kiểm
soát bởi các bên riêng biệt, thì ảnh hưởng tích cực đến đầu tư tư nhân là điều chắc chắn
xảy ra Le (2004) một lần nữa khẳng định điều này khi đưa ra lập luận về việc thay đổi
chế độ chính trị theo tinh thần thượng tôn pháp luật thì sẽ kích thích gia tăng hoạt động
đầu tư; trong khi chính phủ vi hiến sẽ cản trở đầu tư tư nhân
Nói tóm lại, thể chế chính trị - xã hội là nhân tố quan trọng trong đầu tư tư nhân
Thể chế tốt sẽ hỗ trợ đầu tư và ngược lại
2.3 Tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân
2.3.1 Hiệu ứng lấn át đầu tư
2.3.1.1 Quan niệm về hiệu ứng lấn át đầu tư
Theo quan sát của giới nghiên cứu kinh tế, khi các nhà hoạch định chính sách
quyết định tăng chi tiêu chính phủ, hiệu lực tác động của nó lên sản lượng sẽ không đạt
như kỳ vọng Cụ thể, trong mô hình IS - LM, khi chi tiêu chính phủ được mở rộng,
đường IS0 sẽ dịch chuyển sang phải thành IS1, kéo theo thu nhập tăng từ Y0 thành Y1
Trên thị trường tiền tệ, sự gia tăng của thu nhập Y làm tăng cầu tiền; trong điều kiện
cung tiền cố định thì cầu tiền tăng đã đẩy lãi suất lên cao
Hình 2.1 Cơ chế tác động của hiệu ứng lấn át đầu tư
Nguồn: Nguyễn Văn Công (2008)
Lãi suất và đầu tư có quan hệ ngược chiều nhau; do vậy sự tăng lên của lãi suất
làm cho đầu tư bị thu hẹp Nói một cách khác, hiệu ứng tràn của lãi suất ở thị trường
Trang 34tiền tệ đã tác động tiêu cực đến đầu tư trên thị trường hàng hóa Đầu tư thay đổi khiếnsản lượng cũng sụt giảm từ Y1 về Y2 Nền kinh tế sau khi thực hiện mở rộng chính sáchtài khóa lẽ ra cân bằng ở trạng thái E1 với mức sản lượng cân bằng Y1, giờ chuyển sangcân bằng tại điểm E2 với sản lượng Y2 và lãi suất i1 Kết quả là, mức độ dịch chuyểnsang phải của thu nhập (sản lượng) Y nhỏ hơn so với mức độ dịch chuyển sang phải củađường IS Tóm lại, sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ kéo theo tổng cầu hàng hóa dịch
vụ tăng lên, từ đó đẩy mức lãi suất lên cao, làm chi phí vốn trở nên đắt đỏ hơn; kết quả
là khu vực tư nhân giảm bớt nhu cầu rót vốn Nói một cách khác, sự gia tăng của chitiêu công đã lấn át đầu tư của khu vực tư nhân thông qua lãi suất Hiện tượng này đượcgọi là lấn át, hoặc chèn lấn đầu tư
Như vậy, hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân (crowding out), thường gọi tắt là hiệu
ứng lấn át đầu tư, được dùng để phản ánh hiện tượng xảy ra khi chính phủ gia tăng canthiệp vào thị trường bằng những khoản chi tiêu của mình làm ảnh hưởng tiêu cực đếnhoạt động đầu tư của khu vực tư nhân, làm cho đầu tư tư nhân giảm xuống
Trong hiện tượng lấn át đầu tư, nếu mỗi sự gia tăng trong chi tiêu công làm giảmmột lượng tương ứng vốn đầu tư tư nhân, hiện tượng này gọi là lấn át hoàn toàn Cònnếu lượng vốn tư nhân giảm đi ít hơn phần gia tăng của chi ngân sách thì đây là lấn átmột phần
2.3.1.2 Quá trình diễn ra hiệu ứng lấn át đầu tư
Khi xem xét quá trình diễn ra hiệu ứng lấn át đầu tư, các nhà nghiên cứu đã chia
ra thành 2 loại: một là hiệu ứng lấn át đầu tư theo con đường trực tiếp và gián tiếp, hai làhiệu ứng lấn át đầu tư thông qua việc tiếp cận nguồn lực sản xuất
Lấn át đầu tư trực tiếp và gián tiếp
Hoạt động tài khóa của chính phủ ảnh hưởng đến khu vực tư nhân theo hai conđường: trực tiếp và gián tiếp (Badawi, 2003) Việc phân loại tùy theo phản ứng của nhàđầu tư trước những thay đổi của chính phủ
Theo hình thức trực tiếp, các chính sách tiết kiệm và chi tiêu của chính phủ đượcdoanh nghiệp áp dụng vào các quyết định cấu trúc hành vi đầu tư Nói cách khác, cácbiến số tiết kiệm và chi tiêu của chính phủ đóng vai trò như biến nội sinh trong mô hình
độ thỏa dụng và chi tiêu của khu vực tư nhân Mỗi một sự tăng lên trong chi tiêu chínhphủ có thể lấn át đầu tư tư nhân nếu doanh nghiệp thấy rằng vốn công đang thay thế vốnđầu tư tư nhân, và họ phải nộp thuế để tài trợ cho những khoản thâm hụt ngân sách Sựthay thế này là hữu ích nếu chi tiêu công được tập trung cho những công trình cơ sở hạ
Trang 35tầng, giúp giảm chi phí đầu tư cho khu vực tư nhân Nói một cách khác, nguồn vốn từphía chính phủ có thể có cả tác dụng thay thế lẫn bổ trợ, tùy vào nội dung chi tiêu Ở cácnền kinh tế mà tiêu dùng tư nhân khá ổn định, nguồn cung đầu ra khá hạn chế thì ảnhhưởng của sự thay thế này càng lớn hơn Điều này đồng nghĩa với việc tác động lấn át
đã xảy ra
Theo hình thức gián tiếp, doanh nghiệp quan tâm đến những biến động trên thịtrường thay vì phản ứng với tác động thay thế của vốn chi tiêu công như ở hình thứctrực tiếp Những biến động đó liên quan đến lãi suất và chi phí tài chính Lúc này, việc
mở rộng chi tiêu chính phủ sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất, kéo theo chi phí tăng, khiếnđầu tư tư nhân bị thu hẹp lại Nếu thị trường đang ở mức toàn dụng nguồn lực và nhâncông, sự gia tăng trong chi tiêu công kéo theo gia tăng lãi suất sẽ làm giảm một lượngtương ứng vốn đầu tư tư nhân, gây ra hiện tượng lấn át đầu tư hoàn toàn Hiện tượngnày xảy ra trong điều kiện tỷ lệ tiêu dùng và cầu tiền ổn định, chính sách tiền tệ khôngthay đổi Nếu nguồn lực sản xuất chưa được toàn dụng, nền kinh tế còn nằm dưới đườnggiới hạn khả năng sản xuất, việc mở rộng chi tiêu công có thể gây lấn át một phần đầu
tư tư nhân Mức độ thay thế vốn đầu tư tư nhân là bao nhiều còn phụ thuộc vào phảnứng của dòng vốn và cầu tiền với thay đổi lãi suất
Cả 2 hình thức lấn át trên không chỉ có quan hệ trực tiếp với khía cạnh cầu củanền kinh tế mà còn gắn kết mật thiết với việc cạnh tranh trong quá trình tìm kiếm nguồnlực đầu vào như lao động, vốn, hàng hóa trung gian… Sự lấn át trong khu vực tài chính
là rất nghiêm trọng, bởi các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển thường hoạt độngdựa trên cách mở rộng vốn, đặc biệt là vay nợ ngân hàng Do vậy, khu vực tư nhânthường phải đối mặt với những quy định khắt khe từ phía ngân hàng, trong khi khó lòngtiếp cận các thể chế tài chính phi ngân hàng khác như bảo hiểm, quỹ đầu tư phát triển…
Kênh tác động thông qua tiếp cận nguồn lực sản xuất
Theo IMF (2007), hiệu ứng lấn át có thể diễn ra qua 3 kênh
Thứ nhất, khi nền kinh tế hoạt động ở mức toàn dụng nhân công, việc tăng chitiêu công bằng nguồn tài trợ từ thuế và vay nợ trong nước sẽ làm nguồn vốn trong nướctrở nên khan hiếm Do vậy, khả năng tiếp cận vốn của khu vực tư nhân trở nên khó khănhơn Nói cách khác, chi tiêu chính phủ cản trở hoạt động đầu tư tư nhân
Thứ hai, nếu chi tiêu chính phủ được tài trợ thông qua vay nợ từ hệ thống tàichính hoặc phát hành trái phiếu trên thị trường vốn; tương tự như trên, thị trường phải
Trang 36dành một lượng vốn nhất định cho chính phủ Một mặt, điều này dẫn đến lượng tín dụngcung cấp cho khu vực tư nhân bị giảm xuống Mặt khác, sự khan hiếm vốn trên thịtrường đẩy lãi suất trên thị trường tăng lên Cả hai yếu tố này đều đưa đến chung mộtkết quả là đầu tư tư nhân bị thu hẹp lại.
Thứ ba, các doanh nghiệp có vốn nhà nước thường được tạo điều kiện về cơ hộiđầu tư hơn khu vực tư, mặc dù có nhiều lĩnh vực mà khu vực tư nhân đã chứng tỏ được
sự hiệu quả hoạt động cao hơn Không những vậy, một số chính sách, điều kiện kinhdoanh cũng đặt doanh nghiệp nhà nước ở vị trí ưu tiên hơn doanh nghiệp tư, nhất là cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa Một môi trường cạnh tranh thiếu bình đẳng như vậy là điểmtrừ, gây trở ngại cho động lực phát triển kinh tế tư nhân
Ngoài ra, hiện tượng lấn át không chỉ liên quan đến sự gia tăng trong chi tiêuchính phủ Theo Friedman (1978), nó còn xảy ra khi đầu tư tư nhân giảm do thuế giảm.Như các nhà nghiên cứu khác, Friedman (1978) cho rằng nếu chi tiêu chính phủ tăng, lãisuất sẽ tăng theo và gây đảo chiều trong hoạt động đầu tư của tư nhân Nếu giảm thuế,kéo theo tăng thu nhập khả dụng, tăng chi tiêu và cũng làm tăng lãi suất, có tác độngngược chiều đến đầu tư của các khu vực khác
2.3.1.3 Hiệu ứng lấn át đầu tư trong các trường phái kinh tế
Hiện tượng lấn át đầu tư nhận được sự quan tâm của nhiều trường phái kinh tếkhác nhau Đặc biệt, các nhà kinh tế học theo lý thuyết Keynes và tân cổ điển đã đặt ranhiều giả định khác nhau để nghiên cứu tình huống này, chủ yếu là xem xét trong nềnkinh tế đóng và kinh tế mở
a, Trường phái Keynesian
Lấn át đầu tư trong nền kinh tế đóng
Từ những dư âm của cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, Keynesđưa ra quan điểm trọng cầu với ý tưởng tổng cầu sẽ quyết định sản lượng và đường tổngcung ngắn hạn là đường nằm ngang Điều đó dẫn đến bất kỳ sự tăng lên nào của tổngchi tiêu sẽ làm tăng sản lượng, mở rộng cơ hội việc làm mà không cần bất cứ thay đổinào trong tiền lương hay giá cả Ngoại tác lấn át lúc này thu hút sự quan tâm của khôngchỉ các nhà kinh tế học theo Keynes mà còn các tác giả thuộc trường phái trọng tiền -tiêu biểu là Milton Friedman (Friedman, 1978) Cuộc tranh luận về hiện tượng lấn átđầu tư xảy ra xoay quanh 3 vấn đề:
Trang 37Một là, liệu rằng tiền lương và giá cả có bị mắc kẹt ở sự mất cân bằng như vậyhay không? Thật ra, tất cả thị trường, kể cả thị trường lao động, đều có thể hoạt độngmột cách linh hoạt để giữ nền kinh tế gần với mức thất nghiệp tự nhiên Vì thế các chínhsách can thiệp vĩ mô là không cần thiết, và sẽ liên quan đến mối quan hệ tiêu cực trựctiếp giữa quy mô khu vực công và khu vực tư Nói cách khác, việc chính phủ can thiệpvào thị trường lao động như vậy có thể gây ra hiện tượng lấn át khu vực tư nhân
Hai là, liệu rằng chính sách tài khóa có thực sự kích thích tổng cầu gia tăng haykhông? Thực tế cho thấy, khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, kích thích tổng cầugia tăng, cầu tiền tăng, gây áp lực tăng lên lãi suất, kéo theo nhu cầu đầu tư của doanhnghiệp và tiêu dùng của hộ gia đình giảm xuống, làm cho tổng cầu cũng bị ảnh hưởnggiảm Đây chính là hiện tượng lấn át đầu tư
Ba là, những tác động tiêu cực trong dài hạn của chính sách tài khóa có tồn tạihay không, và liệu rằng các ngoại tác tiêu cực này có lấn át bất kỳ tác động tích cực nàotrong ngắn hạn hay không? Câu trả lời là có, vì sự lấn át trong tiết kiệm và đầu tư tưnhân đã làm sản lượng tiềm năng trong dài hạn của nền kinh tế bị ảnh hưởng Đồng thời,Friedman rất tán thành lập luận của các nhà kinh tế học theo Keynes về tác động lấn átchủ yếu là lên lưu lượng (flow) chi tiêu hơn là trữ lượng (stock) tài sản
Lấn át đầu tư trong nền kinh tế mở
Việc mở cửa nền kinh tế đã thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng hàng ngoại thương tănglên, xu hướng nhập khẩu biên cũng tăng, làm kéo giảm số nhân chi tiêu Đồng thời, sựcạnh tranh giữa hàng nội địa và hàng ngoại nhập diễn ra gay gắt hơn, làm giá cả cũngdao động nhiều hơn Hai yếu tố này khiến cho hiệu lực của chính sách tài khóa giảmxuống so với trước đây
Đi sâu vào nền kinh tế nhỏ, mở cửa, nhu cầu nội địa và thị trường cạnh tranh đãlàm thay đổi hành vi của nhà sản xuất Các doanh nghiệp cố gắng sản xuất càng nhiềucàng tốt tại mức chi phí phổ biến hiện hành và mức giá chung của thế giới Nếu chínhphủ tăng thuế để mở rộng chính sách tài khóa, doanh nghiệp vẫn ít lựa chọn giải pháptăng lương để đảm bảo cuộc sống người lao động trong điều kiện thuế tăng Lúc này,những thay đổi trong gánh nặng thuế và chi tiêu chính phủ đã ảnh hưởng tới hoạt độngsản xuất của doanh nghiệp và thị trường lao động Đây được xem là một dạng khác củahiệu ứng lấn át đầu tư
Trang 38Như vậy, trong nền kinh tế mở, vốn di chuyển tự do; tương tự như nền kinh tếđóng, ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ sẽ làm lãi suất trong nước tăng lên Khi đó, lãisuất nội địa có xu hướng cao hơn lãi suất trung bình trên thị trường thế giới Thị trườngtrong nước trở thành điểm hấp dẫn cho các dòng vốn vào bởi ưu thế về lãi suất, nguồncung ngoại tệ trở nên dồi dào so với cầu ngoại tệ Trong điều kiện tỷ giá hối đoái thảnổi, tỷ giá trên thị trường nội địa sẽ giảm xuống, kéo theo sự sụt giảm trong xuất khẩu.Hiện tượng lấn át vẫn xảy ra, nhưng không phải với đầu tư tư nhân mà là với hoạt độngthương mại quốc tế.
b, Trường phái tân cổ điển
Sau Keynes, các nhà kinh tế học tân cổ điển tập trung giải thích hành vi đầu tưdựa trên nền tảng lý thuyết tích lũy vốn tối ưu được xác định bởi giá tương đối của cácyếu tố sản xuất Họ cũng phân tích hiệu ứng lấn át đầu tư dựa trên những biến số kinh tế
vĩ mô cơ bản như lãi suất thực, đầu tư, tiêu dùng, sản lượng đầu ra, thất nghiệp và cáncân thương mại Theo các nhân tố này, trong nền kinh tế đóng, hiệu ứng lấn át đầu tưxảy ra khi lãi suất tăng, chi đầu tư tư nhân sụt giảm Trong nền kinh tế mở, thâm hụtthương mại tăng lên, nền kinh tế phải đối mặt với sự tăng lên dài hạn của nợ nước ngoài.Mức độ tác động của sự gia tăng này trong chi tiêu công còn tùy vào những phản ứngcủa chi tiêu tư nhân
Trong dài hạn, những thay đổi của chi tiêu chính phủ không tạo nên hiệu ứngđộng lên nền kinh tế Ảnh hưởng duy nhất của việc tăng chi tiêu chính phủ là làm giảmchi tiêu dùng mà không gây tác động lên lãi suất hay đầu tư Lãi suất nội sinh trong môhình này đã được xác định từ trước thông qua tỷ lệ thay thế cận biên và tốc độ tăng tiêudùng Nếu có biến động từ phía chính phủ, tiêu dùng của hộ gia đình sẽ thay đổi mộtlượng đúng bằng biến động này, theo chiều ngược lại Do vậy, sẽ chẳng có bất kỳ thayđổi nào trong tốc độ tăng tiêu dùng và lãi suất cũng vậy
Trong ngắn hạn, sự thay đổi tạm thời trong chi tiêu chính phủ sẽ tác động nhiềuđến lãi suất dài hạn hơn lãi suất ngắn hạn theo hướng cùng chiều Cụ thể, khi chính phủthu hẹp quy mô chi tiêu thì lãi suất ngắn hạn cũng giảm theo, kích thích sự mở rộngtrong dòng vốn đầu tư, dẫn tới tỷ lệ vốn/lao động và sản lượng đầu ra tăng Lúc này,hiện tượng lấn át xảy ra nhưng theo hướng tích cực, hay nói chính xác hơn được gọi là
là bổ trợ đầu tư
Trang 39Ngược lại, nếu chính phủ nới lỏng chính sách tài khóa, lãi suất sẽ tăng lên, dòngvốn đầu tư trong nền kinh tế bắt đầu chậm lại Điều này làm cho cả sản lượng đầu ra lẫnnăng suất cận biên của lao động đều giảm xuống Trong khi đó, trên thị trường lao động,tiền lương thực tế của công nhân được xác định bằng với năng suất cận biên của laođộng Do vậy, sự sụt giảm trong vốn đầu tư có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến mứclương, tác động xấu đến đời sống người lao động cũng như năng suất của doanh nghiệp.Mức độ thu hẹp vốn càng lớn bao nhiêu thì hiệu ứng lấn át càng cao bấy nhiêu
Từ những lập luận trên, các nhà kinh tế học tân cổ điển đề xuất rằng, khi mở rộngchính sách tài khóa, nghĩa là tăng chi tiêu và thực hiện chính sách thuế đánh vào cá nhânthấp, thì cần kết hợp với chính sách thuế sao cho khuyến khích đầu tư Chẳng hạn, chínhsách miễn, giảm thuế, hoặc tín dụng thuế đầu tư là một số cách thức hữu hiệu trong ưu đãiđầu tư và giúp giảm chi phí vốn của doanh nghiệp Lúc đó, tác động của sự lấn át do mởrộng tài khóa sẽ được điều tiết lại Ngoài ra, nếu nhìn vào khía cạnh tích cực, việc mở rộngchính sách tài khóa sẽ giúp gia tăng thu nhập cũng như sản lượng đầu ra của doanh nghiệp,
từ đó kích thích họ tích lũy vốn, mở rộng đầu tư Thậm chí, những ảnh hưởng thuận chiềunày còn quan trọng hơn bất kỳ ngoại tác lấn át tiêu cực nào mà chính sách tài khóa gây ra.Hiệu ứng nào sẽ chi phối còn tùy thuộc vào tầm quan trọng của sự tăng trưởng sản lượngvới chi phí vốn trong vai trò là những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư tư nhân
2.3.2 Hiệu ứng bổ trợ đầu tư
Chi tiêu công có thể ảnh hưởng ngược chiều đến đầu tư tư nhân, tạo ra hiệu ứnglấn át đầu tư như đã đề cập ở trên Tuy nhiên, xu hướng này cũng có thể diễn ra theochiều ngược lại; nghĩa là mỗi sự gia tăng của chi tiêu công sẽ kéo theo sự gia tăng củađầu tư tư nhân; hiện tượng này gọi là tác động bổ trợ Điều này đã nhận được sự đồngtình của nhiều nhà kinh tế học khi khẳngđịnh nguồn vốn công cộng sẽbổ trợ cho hoạtđộng kinh doanh của tư nhân Cụ thể, chính phủ rót vốn vào các lĩnh vực nghiên cứu cơbản, y tế công cộng, giáo dục và cơ sở hạ tầng để tạo dựng nền tảng hạ tầng về kinh tế,
kỹ thuật và xã hội Từ góc độ vi mô, hoạt động này giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu,tạo điều kiện thuận lợi trong thu hút vốn tư nhân Ở khía cạnh vĩ mô, chúng giúp đem lại
sự tăng trưởng dài hạn của sản lượng tiềm năng, khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn vàotriển vọng phát triển và tiếp tục đổ vốn vào (Aschauer, 1989; Keynes, 1936)
Tuy nhiên, các nhà kinh tế thường đề cập đến cơ sở lý thuyết hiện tượng lấn átđầu tư, do vậy trong phần 2.3 này, tác giả tập trung trình bày về hiệu ứng lấn át; cònhiệu ứng bổ trợ sẽ được hiểu ngược lại
Trang 402.4 Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu công đến đầu tư tư nhân
Bàn về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và đầu tư tư nhân, các nghiên cứu cảtrên thế giới lẫn trong nước đều có những quan điểm trái chiều nhau
2.4.1 Hiệu ứng lấn át đầu tư
Nhiều tác giả đã phát hiện hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân từ các khoản chi tiêucông (Argimon và cộng sự, 1997; Furceri và Sousa, 2011) Bằng mô hình hồi quy bìnhphương bé nhất cho dữ liệu bảng (Pooled OLS - Pooled Ordinary Least Squares) trên quy
mô quan sát khá lớn, đến 145 nước giaiđoạn 1960-2007, Furceri và Sousa (2011) thống kê
ra số liệu cụ thể rằng mỗi sự tăng lên của chi tiêu chính phủ tương ứng với 1% GDP thực sẽgây giảm lần lượt 1,2% và 0,6% chi tiêu dùng và chi đầu tư của khu vực tư nhân Tác độngtích lũy sau 4 năm còn lớn hơn khi khu vực tư nhân sẽ giảm chi tiêu dùng 1,9% và chi đầu
tư 1,8% Nói cách khác, thời gian càng kéo dài, mức độ lấn át đầu tư tư nhân càng nhiều.Hiện tượng này thường xuất hiện trong một số bối cảnh nhất định, chẳng hạn
ở những nước mà thể chế yếu kém, ràng buộc tài chính lỏng lẻo, hội nhập chưa sâu rộngvào thị trường tài chính thế giới và hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, quy mô và mức độlấn át còn phụ thuộc vào một loạt các yếu tố liên quan đến chính sách vĩ mô như chất lượng thểchế và chính sách tiếp cận thị trường, cả về mặt thương mại và mặt tài chính Chất lượng khoảnchi tiêu công cũng là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của khoản chi này Khi thu hẹp thờigian và phạm vi nghiên cứu, kết quả cũng không thay đổi bởi tỷ trọng chi tiêu công trong tổngcác khoản chi tiêu của chính phủ có tương quan âm với mức độ đầu tư tư nhân (Argimon và cộng
sự, 1997)
Cụ thể hơn, Ahmed và Miller (2000), Serven (1999) cho rằng, tùy loại hình chitiêu mà ảnh hưởng sẽ khác nhau Các tác giả này nhận định rằng các khoản chi cho giaothông vận tải, thông tin liên lạc và các dự án hạ tầng công cộng sẽ tạo điều kiện cải thiệnhoạt động sản xuất của khu vực tư, qua đó kích thích đầu tư tư nhân Điều này đi ngượcvới kết luận của Devarajan và cộng sự (1996) - cho rằng chi đầu tư phát triển có tácđộng xấu đến đầu tư tư nhân Bên cạnh đó, các tác giả này cũng nêu ý kiến về việc cáckhoản chi tiêu có nguồn gốc từ thuế sẽ lấn át đầu tư tư nhân nhiều hơn các khoản chiđược tài trợ bởi nợ vay Điều này có thể liên quan đến sự ràng buộc về tính thanh khoảntrong nền kinh tế Ngoài ra, kết quả ước lượng cũng cung cấp bằng chứng về tác độngtích cực của việc mở rộng hoạt động thương mại đến đầu tư tư nhân ở các nước đangphát triển, trong khi ảnh hưởng này ở các nước phát triển là không có ý nghĩa thống kê.Ngoài ra, từ hoạt động tài khóa hàng năm của Ấn Độ trong giai đoạn 1960-1994, Serven