Năm 1995 theo báo cáo tổng kết của Cục BVTV thì trên cây lúa trong cả nước có những loài dịch hại chủ yếu gây thiệt hại đáng kể tới năng suất lúa sau đây: Rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, đục t
Trang 1Chương 6 Biến động số lượng của dịch hại chính
trên cây lương thực
1 Dịch hại lúa
1.1 Khái quát tình hình dịch hại lúa
ở các tỉnh phía Bắc, qua điều tra cơ bản (1967-1968) đM xác định có 88 loài sâu hại trên cây lúa trong tổng số 461 loài côn trùng có mặt trên cây lúa Ơ phía Nam(1977-1979) đM phát hiện có 78 loài sâu hại lúa
Năm 1995 theo báo cáo tổng kết của Cục BVTV thì trên cây lúa trong cả nước có những loài dịch hại chủ yếu gây thiệt hại đáng kể tới năng suất lúa sau
đây: Rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, đục thân hai chấm, bọ xít dài, sâu năn, sâu phao, bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá, ốc bưu vàng và chuột hại
Những sâu hại phổ biến ở nhiều vùng và thường gặp trên ruộng lúa nhưng ít khi gây ra thiệt hại đáng kể như: sâu phao, sâu đo xanh, sâu đục thân 5 vạch đầu đen, bọ xít gai, bọ xít xanh, bệnh lúa von, bệnh đen lép hạt lúa, bệnh hoa cúc
Những dịch hại có thấy trên cây lúa nhưng chưa hoặc ít gây hại
đáng kể đối với lúa Thí dụ bướm mắt rắn nâu, bọ xít nâu viền trắng, bọ rầy xanh lớn, bệnh đốm nâu, bệnh tiêm lửa
1.2 Biến động số lượng, tỷ lệ hại của một số loài dịch hại chính trên cây lúa
1.2.1 Sâu đục thân lúa hai chấm (Schoenobius incertellus)
1.2.1.1 Các vụ dịch đq xảy ra:
Trước năm 1961 thiệt hại do sâu đục thân hai chấm gây ra biến
động từ 3-20%, sau năm 1962 tác hại của lài sâu này đM giảm
Năm 1984 sâu đục thân đM gây hại nặng trên diện tích 1 triệu ha lúa
ở các tỉnh miền Bắc và khu 4
Sâu đục thân lúa vẫn là dịch hại hàng đầu trong vòng 20 năm lại
đây Tuy đứng về mặt diện tích gây hại xếp thứ 6 nhưng diện tích mất trắng xếp thứ 2 sau cuốn lá lúa
Theo số liệu thống kê của Cục BVTV thì diện tích lúa bị hại do sâu
đục thân gây ra từ năm 1999-2003 trong cả nước là 265132.6 ha (miền Bắc là 183304,8 ha; miền Nam là 18827.8 ha., trong đó diện tích bị hại nặng là 23144.2 ha, diện tích mất trắng là 245,2 ha
Diện tích lúa bị sâu đục thân hại trong vụ mùa ở miền Bắc cao gần gấp 4 lần vụ Đông xuân Trong khí đó miền Nam thì ngược lại diện tích lúa bị hại ở vụ đông xuân gấp hơn 3 lần vụ mùa
1.2.1.2 Quy luật diễn biến
Trang 2Trong một năm sâu thường có 6-7 lứa sâu Lứa 1: Bướm rộ đầu tháng 3 dương lịch; Lứa 2: Bướm rộ cuối tháng 4 đầu tháng 5; Lứa 3: Bướm rộ đầu tháng 6 đến giữa tháng 7 (thường phát sinh nhiều); Lứa 4: Phát sinh vào giữa tháng 7 tới cuối tháng 7;Lứa 5: Đầu tháng 9 đến giữa tháng 9 (thường phát sinh nhiều); Lứa 6: Đầu tháng 10 đến đầu tháng 11 Lứa 7: từ đầu tháng 12 - giữa tháng 1 (Sớm có thể cuối tháng 11, muộn có thể cuối tháng 12 đầu tháng 1)
Trong 7 lứa sâu nói trên, lứa 2, 3, 5, 6 có ý nghĩa lớn đối với sản xuất Lứa 2 là lứa cuối trong vụ chiêm xuân và cũng là lứa sâu quan trọng nhất về mặt số lượng, mức độ gây hại và là nguồn sâu chuyển từ vụ chiêm xuân sang vụ mùa Lứa 3 là lứa đầu tiên trong vụ mùa, thường tập trung phá trên mạ mùa nhất là mạ mùa sớm Đây là lứa sâu bắc cầu từ lúa chiêm xuân, qua lúa mùa Lứa 5 là lứa gây hại quan trọng đối với lúa mùa cấy sớm đang làm đòng trỗ bông Lứa 6 là lứa gây hại nặng cho lúa mùa đại trà đang trỗ nhất là trên lúa nếp, tám
+ Trong các vụ lúa chiêm, xuân, hè thu, mùa, sâu đục thân lúa bướm 2 chấm phá hại nặng trên lúa hè thu, lúa mùa hơn lúa chiêm xuân
Vụ chiêm, vụ xuân gieo cấy muộn thời vụ thường bị sâu đục thân hại nặng hơn chính vụ Vụ mùa, trên các chân ruộng gieo cấy sớm lúa bị sâu hại nặng hơn các chân ruộng gieo cấy đại trà và muộn Đối với mạ chiêm gieo sớm có tỷ lệ sâu hại cao hơn các trà khác
+ Các giống lúa hiện nay đang được trồng trong sản xuất chưa có một giống lúa nào không bị sâu đục thân lúa bướm 2 chấm phá hại Thường những giống to bông, chịu phấn tốt, bản lá rộng, xanh đậm và giàu dinh dưỡng, tỷ lệ hại cao hơn
+ Cùng một giống lúa, giai đoạn đẻ nhánh rộ, làm đòng - trỗ gặp lứa sâu ra rộ thì mức độ bị hại có khả năng lớn hơn so với các giai đoạn sinh trưởng khác Thường mật độ sâu và tỷ lệ hại cao khi lúa trỗ
+ Lúa bón nhiều phân (nhất là bón phân đạm không cân đối) lá và thân lúa mềm lướt, màu xanh đạm, rậm rạp là điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh phá hại nặng của sâu đục thân
+ Nhiệt độ các tháng trong năm có ảnh hưởng lớn đến qui luật phát sinh gây hại của sâu đục thân bướm 2 chấm Từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình ở miền Bắc nước ta thấp dần (từ 24 -130C) không thích hợp cho sự sinh trưởng, phát dục của sâu đục thân, sâu phát sinh ít, gây hại không đáng kể cho lúa Sang tháng 4 - 5 - 10 nhiệt độ trung bình cao dần (từ 23 - 300C) thích hợp cho sâu phát sinh phát triển nên sâu thường gây hại nặng cho lúa (cuối vụ chiêm xuân và vụ mùa)
+ Mức độ và qui luật gây hại của sâu đục thân lúa bướm 2 chấm còn chịu ảnh hưởng của yếu tố thiên địch Rõ nét nhất là giai đoạn trứng của sâu thường bị ong ký sinh Các ổ trứng sâu đục thân bướm 2 chấm bị
ký sinh trong vụ đông xuân (tháng 11 - 12) trung bình 83%, và cuối chiêm
Trang 3xuân đầu mùa (tháng 4 - 5) trung bình 55% Số quả trứng bị ký sinh của 2 thời điểm kể trên trung bình 68% và 35%
1.2.1.3 Phương pháp DTDB
Qui luật phát sinh gây hại của sâu đục thân bướm 2 chấm trên đồng ruộng là một quá trình chu chuyển nối tiếp nhau giữa các lứa Sâu của lứa sau là từ nguồn của lứa trước chuyển đến Tuy vậy đối với sâu đục thân lúa bướm 2 chấm cần chú ý nguồn sâu của lứa 1 hàng năm: Sâu của lứa này do 2 nguồn chuyển đến, nguồn thứ 1 là do những sâu của lứa cuối năm trước (lứa 5 hoặc 6, 7) qua đông trong gốc ra hoặc rạ tới tháng 3 năm sau hoá nhộng, vũ hoá tạo nên; nguồn thứ 2 là do một bộ phận sâu của lứa cuối năm (lứa 5 hoặc 6, 7) vẫn tiếp tục sinh trưởng phát triển (tốc độ phát triển chậm vì nhiệt độ thấp và thức ăn hạn chế) rồi cùng với nguồn thứ 1 tạo ra lứa sâu thứ 1 trong năm sau
Dự báo sâu đục thân hai chấm quan trọng nhất là dự báo được thời gian phát sinh của lứa bướm thứ nhất trong năm Là chìa khoá từ đó tính
ra thời điểm phát sinh của các lứa bướm tiếp theo Để dự báo lứa bướm
đầu tiên phát sinh chủ yếu người ta dựa vào diễn biến nhiệt độ không khí của các tháng 12, 1, 2 (chủ yếu là dựa vào tổng số ngày trong 3 tháng có nhiệt độ trung bình ngày > 150C) Kết hợp với việc theo dõi tình hình lứa cuối năm đang qua đông và đốt đèn thường xuyên vào tháng 2 và 3 Vận dụng những tài liệu đM tổng kết nhiều năm để sơ bộ dự báo bướm của lứa sâu thứ nhất ra sớm, muộn, trung bình
Lứa thứ 1, có thể ra sớm hoặc muộn phụ thuộc điều kiện nhiệt độ của các tháng 12, 1, 2 ở các vùng khác nhau ở vùng Đồng bằng và khu 4
cũ lứa 1 có thể ra sớm hơm so với các vùng núi - Trung du (khoảng từ 15 -
20 ngày) Lứa thứ 6 hoặc 7, ngược lại ở vùng Trung du - Miền núi có thể kết thúc sớm hơn
Sau đó sử dụng số liệu thời gian 1 lứa sâu, hay khoảng cách thời gian phát sinh giữa 2 lứa để dự báo thời gian phát sinh của các lứa tiếp theo
1.2.1.4 Biên pháp ngăn chặn, phòng chống dịch sâu đục thân hai chấm :
Cày lật gốc rạ sớm ngay sau mỗi vụ lúa để diệt sâu và nhộng tồn tại trong rạ và gốc rạ
Thu nhặt gốc rạ trên các ruộng làm cây vụ đông sau vụ lúa mùa và
sử lý diệt sâu trong gốc rạ
Điều chỉnh thời vụ cấy hợp lý hoặc cấy giống ngắn ngàyđể lúa trỗ sớm trước khi các đợt bướm ra rộ
Phun thuốc khi mật độ dịch hại tới ngưỡng (đẻ nhánh mật độ 1,2 ổ trứng/m2; bắt đầu trỗ 0,4-0,2 ổ trứng/ m2; Trỗ 50%: 0,4-0,6 ổ/m2)
Trang 4o,8-Phun thuốc căn cứ vào thời gian lúa trô và thời kỳ trưởng thành 2 chấm ra rộ bằng thuốc Padan, Diazinon, Regent 800WG
1.2.2 Sâu cuốn lá loại nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis G.)
1.2.2.1 Các vụ dịch đq xảy ra
Sâu cuốn lá lúa loại nhỏ gây hại phổ biến trên đồng ruộng ở tất cả các vùng trồng lúa Năm 1968, nhiều tỉnh trên miền Bắc đM bị sâu cuốn lá phá hại rất nặng: ở Bắc Thái có 6832 ha lúa bị hại, ở Nghệ An có 80% diện tích lúa bị hại, ở Quảng ninh tuy có tổ chức phòng trừ tốt nhưng tỷ lệ
% lá bị hại 30 - 40% (tháng 7/1963, sâu cuốn lá lúa hại lúa con gái, lá lúa
bị hại trắng xoá cánh đồng, tỷ lệ lá bị hại 80 - 90% tại tỉnh Hà tây cũ), sâu này cũng như một số sâu hại lúa khác tuy được phòng trừ tích cực hơn so với trước đây song trong điều kiện thâm canh, giống lúa mới ngày càng nhiều nhất là các giống bản lá rộng, phàm ăn, sâu này có nhiều điều kiện thuận lợi để gây tác hại lớn, chính vì vậy nó vẫn là một loài sâu hại lúa quan trọng
Theo báo của Cục BVTVnăm 1990-1991 dịch sâu cuốn lá nhỏ hại nặng trên cả nước; năm 2001 sâu cuốn lá nhỏ hại 855 000 ha lúa ở Bắc Bộ
Diện tích bị hại và bị hại nặng do sâu cuốn lá nhỏ liên tục tăng và tăng ở mức rất cao Diện tích bị mất trắng do laòi sâu này gây ra là cao nhất trong 9 loài gây hại, tuy nhiên không theo xu thế tăng liên tục
Theo số liệu thống kê của Cục BVTV thì diện tích lúa bị hại do sâu cuốn lá nhỏ gây ra từ năm 1999-2003 là cao nhất trong cả nước là 938643ha (miền Bắc là 706974 ha; miền Nam là 231669 ha., trong đó diện tích bị hại nặng là 182950,8 ha, diện tích mất trắng là 272,25 ha
Điểm đáng lo ngại là mặc dù đM có nhiều nỗ lực to lớn trong cả nước trong việc áp dụng IPM nhưng mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ không giảm mà có xu thế tăng, năm sau cao hơn năm trước
1.2.2.2 Quy luật diễn biến
Yếu tố thời tiết có ảnh hưởng đến thời gian xuất hiện, đẻ trứng của trưởng thành và mật độ sâu non gây hại trên đồng ruộng Nói chung nhiệt
độ từ 25 - 290C và ẩm độ trên 80% là điều kiện thuận lợi cho sâu này phát sinh gây hại, đặc biệt trong điều kiện có mưa nắng xen kẽ Nếu trong phạm vi nhiệt độ nói trên, trời không mưa hoặc ít mưa thì lượng trứng của ngài đẻ ra giảm rõ rệt
Giống lúa nếp và các giống lúa lai thường bị hại nặng hơn các giống lúa khác
Trong các giai đoạn sinh trưởng của lúa đều có khả năng bị sâu này phá hại, song mức độ bị hại rõ rệt thường vào lúc lúa đứng cái- làm đòng Lúa bị hại nặng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của gié lúa và hạt lúa
Trang 5năng suất lúa có thể bị giảm tới 60% (Phong Châu, Vĩnh Phú, vụ Xuân 1984)
+ Sâu cuốn lá lúa loại nhỏ thường bị một sô thiên địch, đặc biệt ở giai đoạn trứng, có thể bị ong mắt đỏ ký sinh ở giai đoạn sâu non bị một loài ong (chưa xác định tên khoa học ký sinh với tỷ lệ cao (từ 80 - 100%) Ngoài ra có thể bị một số loài côn trùng khác bắt ăn như chuồn chuồn, Carabidae, Staphilinidae và Neuroptera
+ Hàng năm, sâu cuốn lá lúa loại nhỏ có thể phát sinh 6 lứa, trong đó lứa thứ 1 (từ tháng 4 - 5) và lứa 4 - 5 (từ tháng 8 - 10) là những lứa gây hại đáng kể (Riêng vùng khu 4 cũ vào tháng 11 sâu có thể phá mạnh trên mạ chiêm)
m2 Đếm số trưởng thành, sâu non và nhộng có trên mét vuông đó để xác
định mật độ sâu (con/ m2) và tuổi sâu chủ yếu Đếm số bao lá, số lá điều tra để tính tỷ lệ thiệt hại (%)
Trong điều kiện nhiệt độ cao, ẩm độ thấp hơn kéo dài nhưng vẫn có những trận mưa nhỏ xen kẽ, thường xảy ra dịch sâu cuốn lá nhỏ Nhiệt
độ trung bình tuần hay tháng cao hơn bình thường khoảng 2-30C Lượng mưa tụt khoảng 50%, nếu đặc điểm này rơi vào các thời gian sau:Tháng 3- Dịch sâu sẽ xảy ra vào tháng 4; Tháng 6- 7 thì dịch sâu sẽ xảy ra vào cuối tháng 7 – 8; tháng 8 thì dịch sâu sẽ xảy ra vào cuối tháng 9
1.2.2.4 Biện pháp phòng ngừa và dập dịch
Diệt trừ cỏ dại quanh bờ ruộng, lau sậy ở các mương máng, ao hồ là nơi sâu cư trú cuối vụ mùa sang đầu xuân Từ đó, sâu sẽ di chuyển qua ruộng lúa gây hại
áp dụng các biện pháp canh tác thích hợp (cấy dày vừa phải, bón phân cân đối và hợp lý, không bón đạm quá muộn lúc lúa sắp trỗ Bảo vệ các loài thiên địch
Khi sâu cuốn lá khi phát sinh rộ có thể sử dụng lược chải sâu hoặc cành tre để chải tung lá (kết hợp với rắc vào vùng rễ Regent 0.3G lúc lúa
đẻ nhánh) diệt sâu non khi mật độ sâu ở giai đoạn đòng- trỗ đạt 6-9 sâu non/m2
Thời gian bướm rộ có thể dùng bẫy đèn để diệt
1.2.3.Bọ xít dài hại lúa (Leptocorisa varicornis F.)
1.2.3.1 Các vụ dịch của bọ xít dài
Trang 6Bọ xít dài gây hại nhiều nhất là ở các tỉnh Miền núi Hàng năm ở tỉnh Bắc Thái, bọ xít phá hại mạnh nhất vào tháng 5, 6, 7 và 9, 10 trên các chân lúa xuân, thu và lúa mùa, mật độ trung bình từ 10 - 200 con/m2 ở HTX Tiên Tiến (huyện Định Hoá) có 54 mẫu chiêm trăng bị bọ xít phá làm giảm từ 4 - 50% năng suất Năm 1964, ở Đại Đồng, Đề Thám, Quốc Khánh (huyện Tràng Định) mật độ bọ xít có từ 7 - 10 con/bông làm cho hạt
1.2.3.2 Diến biến của bọ xít dài
Bọ xít dài phát sinh gây hại có liên quan với nhiều yếu tố sinh thái Mật độ bọ xít hôi ở những khu đồng gần rừng nhiều hơn ở những đồng gần đồi gò, và xa rừng Bọ xít phá hại nhiều trên giống lúa nếp hơn các giống lúa tẻ, ở thời kỳ lúa chắc xanh bị hại nặng hơn thời kỳ lúa ngậm sữa
Hàng năm ở miền Bắc, sau khi gặt lúa chiêm xuân, bọ xít có thể chuyển sang cư trú ở các cây cỏ như cỏ lông, lau sậy Vào tháng 8 có thể cư trú trên cỏ lồng vực trong ruộng lúa rồi chuyển sang phá lúa mùa sớm lúa mùa đại trà từ giai đoạn lúa trỗ về sau Tới mùa đông (từ tháng 12 - tháng 1,2) bọ xít hôi qua đông ở dạng trưởng thành (tỷ lệ % bọ xít trưởng thành cái cao hơn đực Nơi qua đông có thể ở trên cỏ có hạt ven rừng, trong vườn, ở ruộng màu có nhiều cỏ, trên thảm mục, ống tre nứa trong rừng
Bọ xít phá hại trong cả vụ chiêm xuân và vụ mùa, vụ hè thu từ khi cây lúa bắt đầu trổ bông cho đến lúc thu hoạch Thời gian phá hại nặng từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5 trong vụ chiêm và giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 trong vụ mùa Các trà lúa trỗ sớm hoặc chín muộn về cuối vụ thường bị bọ xít tập trung phá hại nặng, năng suất bị giảm nhiều Bọ xít dài có tập tính tránh nóng và lạnh, thường co cụm qua đôngvà hè sau các
vụ thu hoạch lúa, tập trung ở bìa rừng hay ở quanh làng
Trang 7Theo tài liệu tổng kết của Trạm BVTV Việt Bắc 1961 - 1971, bọ xít dài có thể có 5 lứa trong 1 năm:
Lứa 1: Từ giữa tháng 3 hoặc đầu tháng 4 đến cuối tháng 4 - đầu tháng 5 Bọ xít phá lúa chiêm xuân trỗ (đợt này kéo dài); Lứa 2: Từ giữa - cuối tháng 5 đến giữa tháng 6 Mật độ bọ xít tương đối cao, phá lúa đại trà, diện rộng Lứa này quan trọng nhất đối với lúa chiêm xuân; Lứa 3: Từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 Mật độ bọ xít khá cao, phá hại lúa mùa đại trà, diện rộng Lứa này quan trọng nhất đối với vụ mùa; Lứa 4: Từ đầu, giữa tháng 8 đến giữa, cuối tháng 9, phá hại lúa mùa, diện hẹp; Lứa 5: Từ
đầu tháng 10 đến giữa tháng 11 Mật độ thấp và phần lớn bị chết, còn một
số sống qua đông trên cỏ
1.2.3.3 Phương pháp điều tra, dự tính dự báo
Chọn ruộng đại diện cho các giống, thời vụ, chân đất mỗi ruộng
điều tra 5 điểm chéo góc mỗi điểm 1 m2 Đếm số bọ xít có trên mét vuông
điều tra
Chú ý điều tra vào thời gian bọ xít phá hại nặng từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 5 trong vụ chiêm và giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 trong vụ mùa Nhất là trên các trà lúa trỗ sớm hoặc chín muộn về cuối vụ thường bị
bọ xít tập trung phá hại nặng
Khi mật độ bọ xít ở giai đoạn chín sữa đạt 5-7 trưởng thành/ 1 m2 cần phòng trừ kịp thời
1.2.3.4 Biện pháp ngăn chặn, phòng chống bọ xít
Vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ cỏ dại , diệt bọ xít qua đông hoặc qua
hè trong các lùm cây bằng biện pháp thủ công cơ giới hoặc đốt lửa
Gieo cấy sớm một diện tích nhỏ để nhử bọ xít tập trung đến phá hại rồi dùng thuốc diệt trước khi chúng lan sang ruộng đại trà
Tập trung cấy đúng thời vụ trên từng vùng rộng lớn để có kế hoạch theo dõi, chủ động tổ chức phòng trừ
Có thể tổ chức đốt đuốc để bẫy diệt bọ xít trưởng thành ra rộ
Sử dụng thuốc hoá học phun trên lúa và cỏ dại khi mật độ đạt tới ngưỡng kinh tế
Sử dụng các bó lá xoan ngâm nước giải một ngày, cắm lên các cọc
bố trí quanh ruộng để tập trung tiêu diệt bị xít (vợt bắt hoặc phun thuốc
1.2.4 Rầy nâu (Nilaparvata lugens Stal.)
1.2.4.1 Các vụ dịch của rầy nâu
Năm 1958, rầy nâu phát sinh thành dịch phá hại lúa chiêm từ thời
kỳ trỗ - chín ở các tỉnh phía Bắc Vụ mùa 1962 và 1971, rầy nâu đM gây nhiều thiệt hại lớn cho lúa như ở Nghệ An ở các tỉnh phía Nam từ năm
Trang 81970, rầy nâu đM gây thiệt hại nặng trên các giống lúa NN8, NN5, NN20 ở nhiều tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng ven biển khu 5 và Thừa Thiên
Năm 1974, diện tích lúa bị rầy nâu hại ở các tỉnh phía nam lên tới 97,860 ha Từ năm 1975, đặc biệt từ tháng 11/1977, trong suốt 3 tháng từ tháng 11 - 1, rầy nâu gây thành dịch trên diện tích rộng; 200 000 ha Các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang và Long An là nơi bị rầy hại nghiêm trọng nhất
Năm 1977-1979 dịch rầy nâu đM gây hại 200000 ha lúa ở đồng bằng sông Cửu Long
Theo số liệu thống kê của Cục BVTV thì từ năm 1999- 2003 diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước là 408908,4 ha (miền Bắc là 213208,8 ha; miền Nam là 195699 ha., trong đó diện tích bị hại nặng là 34287,4 ha và diện tích mất trắng là 179,2 ha Như vậy diện tích lúa bị hại và bị hại nặng do rầy nâu gây ra xếp hàng thứ
3 trong 9 loài dịch hại lúa chủ yếu, nhưng diện tích bị mất trắng đứng thứ
4 So với 10 năm trước đây thì vị trí gây hại của rầy có chiều hướng giảm nhẹ hơn Nhưng điều đáng lưu ý là đa số các giống lúa đang gieo trồng thuộc dạng mẫn cảm với rầy nâu và bản thân rầy nâu ở nước ta đang thay
đổi đọc tính, và thể hiện tính độc cao hơn trước đây (trần Thị Liên & ctv)
1.2.4.2 Diễn biến của rầy nâu
Rầy nâu phát sinh gây hại thường đầu tiên xuất hiện thành từng vạt giữa ruộng, sau đó lan dần ra quanh ruộng Qui luật phát sinh và mức độ gây hại liên quan nhiều yếu tố sinh cảnh Thường thường nếu trước một thời gian nào đó nhiệt độ không khí cao, ẩm độ cao, lượng mưa nhiều, sau
đó trời hửng nắng, nhiệt độ cao, ẩm độ thấp thì rầy nâu dễ phát sinh thành dịch Thông thường nhiệt độ 20 - 300C và ẩm độ từ 80 - 85% là điều kiện thích hợp cho rầy nâu sinh sống và phát triển
Rầy nâu gây hại nặng cả trong vụ chiêm xuân, vụ mùa và vụ hè thu
Từ vùng đồng bằng, ven biển trung du cho đễn các vùng núi cao như Điện Biên, Mù Căng Chải
Rầy thường phát sinh sớm và gây hại nặng trên các ruộng trũng gần làng, ruộng cấy với mật độ dày, bón nhiều phân đạm
Lượng nước có ảnh hưởng lớn tới sự phát sinh rày nâu Trong tháng 1,2,3 bị hạn mưa ít, từ tháng 4 trở đi mưa nhiều, lượng mưa tăng cao thì năm đó rày nâu sẽ phá nặng
Từ tháng 4,5 đến thnág 9 lượng mưa tăng dần và nắng gắt xen kẽ với khô hạn, rầy nâu có thể phát sinh nhiều (lượng mưa hàng tháng ≥ 160 mm)
Hàng năm rầy nâu có thể hình thành 6 - 7 lứa Trong đó có 2 lứa cần được chú ý theo dõi đề phòng trừ đó là vào thời kỳ trước khi lúa trỗ
Trang 9bông vào tháng 4 - 5 (đối với vụ chiêm xuân đặc biệt vùng chiêm trũng)
và lứa tháng 7 - 9 (đối với vụ mùa
điểm chéo góc, mỗi điểm 10 khóm lúa theo phương pháp đập rầy và hứng khay có trắng dầu luyn ở dưới đáy khay 2-3 ngày điều tra/ 1 lần Thời gian rầy trưởng thành phát sinh rộ chính là thời gian mật độ rầy cao nhất
Điều tra dấu vết ổ trứng và số lượng rầy để xác định ruộng cần phòng trừ: Trên cơ sở dự báo các lứa rầy trưởng thành phát sinh rộ và thời gian trứng rộ để xác định thời gian dảnh lúa có trứng rầy và mật độ rầy, từ đó xác định ruộng cần phòng trừ Cách điều tra dấu vết trứng rầy,
điều tra mỗi ruộng 5 điểm, mỗi điểm 2 khóm lúa dùng mắt thường quan sát và đếm số dảnh lúa có dấu vết trứng rầy Cách điều tra số lượng rầy,
điều tra mỗi ruộng 5 điểm, mỗi điểm 5 khóm lúa theo phương pháp điều tra theo khay
a Dự báo thời gian phát sinh lứa sau: tốt nhất là dựa vào pha trứng Lấy mốc trứng đợt rầy trước đến trứng đợt rầy sau cách nhau từ 25
đến 30 ngày để dự báo thời gian phát sinh lứa sau
Thí dụ: Nếu điều tra thấy rầy nâu đang rộ ở tuổi 3 thì sau 25 - 30 ngày sau sẽ có 1 đợt (lứa rộ cùng tuổi, có thể sử dụng số liệu điều tra 5 ngày/1 lần và tình hình rầy trưởng thành vào đèn để tính toán dự báo Nhưng khi dự báo cần chú ý tỷ lệ diện tích từng trà để tính % tuổi rầy đại diện
ở đồng bằng sông Hồng từ tháng 4 trở đi quan sát tình hình mưa dông, nắng và hiện tượng lúa chiên trổ và bị đổ, theo dõi và phát hiện sớm tình hình rầy nâu phát sinh ở những vùng thường có ổ rầy Còn trong
vụ mùa từ đầu tháng 8, theo dõi tình hình mưa, bMo, nắng, chú ý những ruộng lúa nếp, lúa nông nghiệp 22, ruộng phần trăm xanh rậm của xM viên để phát hiện sớm tình hình rày nâu
ở đồng bằng sông Cửu Long, theo dõi phát hiện rầy trên lúa gieo sạ, cấy sớm, kết hợp với tình hình mùa mưa đến sớm hay muộn để nhận định khả năng rầy nâu phát sinh cuối vụ mùa và trong vụ đông xuân tới
b Dự báo rày nâu phát sinh cần phòng trừ
áp dụng đối với lúa đang để rộ, đòng già sắp trổ và chín sữa Khi
điều tra thấy trung bình 1 khóm có 3 - 5 rầy trưởng thành 30 - 50 rầy non
Trang 10hoặc 10% số dảnh có dấu vết ổ trứng thì cần phải trừ triệt để bằng nhiều biện pháp: Giỏ dầu, thuốc trừ sâu, thả vịt, bMy đèn
Trong dự báo phòng trừ cần tham khảo thêm các tài liệu sau: Khi có rầy nâu phát sinh trong ruộng lúa rày ưa thích như giống nếp thì khoảng
10 ngày sau rầy xẽ phát sinh trên diện rộng
Khi thấy mật độ rày tới 20 con trên diện tích 20 x 20 cm dịch rầy nâu có thể sẽ phát sinh và cần triển khai phòng trừ
Nếu lấy dạng rầy cánh ngắn làm chỉ tiêu dự toán thì khi có 3 rầy trưởng thành cánh ngắn trên 1m2 thì cần ra thông báo tiến hành phòng trừ ngay
Nếu số lượng rầy trưởng thành vào đèn qua 5 đêm tới 10.000 thì trên đồng ruộng sẽ xuất hiện hiện tượng cháy lá vì rầy phá hoại
1.2.4.4 Biện pháp ngăn chặn, phòng chống rầy nâu
Sử dụng các giống lúa kháng rầy tùy theo biotyp rầy hiện có ở các vùng trồng lúa
Tránh dùng thuốc hóa học BVTV vào giai đoạn từ 1-40 ngày sau cấy để bảo vệ các loài thiên địch của rầy
áp dụng biện pháp canh tác thích hợp để hạn chế sự tích lũy số lượng rầy nâu (cấy dày vừa phải, bón phân hợp lý và cân đối )
Cần phòng trừ rầy kịp thời ở giai đoạn lúa bắt đầu trỗ, chín sữa khi mật độ rầy 18-27 rầy/ khóm
1.2.5 Bệnh khô vằn (Rhizoctonia salani Palo.)
1.2.5.1 Các vụ dịch đq xảy ra
Theo số liệu thống kê của Cục BVTV thì từ năm 1999- 2003 diện tích lúa bị hại do bệnh khô vằn gây ra trong cả nước là 707554,6 ha (miền Bắc là 561526,2 ha; miền Nam là 146028,4 ha., trong đó diện tích bị hại nặng là 47391,8 ha và diện tích mất trắng là 50 ha Như vậy bệnh khô vằn
đứng thứ 2 về diện tích gây hai và diện tích gây hại nặng, nhưng diện tích
bị mất trắng lại xếp thứ 7 Tuy nhiên mức độ gia tăng không nhiều trong một vài năm gần đây
Bệnh khô vằn gây hại nặng hơn trong vụ mùa và vụ lúa hè thu Tuy nhiên diện tích hại nặng lại xuất hiẹn ở vụ đông xuân ở miền nam
1.2.5.2 Quy luật diễn biến
Phá hại rất phổ biến ở các vùng trồng lúa trong cả nước Bệnh phát triển mạnh trong vụ hè thu và vụ mùa, đặc biệt ở điều kiện nhiệt độ cao(24-32 0C., ẩm độ bMo hòa hoặc mưa nhiều
Cấy dày, bón nhiều phân đạm, bón đạm tập trung thúc đòng, bón nhiều lần là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
Ruộng nhiều nứớc, cấy quá dày thường bị bệnh hại nặng
Trang 11Giai đoạn mạ, lúa hồi xanh, đẻ nhánh, bệnh gây hại nhẹ Giai đoạn
đòng trỗ đến chín sáp là thời kỳ nhiễm bệnh nặng
Hầu hết các giống lúa hiện nay đều có mức độ nhiễm bệnh khô vằn
từ trung bình đến nhiễm nặng Một số ít giống KV10, ON80, IR17494 nhiễm bệnh nhẹ hơn so với các giống khác
Luân canh cây trồng để tránh lây lan từ vụ trước sang vụ sau
Ngay sau khi thu hoạch cày sâu để vùi lấp hạch nấm
Gieo cấy đúng thời vụ, bón phân cân đối và hợp lý, tránh bón tập trungđạm đón đòng
Mật độ cấy vừa phải, hệ thống tưới tiêu chủ động không để mức nước quá cao trong trường hợp bệnh đang lây lan mạnh
Khi cần có thể rút can nước trong ruộng và phun thuốc vào các tầng lá dưới cuả cây, nên sử dụng thuốc Validasin, Rolvral50%WP, Monceren 25%WP để phòng trừ bệnh
1.2.6 Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae C.)
1.2.6.1 Các vụ dịch đq xảy ra
Là loại bệnh nguy hiểm hàng đầu đối với lúa ở khắp các vùng trồng lúa phía bắc và phía Nam, đặc biệt ở các vùng thâm canh.Năng suất lúa có thể giảm 20-30% cho đến 70-80%
Năm 1992- 1995 đM liên tục xảy ra các vụ dịch đạo ôn hại lúa, gây hại nặng trên 292 000 ha
Theo số liệu thống kê của Cục BVTV thì từ năm 1999- 2003 diện tích lúa
bị hại do bệnh đạo ôn gây ra trong cả nước là 298977 ha (miền Bắc là
76301 ha; miền Nam là 222676 ha., trong đó diện tích bị hại nặng là 6802
ha và diện tích mất trắng là 156,1 ha
Theo nhận định chung của các nhà BVTV diện tích bị hại do bệnh
đạo ôn so với các loại sâu bệnh hại chính trên cây lúa là tương đối cao, trung bình diện tích bị hại hàng năm vào khoảng240 000- 260 000 ha các năm 2000 và năm 2001, diện tích lúa bị đạo ôn hại tăng đột ngột, tương ứng là 280 000 và 420 000 ha
1.2.6.2 Quy luật diễn biến:
Trang 12ở các tỉnh phía Bắc, bệnh đạo ôn phát sinh gây hại nặng từ giữa tháng 3 đến đầu tháng 5, trên lúa chiêm xuân ở vào giai đoạn lúa con gái
và trỗ bông, gây ra cháy lá và héo cổ bông làm lép hạt Vụ mùa bệnh hại chủ yếu một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Lào cai, Lai Châu, Quảng Ninh Bệnh ahị trên lá từ đầu tháng 8 và lên cổ bông vào cuối tháng 9- đầu tháng 10
ở các tỉnh ven biển miền Trung, bệnh phá hại trên lúa đông xuân vào tháng 12 đến đầu tháng 4 và lúa hè thu từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 7
ở đồng bằng sông Cửu Long, bệnh phát sinh trong gần như suốt cả năm, phá hại trên lúa đông xuân từ tháng 12 đến tháng 3, trên lúa hè thu trong tháng 6 đến tháng7 và trên lúa vụ 3 từ tháng 8 đến đầu tháng 10
- Khi mạ mới nhú đến 3-4 lá, cứ 3 ngày điều tra 1 lần, điều tra 5
điểm chéo góc, mỗi điểm 100 dảnh Nhổ một số dảnh bị chết đem về để
ẩm, sau 2-3 ngày xem xét có phải đạo ôn gây chết hay không Sau đó 5 ngày điều tra 1 lần, mỗi điểm 100 lá Tính tỷ lệ lá bị bệnh và phân loại dạng vết bệnh
+ Phân loại dạng vết bệnh:
Phải phân biệt được loại hình A, B và C dựa vào biểu hiện màu sắc,
đặc điểm hình thái và khả năng sinh bào tử
Nếu vết bệnh phổ biến ở loại hình C thì cần phun thuốc làm sạch bệnh trước khi ra ruộng cấy
+ Điều tra bổ sung:
Trang 13Để tránh bỏ sót, điều tra thêm các ruộng mạ khác cũng với các sâu bệnh khác Chú ý các ruộng trướcđây hay có bệnh
- Công thức tính thời kỳ tiềm dục cho vết bệnh cấp tính đạo ôn trên mạ:
Y = - 0.45x + 16.3 (với điều kiện 15 ≤ x ≤ 270C
Bẫy bào tử được đặt trên ruộng dự tính, hàng ngày thay lam mới vào các buổi sáng, đêm về soi dưới kính hiển vi Tính mật độ bảo tử trên lam kính hoặc trên quang trường Nếu thấy có bào tử trong không khí, kết hợp với thời tiết ẩm ướt, nhiều sương mù, só giờ nắng trên ngày thấp thì cần dự báo biện pháp ngăn ngừa
bị bệnh; Cấp 3: Từ 1 - 5% số bông bị bệnh; Cấp 5: Từ 6 - 25% số bông bị bệnh; Cấp 7: Từ 26 - 50% số bông bị bệnh; Cấp 9: Trên 50% số bông bị bệnh
+ Theo dõi bào tử: Việc thay lam kính và soi bào tử được thực hiện hàng ngày vào các buổi sáng và bắt đầu từ lúc lúa ngậm sữa chắc xanh Néu trỗ bông kéo dài, mật độ bào tử cao sau lúc lúa trỗ, số giờ nắng trong ngày thấp và mưa ẩm liên tục hoặc ẩm độ không khí cao thì bệnh sẽ có thể nặng
+ Điều tra bổ sung: để tăng độ chính xác trong dự tính, cần điều tra
bổ sung trên diện rộng Phương pháp điều tra tương tự như điều tra trên ruộng dự tính Cần chọn các trà đại diện cho giống lúa, thời vụ và chân
đất Cứ khoảng 100 ha điều tra 10 điểm tuỳ theo diện tích trồng lúa nhiều hay ít
Chỉ tiêu khí tượng cần biết khi dự tính đạo ôn cổ bông:
- Nhiệt độ tối cao, tối thấp, ẩm độ tương đối của không khí; Số giờ
có sương, tổng lượng mưa và diễn biến lượng mưa, tốc độ gió
1.2.6.4 Biện pháp hạn chế
Làm tốt công tác DTDB bệnh bằng cách sử dụng bẫy bắt bào tử, kết hợp với theo dõi diễn biến yếu tố khí hậu thời tiết, tình hình sinh trưởng của cây và điều kiện đất đai phân bón, cơ cấu giống để chủ động phòng chống
Dọn sạch tàn dư cây bệnh và cỏ dại mang bệnh ở trên đồng ruộng
Trang 14Tăng cường sử dụng giống lúa chống bệnh như C70, C71, IR17494, X20, V15…
Bón phân cân đối, ngừng bón đạm khi bệnh đang phát triển
Phun thuốc kịp thời trên lúa con gái và lúa trỗ bông khi ổ bệnh phát sinh và phá hại trên đồng ruộng Các loại thuốc có hiệu lực cao với bệnh như: Fuzi-one, Fuji và Kasai
Cần tiến hành phòng trừ khi :10% số lá nhiễm bệnh (ở giai đoạn lúa
đẻ nhánh); 5% số bông bị nhiễm bênh (ở giai đoạn lúa trỗ bông)
Nếu phát hiện thấy hạt giống nhiễm bệnh cần xử lý hạt giống bằng nước nóng 540C trong 10 phút
1.2.7 Bệnh bạc lá lúa (Xanthomonas oryzae Davson)
1.2.7.1.Các vụ dịch đã xảy ra
Bệnh được phát hiện đầu tiên tại Nhật Bản vào khoảng năm
1884-1885 Bênh hại phổ biến trên hầu hết các nước trồng lủatên thế giứoi, đặc biệt ở Nhật bản, Trung Quốc, Philippin.ở Việt nam bệnh bạc lá đM được phát hiện từ khá lâu đặc biệt từ năm 1965-1966 trở lại đây Bệnh phá hại rất phổ biến ở tất cả các vùng trồng lúa trong cả nước, từ vùng núi cao cho
đến ven biển Bệnh có thể làm giảm năng suất từ 6-60% Bệnh phát triển
và gây hại nặng ở các tỉnh phía Bắc trong những năm 1970-1975 (Trích dẫn qua Nguyễn Công Thuật, 1996)
Theo số liệu thống kê của Cục BVTV thì từ năm 1999- 2003 diện tích lúa bị hại do bệnh bạc lá gây ra trong cả nước là 108691,4 ha (miền Bắc là 86429,2 ha; miền Nam là 22262,2 ha., trong đó diện tích bị hại nặng là 15676 ha và diện tích mất trắng là 80 ha
1.2.7.2.Quy luật diễn biến
Tác hại chủ yếu của bệnh là làm cho lá lúa đặc biệt là lá đòng chóng tàn, nhanh chóng khô chết, bộ lá sơ xác ảnh hưởng lớn đến quang hợp, tỷ lệ hạt lép cao, năng suất giảm sút rõ
Bệnh phá hại trong cả vụ đông xuân (tháng 3-4 và phát triển mạnh hơn vào tháng 5-6), hè thu và vụ mùa, đặc biệt gây hại nặng trong các tháng nhiệt độ cao vụ mùa (miền Bắc và vụ hè thu ở miền Nam vào giai
đoạn lúa làm đòng, trỗ-chín sữa Bệnh tuy phát sinh gây hại nặng ở cả miền Nam và miền Bắc nhưng diên tích bị hại ở miền Bắc có xu thế cao hơn miền nam
Mưa bMo là điều kiện để bệnh lây lan và phát triển mạnh
Bệnh phát triển mạnh ở những vùng trồng các giống nhiễm bệnh như NN8, Trân Châu lùn và bón với lượng đạm cao, giống lúa nhập nội từ Trung Quốc
Đất trồng lúa màu mỡ giàu chất hữu cơ hoặc đất chua úng ngập nước, hàng lúa bị che phủ thường bị bệnh hại nặng
Giai đoạn lúa bị nhiễm bệnh nặng là từ làm đòng-trỗ bông –chín sữa