1992 cho biết, ở vùng Sehore, Madhya Pradesh, loài giòi đục thân thường gây thành dịch, tỷ lệ hại lên tới 93,5%; khoảng 1/3 diện tích phải phá đi trồng lại vì bị khuyết mật độ cây.. Thí
Trang 1Chương 7 biến động số lượng của các dịch hại chính
trên cây công nghiệp
1. Dịch hại trên cây đậu tương
1.1 Giòi đục thân đậu tương Melanagromyza sojae
1.1.1. Các vụ dịch đq xảy ra do giòi đục thân đậu tương M sojae
Đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày có thể trồng 3 vụ trên năm
và có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, nên tập đoàn sâu bệnh hại trên cây
đậu tương rất phong phú Trong đó, giòi đục thân M sojae là một trong những loài sâu hại nguy hiểm Theo Waterhouse (1993), ruồi đục thân M sojae là một trong 2 loài xuất hiện với mức độ phổ biến cao nhất ở ấn
Độ, (Singh và ctv 1992) cho biết, ở vùng Sehore, Madhya Pradesh, loài giòi đục thân thường gây thành dịch, tỷ lệ hại lên tới 93,5%; khoảng 1/3 diện tích phải phá đi trồng lại vì bị khuyết mật độ cây Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của giòi đục thân năng suất hạt đậu tương, thấy rằng: những cây bị giòi đục thân gây hại, số quả/cây giảm 17,6%; trọng lượng quả/cây giảm 28,7% và trọng lượng hạt/cây giảm 32,4% M sojae gây hại trên cây đậu tương ngay từ khi cây đậu tương có 2 lá đơn cho đến khi cây phát triển hết giai đoạn sinh trưởng sang giai đoạn sinh thực
ở Việt Nam, ruồi đục thân đậu tương là đối tượng có thể gây thiệt hại một cách đáng kể Những trận dịch do giòi đục thân gây ra thường vào
vụ đông-xuân và vụ xuân Đó là vào những năm 1983-1984, 1986 - 1990 (Lương Minh Khôi và ctv 1984, 1987, 1989, Nguyễn Anh Diệp 1986) Tỷ
lệ cây bị hại lên tới 77 – 100% Cây bị hại chết khô, gây khuyết mật độ từ 46,1 – 54,5% Cây bị hại còn sống sót thì trọng lượng giảm 57% so với cây khoẻ Mật độ giòi đục thân trong vụ xuân là 78 – 145 con/100 cây; vụ
đông là 30 – 236 con/100 cây Diện tích bị khuyết mật độ lên tới hàng trăm ha Các tỉnh thường có dịch sâu đục thân đậu tương gây ra là Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà nam, Nam Định, Hải Phòng, Hoà Bình và một
số tỉnh thuộc vùng miền núi phía Bắc Trong điều kiện thời tiết vụ xuân, mật độ giòi đục thân và tỷ lệ cây đậu tương bị chết thường cao hơn vụ
đông-xuân Nhiều diện tích phải phá đi trồng lại, ảnh hưởng không nhỏ tới tới năng suất hạt đậu tương và thu nhập kinh tế của người nông dân Tuy nhiên, sự gây hại của loài sâu hại này nguy hiểm nhất là vào giai đoạn khi cây đậu tương còn nhỏ (2 lá đơn – 2 lá kép), gây hiện tượng héo ngọn, chết cây con, làm khuyết mật độ
1.1.2. Quy luật diễn biến của giòi đục thân đậu tương
Hàng năm, trên đồng ruộng đậu tương, giòi đục thân xuất hiện và gây hại quanh năm Mật độ cao thường bắt gặp vào vụ đông xuân và vụ xuân Vào những tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau (Lương Minh
Trang 2Khôi và ctv 1984, 1987, 1989, Nguyễn Anh Diệp 1986) Còn trong thời
gian từ tháng 4 đến tháng 10, chúng tồn tại trên đồng ruộng đậu tương,
song mật độ thấp và ít gây thiệt hại lớn cho sản xuất đậu tương
1.1.3. Phương pháp dự tính dự báo giòi đục thân đậu tương
* Dự tính theo phương pháp dùng bẫy dính màu vàng
+ Phương pháp thu thập mẫu ruồi: Đặt bẫy dính màu vàng quanh ruộng hoặc giữa các luống đậu tương Mật độ bẫy dính là 9 bẫy/ha Khoảng cách giữa 2 bẫy dính là 50m Thời điểm mật độ trưởng thành ruồi vào bẫy cao, là lúc trên đồng ruộng đậu tương có nhiều trứng ruồi Cần sử dụng biện pháp hoá học để phun tiêu diệt sâu non mới nở
* Dự tính theo phương pháp điều tra tiến độ phát dục của ruồi:
Số mẫu giòi cần thu thâp được n ≥ 30 cá thể
Phân tích xác định cỡ tuổi giòi, nhộng và vỏ nhộng
Dựa vào đặc tính sinh vật học của giòi đục thân M sojae như sau:
Thời gian phát dục (ngày)
Thời gian
TN Trứng Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Nhộng Tr
thành Vòng đời
Nhiệt độ
TB (0C Độ ẩm TB (%) Mùa hè 2.1 1.0 2.2 4.3 8.8 2.7 21.1 27.2 81.3 Mùa đông 4.1 1.7 3.9 5.8 13.8 4.2 33.6 18.0 77.1 Ghi chú: Tr.thành – Trưởng thành; TB: Trung bình
Tỷ lệ đực : cái là 1:1
Khả năng đẻ trứng: Tù thuộc vào điều kiện thức ăn thêm của trưởng thành Nếu được ăn ật ong nguyên chất, số lượng trứng được đẻ ra trung bình là 142.3 quả Nếu được ăn dung dịch nước đường 10% thì số lượng trứng được đẻ ra trung bình là 102.1 quả Còn nếu được ăn nước lM thì số lượng trứng được đẻ ra trung bình là 45.3 quả
Thời gian sống của trưởng thành cái: Tuỳ theo điều kiện thức ăn thêm mà thời gian sống của ruồi có sự sai khác Nếu điều kiện thức ăn là mật ong nguyên chất, thì thời gian sống của con ruồi cái là 22.8 ngày (15 – 38 ngày) Nếu thức ăn cho ruồi là dung dịch nước đường 10%, thì thời gian sống trung bình của một ruồi cái 18.6 ngày (10-30 ngày) Còn nếu chi được ăn nước lM, thì thời gian này có ngắn hơn, dao động trong khoảng 8-14 ngày, trung bình 10.8 ngày
Tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân: Kẻ thù tự nhiên của dòi đục thân quả là còn hiếm hoi vì tập tính gây hại cua nó Vì vậy, lực lượng điều hoà
số lượng của giòi đục thân đậu tương chính là các loài côn trùng ký sinh
Tỷ lệ này có thể đạt 20% Ngoài ra, tỷ lệ tử vong của ruồi đục thân do các nguyên nhân khác có thể đạt 35% Như vậy, tỷ tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân sẽ là 55%
Trang 31.1.4. Biện pháp phòng ngừa và dập dịch
Tất cả mọi biện pháp bảo vệ thực vật đều nhằm mục đích đạt hiệu quả kinh tế Và trong nguyên tắc phòng chống sâu hại, thì nguyên tắc phòng ngừa là chính phải được nêu lên hàng thứ 2 Vì rằng, đại bộ phận các loại sản phẩm nông nghiệp, nếu để dịch hại xảy ra rồi mới dập dịch, thì dù có tiêu diệt được sâu hại đi chăng nữa, thì sản phẩm thu hoạch cũng
bị kém phẩm chất Do vậy phương châm của chúng ta trong công tác bảo
vệ thực vật là phòng ngừa là chính Sau đó, nếu số lượng dịch hại vẫn phát triển theo chiều hướng tăng, thì phải tiến hành dập dịch
Đối với ruồi đục thân đậu tương, biện pháp phòng ngừa tốt nhất là
xử lý hạt giống trước khi gieo trồng Hạt giống có thể xử lý bằng thuốc hoá học
Các loại thuốc hoá học có thể sử dụng khi xử lý hạt chống giòi đục thân là:
- Furadan 10G
- Vibasu 10H
Trộn với tỷ lệ 1% (1kg thuốc trên 100kg hạt giống đậu tương) Trộn đều rồi bọc kín trong khoảng 1-2 ngày Sau đó đem gieo, sẽ làm được tỷ lệ giòi đục thân 40-60%
Trên đồng ruộng đậu tương, vụ đông-xuân và đặc biệt là vụ xuân, cần phun phòng ngay từ khi cây đậu tương mới có 2 lá đơn Sau đó phun tiếp 1 lần nữa vào giai đoạn cây đậu tương có 1-2 lá kép Thuốc hoá học
sử dụng tốt nhất là loại thuốc thấm sâu (ví dụ, Dipterex) sẽ đem lại hiệu quả phòng trừ cao
Khi cây đậu tương đM có 4-5 lá kép trở lên, không cần phải tiến hành phòng trừ giòi đục thân nữa, vì khi cây đM lớn, sự gây hại của giòi
đục thân không còn ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cũng như năng suất của cây
Họ ngày sáng Pyralidae
Bộ cánh vảy Lepidoptera
1.2.1. Các vụ dịch đq xảy ra do sâu cuốn lá đậu tương
Sâu cuốn lá đậu tương là một trong 3 loài sâu hại chính trên cây đậu tương Sự gây hại của nó vào giai đoạn cây đậu tương 3-4 lá kép ở vụ đậu tương xuân cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng của cây
đậu tương Có những vụ xuân, mật độ sâu cuốn lá cao, đM làm chết cây
đậu tương bởi vì bộ lá đM bị sâu ăn hết Theo Waterhouse (1993), loài sâu cuốn lá này xuất hiện và gây hại trên khắp 10 nước thuộc đông nam châu
á Những nước có sâu cuốn lá xuất hiện với mức độ phổ biến cao là Việt Nam và Philippines ở Thái Lan, theo Sepwardi (1976), thì sâu cuốn lá H indicata là một trong 10 loài sâu hại làm giảm năng suất hạt
Trang 4ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lương Minh Khôi và ctv
1985, 1987, 1989) thì sâu cuốn lá là một trong 14 loài sâu hại chính Nó thường gây thành dịch vào vụ xuân, mật độ sâu thường lên tới 16-18 con/100 cây Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Dung (1999) cũng cho thấy, sâu cuốn lá thường gây hại nặng vào vụ đậu tương xuân, mật độ sâu cuốn lá cao thường gây hiện tượng chết cây
1.2.2. Quy luật diễn biến số lượng của sâu cuốn lá đậu tương
Hàng năm, sâu cuốn lá đậu tương thường xuất hiện 8 lứa Lứa 1 xuất hiện vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 Mật độ sâu lúc này còn thấp Song sang lứa 2 (từ đầu đến giữa tháng 4), mật độ sâu cuốn lá tăng cao, lực lượng thiên địch chưa đủ sức khống chế, vì vậy đây là lứa sâu nguy hiểm nhất cho cây đậu tương Lứa 3 xuất hiện vào tháng 5, mật độ sâu lứa này không cao lắm vì có sự khống chế của các loài thiên địch Sau đó, do cây
đậu tương được thu hoạch nên mật độ sâu cuốn lá giảm hẳn Lứa 4, 5, 6 bắt đầu xuất hiện và gây hại trên đậu tương hè-thu Điều kiện thời tiết vụ hè-thu không thuận lợi cho sâu cuốn lá phát sinh phát triển, vì nhiệt độ môi trường tăng cao, khả năng sinh sản của sâu cuốn lá bị giảm Mặt khác, lực lượng thiên địch hoạt động mạnh, do vậy số lượng sâu cuốn lá
đậu tương trên đậu tương hè – thu thấp Lứa 7-8, sâu cuốn lá gây hại trên
đậu tương đông, mật độ sâu cuốn lá 2 lứa này cũng không cao vì điều kiện thời không thật thuận lợi (nhiệt độ môi trường thấp) Thêm vào đó, thiên
địch đủ sức khống chế, nên ít ảnh hưởng đến năng suất đậu tương
1.2.3. Phương pháp dự tính dự báo sâu cuốn lá đậu tương
* Dự tính theo phương pháp điều tra tiến độ phát dục của sâu
Tiến hành điều tra thu thập sâu cuốn lá đậu tương trên từng đại diện (giống, thời vụ, kỹ thuật canh tác Mỗi đại diện thu thập ít nhất 30 các thể
Tiến hành phân loại theo từng tuổi phát dục Căn cứ vào quy định của chuyên ngành, tính toán tỷ lệ phần trăm từng pha phát dục để xác định pha phát dục nào là rộ Từ đó, căn cứ vào đặc điểm sinh vật học để dự tính những chie tiêu cơ bản sau đây:
a/ Dự tính thời gian trưởng thành rộ và sâu non tuổi 1 rộ
b/ Dự tính số lượng sâu cuốn lá sẽ phát sinh
c/ Dự tính thiệt hại do sâu cuốn lá gây ra (diện tích bị nhiễm nặng với mật độ sâu là 30 con/m2
1.2.4. Biện pháp phòng ngừa và dập dịch
* Canh tác kỹ thuật
Đối với loài sâu cuốn lá đậu tương, chưa tạo ra được giống chống chịu Do vậy, cần gieo trồng tập trung để phân tán mật độ sâu Biện pháp phòng ngừa loài sâu này chủ yếu dựa trên cơ sở dự tính dự báo sự xuất hiện trưởng thành và sâu non lứa 1 và lứa 2
Trang 5- Chăm sóc tốt ngay từ ban đầu để tăng khả năng ra lá, bù vào những phần lá đM bị sâu cuốn lá ăn đi
- Phun phòng bằng thuốc trừ sâu sinh học vào giai đoạn sau khi trưởng thành sâu cuốn lá đậu tương lứa 2 xuất hiện rộ khoảng 7 – 10 ngày
- Phát động biện pháp bẫy đèn bắt bướm vào thời điểm trưởng thành lứa 1 và lứa 2 rộ
* Biện pháp sinh học
Sâu cuốn lá đậu tương bị rất nhiều loài kẻ thù tự nhiên điều hoà số lượng Riêng côn trùng ký sinh thu được 6 loài (Đặng Thị Dung, 1999)
Có một số loài thể hiện vai trò rất lớn, đó là chân chạy đen, chân chạy đen viền trắng thuộc họ chân chạy Carabidae, thường xuyên săn lùng sâu non cuốn lá trong tổ Loài ong ký sinh kén nâu đơn chuyên tính thường đẻ trứng ký sinh trên sâu cuốn lá đậu tương với tỷ lệ rất cao, đặc biệt vào cuối
vụ hè-thu, có lúc lên tới 45% Vì vậy, cần hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu hoá học để bảo vệ lực lượng thiên địch của loài sâu cuốn lá đậu tương
* Biện pháp hoá học
Trong trường hợp khẩn cấp, mật độ sâu cuốn lá tăng cao (> 25 con/m2) ở tuổi 3-5, mà lực lượng thiên địch không đủ sức khống chế, cần tiến hành phun thuốc hoá học có tính chọn lọc, để vừa trừ được sâu hại, vừa bảo vệ được kẻ thù tự nhiên Duy trì mối cân bằng sinh học trên đồng ruộng đậu tương
2 Dịch hại trên cây mía
Sâu đục thân 4 vạch Chilo sachariphagus Bojer (Pyralidae Sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilo auricilius Dudgeon (Pyralidae Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu Chilo infuscatellus Snellen (Pyralidae Sâu đục thân bướm trắng Scirpophaga nivella Fabricius (Pyralidae Sâu đục thân mình vàng Eucosma schistaceana Snellen (Eucosmidae
Sâu đục thân cú mèo Sesamia inferens Walker (Noctuidae Sâu đục thân mình tím Phragmatecia castaneae Hubner (Cossidae
2.1.1. Các vụ dịch đq xảy ra
Trên thế giới, người ta cho rằng, sâu đục thân mía có số lượng loài rất phong phú, là nhóm sâu hại quan trọng nhất và nguy hiểm nhất trong các loài côn trùng gây hại trên mía (CIRAD, 2000) Số loài sâu đục thân mía thay đổi tuỳ theo điều kiện địa lý, khí hậu, thời tiết của từng vùng sinh thái ở khu vực châu Mỹ có 21 loài (Box, 1960); châu Phi có 15 loài
Trang 6(Leslie, 1994); Malaysia có 25 loài (Lim and Pan, 1980); ấn Độ có 9 loài (David, 1977); Đài Loan có 5 loài (Cheng 1994)
ở Việt Nam, theo tác giả Hồ Khắc Tín (Chủ biên, 1982), Lương Minh Khôi (1997), trên cây mía có 5 loài sâu đục thân Theo Câo Anh
Đương (1998), có 6 loài sâu đục thân mía Gần đây nhất, tác giả Lê Ngọc Diệp (2002), trên cây mía ở miền đông Nam bộ, có 7 loài sâu đục thân Mặc dù triệu chứng và mức độ gây hại của từng loài sâu đục thân có sự sai khác, song chúng đều có những đặc trưng điển hình như sau:
Đối với mía ở thời kỳ cây con, sâu đục vào cây, gây hiện tượng nõn héo, ảnh hưởng lớn đến mật độ cây
Đối với mía ở thời kỳ có lóng, khi sâu đục vào thân cây, đốt mía có sâu, cây mía dễ bị gMy đổ khi có gió Đồng thời, bệnh thối đỏ dễ phát triển trong các đốt thân mía có sâu
Sâu đục thân gây hại cho mía, làm cho năng suất, sản lượng, chất lượng và độ Brix đường bị ảnh hưởng khá rõ rệt
Các vụ dịch do sâu đục thân mía đM xảy ra:
Cây mía ở bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào cũng đều có thể bị sâu
đục thân tấn công gây hại Các loài sâu đục mầm thường gây hại ở giai
đoạn mía mầm Theo Solomon và ctv (2000), các loài sâu đục mầm có thể làm giảm khoảng 26,7% mầm cấp 1, 6,4% mầm cấp 2, 27,1% mầm cấp 3
và 75% mầm cấp 4 và làm giảm 22-30% năng suất mía ở ấn Độ, loài sâu
đục mầm gây hại làm giảm tỷ lệ mầm từ 30 tới 75% Waterhouse (1993) cho biết, nhóm sâu đục mầm gây hại phổ biến và rất nguy hiểm ở Philippines, Cămpuchia, Lào và Indonesia Tương tự, các loài sâu đục ngọn là nguyên nhân gây chết khoảng 10% tổng số mầm (Solomon và ctv (2000) Nhiều tác giả cho rằng, các loài sâu đục lóng gây hại thường làm cây giảm mạnh về trọng lượng Những cây bị hại nặng, có thể làm bị chết
do bị gMy, bị thối thân hoặc khô thân Các lóng bị sâu đục thường dễ bị gMy, mầm nách phát triển mạnh, hàm lượng đường trong mía bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài ra, sâu đục thân mía gây hại thường tạo ra các vết thương hở, là điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật xâm nhập và gây bệnh
Năm 1964, tỷ lệ mía bị hại do sâu đục thân lên tới 63,8% vào giai
đoạn mía chín ở mía tơ và 54,3% đối với mía gốc (Lương Minh Khôi, 1969) Năm 1983, trên mía ở miền đông nam bộ, nhóm sâu đục thân gây hại trong tháng 8 trên 60,3% diện tích với 33% số cây bị hại Theo tác giả Nguyễn Đức Quang (1997), vụ mía 1995-1996, tỷ lệ mía bị hại do nhóm sâu đục thân gây ra là 55 – 76%; năng suất mía giảm 31-46% Nhìn chung, các trận dịch do sâu đục thân lía gây ra không rõ ràng như sâu đục thân lúa Tuy nhiên, khi mật độ của nhóm sâu này tăng cao, cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất và phẩm chất mía
2.1.2. Quy luật diễn biến số lượng
Trang 7Tùy theo từng loài sâu đục thân trên cây mía mà quy luật diễn biến
số lượng của chúng có khác nhau
ở Việt Nam, loài sâu đục thân mình tím thường phát sinh gây hại nặng nhất vào tháng giêng (dương lịch) hàng năm Số lượng nhộng thu
được trong tháng này đạt cao nhất
Loài sâu đục thân mình vàng mỗi năm có 7 lứa; gây hại nặng là lứa
1 và lứa 2 Lứa 2 phát sinh nhiều vào khoảng cuối tháng 3 đến 20 tháng 5; gây hại mía mầm và mía bắt đầu vươn lóng (Cục BVTV, 1999)
Loài sâu đục thân 4 vạch trong một năm có 4-5 lứa, phá hại quanh năm từ khi mía mọc mầm cho đến lúc thu hoạch Sâu thường phát sinh thành 6 đợt Sâu đục thân mình trắng mỗi năm phát sinh 4-5 lứa Sâu đục thân mình hồng và 5 vạch, mỗi năm phát sinh 5-6 lứa Số lượng sâu các lứa càng về cuối càng cao
Loài sâu đục thân 5 vạch trong một năm thường phát sinh 5 đợt, nhưng có 2 cao điểm Cao điểm thứ nhất từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5; Cao điểm thứ 2 từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 Sâu phát sinh gây hại nhiều trên mía trồng ở vùng đồi khô hạn
Loài sâu đục thân mình trắng mỗi năm phát sinh 4 – 5 lứa Lứa thứ nhất tập trung gây hại nhiều vào tháng 5; lứa 2 gây hại nặng vào tháng 6-7; Lứa 3 vào tháng 8-9
Loài sâu đục thân mình hồng trong một năm có 6 lứa, phát sinh gây hại quanh năm Song lứa 2 thường phát sinh với số lượng lớn, gây hại nặng vào tháng 3 đến tháng 4, ứng với giai đoạn mía đẻ nhánh
2.1.3. Phương pháp dự tính dự báo
Đối với những loài sâu đục thân mía, phương pháp dự tính dự báo tốt nhất là dựa vào phương pháp điều tra tiến độ phát dục của sâu Trong
số 7 loài sâu đục thân mía, tuỳ theo điều kiện ngoại cảnh từng vùng mà số loài sâu hại chính có khác nhau Chúng ta không thể dự tính cùng lúc cho tất cả các loài sâu đục thân, mà chỉ cần dự tính để phòng trừ loài chủ lực Muốn xác định loài chủ lực thì cần thu thập mẫu sâu, ít nhất là 50 cá thể Tính tỷ lệ từng loài theo công thức sau:
Tổng số cá thể từng loài
Tỷ lệ loài = - x 100
Tổng cá thể thu được Loài nào có tỷ lệ % số cá thể cao nhất chính là loài chủ lực Sau đó tách riêng từng tuổi để tính tỷ lệ % từng tuổi sâu Nếu số cá thể của loài chủ lực thu được chưa đủ 30, thì cần tiếp tục thu thêm để có đủ số liệu phân tích Căn cứ vào quy định của ngành, xác định tuổi sâu phổ biến Trên cơ sở đó, áp dụng công thức dự tính để tính trước thời gian pha phát dục tiếp theo rộ; dự tính số lượng sâu sẽ phát sinh và dự tính thiệt hại 2.1.4. Biện pháp phòng ngừa và dập dịch
Trang 8* Biện pháp kỹ thuật canh tác
Trồng mía với khoảng cách 1,2m hàng cách hàng; làm sạch cỏ, tưới nước, bóc lá, tủ lá và không đốt lá sau thu hoạch cho năng suất mía cao, dẫn đến hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, biện pháp thủ công cắt tỉa cây có sâu định kỳ từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 6 sau trồng, cũng cho hiệu quả phòng trừ tốt
* Biện pháp sinh học
Đối với các loài sâu đục thân mía, sử dụng biện pháp sinh học rất
có ý nghĩa trong việc phòng trừ nhóm sâu hại này Nhân nuôi ong mắt đỏ thả trên đồng ruộng với số lượng 50.000 ong/ha/tuần từ tháng 9 - 11, đem lại hiệu quả kinh tế cao trên ruộng mía tơ trồng xen lạc và trồng thuần có bón thêm Vibasu 10H Lợi nhuận tăng so với đối chứng là 1.541.000 VNĐ trên mía tơ xen lạc và 1.994.000 VNĐ trên mía tơ trồng thuần (Lê Ngọc Diệp 2002)
* Biện pháp vật lý – cơ giới
Biện pháp sử dụng bẫy đèn để thu bắt trưởng thành là sâu đục thân mình tím và sâu đục thân mình hồng trong thời gian từ tháng 4 – 9 âm lịch cho hiệu quả phòng trừ cao
* Biện pháp hoá học
Đối với sản xuất mía, biện pháp hoá học là biện pháp bất đắc dĩ Tuy nhiên, rải thuốc Vibasu vào đất với khối lượng 30 kg/ha, hoặc phun thuốc tiếp xúc khi sâu non tuổi rộ cũng có tác dụng hạn chế mật độ sâu
đục thân mía
Họ rệp muội Aphididae; Bộ cánh đều Homoptera
2.2.1. Các vụ dịch đq xảy ra
Rệp xơ trắng là nguyên nhân cơ bản làm giảm năng suất và hàm lượng đường trong cây mía Theo Gupta và ctv (1995), ngoài tác hại làm giảm năng suất, rệp xơ trắng còn gây hiện tượng lá úa vàng, cây cằn cỗi,
va nguy hiểm hơn là hậu của rệp xơ trắng, bệnh muội đen phát triển mạnh Các nhà nghiên cứu sinh học ở Indonesia cũng cho rằng, rệp xơ trắng phá hại ở hầu hết các vùng trồng mía, và là một trong những loài côn trùng nguy hiểm nhất đối với cây mía Trong 2 năm 1989-1990, rệp xơ trắng đM phá hại nặng trên 2000 hs mía ở miền Nam Sulawesi (Suhartawan, 1998)
ở Việt Nam, nhiều tài liệu cho rằng, rệp xơ trắng là loài sâu hại phổ biến và thường gây thành dịch (Hồ Khắc Tín và ctv 1982), Lương Minh Khôi và ctv., 1995) Theo các tác giả này, ở các vùng trồng mía như Vạn
Điểm (Nghệ An), Tỷ lệ diện tích mía bị rệp xơ trắng gây hại nặng thấp nhất là 69,2% ở Nông trường Hà Trung (Thanh Hoá) con số này lên tới
Trang 9100% Những cây mía bị rệp xơ trắng chích hút, đM bị giảm 35-40% lượng
đường, 10-20% năng suất, ngọn mía mất khả năng nảy mầm, gốc mất khả năng tái sinh (Lê Song Dự, 1996)
2.2.2. Quy luật diễn biến số lượng của rệp xơ trắng
Rệp xơ trắng hại mía xuất hiện và gây hại ở hầu hết các tháng trong năm Tuy nhiên, mật độ cao và gây hại nặng thường rơi vào nửa giai đoạn sau của thời kỳ sinh trưởng của cây mía Nghĩa là từ lúc cây mía bắt đầu vươn lóng cho đến khi thu hoạch Đặc biệt vào khoảng từ tháng 7 đến tháng 11 Theo tác giả Trần Văn Sỏi (1995), rệp xơ trắng thường xuất hiện nhiều vao mùa hạ, phá hại mạnh nhất vào cuối thu đầu đông
Tác giả Lương Minh Khôi (1999), Cục khuyến nông khuyến lâm (1996), ở các tỉnh miền Bắc, rệp phát sinh khoảng 20 lứa/năm Sức sinh sản mạnh, hầu hết các tháng trong năm rệp xơ trắng đều có khả năng sinh sản, khi điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, có thể gây thành dịch Sự phát sinh và gây hại của rệp xơ trắng trên mía tuỳ thuộc vào điều kiện sinh thái của từng vùng, từng năm Qua theo dõi nhiều năm ở các tỉnh trồng mía ở miền Bắc Việt Nam, có thể sơ bộ rút ra quy luật sau:
- Rệp xơ trắng bắt đầu phát sinh vào cuối tháng 3 đến giữa tháng
4 trên mía lưu gốc thời kỳ cây con Số lượng quần thể tăng từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5
- Rệp xơ trắng phát sinh rộ từ tháng 6 đến tháng 11 Thời gian này
điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho rệp phát triển và sinh sản Rộ nhất từ tháng 9 – 11 Tháng 8, do điều kiện ngoại cảnh bất thuận, nóng ẩm, gió bMo, mưa nhiều, nên số lượng của quần thể rệp xơ trắng giảm hẳn
- Rệp xơ trắng vMn rộ từ cuối tháng 11 đến tháng 12 Lúc này mùa
đông đến, nhiệt độ thấp, mía chín, khả năng sinh sản của rệp giảm xuống Trong quần thể rệp xuất hiện nhiều cá thể có cánh chuẩn bị di chuyển và qua đông Những cá thể sống sót qua
đông là nguồn rệp cho năm sau
Các trận dịch do rệp xơ trắng gây nên là vào những năm 1990 –
1994
2.2.3. Phương pháp dự tính dự báo rệp xơ trắng
Do rệp xơ trắng định vị và gây hại ở ngày mặt dưới của lá mía, các
đặc tính sinh vật học và sinh thái học đM được nghiên cứu kỹ Do vậy, công tác dự tính dự báo sự xuất hiện và phát triển của chúng đơn giản hơn những loài côn trùng khác rất nhiều
Căn cứ vào đợt xuất hiện lứa đầu tiên trên ruộng mía, căn cứ vào số liệu thời tiết của các tháng trong năm, mà dự tính sự xuất hiện các lứa tiếp theo Vòng đời của loại hình không cánh biến động từ 11 – 18 ngày tuỳ
Trang 10theo nhiệt độ Như vậy, cứ trung bình một tháng sẽ có 2 lứa rệp tính từ thời điểm cuối tháng 3 đến tháng 11
Dự tính số lượng rệp xơ trắng sẽ phát sinh:
Tuỳ theo loại hình của rệp (có cánh hay không cánh), tuỳ theo nhiệt
độ và độ ẩm mà khả năng sinh sản của rệp xơ trắng có sai khác
+ Loại hình không cánh, ở điều kiện nhiệt độ trung bình từ 20 –
300C, độ ẩm 70-80%, một rệp cái có khả năng đẻ được 50 - 130 rệp con Tuổi thọ của rệp mẹ khoảng 7-10 ngày Trên một vị trí của lá mía, có thể tồn tại 3-4 đời rệp ở điều kiện nhiệt độ dưới 200C, khả năng sinh sản của rệp mẹ giảm xuống ở điều kiện nhiệt độ trên 300C, xuất hiện hiện tượng
đình dục Thời gian phát dục của rệp non bị kéo dài khoảng 2-3 lần
+ Loại hình có cánh, thường chỉ xuất hiện khi nhiệt độ, độ ẩm môi trường thấp hoặc yếu tố thức ăn không còn phù hợp Khả năng sinh sản của loại hình này rất thấp, 10-15 con/rệp cái
2.2.4. Biện pháp phòng ngừa và dập dịch
+ Biện pháp kỹ thuật canh tác
Chế độ canh tác có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của quần thể rệp xơ trắng hại mía Tác giả Lương Minh Khôi (1999) cho rằng, mía xuân không nên trồng liền kề với mía thu hoặc mía lưu gốc, sẽ ngăn ngừa
được sự di chuyển của rệp xơ trắng
Bón đạm sớm, cân đối lượng NPK, làm sạch cỏ, bóc lá già để ruộng mía thông thoáng, hạn chế được sự phát triển mạnh của rệp xơ trắng Trần Văn Sỏi (1995) cũng cho rằng, luân canh hợp lý cây mía cũng hạn chế
được sự phát triển của rệp xơ trắng
Dùng giống chống chịu POJ 30-16, F.134, VĐ.54-143, F.156 và ROC.1 hạn chế được sự gây hại của rệp xơ trắng (Lê Song Dự và ctv 1996) Hoặc những giống mía địa phương có bản lá dày, góc độ lá nhỏ ít
bị rệp xơ trắng gây hại hơn những mía giống khác
+ Biện pháp sinh học
Rệp xơ trắng bị một đội ngũ thiên địch khống chế khá hùng hậu Vì rệp di chuyển chậm, lại định vị ngay mặt dưới của lá mía, nên thiên địch rất dễ bắt gặp Kết quả nghiên cứu của Lương Minh Khôi và ctv (1997, 1999), trong những năm 1992-1997, lực lượng thiên địch của rệp xơ trắng thu được 31 loài; trong đó có 21 loài ă thịt, 10 loài ký sinh Tám loài có mức độ phổ biến cao là ong mắt đỏ, ong đen, ong kén trắng, ong cự đen nhỏ và bọ rùa 13 chấm Ông cho rằng, tuy sưc sinh sản của rệp xơ trắng rất lớn, song thiên địch vẫn có khả năng hạn chế quần thể rệp Loài bọ rùa
13 chấm, một đời ăn hết 32.000 con rệp; bọ rùa 2 chấm đỏ, một đời ăn hết 4.000-5.000 con rệp Theo Tạ Huy Thịnh và Trương Xuân Lam (1994), bọ rùa đỏ cũng có khả năng kìm hMm số lượng quần thể rệp xơ trắng Nhiều tác giả khác cũng cho biết, thiên địch của rệp xơ trắng hoàn toàn có khả