Nó gắn liền với sự hình thành và pháttriển của các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của tố tụng hình sự.Với ý nghĩa đó, xét xử phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG
XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Đệ
HÀ NỘI - 2012
Trang 3phúc thẩm
Trang 41.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn 27
xử phúc thẩm
2.1 Thực tiễn thi hành những quy định về xét xử phúc thẩm 60
trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 của ngành Tòa án Hà
Nội
2.1.2 Một số hạn chế và vướng mắc trong thực tiễn xét xử phúc 68
thẩm của ngành Tòa án Hà Nội
2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm các vụ 84
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
bảng
2.1 Tình hình án có kháng cáo, kháng nghị của ngành Tòa án 60
Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
2.2 Tình hình giải quyết án hình sự phúc thẩm của ngành Tòa 61
án Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
2.3 Tình hình số bị cáo bị đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm 62
của ngành Tòa án Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
2.4 Chất lượng xét xử án Hình sự phúc thẩm của ngành Tòa án 63
Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
2.5 Tình hình án hình sự phúc thẩm quá hạn luật định của 69
ngành Tòa án Hà Nội
2.6 Tỷ lệ án hình sự phúc thẩm còn tồn hàng năm từ năm 72
2004 đến năm 2010 của ngành Tòa án Hà Nội
2.7 Tình hình Viện kiểm sát Hà Nội kháng nghị theo thủ tục 74
phúc thẩm án hình sự từ năm 2004 đến năm 2010
2.8 Tình hình Tòa án Hà Nội giải quyết kháng nghị của Viện 74
kiểm sát Hà Nội
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghịquyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "một số nhiệm vụ trọngtâm công tác tư pháp trong thời gian tới", công cuộc cải cách tư pháp đã được tổchức thực hiện với tinh thần quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả Nhận thức
về công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, chất lượng hoạt động
tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc
tế, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phát triển và bảo vệđất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa,ngày 2/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020 phù hợp với quá trình đổi mới công tác lậppháp và chương trình cải cách hành chính
Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là một chế định quan trọng được quyđịnh trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam Việc nghiên cứu, làm rõ nhữngvấn đề xung quanh chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là quan trọng và cầnthiết Đây là một công việc rất có ích về mặt lâu dài vì nó đóng vai trò căn bảngiúp cho các nhà lập pháp mỗi khi xây dựng hay sửa đổi nhằm hoàn thiện luật, sẽđưa ra những quyết định thực sự phù hợp và thiết thực đến quyền lợi của nhànước và của nhân dân, đó cũng chính là sự đóng góp không thể thiếu của chúng
ta vào tiến trình đi đến một Nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh và phát triển; đồngthời cũng giúp cho các nhà áp dụng pháp luật có tính thực thi cao
Chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự chính là sự thể hiện nguyêntắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc khách quan và nguyên tắcxác định sự thật của vụ án Sự tồn tại của chế định này là cơ sở cho nhữngngười làm công tác pháp luật đưa ra một quyết định đúng đắn, đó là một bản
Trang 7án công minh, đúng người đúng tội và đúng pháp luật Đồng thời, chế địnhxét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong luật hình sự góp phần đảm bảo cho việcthực hiện các nguyên tắc của luật hình sự một cách toàn diện.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, nhà làm luật nước ta đãchính thức ghi nhận chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự bằng việc quyđịnh tại Phần thứ tư, Chương 23 (từ Điều 230 đến Điều 254) của Bộ luật Tốtụng hình sự 2003 Vì vậy, việc làm sáng tỏ để áp dụng một cách chính xáccác quy phạm này là rất cần thiết và cấp bách, thêm vào đó sẽ góp phần hoànchỉnh thêm các vấn đề liên quan đến chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Tác giả cho rằng nghiên cứu chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
là vấn đề đặc biệt cần thiết
Về mặt lập pháp: Những quy định về xét xử phúc thẩm đã được quy
định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập Bêncạnh đó, cũng đã có các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị quyết05/2005/NQ-HĐTP ngày 8/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao hướng dẫn thị hành một số quy định trong Phần thứ tư "Xét xửphúc thẩm" của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003) nhưng cũng chưa đầy đủ
Về mặt thực tiễn: Mặc dù đã có quy định cụ thể cũng như văn bản
hướng dẫn việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng thựctiễn áp dụng các quy định về xét xử phúc thẩm còn nhiều vướng mắc Trongcác báo cáo tổng kết công tác năm của ngành Tòa án nhân dân mấy năm gầnđây, khi đề cập đến các vụ án hình sự, quyết định của Tòa án bị sửa, hủy (đại
đa số là do thiếu kỹ năng và chuyên nghiệp trong các giai đoạn chuẩn bị xét
xử, nghiên cứu hồ sơ vụ án) nên dẫn đến tình trạng hủy, sửa án, bồi thườngoan sai cho người vô tội Như vậy, để tránh tình trạng sửa, hủy án thì Thẩmphán phải là những người có kỹ năng và trình độ chuyên môn cao
Vì vậy, mặc dù vấn đề này đã được quan tâm nghiên cứu những vẫn còn
Trang 8là trong giai đoạn hiện nay, do yêu cầu của cải cách tư pháp thì việc tiếp tụchoàn thiện các quy định về xét xử phúc thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự làđiều cần thiết.
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ở các mức độkhác nhau đã được một số nhà khoa học, luật gia quan tâm, nghiên cứu vàđược đề cập trong các công trình, trong các tạp chí, trong một số sách chuyênkhảo và giáo trình
Trong các công trình, tạp chí, sách chuyên khảo và giáo trình nàybước đầu phân tích và làm rõ những vấn đề xung quanh chế định xét xử phúcthẩm vụ án hình sự trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, đồng thời đưa ra
mô hình lý luận của kiến giải lập pháp về các quy phạm của chế định nàytrong hệ thống Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu, liên quan trực tiếp
về Phúc thẩm trong tố tụng hình sự: Luận văn thạc sĩ luật học như "Thủ tụcxét xử phúc thẩm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn GiaCương năm 1998; "Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Phan ThịThanh Mai, 1998; Luận án tiến sĩ "Phúc thẩm trong tố tụng hình sự" củaNguyễn Đức Mai;…
Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến phúc thẩm
trong Tố tụng hình sự: "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
về xét xử phúc thẩm" của Nguyễn Đức Mai, 2002; Tạp chí Tòa án nhân dân;
Trang 9Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân liên quan về giai đoạn Xét xử phúc thẩm;Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ án hình sự của Học viện Tư pháp, Nhà xuấtbản Công an nhân dân, Hà Nội, 2007;…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu được nghiên cứu trước khi Bộluật Tố tụng hình sự 2003 ban hành, chưa thực sự toàn diện và đầy đủ về xét
xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự theo đúng tinh thần cải cách tư pháp hiệnnay
Tất cả những luận điểm trên là lý do để tác giả lựa chọn "Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự" làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ một cách có hệ thống
về mặt lý luận những nội dung cơ bản của chế định xét xử phúc thẩm vụ ánhình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc áp dụng chế định này trongthực tiễn cũng như xác định những bất cập và nguyên nhân của nó nhằm đềxuất kiến giải pháp hoàn thiện và đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng chế định này trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình nhữngnhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản của xét xử phúcthẩm: Bản chất của phúc thẩm, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm và thủ tụcxét xử phúc thẩm…
Trang 10- Khái quát lịch sử phát triển của chế định xét xử phúc thẩm vụ ánhình sự và phân tích, đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
về xét xử phúc thẩm
- Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụnghình sự về chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong thực tiễn áp dụng phápluật hình sự của ngành Tòa án Hà Nội
- Phân tích những tồn tại trong các quy định của chế định này và xácđịnh nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án hìnhsự
- Đưa ra kiến nghị, giải pháp để khắc phục và hoàn thiện các quy định của pháp luật về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn này tập trung nghiên cứu: Lý luận về xét xử phúc thẩm; cácquy định về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
và thực tiễn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của ngành Tòa án Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu:
Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là vấn đề có nội dung rộng và phứctạp Vì vậy trong phạm vi luận văn không thể xem xét toàn diện tất cả các nộidung của vấn đề Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm và thực trạng phúc thẩm các vụ
án hình sự của ngành Tòa án Hà Nội, những tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân
và giải pháp nâng cao hiệu quả phúc thẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn này dựa trên việc sử dụngphương pháp nghiên cứu sau:
Trang 11-Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước phápquyền Việt Nam, về cải cách tư pháp, về tính nhân đạo của pháp luật…
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phươngpháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổnghợp, phương pháp thống kê, v.v…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo trong khoa học luật tố tụng hình sựViệt Nam nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và đồng bộ những vấn
đề lý luận và thực tiễn về chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ở cấp độmột luận văn Trong luận văn này, tác giả đã giải quyết về mặt lý luận nhữngvấn đề sau:
Ý nghĩa lý luận:
- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện một số vấn đề lý luận vềchế định Xét xử phúc thẩm như: Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơbản của chế định;
- Phân tích và so sánh với pháp luật tố tụng hình sự một số nước trênthế giới
Ý nghĩa thực tiễn:
- Phân tích việc áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam về chế định xét xử phúc thẩm trong thực tiễn xét xử từ năm 2004 đến nay,qua đó đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến xét xử
vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua Đặc biệt, trongphạm vi nhất định, luận văn tập trung chỉ ra một số các tồn tại, vướng mắc trongthực tiễn áp dụng và những nguyên nhân của thực trạng này để tìm ra giải phápkhắc phục
Trang 12- Đề xuất sửa đổi các quy định về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự cho phù hợp với chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta.
- Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân trong thực tiễn áp dụng,luận văn đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về chếđịnh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đểphục vụ tốt yêu cầu của công tác xét xử, yêu cầu của thực tiễn công tác phòng vàchống tội phạm cũng như việc giáo dục, cải tạo người phạm tội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về xét xử phúc thẩm vụ án
hình sự
Chương 2: Thực tiễn thi hành những quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự 2003 của ngành Tòa án Hà Nội về xét xử phúc thẩm từ năm 2004 đếnnay và giải pháp nâng cao hiệu quả việc xét xử phúc thẩm
Trang 131.1.1 Khái niệm xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Tư pháp hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của các cơ quannhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện quyền lực nhà nước - quyền tư pháp.Đây là lĩnh vực rất nhạy cảm vì nó động chạm trực tiếp đến các quyền tự do
và dân chủ của công dân Mọi sai lầm dù lớn hay nhỏ trong quá trình xử lýđối với người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm đều có thể dẫn đến nhữnghậu quả nghiêm trọng, thậm chí có thể không khắc phục được Bởi vậy, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị can, bị cáo
là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm mục đích đặt ra của
tố tụng hình sự là "phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh,kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân" Đây cũng là một nội dungcấp thiết của việc bảo vệ quyền con người nói chung mà mỗi quốc gia cũngnhư cộng đồng quốc tế đều quan tâm giải quyết
Sự hình thành và phát triển của xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sựgắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ
và tiến bộ của tố tụng hình sự như: nguyên tắc công bằng, nhân đạo, suy đoán
vô tội, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp
và bằng lời nói… Vì vậy các quốc gia đều chú ý điều chỉnh bằng pháp luậtquá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi bị coi
là tội phạm, đặc biệt là hoạt động xét xử các vụ án hình sự nhằm tạo ra một cơ
Trang 14chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ có hiệu quả hoạt động của các cơ quan tưpháp, phát hiện và khắc phục kịp thời các sai sót về xét xử của các Tòa án cấpdưới (Tòa án cấp sơ thẩm).
Với tính cách là nguyên tắc chung của pháp luật, nguyên tắc côngbằng tác động mạnh mẽ đối với lĩnh vực áp dụng pháp luật hình sự PGS.TS
Võ Khánh Vinh đã rất có lý khi cho rằng:
Nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi quyết định hình phạt phảibảo đảm sự tương xứng của hình phạt được tuyên với tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểmcủa nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹtrách nhiệm, với dư luận xã hội, với ý thức pháp luật [94]
Mặt khác, nguyên tắc công bằng cũng đòi hỏi trong những điều kiện
và hoàn cảnh phạm tội giống nhau, thì người phạm tội phải bị kết án và xửphạt như nhau Tuy nhiên, trên thực tế đòi hỏi này lại rất khó đạt được donhững nguyên nhân khách quan và chủ quan rất khác nhau: không thống nhấtgiữa các thẩm phán, giữa các Tòa án về nhận thức và áp dụng pháp luật, đặcbiệt là các quy định mang tính chất đánh giá tùy nghi Để giảm bớt sự khácbiệt trong việc tuyên phạt đối với người phạm tội giữa các Tòa án và giữa cácthẩm phán với nhau, cần có một trình tự (thủ tục tố tụng) mà theo đó nếu bịcáo và đương sự không đồng ý với bản án (quyết định) chưa có hiệu lực phápluật của Tòa án cấp dưới, thì có thể yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xem xét lạiphán quyết đó Thủ tục tố tụng này chính là thủ tục xét xử phúc thẩm
Sự ra đời của Tòa án cấp phúc thẩm cũng xuất phát từ quan niệm củacác nhà lập pháp cho rằng việc xét xử lại các vụ án có kháng cáo, kháng nghị
ở Tòa án cấp trên sẽ hạn chế được những sai sót về xét xử của các thẩm phánTòa án cấp sơ thẩm Tòa án cấp trên sẽ xử đúng công lý hơn vì Tòa này gồmnhững thẩm phán cao niên, có kinh nghiệm hơn và ở xa các đương sự nên khôngchịu ảnh hưởng địa phương
Trang 15Nguyên tắc hai cấp xét xử còn bắt buộc các thẩm phán tòa án cấp dướiphải thận trọng trong việc xét xử.
Xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự là một trong các hình thức,phương tiện được các nước sử dụng nhằm đạt được mục đích này Để thực hiệnđược cần phải có một trình tự (thủ tục tố tụng) mà theo đó nếu bị cáo hay đương
sự không đồng ý với bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa áncấp dưới thì có thể yêu cầu Tòa án cấp cao hơn (Tòa án cấp sơ thẩm) xem xét lạiphán quyết đó Thủ tục tố tụng này chính là thủ tục xét xử phúc thẩm
Sự ra đời của chế định xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự là mộtnhu cầu tất yếu khách quan của xã hội Nó gắn liền với sự hình thành và pháttriển của các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của tố tụng hình sự.Với ý nghĩa đó, xét xử phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện:
Một là, thông qua việc xét xử lại vụ án mà bản án hoặc quyết định
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩmkhông chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án (quyết định) sơthẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà còn phát hiện và khắc phục kịp thời các viphạm nghiêm trọng về xét xử của Tòa án cấp dưới
Hai là, xét xử phúc thẩm là một trong những chế định thể hiện rõ nét
nhất bản chất dân chủ và tiến bộ trong tố tụng hình sự Chế định này buộc cácTòa án cấp sơ thẩm phải thận trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các yêu cầu vềtính hợp pháp và có căn cứ khi ra bản án hoặc quyết định về vụ án Nó khôngcho phép người đã kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã kháng nghị được bổ sungthay đổi kháng cáo, kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo,không cho phép cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơntình trạng của bị cáo nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc khángnghị theo hướng đó
Ba là, khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án quyết định chưa có
hiệu lực pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm phải đưa vụ án ra xét xử trong thời
Trang 16hạn nhất định Vì vậy, xét xử phúc thẩm là một trong các phương tiện hữuhiệu, kịp thời bảo vệ và có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, cácquyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Bốn là, thông qua việc xét xử các vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm hướng
dẫn cho các Tòa án cấp sơ thẩm và các cơ quan tiến hành tố tụng khác trongviệc nhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất pháp luật, góp phần nâng caochất lượng xét xử các vụ án hình sự, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật
và củng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân, đấu tranh phòngchống tội phạm
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, khái niệm "xét xử phúc thẩm" cóthể được hiểu ở các góc độ khác nhau Khái niệm xét xử phúc thẩm có thểđược hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự (giai đoạn phúc thẩm); phúcthẩm là một chế định (chế định xét xử phúc thẩm) của Tố tụng hình sự vàphúc thẩm là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm) Xét xử phúcthẩm cũng có thể được hiểu bao gồm cả ba nội dung nêu trên tức là xét xửphúc thẩm là một giai đoạn, một chế định của tố tụng hình sự đồng thời là mộtthủ tục xét xử
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả nghiên cứu xét xử phúcthẩm dưới góc độ là thủ tục xét xử phúc thẩm
Thủ tục xét xử phúc thẩm: là hình thức Tòa án cấp trên tiến hành xét
xử lại vụ án hình sự hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơthẩm đối với vụ án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Thủtục xét xử phúc thẩm là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng và hiệu quả xét xử phúc thẩm Vì vậy không phải tất cả các vụ án hình
sự sau khi xét xử sơ thẩm đều được xem xét lại theo thủ tục này Thủ tục phúcthẩm sẽ kết thúc sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định về
vụ án đó
Trang 17Các đặc điểm cơ bản của thủ tục xét xử phúc thẩm:
Ngoài các đặc điểm chung của giai đoạn tố tụng, xét xử phúc thẩm có một số dấu hiệu đặc trưng riêng:
- Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn độc lập trong quá trình tố tụnghình sự và được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành tố tụng đặc trưng là Tòa án cấpphúc thẩm và Viện kiểm sát cấp phúc thẩm Thành phần Hội đồng xét xử phúcthẩm chỉ bao gồm các thẩm phán chuyên nghiệp (trường hợp cần thiết mới có hộithẩm nhân dân tham gia…;
- Đối tượng xem xét của xét xử phúc thẩm là các vụ án hình sự mà bản án (quyết định) sơ thẩm bị kháng cáo và (hoặc) kháng nghị trong thời hạn luật định
- Xét xử phúc thẩm nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo hoặc kháng nghị,đồng thời xem xét lại về nội dung, khắc phục kịp thời các sai lầm của Tòa án cấp
sơ thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân
- Hình thức thể hiện kết quả giải quyết vụ án ở giai đoạn tố tụng này làbản án phúc thẩm hoặc quyết định phúc thẩm…
Từ những phân tích trên có thể rút ra: Xét xử phúc thẩm trong tố tụng
hình sự là một thủ tục tố tụng hình sự mà theo đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại các vụ án hình sự mà bản án (quyết định) sơ thẩm bị kháng cáo và (hoặc) kháng nghị trong thời hạn luật định nhằm kiểm tra tính hợp pháp và
có căn cứ của bản án (quyết định) sơ thẩm, khắc phục kịp thời các sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.1.2 Tính chất của xét xử phúc thẩm
Tính chất của xét xử phúc thẩm là vấn đề quan trọng và quyết định
Trang 18như: Phạm vi xét xử phúc thẩm, quyền hạn và thủ tục xét xử phúc thẩm củachế định này.
Có quan điểm cho rằng: Phúc thẩm không phải là một cấp xét xử màchỉ là một thủ tục tố tụng mà theo đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại các bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Điều
đó có nghĩa là tính chất của phúc thẩm chỉ là xét lại chứ không phải là xét xửlại [73, tr 262], [74, tr 278]
Quan điểm khác cho rằng: Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ có nhiệm
vụ kiểm tra hoạt động xét xử sơ thẩm mà còn xét xử cả về nội dung vụ án Vì
vậy tính chất của phúc thẩm không phải là xét lại mà là xét xử lại các vụ án,
quyết định của tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáohoặc kháng nghị [26, tr 10-11]
Thực chất tính chất của xét xử phúc thẩm có liên quan chặt chẽ tớinguyên tắc "hai cấp xét xử" Khi trong Bộ luật Tố tụng hình sự tồn tại nguyêntắc này thì có nghĩa là Tòa án cấp phúc thẩm phải là cấp xét xử thứ hai, tức làcấp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
bị kháng cáo hoặc kháng nghị Cấp giám đốc thẩm, tái thẩm chưa bao giờđược thừa nhận là một cấp xét xử mà chỉ được coi là thủ tục tố tụng đặc biệt
có nhiệm vụ xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Tiến sĩNguyễn Văn Hiện cho rằng: "Việc đồng nhất tính chất của giám đốc thẩm vàphúc thẩm là không có căn cứ cả về lý luận thực tiễn bởi vì đây là hai giaiđoạn tố tụng khác nhau về bản chất và yêu cầu tố tụng" [11, tr 171]
Do vậy, có thể tác giả luận văn cho rằng: Tính chất của xét xử phúc thẩm
trong tố tụng hình sự là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại các vụ án mà bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
1.1.3 Thẩm quyền xét xử phúc thẩm
Thẩm quyền xét xử phúc thẩm là sự phân định thẩm quyền giải quyếtcác vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng
Trang 19cáo, kháng nghị giữa các Tòa án cấp trên Để xác định Tòa án cấp trên nào xét
xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm thì sau khi xét xử sơ thẩm nếu có kháng cáo,kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm của những người có quyềnkháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì vụ án sẽ được xét xử lại ởcấp cao hơn
Như vậy, khác với thẩm quyền xét xử sơ thẩm được xác định trực tiếptrong pháp luật thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án được xác địnhgián tiếp trên cơ sở thẩm quyền xét xử sơ thẩm Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên
đã rất đúng khi cho rằng: "Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để xác địnhthẩm quyền của Tòa án các cấp" [13, tr 22] Vì vậy, muốn xác định thẩmquyền của Tòa án các cấp phải xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Hầu hết pháp luật của các nước đều quy định Tòa án có thẩm quyềnxét xử phúc thẩm vụ án hình sự là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét
xử sơ thẩm vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có khángcáo, kháng nghị
Trên cơ sở thẩm quyền xét xử phúc thẩm xác định được thẩm quyềncủa Tòa án cấp phúc thẩm trong vụ án hình sự: là toàn bộ các quyền hạn màpháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét và quyết địnhcác vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự do các Tòa án cấp dưới xét xử, mà bản
án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm bao gồmhai yếu tố (nội dung) cấu thành là thẩm quyền xem xét (thẩm quyền về hìnhthức) và thẩm quyền quyết định các vấn đề về vụ án (thẩm quyền về nội dung)
Thẩm quyền xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm bao gồm thẩm quyền
xét xử phúc thẩm; phạm vi các vụ án hình sự có thể được xem xét lại ở cấpthứ hai (các vụ án có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm) vàphạm vi xét xử phúc thẩm (đối với các vụ án thuộc thẩm quyền)
Trang 20Thẩm quyền quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm thể hiện ở các
quyền hạn của Tòa án khi xét xử theo thủ tục phúc thẩm các vụ án bị khángcáo hoặc kháng nghị
Pháp luật của các nước đều quy định Tòa án cấp phúc thẩm có cácquyền hạn sau đây:
- Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Sửa bản án sơ thẩm;
- Hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử sơ thẩm lại vụ án;
- Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
Xét xử phúc thẩm là một chế định thể hiện rõ nét bản chất dân chủ vànhân đạo của tố tụng hình sự và có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của bị cáo Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia là phải hạn chế ởmức độ cần thiết các quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm mà chúng có thểlàm cho tình trạng của bị cáo xấu hơn so với quyết định của bản án sơ thẩm.Đồng thời mở rộng các quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc sửabản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo
Ngày nay yêu cầu "không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo trong xét
xử phúc thẩm" được thừa nhận trong pháp luật của nhiều nước và được coi làmột yêu cầu đặc trưng cơ bản của phúc thẩm trong tố tụng hình sự Yêu cầunày không chỉ là một bảo đảm pháp lý quan trọng để bị cáo thực hiện quyền
tự do kháng cáo bản án (quyết định) sơ thẩm mà còn trực tiếp bảo vệ các lợiích hợp pháp của bị cáo khi vụ án được xét xử lại ở cấp phúc thẩm Nó loạitrừ sự nghi ngờ từ phía bị cáo về những hậu quả pháp lý bất lợi mà việc khángcáo có thể đem lại
Tuy nhiên, do ở mỗi nước quan niệm về "làm xấu hơn tình trạng của
bị cáo trong xét xử phúc thẩm" khác nhau nên khi quy định về quyền sửa hoặchủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm có một số điểm khác nhau
Trang 21Ở Cộng hòa Liên bang Nga yêu cầu này được thể chế hóa một cáchđầy đủ và triệt để trong pháp luật tố tụng hình sự Theo quan niệm của các nhà lậppháp Nga, thì nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong xét xử phúcthẩm phải được tuân thủ một cách tối đa trong mọi trường hợp để bảo vệ cácquyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Chỉ có Tòa án cấp sơ thẩm mới có thẩmquyền ra bản án để kết tội bị cáo; xác định bị cáo phạm một tội khác nặng hơn hay
áp dụng hình phạt nặng hơn cũng như xác định hay bác bỏ các tình tiết mới, cácchứng cứ mới về vụ án Vì vậy, các quy định pháp luật của Nga hạn chế các quyềnhạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm mà chúng
có thể làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, đồng thời không hạn chế việc sửa bản án
sơ thẩm theo hướng có lợi cho họ, nếu có căn cứ
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2001 của Cộng hòa Liên bang Nga, khixét xử phúc thẩm, Tòa án có có thể giảm nhẹ hình phạt mà án sơ thẩm đãquyết định đối với bị cáo hoặc áp dụng luật về tội nhẹ hơn nhưng không đượctăng nặng hình phạt hoặc áp dụng luật về tội nặng hơn Bản án sơ thẩm chỉ cóthể bị hủy vì lý do cần áp dụng luật về tội nặng hơn hoặc vì hình phạt nhẹtrong trường hợp có kháng nghị của Viện Công tố hoặc kháng cáo của người
bị hại yêu cầu (Điều 383) Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể hủy bản án sơthẩm tuyên bị cáo vô tội trong trường hợp có kháng nghị của Viện Công tốhoặc kháng cáo của người bị hại hay kháng cáo của người được tuyên vô tội(Điều 385) Nếu Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng luật hình sự hoặchình phạt không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm và nhânthân người bị kết án, Tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án theo quy địnhtại Điều 387 Bộ luật này nhưng không được sửa hình phạt nặng hơn cũng như
áp dụng luật về tội nặng hơn Ngoài ra, Bộ luật này còn quy định rất cụ thểcác căn cứ mà theo đó Tòa án cấp phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án sơ thẩm(các điều 379 - 383)
Trang 22Hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng hình
sự nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn của hệ thống pháp luật Xô viết trước đây
Vì vậy, "không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo" cũng được coi là một trongnhững yêu cầu cơ bản và đặc trưng của phúc thẩm hình sự nước ta
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành của nước ta, thìngười kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo,kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo (Điều 238).Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luậtHình sự về tội nặng hơn, nếu Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hạikháng cáo yêu cầu theo hướng đó Tòa án cấp phúc thẩm không được sửa bản
án sơ thẩm tuyên bố bị cáo từ không có tội thành có tội khi có kháng cáo củangười bị hại hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát yêu cầu Nếu không thuộctrường hợp hủy án để xét xử lại theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Tố tụnghình sự, thì Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm và gửi kiếnnghị cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp giám đốc thẩm xem xét theo thẩmquyền
Nhiệm vụ Tòa án cấp phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có căn
cứ của các bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thông quaviệc xét xử lại vụ án về nội dung Ngoài việc khắc phục các vi phạm của Tòa
án cấp sơ thẩm được nêu trong kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩmcòn có nhiệm vụ tự mình phát hiện các sai sót ở các phần của bản án sơ thẩmkhông bị kháng cáo, kháng nghị và kịp thời khắc phục chúng Việc quy địnhthẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong tố tụng hình sự một mặt phải bảođảm để Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này, đồng thờikhông được quá mở rộng các quyền hạn này để không dẫn đến tình trạng quátải trong xét xử phúc thẩm hoặc biến cấp phúc thẩm thành Tòa thứ hai xét xử
sơ thẩm lại vụ án
Việc kháng cáo của bị cáo và các đương sự, kháng nghị của Viện kiểmsát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp đối với bản án (quyết định) chưa có
Trang 23hiệu lực pháp luật không chỉ là căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, màcòn xác định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạn của các chủ thể; phạm vixét xử phúc thẩm và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm ở giai đoạn tố tụngnày.
Việc kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ hoặc một phần bản ánchưa có hiệu lực pháp luật; việc rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, khángnghị, bổ sung hoặc thay đổi kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể đều ảnhhưởng trực tiếp đến thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xem xét
và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án Ví dụ: việc không kháng cáo, khángnghị hay kháng cáo, kháng nghị không hợp lệ (quá hạn mà không có lý dochính đáng; kháng cáo của những người không có quyền kháng cáo, ) sẽkhông làm phát sinh trình tự phúc thẩm Khi đó Tòa án cấp phúc thẩm sẽkhông có thẩm quyền xét xử vụ án Việc rút một phần kháng cáo, kháng nghịtheo hướng tăng nặng đối với bị cáo sẽ loại trừ khả năng Tòa án cấp phúcthẩm ra quyết định theo hướng không có lợi đối với bị cáo,
Theo quy định pháp luật của một số nước (Pháp, Cộng hòa Liên bangNga ), thì Tòa án chỉ có quyền xem xét vụ án trong phạm vi của kháng cáo,kháng nghị; còn pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoathì quy định rõ trách nhiệm của Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ vụ ánkhông phụ thuộc vào nội dung của kháng cáo, kháng nghị
Ở nước ta, theo quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Tòa
án cấp phúc thẩm có thể xem xét cả các phần khác của bản án sơ thẩm không cókháng cáo, kháng nghị, nếu thấy cần thiết
Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi mởphiên tòa, thì vụ án hình sự sẽ không được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;nếu rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa, thì việc xét xử phúc thẩm
vụ án phải được đình chỉ
1.1.4 Đối tượng của xét xử phúc thẩm
Trang 24Đối tượng của xét xử phúc thẩm trong khoa học tố tụng hình sự cònchưa thống nhất và tập trung ở hai quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: đối tượng của xét xử phúc thẩm lànhững bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,kháng nghị Quan điểm này thể hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự ở nước ta,Nhật Bản, Australia
Quan điểm thứ hai cho rằng: Đối tượng của xét xử phúc thẩm lànhững vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bịkháng cáo, kháng nghị [26, tr 144]
Theo chúng tôi, quan điểm thứ hai về đối tượng của xét xử phúc thẩm
có căn cứ hơn Theo quy định tại các điều 20, 24, 30 Luật Tổ chức Tòa ánnhân dân, Điều 18, Điều 22 Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm 2002 thìđối tượng của phúc thẩm được xác định là những vụ án mà bản án, quyết địnhchưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị
Mặt khác, hoạt động xét xử của Tòa án là nhằm xác định sự thật kháchquan của vụ án Để đạt được mục đích đó Tòa án nói chung và Tòa án cấpphúc thẩm nói riêng phải xem xét đánh giá toàn bộ các chứng cứ, tài liệu cótrong hồ sơ cũng như các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên tòa, trong đó cóbản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định sơthẩm chỉ là một trong các văn bản tố tụng phản ánh kết quả giải quyết vụ áncủa Tòa án cấp sơ thẩm và chỉ là một trong những nguồn chứng cứ có giá trịchứng minh về vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cùng với các chứng
cứ khác khi xét xử lại vụ án tại phiên tòa Do đó, đối tượng của xét xử nóichung và xét xử phúc thẩm nói riêng chỉ có thể là các vụ án
Từ phân tích trên, có căn cứ để tác giả luận văn đưa ra nhận định: đối
tượng của xét xử phúc thẩm chỉ có thể là những vụ án mà bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (chứ
Trang 25không phải và không thể là những bản án (quyết định) chưa có hiệu lực phápluật bị kháng cáo, kháng nghị).
1.1.5 Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Thủ tục xét xử phúc thẩm là một trong những yếu tố ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng và hiệu quả xét xử phúc thẩm Vì vậy việc quy định mộtthủ tục phúc thẩm có căn cứ khoa học và hợp lý là một vấn đề cần được quantâm và sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta hiện nay Thủ tục xét xử lạicác vụ án hình sự ở Tòa án cấp phúc thẩm được quy định khác nhau trongpháp luật của các nước (tùy thuộc vào quan niệm về tính chất và nhiệm vụ củacấp phúc thẩm ở mỗi quốc gia) và thường được thể hiện ở 3 hình thức:
Một số nước quy định một thủ tục xét xử phúc thẩm tại phiên tòa ápdụng chung cho tất cả các vụ án như Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, ViệtNam Trong khi đó, theo pháp luật của một số nước khác như Nhật Bản, Hàn
Trang 26Quốc thì ngoài việc quy định thủ tục xét xử tại phiên tòa còn cho phép xét
xử phúc thẩm theo bút lục trong một số trường hợp nhất định
Việc quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục phiêntòa phúc thẩm ở các nước cũng rất khác nhau Bộ luật Tố tụng hình sự củamột số nước khi quy định về trình tự thủ tục phiên tòa phúc thẩm theo hướngviện dẫn các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm cần áp dụng đối với phiêntòa phúc thẩm, đồng thời quy định bổ sung một số thủ tục tố tụng khác so vớiphiên tòa sơ thẩm (Ví dụ: Điều 512, 513 của Bộ luật Tố tụng hình sự Cộnghòa Pháp) Lại có nước quy định thủ tục phiên tòa phúc thẩm theo hướng liệt
kê cụ thể trình tự, thủ tục cần phải tiến hành ở phiên tòa phúc thẩm đồng thờiviện dẫn các quy định về thủ tục như ở phiên tòa sơ thẩm mà Tòa án cấp phúcthẩm phải áp dụng (Điều 377 Bộ luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga)
Pháp luật của một số nước khác quy định về thủ tục phiên tòa phúcthẩm theo hướng áp dụng tương tự các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm,nếu trong Bộ luật Tố tụng hình sự không có quy định khác (Điều 399 Bộ luật
Tố tụng hình sự Hàn Quốc, Điều 404 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản)
Ở Việt Nam, Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành cũng quy định thủ tụcxét xử phúc thẩm bắt buộc phải tiến hành tại phiên tòa theo hướng áp dụng tương
tự các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đồng thời quy định bổ sung một sốthủ tục tố tụng khác so với phiên tòa sơ thẩm Tại Điều 247 Bộ luật Tố tụng hình
sự 2003 quy định:
Phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến hành như phiên tòa sơthẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xửphải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm,nội dung của kháng cáo, kháng nghị Khi tranh luận, Kiểm sát viênphát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án [35]
* Thủ tục phúc thẩm rút gọn
Trang 27Thủ tục phúc thẩm rút gọn là một dạng đặc biệt của thủ tục xét xửphúc thẩm tại phiên tòa Theo thủ tục này thì trong một số trường hợp phápluật quy định, việc xét xử phúc thẩm vụ án vẫn được tiến hành tại phiên tòanhưng được lược bỏ một số thủ tục tố tụng không cần thiết để rút ngắn thờigian giải quyết vụ án.
Theo quy định của các nước, thủ tục rút gọn (còn gọi là thủ tục giảnlược) không áp dụng để xét xử phúc thẩm mà chủ yếu áp dụng trong xét xử sơthẩm đối với một số vụ án hình sự thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Ví dụ:Điều 524 Bộ luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp; Điều 318 Bộ luật Tố tụnghình sự của Liên bang Nga, Điều 461 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản )
Ở nước ta, trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự 1988, thủ tụcrút gọn được quy định tại Thông tư số 19/TATC ngày 12/10/1974 của Tòa án tốicao và được áp dụng để xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự trong trường hợp màvấn đề thẩm vấn và tranh luận (về nội dung sự việc, cũng như về mặt vận dụngpháp luật, đường lối, chính sách) ở phiên tòa không đặt ra Theo thông tư này, thìphiên tòa phúc thẩm rút gọn được tiến hành không cần sự có mặt của bị cáo vànhững người tham gia tố tụng khác nhưng vẫn phải tiến hành công khai Bị cáođược báo và có thể đến dự phiên toà hoặc gửi đơn trình bày thêm về lý do kháng
cáo Và thủ tục phúc thẩm rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện như:
Bị cáo nhận tội trước tòa sơ thẩm, chỉ kháng cáo xin khoan hồng, giảm án; những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, viện kiểm sát không kháng nghị; vụ
án đã rõ ràng, chứng cứ đầy đủ; vụ án không thuộc loại quan trọng; khi xét xử sơ thẩm bị cáo có mặt; Viện kiểm sát cũng đồng ý là không cần gọi bị cáo.
Sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 ban hành, thủ tục xét xử phúcthẩm này đã bị bãi bỏ Và trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 thì thủ tục nàykhông áp dụng để xử phúc thẩm mà chủ yếu áp dụng trong xét xử sơ thẩm đốivới một số vụ án hình sự có đủ các điều kiện sau: Người thực hiện hành vi
Trang 28phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tộiphạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có căn cước,lai lịch rõ ràng (Chương XXIV Bộ luật Tố tụng hình sự 2003).
Thực tế cho thấy, về bản chất thủ tục này mới chỉ rút ngắn về thời giangiải quyết vụ án (tức là rút ngắn thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụán), còn về thủ tục tố tụng chưa rút gọn được khâu nào và việc xét xử vụ ánvẫn phải tiến hành theo thủ tục chung
* Thủ tục phúc thẩm bút lục
Khi xem xét lại vụ án theo thủ tục bút lục, Tòa án cấp phúc thẩmkhông phải mở phiên tòa, không triệu tập bị cáo, các đương sự và người làmchứng Ngoài Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa, sự tham giacủa Đại diện Viện kiểm sát (Viện công tố) cấp phúc thẩm là bắt buộc Dokhông có bị cáo, đương sự và người làm chứng nên việc xét hỏi, tranh luậnkhông đặt ra, các thủ tục tố tụng ở phiên tòa được tiến hành đơn giản như ởphiên tòa giám đốc thẩm (tái thẩm) Việc áp dụng thủ tục này cho phép rútngắn đáng kể quá trình xét xử phúc thẩm các vụ án Thủ tục phúc thẩm theobút lục được nhiều nước áp dụng ở các mức độ khác nhau
Một số nước áp dụng thủ tục phúc thẩm bút lục trong một số trườnghợp hoặc đối với một số loại án nhất định Ví dụ, theo quy định tại khoản 5Điều 364 Bộ luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc khi thấy rõ ràng là không có cơ
sở gì để kháng cáo thì Tòa án có thể bác đơn kháng cáo mà không cần tố tụngmiệng bằng cách thẩm tra đơn kháng cáo, bản trình bày lý do kháng cáo hoặc
bất kỳ tài liệu nào của vụ án (Bộ luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc).
Tại Điều 408 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản quy định:
Trong trường hợp khi xem xét bản trình bày lý do khángnghị Jokoku, nếu tìm thấy những tài liệu khác chứng tỏ rằng việckháng nghị là không thể chứng minh được thì Tòa án phúc thẩm có
Trang 29thể bác bỏ kháng nghị bằng một bản án mà không cần phải tiến hành thủ tục xét xử bằng lời nói [84].
Theo pháp luật tố tụng hình sự Singapore, thủ tục phúc thẩm bút lụcđược áp dụng đối với hầu hết các vụ án có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.Tòa án cấp phúc thẩm chủ yếu chỉ xem xét vụ án căn cứ vào hồ sơ và các thủtục đã tiến hành ở phiên tòa sơ thẩm để đưa ra kết luận của mình mà không đềcập đến việc xét xử lại vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, trừ trường hợp nếu qua
hồ sơ thấy rõ ràng Thẩm phán đã sai lầm trong việc xem xét các sự kiện hoặcđưa ra kết luận không đúng đắn
Ở nước ta thủ tục phúc thẩm bút lục được áp dụng trong thời kỳ chốngchiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ (1965 - 1972) Sau khi Bộ luật Tốtụng hình sự 1988 được ban hành thì thủ tục phúc thẩm bút lục không được ápdụng nữa Theo quan điểm của tôi, việc quy định thủ tục phúc thẩm bút lục trong
Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta là cần thiết, phù hợp với điều kiện tình trạng quátải, tồn đọng quá nhiều án ở các tòa cấp phúc thẩm, phù hợp với yêu cầu cải cách
tư pháp trong giai đoạn hiện nay Việc áp dụng thủ tục này đáp ứng được yêu cầuthực tiễn vì nó giúp cho quá trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, hạn chếđược sự quá tải, tồn đọng án trong xét xử phúc thẩm, tiết kiệm đáng kể tiền bạc,thời gian, công sức cho cả Nhà nước và công dân
Tuy nhiên, do tính chất hạn chế dân chủ của nó đồng thời ngăn chặnnhững hậu quả nghiêm trọng (oan, sai) có thể xảy ra, bảo đảm các quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là đối với bị cáo Vì vậy, nên chăngchỉ áp dụng thủ tục xét xử này đối với các vụ án tội phạm ít nghiêm trọng,nghiêm trọng khi có đủ các điều kiện sau:
- Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng dolỗi vô ý;
- Bị cáo là người đã thành niên và không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần;
Trang 30- Chứng cứ rõ ràng, bị cáo nhận tội ở cấp sơ thẩm;
- Người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị;
- Bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc mức bồi thường thiệt hại và người bị hại không phản đối;
- Quan điểm xử lý giữa các cơ quan tiến hành tố tụng không trái ngược nhau;
- Bị cáo không phản đối thủ tục này
Các điều kiện trên có liên quan chặt chẽ với nhau Nếu thiếu bất kỳmột điều kiện nào thì thủ tục phúc thẩm bút lục sẽ không được áp dụng màphải giải quyết vụ án theo thủ tục chung
1.1.6 Các chủ thể tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm
Đối với các nước mà hệ thống tư pháp hình sự được tổ chức theo nguyên tắc tranh tụng thì chủ thể tham gia tố tụng được phân theo chức năng
tố tụng và vai trò của họ Cụ thể:
- Chủ thể thực hiện chức năng xét xử là Tòa án;
- Các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội gồm: Kiểm sát viên, người
bị hại, nguyên đơn dân sự, người đại diện của họ;
- Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa gồm: Bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện của họ;
- Các chủ thể khác gồm: Người làm chứng, người giám định, người phiên dịch
Đối với các nước thuộc hệ thống thẩm vấn, thành phần tham gia tố tụng được phân thành hai nhóm sau:
- Những người tiến hành tố tụng: là các viên chức nhà nước thực hiệnchức năng công quyền (điều tra, truy tố, xét xử) trong tố tụng hình sự: Điều traviên, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa
Trang 31- Những người tham gia tố tụng: Bị cáo, người bị hại, người đại diệnhợp pháp của họ, người bào chữa, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làmchứng, người giám định, người phiên dịch
Do tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án theo kháng cáo,kháng nghị nên chỉ có những người có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo,kháng nghị mới được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập tham gia phiên tòa Do đóthành phần tham gia phiên tòa phúc thẩm hạn chế hơn so với phiên tòa sơ thẩm
1.1.7 Áp dụng các nguyên tắc của tố tụng hình sự trong xét xử phúc thẩm
Về cơ bản, các nguyên tắc của tố tụng hình sự (như nguyên tắc suyđoán vô tội; xác định sự thật khách quan về vụ án; Tòa án xét xử độc lập vàchỉ tuân theo pháp luật; xét xử công khai; bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo;tranh tụng ) áp dụng cho giai đoạn xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng ở giaiđoạn phúc thẩm nhưng ở mức độ và phạm vi khác nhau Chỉ có một số trongcác nguyên tắc này (như: suy đoán vô tội, Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuântheo pháp luật, bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo) được áp dụng đầy đủ ởgiai đoạn phúc thẩm như ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án Ví dụ: nguyên tắcsuy đoán vô tội vẫn được áp dụng triệt để ở giai đoạn phúc thẩm, bởi vì, chođến khi tuyên án phúc thẩm, bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo chưa cóhiệu lực pháp luật và bị cáo vẫn được coi là vô tội
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có quyền tự do kháng cáo đối với bản
án sơ thẩm, bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng cáo; có quyền tự bào chữa hoặcnhờ người khác bào chữa cho mình trước Tòa án cấp phúc thẩm, được nói lờisau cùng; Tòa án và các cơ quan có trách nhiệm bảo đảm cho bị cáo thực hiệnquyền này và phải cử người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp phápluật quy định Vì vậy, ở giai đoạn phúc thẩm, nguyên tắc bảo đảm quyền bàochữa của bị cáo vẫn được áp dụng đầy đủ
Trang 32Bên cạnh đó, do tính chất và đặc điểm của phúc thẩm nên trong giaiđoạn tố tụng này một số nguyên tắc của tố tụng hình sự (như nguyên tắc xácđịnh sự thật khách quan về vụ án, xét xử công khai, tranh tụng, ) có thể được
áp dụng đầy đủ trong trường hợp này nhưng ở trường hợp khác lại chỉ ở mộtphạm vi và mức độ hạn chế Ví dụ, nguyên tắc xác định sự thật khách quan về
vụ án chỉ có thể áp dụng triệt để ở giai đoạn phúc thẩm trong trường hợp bản
án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ theo hướng không có lợi cho bịcáo Trong các trường hợp khác, nguyên tắc này sẽ bị hạn chế bởi nội dungcủa kháng cáo, kháng nghị và yêu cầu không làm xấu hơn tình tình trạng của
bị cáo trong xét xử phúc thẩm Ví dụ: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo vềtội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", Viện kiểm sát không kháng nghị,người bị hại không kháng cáo mà chỉ có bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hìnhphạt, mặc dù có căn cứ xác định bị cáo phạm tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản",thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có quyền xác định lại sự thật kháchquan này
Nguyên tắc xét xử công khai và tranh tụng chỉ có thể áp dụng trongtrường hợp Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án tại phiên tòa với sự có mặt đầy
đủ của những người tham gia tố tụng như ở phiên toà sơ thẩm Nhưng cácnguyên tắc này không thể áp dụng đối với trường hợp phúc thẩm vụ án theothủ tục bút lục (không mở phiên tòa) Nguyên tắc tranh tụng cũng không thể
áp dụng đối với thủ tục xét xử phúc thẩm rút gọn, bởi vì, ở các phiên tòa này,vấn đề thẩm vấn và tranh luận (về nội dung sự việc, cũng như về mặt vậndụng pháp luật, đường lối, chính sách) không đặt ra
1.2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VÀ CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XÉT XỬ PHÚC THẨM
Cùng với công cuộc cải cách kinh tế và cải cách tư pháp hành chính,Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp và coi đây
là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
Trang 33hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần làm dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh Nhiều tư tưởng, quan điểm, định hướng về cải cách
tư pháp trong các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TWngày 2/1/2002 của Bộ chính trị về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp trong thời gian tới" đã được pháp luật hóa thành những quy định tươngứng của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 cần tiếp tục đượcpháp luật hóa thành những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thờihạn chế được những bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 nhằm đảmbảo nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp, đảm bảo tốt hơn quyền tự dodân chủ của công dân, đảm bảo thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản phápluật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu của cuộc đấu tranh phòngchống tội phạm hiện nay Ngày 26/11/2003 Bộ luật Tố tụng hình sự đã đượcthông qua tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XI Quốc hội cũng đã thông quaNghị quyết về việc thi hành Bộ luật, theo đó Bộ luật có hiệu lực thi hành từngày 1/7/2004
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 có 8 phần, 37 chương và 346 điều luật
So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
đã tăng 1 phần, 5 chương và 49 điều luật Bộ luật đã giữ lại những quy địnhcòn phù hợp, loại bỏ những quy định không còn phù hợp, sửa đổi những quyđịnh chưa chặt chẽ, chưa chính xác hoặc chưa cụ thể, bổ sung và xây dựngnhững quy định còn thiếu, kết cấu của Bộ luật, ngôn ngữ, cách diễn đạt cũng được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định về
thứ tư, gồm 2 chương và 25 điều luật Bên cạnh
khác điều chỉnh chế định này
xét xử phúc thẩm tại phần
đó còn có nhiều điều luật
1.2.1 Quy định về các nguyên tắc cơ bản
Trang 34Các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 gồm 30nguyên tắc được quy định từ Điều 3 đến Điều 32.
Về cơ bản, các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 lànhững nguyên tắc quan trọng, chủ đạo trong hoạt động tố tụng hình sự màmọi chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự, mọi cơ quan, tổ chức hoặc
cá nhân phải quán triệt và tuân thủ để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của Bộluật Tố tụng hình sự là nhằm chủ động phòng ngừa ngăn chặn tội phạm, pháthiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạmtội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
So với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 thì trong Bộ luật Tố tụnghình sự 2003 những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự tiếp tục được quyđịnh thành một chương riêng (chương II) Bên cạnh một số nguyên tắc đượcquy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 vẫn còn phù hợp và đượcgiữ nguyên, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã có sửa đổi, bổ sungmột số nội dung trong một số nguyên tắc đồng thời xây dựng mới một sốnguyên tắc của tố tụng hình sự Cụ thể:
- Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự (Điều 3);
- Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4);
- Đảm bảo quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật;
- Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6);
- Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7);
- Tòa án xét xử tập thể (Điều 8);
- Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9);
- Xác định sự thật vụ án (Điều 10);
Trang 35- Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11);
- Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 12);
- Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tốtụng hình sự (Điều 14);
- Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16);
- Xét xử công khai (Điều 18);
- Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19);
- Bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án (Điều 22);
- Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự (Điều 25);
- Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 31);
Riêng đối với xét xử phúc thẩm, ngoài những nguyên tắc cơ bản quantrọng được quy định xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thìnguyên tắc "Thực hiện chế độ hai cấp xét xử" (Điều 20) mới được bổ sung rấtquan trọng đối với chế định này
Nguyên tắc này khẳng định:
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.
Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ
án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.
Trang 36Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm [35].
Việc bổ sung nguyên tắc này không chỉ là để thể chế hóa tinh thầnNghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIIIngày 18.6.1997 và để đồng bộ với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dânnăm 2002 mà còn khẳng định rõ hoạt động xét xử vụ án hình sự ở Việt Namđược thực hiện theo hai cấp: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Giám đốc thẩmhoặc tái thẩm không phải là một cấp xét xử như quan niệm của một số người
mà chỉ là thủ tục xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới
1.2.2 Quy định chung về xét xử phúc
thẩm * Tính chất của xét xử phúc thẩm
Tính chất của xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 230 của Bộ
luật: "Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc
xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị" [35].
Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là một thủ tục tố tụng do luật định nhằmkiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án sơ thẩm hoặc quyết định sơthẩm Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm sửa chữa nhữngsai lầm trong việc áp dụng pháp luật khi ra bản án hoặc quyết định
Theo quy định này, tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại và đốitượng của xét xử phúc thẩm là các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệulực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc quy định tính chất của xét xử phúcthẩm là "xét xử lại" và "xét lại" là không chính xác, không thống nhất vớinguyên tắc "Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử" Việc quy định như vậy
Trang 37dễ gây nhầm lẫn với tính chất của giám đốc thẩm vì đây là hai giai đoạn tốtụng khác nhau về bản chất và yêu cầu tố tụng.
* Thẩm quyền xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Điều 230 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì Tòa
án có thẩm quyền xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án,quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáohoặc kháng nghị là Tòa án cấp trên trực tiếp Cụ thể như sau:
- Các Tòa phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với các vụ án do các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị (Điều 20, Điều 24 Luật tổ chức Tòa án nhân dân).
- Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩmquyền xét xử phúc thẩm những vụ án do các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện trongtỉnh đó đã xét xử sơ thẩm mà bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị khángcáo, kháng nghị (Điều 28, Điều 30 Luật tổ chức Tòa án nhân dân)
Riêng đối với hệ thống các Tòa án quân sự, thẩm quyền xét xử phúcthẩm được quy định cụ thể theo Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002,theo đó Tòa án quân sự được tổ chức thành ba cấp: Tòa án quân sự khu vực,Tòa án quân sự quân khu và Tòa án quân sự trung ương Và cấp phúc thẩmcủa Tòa án quân sự cũng được tổ chức ở hai cấp, cụ thể:
- Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền phúc thẩm những vụ án
do các Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.(điểm a khoản 1 Điều 22 Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm 2002)
- Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩmnhững vụ án do Tòa án quân sự khu vực xét xử bị kháng cáo, kháng nghị (khoản 2Điều 26 Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm 2002)
Tuy nhiên, để phù hợp với xu hướng trong tương lai sẽ thành lập tòa án khu vực Nên chăng cần thay thế cụm từ "Tòa án cấp trên trực tiếp" trong Điều
230 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thành "Tòa án cấp phúc thẩm"
Trang 38* Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
+ Những người có quyền kháng cáo và phạm vi kháng cáo: Theo quy
định tại Điều 231 của Bộ luật thì những người sau có quyền kháng cáo đối vớibản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật:
- Bị cáo và (hoặc) người đại diện hợp pháp của họ;
- Người bị hại và (hoặc) người đại diện hợp pháp của họ;
- Người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất;
- Nguyên đơn dân sự và (hoặc) người đại hợp pháp của họ;
- Bị đơn dân sự và (hoặc) người đại diện hợp pháp của họ;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và (hoặc) người đại diện hợp pháp của họ
- Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất;
- Người được Tòa án tuyên bố là không có tội
Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người bị hạihoặc đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án, quyết
định của Tòa án về phần bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo; còn theo Điều 231 Bộ luật Hình sự quy định thì họ lại có quyền kháng cáo bản án
hoặc quyết định sơ thẩm.
Thực tiễn xét xử thời gian qua các Tòa án đều căn cứ vào hướng dẫntại tiểu mục 1.3 mục 1 phần I của Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày8/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xác địnhquyền kháng cáo bản án sơ thẩm của người bị hại và đại diện hợp pháp củangười bị hại Theo đó:
Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại trong trường hợp người bị hại chết hoặc trong trường hợp người bị
Trang 39hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tinh thần
hoặc thể chất có quyền kháng cáo toàn bộ bản án hoặc quyết định
sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo hoặc theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo [57].
Mặc dù vậy, hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao cũng không thực sự thống nhất Vấn đề đặt ra ở đây là xác định phạm vikháng cáo của người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại nhưthế nào thì được coi là hợp lý Nếu theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51
Bộ luật Tố tụng hình sự (chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi thường và hìnhphạt của bị cáo là chưa đầy đủ, quá hẹp, không tạo điều kiện cho người bị hại
và người đại diện hợp pháp của họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình Còn nếu quy định quyền kháng cáo của họ theo Điều 231 Bộ luật Tốtụng hình sự (kháng cáo toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm) thì lại không hợp
lý, quá rộng vì nếu cho phép họ kháng cáo toàn bộ bản án thì vô hình chungcho phép họ kháng cáo cả những quyết định của bản án sơ thẩm không liênquan gì đến họ như: quyết định về bồi thường thiệt hại cho người khác, quyếtđịnh xử lý vật chứng, án phí
+ Thủ tục kháng cáo: Theo quy định tại Điều 233 của Bộ luật quy định:
Người kháng cáo phải gửi đơn đến tòa án đã xử sơ thẩm hoặcTòa án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam,Ban giám thị trại tạm giam phải đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyềnkháng cáo Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án
đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo Tòa án phải lập biên bản về việckháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này [35]
Theo hướng dẫn tại mục 3 phần I của Nghị quyết số HĐTP ngày 8/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thìthủ tục kháng cáo được thực hiện như sau:
05/2005/NQ Việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm:
Trang 40 Trường hợp nhận đơn kháng cáo nếu người làm đơn kháng cáo thuộcchủ thể kháng cáo, nội dung kháng cáo trong giới hạn của việc kháng cáo và đúngthời hạn quy định thì Tòa án thụ lý giải quyết, tiến hành việc thông báo kháng cáotheo quy định của Bộ luật.
Trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp sơ thẩm trình bày trựctiếp về việc kháng cáo thì Chánh án Tòa án cử một cán bộ tòa tiếp, giải quyết vàlập biên bản theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này
Trường hợp đơn kháng cáo của người có quyền kháng cáo nộp trong hạn luật định nhưng nội dung kháng cáo không rõ ràng thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho họ để họ thể hiện nội dung kháng cáo cho cụ thể và rõ ràng.
Trong trường hợp đơn kháng cáo của người không có quyền khángcáo hoặc nội dung kháng cáo không thuộc giới hạn kháng cáo thì trong thời hạn 3ngày kể từ ngày nhận đơn Tòa án cấp sơ thẩm trả lại đơn cho họ và ghi chú rõ lý
do trả lại đơn
Trong trường hợp kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm lập hồ
sơ kháng cáo quá hạn và gửi đơn kháng cáo quá hạn cùng các giấy tờ tài liệu kèmtheo chứng minh lý do của việc kháng cáo quá hạn cho Tòa án cấp phúc thẩm
- Việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp phúc thẩm:
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn kháng cáo và cáctài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) thì Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển choTòa án cấp sơ thẩm để tiến hành theo quy định chung
Trong trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp phúc thẩm trình bàytrực tiếp về việc kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm giải thích cho họ biết là họ chỉ
có quyền trình bày trực tiếp về việc kháng cáo đối với Tòa án cấp sơ thẩm
+ Thời hạn kháng cáo: