MỤC LỤCTrang Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO 5 NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC 1.1.. Với những
Trang 1MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO 5
NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC
1.1 Nhận thức chung về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng 5
1.2 Phân biệt tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép 11
chất ma túy với một số tội phạm khác (Điều 197, 198, 252)
1.2.1 Phân biệt với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 11
1.3 Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma 16
túy trong luật pháp một số nước trong khu vực
Trang 21.3.3 Luật hình sự Myanma 18
Chương 2: TÌNH HÌNH TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI 21
KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam hiện nay 212.1.1 Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy qua một số vụ án lớn 212.1.2 Tình hình người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trong toàn 24
quốc qua 10 năm từ năm 1998 đến năm 2007
2.2 Diễn biến của tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử 26
dụng trái phép chất ma túy
2.2.1 Tổng các vụ án ma túy giai đoạn năm 2000 - 2007 262.2.2 Tổng số các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử 27
dụng trái phép chất ma túy giai đoạn năm 2000 - 2007
2.2.3 Các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái 28
phép chất ma túy trong tổng số các vụ án ma túy giai đoạn từ
năm 2000 - 2007
2.3 Kết quả điều tra về thực trạng các hành vi cưỡng bức, lôi kéo 29
người khác sử dụng trái phép chất ma túy
2.3.1 Kết quả điều tra theo phiếu điều tra tại Trung tâm giáo dục số 29
II- thành phố Hà Nội
2.3.2 Kết quả điều tra theo phiếu điều tra tại trường Bổ túc văn hóa 38
trung học phổ thông Công ty xây dựng công nghiệp quận
Trang 32.4.2 Thủ đoạn lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy 482.5 Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cưỡng bức, lôi kéo 49
người khác sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam
2.5.1 Nguyên nhân của tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử 49
dụng trái phép chất ma túy
2.5.2 Điều kiện thực hiện tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác 54
sử dụng trái phép chất ma túy
2.6 Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy nói chung 55
và tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép
chất ma túy ở Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng 65
chống tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
3.1 Dự báo tình hình tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng 65
trái phép chất ma túy trong thời gian tới
3.2 Một số giải pháp đấu tranh phòng chống tội cưỡng bức, lôi 67
kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Trang 5trái phép chất ma tuý trong tổng số các vụ án ma tuý giai
đoạn từ năm 2000 - 2007
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
biểu đồ
2.1 Tình hình số lượng người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý 25
giai đoạn năm 1998 - 2007
2.2 Tổng số các vụ án về ma túy từ năm 2000 - 2007 272.3 Tổng số các bị cáo về ma túy bị xét xử từ năm 2000 - 2007 27
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, các quốc gia và cộng đồngthế giới đã phải đối mặt với vấn nạn nguy hiểm và vô cùng nghiêm trọng là
ma túy Mức độ ngày càng khốc liệt hơn trong những năm đầu của thế kỷXXI, với tính chất phức tạp và nguy hiểm của nó, ma túy được coi như kẻ thùcủa con người, của nhân loại Ma túy gây tác hại nghiêm trọng nhiều mặt vềkinh tế, xã hội, sức khỏe và đạo đức của cả cộng đồng, làm băng hoại đạo đứctruyền thống, phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm suy yếu giống nòi, là một trongnhững nguyên nhân trực tiếp lây truyền căn bệnh HIV/AIDS, là điều kiện phátsinh những tội phạm nguy hiểm về an ninh trật tự, an toàn xã hội cũng nhưtính mạng sức khỏe của người dân
Ở Việt Nam, cũng không nằm ngoài vòng xoáy khủng khiếp của matúy Hiện nay, cả nước có khoảng mười bảy vạn người nghiện ma túy có hồ sơquản lý, ở hầu hết các quận huyện, phường xã, đều có người nghiện ma túy vàlan ra tất cả các giới trong xã hội: từ học sinh, sinh viên, trí thức, lao động tự
do và ở mọi lứa tuổi từ thiếu niên, thanh niên, trung niên, người cao tuổi, cảnam và nữ Bộ luật hình sự 1999 đã giành 1 chương (Chương XVIII) quy định
về các tội phạm về ma túy với 10 điều luật trong đó có 08 tội có khung hìnhphạt cao nhất là tử hình nhưng tội phạm ma túy nói chung và số người nghiện
ma túy không giảm mà ngày càng tăng [3]
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy đượcquy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được quy định tại Điều185m Bộ luật hình sự năm 1985) Điều đó phản ánh việc xây dựng luật, sựđiều chỉnh của luật pháp kịp thời và nghiêm minh trước hiện tượng cưỡngbức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Trang 7Trong những năm gần đây, hiện tượng cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma túy có xu hướng ngày càng tăng Thể hiện qua việcngười nghiện ma túy tăng lên qua từng năm Với thực tế là nghiện ma túy thì
dễ mà bỏ thì quá khó, cái lợi về vật chất của kẻ cưỡng bức lôi kéo quá nhỏ bé
so với cái hại mà bản thân người mắc nghiện ma túy do bị lôi kéo và gia đình
họ, xã hội phải gánh chịu là vô cùng nghiêm trọng Vô số những người nghiện
ma túy bị truy tố xét xử về tội liên quan đến ma túy hoặc những tội phạm do
ma túy trực tiếp và gián tiếp gây ra, đứng trước Tòa khai rằng: Nghiện do bạn
bè rủ rê lôi kéo, hoặc bị người quen dẫn dắt vào con đường sử dụng tráiphép chất ma túy
Vì nhiều mục đích, vì nhiều lý do nên có nhiều đối tượng có dã tâm lôikéo và cưỡng bức người không nghiện ma túy sử dụng ma túy và dần dần trởthành con nghiện Mục đích để những người này trở thành khách hàng, trởthành bạn nghiện cung cấp thuốc hoặc đơn giản chỉ là để thỏa mãn ý thích làmhại người khác
Hiện tượng trên xảy ra rất nhiều trong thực tế nhưng kết quả điều tra,truy tố, xét xử loại tội này trong những năm vừa qua chưa cao (từ năm 2000đến năm 2007, các cấp Tòa án trong cả nước mới chỉ xét xử 33 vụ/ 58 bị cáo)
Vì vậy cần đặt ra một yêu cầu, cần thiết và cấp bách đòi hỏi phải nghiên cứusâu về lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh chống loại tộiphạm này
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài "Tội cưỡng bức, lôi kéo
người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam"
làm luận văn tốt nghiệp cho khóa học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các tội phạm về ma túy đã có rất nhiều đề tài, luận án tiến sĩ, luận vănthạc sĩ, các bài báo, bài viết trên các báo và tạp chí Nhưng việc nghiên cứu về
tội "Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy" về mặt
Trang 8lý luận, thực tiễn của loại tội phạm này dưới góc độ pháp lý hình sự, nhữngnguyên nhân, động cơ, cách thức thực hiện hành vi của tội phạm, các giảipháp phòng ngừa, răn đe, đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này chưađược nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu.
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở lý luận và pháp lý về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sửdụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam hiện nay, luận văn đi sâu nghiên cứuthực tiễn tội phạm này, động cơ nguyên nhân của người thực hiện hành vi, thủđoạn cách thức thể hiện của tội phạm, kết quả điều tra, truy tố, xét xử loại tộiphạm này nhằm đưa ra giải pháp đấu tranh phòng ngừa đạt hiệu quả cao
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu giảiquyết các nhiệm vụ:
- Làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng củatội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, phân tíchnhững quy định pháp luật của một số nước trong khu vực quy định về tộiphạm này
- Phân tích đánh giá đúng thực trạng tình hình tội phạm này trong thờigian qua (từ khi có Bộ luật hình sự năm 1999), hiệu quả thực tiễn đấu tranhphòng chống và dự báo tình hình tội cưỡng bức, lôi kéo người khác trongnhững năm tới
- Đề xuất hệ thống giải
cưỡng bức, lôi kéo người khác sử
pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội dụng trái phép chất ma túy
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn nghiên cứu tội cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma túy
Trang 9Phạm vi nghiên cứu của luận văn dưới góc độ pháp lý hình sự và tội phạm học trong thời gian từ 1999 đến năm 2007.
5 Cơ sở khoa học của đề tài
- Cơ sở lý luận: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Cơ sở thực tiễn: Bản án, quyết định của Tòa về tội cưỡng bức, lôikéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, các số liệu, thống kê, báo cáocủa cơ quan tư pháp về loại tội phạm này, kết quả điều tra xã hội học
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Lịch sử;
- Tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu;
- Thống kê hình sự;
- Điều tra xã hội học;
- Phương pháp chuyên gia;
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về tội cưỡng bức, lôi kéo
người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật ViệtNam và luật một số nước trong khu vực
Chương 2 Thực trạng tình hình tội phạm cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma túy ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả, đấu tranh phòng
chống tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Trang 11Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, tội phạm là một hiện tượng
xã hội có nguyên nhân phát sinh do những điều kiện kinh tế - xã hội nhấtđịnh, gắn liền với sự phát triển của xã hội
Tội phạm về ma túy theo pháp luật Việt Nam là những hành vi liênquan đến ma túy gây nguy hiểm cho xã hội đã được quy định trong ChươngXVIII từ Điều 192 đến Điều 201 của Bộ luật hình sự 1999
Dưới góc độ khoa học pháp lý thì ma túy là chất độc gây nghiện, khithâm nhập cơ thể con người thì làm thay đổi một số chức năng hoạt động củathần kinh làm cho người nghiện bị lệ thuộc vào chất này Ma túy là nhữngchất tự nhiên hay tổng hợp được quy định trong các danh mục do Chính phủban hành có tác dụng gây ức chế hay kích thích thần kinh gây ảo giác, nếu sửdụng trái phép hoặc không đúng mục đích nhiều lần sẽ gây ra tình trạngnghiện đối với người sử dụng
Điều 2 Luật Phòng, chống ma tuý quy định:
1 Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
Trang 122 Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh,
để gây nghiện đối với người sử dụng
3 Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặcgây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiệncho người sử dụng [4]
Theo Tiến sĩ Trần Văn Luyện thì "Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó Nếu lạm dụng ma tuý con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng" [25, tr 14].
Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi dùng
vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần củangười khác buộc họ sử dụng trái phép chất ma tuý trái với ý muốn của họ Lôikéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giụchoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma tuýcủa người khác để họ sử dụng trái phép chất ma tuý Hai hành vi này rất phổbiến và là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm cho ma túy ngày cànglan rộng, đối tượng nghiện ngày càng tăng [24, tr 430]
Tại Điều 200 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định:
1 Người nào cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
Trang 13đ) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;
e) Đối với nhiều người;
g) Đối với người đang cai nghiện;
h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;
k) Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;
b) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;
c) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi
4 Phạm tội trong trường hợp gây chết nhiều người hoặc gâyhậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù hai mươi nămhoặc tù chung thân
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồngđến một trăm triệu đồng [3]
1.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy cũngnhư các tội phạm khác bao gồm bốn yếu tố cấu thành tội phạm, mà nếu thiếumột trong bốn yếu tố thì không coi là tội phạm
Đó là: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan
Trang 14a) Khách thể của tội phạm
Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi dùng
vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần củangười khác buộc họ sử dụng trái phép chất ma tuy trái với ý muốn của họ Lôikéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giụchoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma túycủa người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy
Tội phạm xâm phạm quyền tự do và sức khỏe của con người, ảnhhưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy
b) Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi cưỡng bức hoặc hành
vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy Cưỡng bức là hành vidùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực bắt ép người khác sử dụng ma túy Hành
vi này thể hiện như dùng vũ lực, đe dọa, khống chế, ép buộc, giữ tay chân đểcho ma túy vào miệng, mũi, tiên chích chất ma túy vào cơ thể v.v trái với ýmuốn của nạn nhân Lôi kéo có thể các hành vi như: Rủ rê, mồi chài, dụ dỗthuyết phục làm cho người khác không muốn sử dụng trái phép chất ma túycũng phải đồng ý sử dụng Các thủ đoạn khác khêu gợi sự ham muốn sử dụng
ma túy, tuyên truyền bịa đặt những cảm giác hấp dẫn khi sử dụng ma túyv.v để họ tò mò, ham muốn sử dụng ma túy Ngoài ra, hành vi đánh lừa nhưcho vào thuốc lá, kẹo, cà phê v.v để người khác không biết mà sử dụng matúy dẫn đến nghiện, thì người có hành vi đó phạm tội cưỡng bức, lôi kéongười khác sử dụng trái phép chất ma túy Tội phạm được coi là hoàn thànhkhi người khác có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
c) Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên (khoản 1) hoặc từ
đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3, 4), có năng lực trách nhiệm hình sự
Trang 15d) Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp
e) Hình phạt
Điều luật quy định 4 khung hình phạt
+ Khung 1: Quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm áp dụng đốivới trường hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng quy định ở khoản 2, 3 và 4
+ Khung 2: Quy định hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có tổ chức là từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện tội phạm, có
sự phân công trách nhiệm cụ thể từng người và quyết tâm thực hiện tội phạm
- Phạm tội nhiều lần là từ hai lần trở lên
- Vì động cơ đê hèn: Thể hiện như để đạt được mục đích trả thù hoặc
để khống chế nạn nhân và gia đình, người thân của nạn nhân phục vụ chomưu đồ xấu xa của người phạm tội Trong thực tế là bọn bán lẻ ma túykhuyến khích các con nghiện lôi kéo được người khác sử dụng ma túy nhất làgia đình có nhiều điều kiện kinh tế Các con nghiện không có tiền nên ra sứclôi kéo người khác sử dụng ma túy để được sử dụng miễn phí ma túy Trongtrường hợp này người sử dụng ma túy không chỉ phạm tội tàng trữ, vậnchuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt ma túy mà còn phạm tội cưỡngbức lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, con nghiện có hành vitrên thì đồng phạm về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phépchất ma túy
- Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên: Người chưathành niên là người chưa đủ 18 tuổi, xác định tuổi của nạn nhân cần căn cứvào giấy khai sinh
Trang 16- Đối với phụ nữ mà biết có thai: Căn cứ vào kết luận của bác sĩ chuyên
khoa
- Đối với nhiều người là từ hai người trở lên
- Đối với người đang cai nghiện: Người đang cai nghiện có thể tại trung tâm, tại cộng đồng dân cư hoặc gia đình
- Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 31%đến 60% Căn cứ để đánh giá mức độ thương tật là bản giám định pháp y vàBản quy định tiêu chuẩn thương tật kèm theo Thông tư liên bộ Y tế, Lao độngthương binh và xã hội số 12/TT-LB ngày 26/7/1995 quy định về tiêu chuẩnthương tật và tiêu chuẩn bệnh tật mới
- Gây bệnh nguy hiểm cho người khác: Một số bệnh nguy hiểm đượctruyền qua đường máu, đường hô hấp, việc hút, hít, tiêm chích ma túy dễ lâytruyền các bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS, viêm gan vi rút B, lao v.v
- Tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội trước đây đã bịkết án về tội rất nghiêm trong, tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưađược xóa án tích mà lại phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy Hoặc trườnghợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội này
+ Khung 3: Quy định hình phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm
áp dụng đối với người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
- Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người
- Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người là gây bệnh nguy hiểm cho từhai người trở lên
- Đối với trẻ em dưới 13 tuổi: Căn cứ vào giấy khai sinh của nạn nhân
Trang 17+ Khung 4: Quy định hình phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân
áp dụng trong trường hợp gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệtnghiêm trọng khác Gây chết nhiều người là từ hai người trở lên Gây hậu quảđặc biệt nghiêm trọng khác như gây hậu quả làm chết một người và gây bệnhnguy hiểm cho nhiều người hoặc các hậu quả về kinh tế - xã hội khác
+ Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng
1.2 PHÂN BIỆT TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC (ĐIỀU 197, 198, 252)
1.2.1 Phân biệt với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197)
Điều 197 Bộ luật hình sự quy định "Tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy"
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thể hiện như sau:
- Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác
- Thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm thuộc quyền chiếmhữu của mình hoặc đang do mình quản lý cũng như tìm địa điểm để làm nơiđưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác
Cung cấp trái phép chất ma túy (trừ hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy)
- Chuẩn bị chất ma túy dưới bất kì hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất ) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác
- Tìm người cần sử dụng trái phép chất ma túy để giới thiệu cho người
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơthể họ
Trang 18- Chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác.
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xâm phạm chế độ độcquyền quản lý của Nhà nước ta về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xãhội, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút matúy
Chính vì vậy, tại Điều 197 của Bộ luật hình sự 1999 quy định: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
1 Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất
kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Phạm tội nhiều lần;
b) Đối với nhiều người;
c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;
d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;
đ) Đối với người đang cai nghiện;
e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thươngtật từ 31% đến 61%;
g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;
h) Tái phạm nguy hiểm
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thươngtật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;
Trang 19b) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;
d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi
4 Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì
bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệuđồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tàisản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm [3].Điểm giống nhau cơ bản giữa tội tổ chức sử dụng trái phép chất matúy và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy làngười phạm tội đều mong muốn đưa trái phép ma tuý vào cơ thể người khác
Điểm khác nhau cơ bản giữa tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là ở tội tổchức sử dụng thì người sử dụng chất ma túy có tính tự nguyện, thậm chí tìmđến các chủ chứa nghiện hút, nhưng hành vi đưa ma tuý vào cơ thể ngườinghiện do người khác thực hiện còn ở hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác
sử dụng trái phép chất ma túy thì người sử dụng chất ma túy mang tính bịđộng, bị người khác tác động lôi kéo nhưng việc đưa ma tuý vào cơ thểthường do chính họ thực hiện
1.2.2 Phân biệt với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198)
Trang 20Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi của người
có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của mình đã cho người khácmượn hoặc thuê địa điểm đó để họ trực tiếp sử dụng chất ma túy nhằm thỏamãn nhu cầu về ma túy của bản thân
Tội phạm xâm phạm chế độ độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túycủa Nhà nước ta, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, góp phần làm lan truyền tệnạn nghiện hút ma túy
Điều 198 Bộ luật hình sự 1999 quy định: Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy:
1 Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kìhành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thì
bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Đối với trẻ em;
d) Đối với nhiều người;
đ) Tái phạm nguy hiểm;
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệuđồng đến hai trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản[3]
Điểm giống nhau cơ bản giữa hai tội chứa chấp sử dụng trái phép chất
ma túy và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy làđều được thực hiện do lỗi cố ý
Trang 21Điểm khác nhau cơ bản giữa hai tội chứa chấp sử dụng trái phép chất
ma túy và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là:
Thứ nhất: Ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy thì người sử
dụng chất ma túy có tính tự nguyện, chủ động sử dụng ma túy còn ở tội cưỡngbức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thì người sử dụng bịđộng, bị cưỡng bức hoặc lôi kéo sử dụng
Thứ hai: Ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy thì người có
hành vi phải có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của mình
Thứ ba: Ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy thì người thực
hiện tội phạm có thể hành động hoặc không hành động còn ở tội cưỡng bức,lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy phải có hành động
Thứ tư: Ở tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma
túy thì việc thực hiện tội phạm quyết liệt hơn, tính nguy hiểm cho xã hội caohơn ở tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy
1.2.3 Phân biệt với tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp (Điều 252)
Tội dụ dỗ, tội ép buộc và tội chứa chấp người chưa thành niên phạmpháp có mặt khách quan thể hiện ở hành vi dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấpngười chưa thành niên phạm pháp
Dụ dỗ người chưa thành niên phạm pháp là hành vi rủ rê xúi giục lôikéo thúc đẩy bằng các hình thức khác nhau: cho ăn, uống, hút, cho vay, bánchịu kích thích sự ham muốn vật chất để buộc họ phải tìm cách trả nợ bằngcách trộm cắp, phạm pháp, gây rối để từng bước đưa người chưa thành niêntham gia vào hoạt động tội phạm
Ép buộc người chưa thành niên phạm pháp là hành vi dùng vũ lực, đedọa dùng vũ lực hoặc bằng các hình thức khác (dọa nói với bố mẹ, nhà
Trang 22trường, chính quyền về một sai phạm nào đó) để buộc người chưa thành niênphải thực hiện tội phạm.
Chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp là hành vi cung cấp chongười chưa thành niên chỗ ăn ở với ý thức tạo điều kiện cho họ thực hiện tộiphạm, tội phạm này đều được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp [24, tr 583]
Điều 252 Bộ luật hình sự 1999 quy định: Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp.
1 Người nào dụ dỗ, ép buộc người chưa thành niên hoạtđộng phạm tội, sống sa đọa hoặc chứa chấp người chưa thành niênphạm pháp thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
đ) Tái phạm nguy hiểm
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng
Người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm (đ) khoản
2 điều này thì còn có thể bị phạt quản chế từ một đến năm năm [3]
Điểm giống nhau giữa hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụngtrái phép chất ma túy và hành vi dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưathành niên phạm pháp ở mặt khách quan của tội phạm là đều có hành vi dụ
dỗ, ép buộc người khác phạm pháp và mặt chủ quan đều là lỗi cố ý trực tiếp
Trang 23Điểm khác nhau ở mặt khách thể là ở Điều 200 Bộ luật hình sự xâmphạm quyền tự do sức khỏe con người, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý
ma túy của nhà nước về ma túy làm lan tràn tệ nạn nghiện hút ma túy còn ởĐiều 252 Bộ luật hình sự xâm hại đến trật tự công cộng, gia tăng các tội phạmkhác Về nạn nhân thì ở Điều 200 Bộ luật hình sự là các lứa tuổi còn ở Điều
252 chỉ là người chưa thành niên
1.3 TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG LUẬT PHÁP MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC
1.3.1 Luật hình sự Thái Lan
Tội phạm về ma túy được quy định trong "Luật về các chất ma túy"ban hành ngày 22 tháng 4 năm 1979 Luật gồm 11 chương, trong đó Chương
XI "Các hình phạt" gồm 38 điều từ Điều 65 đến Điều 102 quy định tội phạm
và hình phạt Tội cưỡng bức người khác sử dụng chất ma túy được quy địnhtại Điều 93
Điều 93 Người nào mà lừa đảo, đe dọa dùng bạo lực hay thực hiệncác thủ đoạn khác làm cho người khác sử dụng chất ma túy dưới bất kỳ hìnhthức nào thì bị phạt tù từ một năm đến mười năm và bị phạt tiền từ mườinghìn bạt đến một trăm nghìn bạt [11, tr 135]
Như vậy, so sánh giữa pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình
sự Thái Lan quy định về tội này thì có một số điểm tương đồng: Cùng quyđịnh trong Bộ luật hình sự; ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung làphạt tiền, quy định những tình tiết định khung và tăng nặng Tuy nhiên, phápluật giữa hai nước quy định về loại tội này cũng có những điểm khác nhau
Thứ nhất: Về tội danh quy định ở trong luật của Thái Lan không phân
chia các loại tội danh riêng biệt nhưng ở Bộ luật hình sự Việt Nam tách riêngthành tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy và tội lôi kéongười khác sử dụng trái phép chất ma túy
Trang 24Thứ hai: Hình phạt ở Bộ luật hình sự Việt Nam nghiêm khắc hơn với
khung hình phạt cao nhất là chung thân
1.3.2 Luật hình sự Trung Quốc
Bộ luật hình sự năm 1979 của Trung Quốc (Quốc hội thông qua ngày1/7/1979 có hiệu lực từ ngày 1/1/1980) gồm Phần chung và Phần các tội phạm
có 12 chương Điều 171 thuộc Chương XI "Các tội xâm phạm trật tự xã hội
về trật tự quản lý" quy định về các hành vi phạm tội về ma túy
Ngày 28/12/1990 Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc ra quyếtđịnh "Về việc cấm ma túy" gồm 16 điều quy định về tội phạm và hình phạtcác hành vi phạm tội về ma túy
Tại Điều 7 của Quyết định này quy định:
Người nào dụ dỗ, xúi giục hoặc lừa dối người khác uống,hút hoặc tiêm chích ma túy thì bị phạt tù đến bảy năm, bị giam giữhình sự hoặc quản chế, đồng thời bị phạt tiền Người nào cưỡng bứcngười khác uống, hút hoặc tiêm chích ma túy thì bị phạt tù từ banăm đến mười năm đồng thời bị phạt tiền
Người nào dụ dỗ, xúi giục hoặc lừa dối, cưỡng bức ngườichưa thành niên uống, hút hoặc tiêm chích ma túy thì bị phạt nặnghơn [11, tr 139-140]
Như vậy, so sánh giữa pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự
Trung Quốc quy định về tội này thì có một số điểm giống và khác nhau như sau:
Giống nhau: Ngoài hình phạt chính còn hình phạt bổ sung là phạt tiền,
đều phân chia tội danh riêng biệt
Khác nhau:
Trang 25Một là: Khác nhau về nguồn luật, pháp luật Việt Nam quy định tội này
trong Bộ luật hình sự còn pháp luật Trung Quốc chưa cụ thể vào Bộ luật hình sự
Hai là: Về tội danh, ở luật Trung Quốc, phân chia hành vi dụ dỗ, xúi
giục hoặc lừa dối với hành vi cưỡng bức
Ba là: Về hình phạt, ở luật Trung Quốc, hành vi cưỡng bức người
khác uống, hút hoặc tiêm chích ma túy phải chịu hình phạt nặng hơn hành vi
dụ dỗ, xúi giục hoặc lừa dối trong khi luật Việt Nam ở hai hành vi này có mứchình phạt như nhau
1.3.3 Luật hình sự Myanma
"Luật về các chất ma túy và các chất hướng thần" ban hành ngày27/1/1993 Chương VIII của Luật quy định về tội phạm gồm 11 điều (từ Điều 15đến Điều 25) Trong đó Điều 16 quy định về một số hành vi bao gồm hành vi xúigiục, dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc lạm dụng chất ma túy hoặc chất hướng thần
Điều 16: Người nào có những hành vi sau đây thì bị phạt tù
từ năm năm đến mười năm và cũng có thể bị phạt tiền
Xúi giục, dụ dỗ, lừa gạt, ép buộc, lợi dụng ảnh hưởng saitrái hoặc bất kỳ thủ đoạn nào khác gây ra việc lạm dụng chất ma túyhoặc chất hướng thần [11, tr 136-137]
Như vậy, so sánh giữa pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sựMyanma quy định về tội này thì có một số điểm giống và khác nhau:
Giống nhau: Ngoài hình phạt chính còn hình phạt bổ sung là phạt tiền Khác nhau:
Một là: Khác nhau về nguồn luật, pháp luật Việt Nam quy định tội
cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong Bộ luậthình sự còn pháp luật Myanma chưa cụ thể vào Bộ luật hình sự
Trang 26Hai là: Về tội danh ở luật Việt Nam, hành vi cưỡng bức, lôi kéo người
khác sử dụng trái phép chất ma túy được quy định trong một điều luật độc lậpcòn ở luật Myanma thì hành vi này không được quy định trong một điều luậtriêng biệt mà nằm cùng nhóm hành vi trồng cây anh túc, tàng trữ, vận chuyển,cất giữ, biển thủ ma túy
Ba là: Ở luật Việt Nam, hình phạt cao nhất của tội này là tù chung thân, trong khi ở luật Myanma thì khung hình phạt cao nhất của loại tội này là
mười năm Hình phạt ở luật Việt Nam cụ thể và nghiêm khắc hơn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong
Bộ luật hình sự Việt Nam được quy định cho hai hành vi cưỡng bức và lôikéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý Tội phạm xâm phạm quyền tự
do và sức khoẻ của con người, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và lantruyền tệ nạn nghiện hút ma tuý Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổitrở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Hìnhphạt rất nghiêm khắc, có 4 khung hình phạt từ hai năm tù cho đến tù chungthân, ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
Mặc dù tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất matuý trong luật hình sự Việt Nam có những điểm giống với một số tội như: Tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; tội chứa chấp việc sử dụng trái phépchất ma tuý; tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạmpháp, nhưng có một số điểm cơ bản để phân biệt với các tội đó là: ngườiphạm tội phải có hành động, việc sử dụng ma tuý của người bị cưỡng bức, lôikéo mang tính bị động, bị người khác tác động lôi kéo
Luật quy định tội phạm về ma tuý nói chung và tội cưỡng bức, lôi kéongười khác sử dụng trái phép chất ma tuý của Việt Nam khác với luật của các
Trang 27nước như: Thái Lan, Trung Quốc, Myanma Sự khác nhau thể hiện ở: nguồn luậtquy định, hành vi phạm tội, hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung).
Vấn đề cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túyhiện nay ở Việt Nam đang gia tăng và diễn biến rất phức tạp Việc phòngchống tội phạm về cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất matúy không còn là của riêng quốc gia nào mà là vấn đề toàn cầu
Ở Việt Nam, tình trạng cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng tráiphép chất ma tuý trong xã hội xảy ra rất nhiều, hiện tượng sử dụng trái phépchất ma túy, thuốc lắc trong nhiều vũ trường, quán karaoke đang gia tăng chothấy tình trạng cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túyxảy ra trong thực tế rất phổ biến
Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân và giảipháp nhằm phòng chống tội phạm này một cách hiệu quả đang là vấn đề cấpthiết Việc phòng chống hiệu quả loại tội này sẽ góp phần nâng cao kết quảphòng chống tội phạm về ma túy
Trang 28Chương 2
TÌNH HÌNH TỘI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI KHÁC
SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1 Tình hình sử dụng trái phép chất ma túy qua một số vụ án lớn
Trong những năm gần đây, các cơ quan cảnh sát, điều tra đã triệt phánhiều vụ buôn bán và sử dụng trái phép chất ma túy, nhiều tụ điểm ăn chơi cóliên quan đến hoạt động ma túy đã bị bóc gỡ Trong luận văn, chúng tôi đưa
ra một số vụ án trọng điểm nhằm minh họa để thấy rõ tình hình sử dụng tráiphép chất ma túy hiện nay
1 Vụ án vũ trường New Century - Hà Nội
Ngày 28/04/2007, hàng chục xe cam-nhông chở khoảng 500 trămcảnh sát trang bị vũ khí, áo giáp đã bao vây vũ trường New Century, số 10Tràng Thi, Hà Nội tạm giữ hơn 1.160 người, trong đó có diễn viên, ca sĩ.Khoảng 500 người được xác định là có dấu hiệu sử dụng ma túy
Khi cảnh sát ập vào, hàng trăm dân chơi đang quay cuồng trong tiếngnhạc chát chúa, kích động Thấy động, nhiều người nháo nhào chạy ra ngoàinhưng đã bị các lực lượng trực sẵn ở vòng ngoài giữ lại
Số người bị tạm giữ lên tới hơn 1.160 người (khoảng 460 nữ), trong
đó độ tuổi 9X chiếm đa số
Chủ vũ trường là Nguyễn Đại Dương đã bị tạm giữ Hàng loạt cácchất ma túy, từ thuốc lắc, heroin, cần sa được tìm thấy tại New Century
Ngay sau khi bị tạm giữ, việc giám định sử dụng ma túy với số dân chơinày được tiến hành Theo tài liệu từ Tổng cục Cảnh sát, khoảng 500 trường
Trang 29hợp cho kết quả dương tính Những người liên quan bị tạm giữ ở trường đàotạo đặc nhiệm (thuộc C22 Bộ Công an) Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội.
Việc "đột kích" vào New Century nằm trong chuyên án lớn triệt phá các
tụ điểm ma túy nổi cộm được Bộ Công an triển khai nhiều tháng qua Tổng cụcCảnh sát huy động cùng lúc Cục cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp (C22), CụcCảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C17) tham gia Viện Khoa học hình sự(C21) được chỉ đạo tham gia chuyên án, xét nghiệm các chất ma túy kịp thời
Theo thông tin nhận được, thuốc lắc tại New Century do nhiều đườngdây ma túy chuyên nghiệp cung cấp
New Century là vũ trường nổi tiếng trong giới ăn chơi của Hà Nội.Theo một tổ trưởng dân phố phường Hàng Trống, vũ trường New Centurythường xuyên hoạt động quá giờ quy định, thậm chí đến 2h sáng, gây mất trật
tự ở khu vực này [26]
2 Vụ quán bar Friendly - Hải Phòng
Đêm 22-8-2008, lực lượng công an đã bất ngờ tập kích vào quán barFriendly - một tụ điểm nhức nhối về an ninh trật tự thành phố Cảng Tại đây,trong số 190 dân chơi có 37 đối tượng phản ứng dương tính với ma túy, gồm
34 nam và 3 nữ (trong đó có 1 vũ nữ)
Tại đây đã phát hiện và thu giữ 10 viên "thuốc lắc", 22 điếu tài mà, 2gói ketamin, 4 cục heroin và nhiều chai nước nghi pha với ma túy cùng một
số vũ khí thô sơ, dùi cui điện
Ngày 24-8-2008, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố HảiPhòng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối vớiNguyễn Hải Hùng, chủ quán bar Friendly (sinh năm 1972, trú tại Vạn Mỹ,Ngô Quyền, Hải Phòng) với tội danh ban đầu: Chứa chấp sử dụng trái phépchất ma túy Lệnh khám xét nơi ở của Nguyễn Hải Hùng cũng được tiến hànhngay sau đó
Trang 30Cơ quan điều tra cũng đồng thời ra quyết định tạm giữ đối với PhạmVăn Khanh, sinh năm 1973, trú tại huyện An Dương; Lê Đức Hùng, sinh năm
1986, trú tại Máy Chai, Ngô Quyền với tội danh tổ chức sử dụng trái phépchất ma túy
Đêm 22-8-2008, tại quán bar Friendly, Hùng và Khanh đã bị lựclượng chức năng bắt quả tang đang tổ chức cho 8 đối tượng sử dụng tài mà vàketamin ngay tại bàn VIP 5 và một bàn khác ở khu vực tầng dưới
Sáng cùng ngày, tiếp tục công tác khám xét quán bar Friendly, cơquan công an cũng đã phát hiện và thu giữ, 120 chai rượu mạnh còn nguyên,
250 chai rượu uống dở của khách gửi, trong đó có một số chai rượu không cótem mác
Đặc biệt, cơ quan chức năng còn phát hiện một chiếc cặp học sinh ởtại góc quán bar, trong cặp sách có sách vở đề tên N.K, lớp 9A4, trường trunghọc cơ sở Nguyễn Bá Ngọc, ở quận Lê Chân, Hải Phòng và trong đó còn có
cả khăn quàng đỏ Các đối tượng phạm tội hoạt động ngày càng tinh vi, thủđoạn cất giấu cũng chuyên nghiệp hơn nên phát hiện rất khó
Trong tổng số 190 đối tượng, cơ quan công an đã khởi tố và bắt tạmgiam 3 đối tượng, tạm giữ hành chính 11 đối tượng, trong đó có nhân viên thungân, nhân viên phục vụ bàn, nhân viên điện, ánh sáng, vũ công… của quánbar
Cơ quan chức năng đã đưa 3 nữ, 22 nam trong tổng số 37 đối tượng cóphản ứng dương tính với ma túy khi thử nhanh trong đêm tập kích quán bar(22-8) sang Trung tâm 05 và Trung tâm Gia Minh
Friendly (trước là vũ trường Biển Gọi) được coi là tụ điểm ăn chơi bậcnhất thành phố Cảng Việc thay tên, đổi chủ cũng chỉ là hình thức che mắtnhằm đối phó với cơ quan chức năng Công an thành phố Hải Phòng đã xáclập chuyên án 018T để triệt phá tụ điểm phức tạp này
Trang 312.1.2 Tình hình người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý trong toàn quốc qua 10 năm từ năm 1998 đến năm 2007
Bảng 2.1: Tổng số người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý
- giảm)
Nguồn: Số liệu của Cục Phòng chống ma tuý, Bộ Công an.
Do tác hại nhiều mặt của ma tuý, cho nên Chính phủ và toàn xã hội đã
có nhiều nỗ lực quyết liệt để đấu tranh với tệ nạn ma tuý Những biện phápđồng bộ phòng chống ngăn ngừa từ gia đình, nhà trường cho đến những hìnhthức cưỡng chế cai nghiện tại các trung tâm giáo dục xã hội, các chế tài hìnhphạt nghiêm khắc dành cho các tội từ Điều 192 đến Điều 201 của Bộ luật hình
sự Tuy nhiên, trong 10 năm qua, số người nghiện ma tuý vẫn không ngừngtăng lên qua từng năm Số người nghiện có hồ sơ quản lý chỉ là phần nổi củatảng băng chìm Trên thực tế có hồ sơ quản lý chỉ có thể thực hiện được khiđối tượng nghiện ma tuý đã nghiện một thời gian dài, đã bị bắt quả tang sửdụng trái phép chất ma tuý, có sự hợp tác của gia đình hoặc của bản thân đốitượng nghiện, điều đó không hề đơn giản Bản thân đối tượng nghiện ma tuý
và gia đình họ có ý thức rất rõ ràng nếu thừa nhận mình hoặc thân nhân mắcnghiện ma tuý thì họ phải hứng chịu những ánh mắt thiếu thiện cảm, sự cảnhgiác trong tiếp xúc, hay nói chính xác và thực tế thì nó là sự kì thị của xã hội.Chính vì vậy, bao giờ người nghiện và gia đình họ cũng có một tâm lý là giấugiếm đến khi không thể giấu được nữa Và một điều rõ ràng là số ngườinghiện ma tuý trong thực tế còn lớn hơn nhiều số liệu có hồ sơ quản lý
Trang 32Qua số liệu ở trên, thì số liệu người nghiện từ năm 1998 đến năm 2006tăng dần và giảm trong 2007 Toàn bộ cả thời kì tăng 82.834 người bằng 95%,thời kì từ năm 1998 đến năm 2002 tăng 55.705 người bằng 64,5% tỉ lệ tăngqua từng năm rất cao và theo xu hướng tăng dần đều So với năm liền trước,năm 1999 tăng 4.761 người bằng 5,517%; năm 2000 tăng 9.980 người bằng10,96%; năm 2001 tăng 12.867 người bằng 12,73%; năm 2002 tăng 28,097bằng 24,6%; thời kì từ năm 2003 đến 2007 tỉ lệ tăng đã có xu hướng giảm dầnđều; cả thời kì tăng 10% so với năm kiền trước thì năm 2004 tăng 10.344người bằng 6,7%; năm 2005 tăng 7.404 người bằng 4,5% so với năm 2006tăng 3.517 người bằng 2,06%, đặc biệt năm 2007 giảm 5.035 người bằng2,8%
Như vậy, tuy số liệu trong 10 năm từ 1998 đến 2007 tăng nhưng tỉ lệ
đã bắt đầu có xu hướng giảm dần, tỉ lệ giảm tại năm 2007 chứng tỏ nhữngbiện pháp tích cực trong công tác phòng chống ma tuý đã phát huy tác dụng,kiểm soát và ngăn chặn sự gia tăng số người nghiện ma tuý nói chung và sốngười nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý nói riêng
Biểu đồ 2.1 Tình hình số lượng người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý
giai đoạn năm 1998 - 2007
Trang 332.2 DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
2.2.1 Tổng các vụ án ma tuý giai đoạn năm 2000 - 2007
Nguồn: Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao.
Trong quá trình từ năm 2000 đến 2007, cả nước đã điều tra truy tố, xét
xử 73.417 vụ án ma tuý các loại, đối với 96.966 bị cáo Điều đó chứng tỏ tộiphạm về ma tuý là loại tội phạm phổ biến và rất phức tạp ở cả mức độ phạmtội và phạm vi của tội phạm
Qua số liệu trên, số liệu các vụ án năm 2007 so với năm 2000 tăng3.338 vụ bằng 51,16%; số các bị cáo bị xét xử tăng 3.762 bị cáo bằng 40,23%.Thời kì từ năm 2000 đến năm 2003 tăng 4.899 vụ bằng 57,09%; tăng 5240 bịcáo bằng 56,04% Thời kì năm 2004 đến 2007 giảm 1.561 vụ bằng 17,44%,tăng 1.322 bị cáo bằng 11,2% Qua số liệu trên chúng ta thấy rằng, khôngnhững tội phạm ma tuý ngày càng phức tạp, phổ biến mà bên cạnh đó còn chothấy pháp luật ngày càng nghiêm khắc hơn với các loại tội phạm về ma tuý và
sự chuyển biến này có nguyên nhân quan trọng từ sự ra đời của Bộ luật hình
sự năm 1999 có hiệu lực từ 01/07/2000
Trang 34Biểu đồ 2.2 Tổng số các vụ án về ma túy từ năm 2000 - 2007
Nguồn: Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao.
Biểu đồ 2.3 Tổng số các bị cáo về ma túy bị xét xử từ năm 2000 - 2007
Nguồn: Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao.
2.2.2 Tổng số các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý giai đoạn năm 2000 - 2007
Trang 35Như vậy, trong 8 năm từ năm 2000 đến 2007, cả nước đã điều tra truy
tố, xét xử 33 vụ và 55 bị cáo Điều này, không nói lên tội cưỡng bức, lôi kéongười khác sử dụng trái phép chất ma tuý rất ít đến mức gần như không cónhư số liệu phản ánh Với góc độ nhìn nhận khác thì thấy rằng, việc điều tra,truy tố, xét xử loại tội phạm này không hề đơn giản
Kết quả của việc điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này hoàn toàntrái ngược với số liệu đối tượng nghiện có hồ sơ quản lý và không có hồ sơquản lý tăng lên mạnh theo từng năm Trái ngược với hiện tượng phổ biến củacác hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý đangdiễn ra trong xã hội Điều này cho thấy tỷ lệ ẩn của tội này là rất cao và đòihỏi có những biện pháp đồng bộ từ giải pháp về luật pháp, về phòng ngừa, cơchế phát hiện tội phạm, các biện pháp bảo vệ nạn nhân, nhân chứng để chocác số liệu này phản ánh đúng thực tế
2.2.3 Các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong tổng số các vụ án ma tuý giai đoạn từ năm 2000 - 2007
Bảng 2.3: Các vụ án về tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong tổng số các vụ án ma tuý giai đoạn từ năm 2000 - 2007
Nguồn: Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao.
Qua số liệu ở trên cho thấy, số các vụ án đã xét xử về tội cưỡng bức,lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý chiếm tỷ lệ rất ít so với tổng
số các vụ án được quy định tại Chương XVIII - Bộ luật hình sự Tỉ lệ năm
Trang 362000 là 0,0613%; năm 2001 là 0,0837%; năm 2002 là 0,053%; năm 2003 là0,0175%; năm 2004 là 0,0447%; năm 2005 là 0,0541%; năm 2006 là0,0312%; năm 2007 là 0,0304%; tổng số cả giai đoạn là 0,0449% Như vậy,qua số liệu nêu trên thấy rằng trong khi các loại tội phạm về ma tuý nói chung
và tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong thực
tế đang diễn ra rất phổ biến và phức tạp thì số liệu điều tra, truy tố, xét xử các
vụ án của tội được quy định Điều 200 Bộ luật hình sự lại quá nhỏ bé, chưađáp ứng được yêu cầu phòng chống hiện tượng cưỡng bức, lôi kéo, rủ rêngười khác sử dụng trái phép chất ma tuý trong thực tế
2.3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỀ THỰC TRẠNG CÁC HÀNH VI CƯỠNG BỨC, LÔI KÉO NGƯỜI KHÁC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
2.3.1 Kết quả điều tra theo phiếu điều tra tại Trung tâm giáo dục
số II - thành phố Hà Nội
Trung tâm giáo dục số II - thành phố Hà Nội là trung tâm giáo dục cainghiện ma tuý của thành phố Hà Nội Chúng tôi đã tiến hành điều tra 100 họcviên của trại về tình trạng cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phépchất ma tuý trong xã hội nói chung và trong đối tượng nghiện ma tuý nóiriêng Tổng số người được hỏi là 100 người trong đó nam là 76 người chiếm76%, nữ 24 người chiếm 24%, kết quả điều tra như sau:
Về tuổi của người được hỏi
Trong số 100 người được hỏi (76 nam, 24 nữ) là các đối tượng nghiện
ma tuý đang cai nghiện học tấp tại trung tâm
- Từ 18 đến 22 tuổi: 9 người, chiếm 9%;
- Từ 22 đến dưới 30 tuổi; 51 người, chiếm 51%;
- Từ 30 đến trên 30 tuổi: 40 người, chiếm 40%
Như vậy, độ tuổi nghiện ma tuý và độ tuổi có nguy cơ là nạn nhân củahành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý ở lứa
Trang 37tuổi trên 22 là khá phổ biến Đây là độ tuổi chủ yếu vừa rời khỏi ghế nhàtrường và bắt đầu có những thay đổi tích cực hoặc tiêu cực phụ thuộc rấtnhiều vào tính cách, môi trường sống và học tập, trình độ, vốn sống.
Về nghề nghiệp của người được hỏi
Trong số 100 người được hỏi là đối tượng nghiện thì cơ cấu nghềnghiệp trước khi bắt buộc học tập tại trung tâm như sau:
- Công chức, viên chức, nhân viên: 7 người, chiếm 7%;
- Học sinh, sinh viên: 6 người, chiếm 6%;
- Nghề tự do như: Lái xe, xe ôm, thợ tự do: 68 người, chiếm 68%;
- Không nghề: 19 người, chiếm 19%
Qua thống kê trong phạm vi nhỏ thì cũng đã cho thấy đối tượngnghiện nói chung hay đối tượng có nguy cơ là nạn nhân của hành vi cưỡngbức, lôi kéo sử dụng trái phép chất ma tuý có thể ở tất cả ngành nghề, từ họcsinh, sinh viên, đến công chức, viên chức, cán bộ nhân viên các cơ qua, làmnghề tự do và không nghề Trong đó các nghề tự do: lái xe, xe ôm, thợ tự dobuôn bán là khá phổ biến và chiếm tỉ lệ cao Điều đó, cho thấy các biện phápphòng chống gia tăng đối tượng nghiện ma tuý ở các khu dân cư cần phải tăngcường hơn
Về lý do mắc nghiện ma tuý
- 45 người bị mắc nghiện ma tuý do tò mò muốn thử, chiếm 45%;
- 43 người bị mắc nghiện ma tuý do bị bạn bè rủ rê, chiếm 43%;
- 5 người bị mắc nghiện ma tuý do bị người khác cưỡng bức sử dụng, chiếm 5%;
- 7 người bị mắc nghiện ma tuý do các lý do khác như: chán đời, muốn dùng ma tuý để tạo cảm giác hưng phấn
Như vậy, với 43 người được hỏi trả lời lý do nghiện ma tuý do bị bạn
bè rủ rê lôi kéo sử dụng trái phép chất ma tuý dẫn đến nghiện Điều này
Trang 38chứng tỏ trong thực tế hành vi lôi kéo, rủ rê người khác sử dụng trái phép chất
ma tuý trong xã hội nói chung và trong đối tượng nghiện nói riêng chiếm tỉ lệrất lớn Đây là thống kê của những người trong cuộc và đây là số liệu chânthực rất đáng được quan tâm Điều đó đòi hỏi cần phải có ngay những biệnpháp tuyên truyền riêng về loại hành vi này Về thủ đoạn, mục đích, chế tài,
xử lý hình sự v.v nhằm giúp cho những người có thể là nạn nhân tiềm ẩncủa hành vi này có thể phòng ngừa, biết cách đối phó với những tình huốngnguy hiểm có thể xảy ra và răn đe những người vô tình hay cố ý có hành vicưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý Nếu những biệnpháp này đạt hiệu quả thì chắc chắn số người nghiện sẽ giảm và kết quả củaviệc đấu tranh phòng chống ma tuý mới thực sự có ý nghĩa
Về việc đã chứng kiến hoặc nghe nói đến tình trạng cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý
- 29 người được hỏi trả lời đã chứng kiến, chiếm 29%;
- 58 người được hỏi trả lời nghe nói là có hành vi này, chiếm 58%;
- 9 người được hỏi trả lời là có, chiếm 9%;
- 4 người được hỏi nghĩ nói là không có, chiếm 4%
Như vậy, 29% số người được hỏi trả lời đã chứng kiến hành vi cưỡng bức,lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý là con số khá lớn 9% khẳngđịnh là có, nghe nói là có và đã chứng kiến chứng tỏ hành vi này rất phổ biếntrong xã hội mà đặc biệt là trong nhóm đối tượng nghiện ma tuý Điều này, chothấy một phần rất lớn những người nghiện ma tuý có nguyên nhân từ hành
vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý và nếu ngănngừa hiệu quả được loại hành vi này thì số đối tượng nghiện ma tuý sẽ giảmđáng kể
Về câu hỏi nhóm đối tượng nào có thể thực hiện hành vi này với người khác
Trang 39- 81 người được hỏi trả lời những người buôn bán lẻ trái phép chất ma tuý có thể thực hiện hành vi này với người khác, chiếm 81%;
- 6 người được hỏi trả lời những người đã mắc nghiện trong gia đình
có thể thực hiện hành vi này với người khác, chiếm 6%;
- 12 người được hỏi trả lời bạn bè, hàng xóm, người quen có thể thực hiện hành vi này với người khác, chiếm 12%;
- 18 người được hỏi trả lời chủ chứa, bảo kê nhà hàng v.v là người
có thể thực hiện hành vi này với người khác, chiếm 18%
Như vậy, theo ý kiến của những người được hỏi là đối tượng đangnghiện ma tuý thì những người buôn bán lẻ trái phép chất ma tuý là nhóm đốitượng có nguy cơ cao nhất trong việc thực hiện hành vi này Bạn bè, hàngxóm, người quen và những người đã mắc nghiện ma tuý trong gia đình lànhững người có thể thực hiện hành vi này vì lý do này hay lý do khác Tuynhiên, có một điều rất đáng lưu ý là tuy trong phiếu điều tra, ngoài ba nhómđối tượng liệt kê gồm: những người buôn bán lẻ trái phép chất ma tuý, nhữngngười đã mắc nghiện ma tuý trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen thìtrong phiếu không liệt kê thêm mà chỉ dành thêm nhóm thứ tự là những ngườikhác Nhưng trong 100 phiếu điều tra có đến 18 ý kiến liệt kê thêm một loạiđối tượng nữa là chủ chứa, bảo kê khách sạn nhà hàng với mục đích ép buộc,khống chế, điều khiển các cô gái bán dâm phục vụ mục đích bất chính củachúng Điều đáng lưu ý là trong số 18 ý kiến này thì đến 12 người được hỏi là
nữ Như vậy, sau nhóm đối tượng là những người buôn bán lẻ trái phép chất
ma tuý thì nhóm chủ khách sạn, nhà hàng, bảo kê khách sạn ở những kháchsạn nhà hàng có dấu hiệu không lành mạnh là những nhóm đối tượng đầu tiêncần phải có biện pháp phòng ngừa
Về câu hỏi mục đích của những người có hành vi này là gì
Trang 40- 81 người được hỏi có ý kiến mục đích của hành vi này là để có nhiềungười mua bán lẻ ma tuý vì lợi nhuận, tương ứng với những người buôn bán
lẻ chất ma tuý là những người có thể thực hiện hành vi này với người khác,chiếm 81%;
- 06 người có ý kiến mục đích của những người đã mắc nghiện ma tuýtrong gia đình muốn có người đồng cảnh, thuận lợi cho việc sử dụng ma tuýcủa họ, chiếm 6%;
- 10 người cho rằng mục đích của những người có hành vi này với bạn
bè, hàng xóm, người quen để có người cung cấp thuốc vì người đó có điềukiện, chiếm 10%;
- 02 người cho rằng vì lý do thù ghét mà muốn hại họ, chiếm 2%;
- 17 người cho rằng mục đích của những người có hành vi này là ép họbán dâm, bắt họ lệ thuộc làm công cụ kiếm tiền để dễ bề khống chế điềukhiển, chiếm 17%
Những ý kiến về mục đích của những người có hành vi cưỡng bức, lôikéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý cơ bản là logic với quan điểm
về nhóm đối tượng có thể thực hiện hành vi này Các ý kiến đều khá thốngnhất cho rằng: Những người buôn bán ma tuý là những người có động cơ rõràng nhất vì càng có nhiều con nghiện thì càng có nhiều người có nhu cầumua sử dụng chất ma tuý và lợi nhuận của họ càng cao
Về câu hỏi cách thức của những người có hành vi cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý thường thể hiện
- 04 ý kiến cho rằng cách thức thể hiện của hành vi là dùng vũ lực bắt
ép người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, chiếm 4%;
- 02 ý kiến cho rằng cách thức thể hiện của hành vi là giữ tay chân để cho vào miệng, mũi hoặc tiêm chích vào cơ thể, chiếm 2%;
- 82 ý kiến cho rằng cách thức thể hiện của hành vi là rủ rê mồi chài, thuyết phục người khác sử dụng ma tuý, chiếm 82%;