1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội mua bán người dưới 16 tuổi trong bộ luật hình sự việt nam năm 2015 (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh quảng ninh)

109 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 326,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người dưới 16 tuổi và các tội phạm khác có liên quan...79 3.2.1... Trước những thựctrạng đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH HỒNG QUANG

TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 (TRÊN CƠ SỞ THỰC

TIỄN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM MẠNH HÙNG

Hà Nội – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trịnh Hồng Quang

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 8 1.1 Khái niệm tội mua bán người dưới 16 tuổi và sự cần thiết của việc quy định tội phạm này trong Luật hình sự Việt Nam 8

1.1.1 Khái niệm tội mua bán người dưới 16 tuổi trong Luật hình sự Việt Nam 8

1.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của tội mua bán người dưới 16 tuổi trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 2015 19 1.2.1 Giai đoạn trước khi có BLHS năm 1985 19

1.2.2 Quy định về tội mua bán trẻ em trong BLHS năm 1985 21

1.2.3 Quy định về tội mua bán trẻ em trong BLHS năm 1999(sửa đổi, bổ sung năm 2009) 24

1.4 Quy định về tội mua bán người dưới 16 tuổi trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới 33

1.4.1 BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 33

1.4.2 BLHS Malaysia 35

1.4.3 BLHS Liên bang Nga 35

1.4.4 Luật hình sự Campuchia 37

1.4.5 Luật hình sự Thái Lan 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40

Trang 5

Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI TRONG

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 41

2.1 Hình phạt đối với người phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi quy định trong BLHS Việt Nam năm 2015 41

2.2 Thực tiễn xét xử tội mua bán người dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh .50

2.2.1 Tình hình xét xử 50

2.2.2 Một số hạn chế và vướng mắc trong hoạt động xét xử đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi 61

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế và vướng mắc trong hoạt động xét xử tội mua bán người dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 66

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69

Chương 3 TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI 71

3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về tội mua bán người dưới 16 tuổi 71

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người dưới 16 tuổi và các tội phạm khác có liên quan 79

3.2.1 Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy TAND 79

3.2.2 Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ Tòa Án 80

3.2.3 Phát triển kinh tế - xã hội 81

3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật 85

3.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi 87

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng số vụ án, tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội mua bán người dưới

16 tuổi trên tổng số vụ án, tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử và trong mối tương

quan với các tội liên quan đến người dưới 16 tuổi từ năm 2015 -2018

Bảng 2.2: Số vụ án, số bị cáo tội mua bán người dưới 16 tuổi trên tổng số vụ án, số bị cáo tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi từ năm 2015- 2018 53

Bảng 2.3: Phân tích hình phạt áp dụng đối với bị cáo phạm tội 56

mua bán người dưới 16 tuổi 56

Bảng 2.4: Phân tích đặc điểm nhân thân các bị cáo phạm tội mua bán 57

người dưới 16 tuổi từ năm 2015 - 2018 57

Bảng 2.5: Thống kê số nạn nhân theo mục đích mua bán của tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2015 - 2018 59

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Biểu thị sự tăng, giảm về tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng

Biểu đồ 2.2: Biểu thị tình hình tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi trên tổng số vụ

án, tổng số bị cáo tội mua bán người và tội mua bán người dưới 16 tuổi 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm mua bán người nói chung, mua bánngười dưới 16 tuổi nói riêng ở nước ta đang diễn biến ngày càng phức tạp; thủ đoạnngày càng tinh vi, xảo quyệt và tính chất các vụ việc ngày càng trở nên nghiêm trọng,nhiều trường hợp có tổ chức chặt chẽ và có tính xuyên quốc gia Đặc biệt là nạn muabán phụ nữ và trẻ em đang là một hiện tượng nhức nhối ở nước ta hiện nay Nguyhiểm hơn đã xuất hiện một số đường dây đưa người sang Trung Quốc bán nội tạngcho các bệnh viện tư, dẫn đến nạn nhân bị tử vong Vấn nạn này không chỉ xâm hại đếnquyền con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần, tính mạng củanạn nhân mà còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục, ảnh hưởngtrực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự của đất nước

Tội phạm của hoạt động mua bán người, mua bán người dưới 16 tuổi luôn coicon người như một loại hàng hóa để mang ra mua bán, trao đổi Mua bán ngườiđược coi là ngành công nghiệp bởi luôn có sẵn nguồn cung ứng, nguy cơ bị pháthiện và xử lý thấp, đem lại lợi nhuận cao, ở đó một nạn nhân có thể bị bóc lột trongnhiều năm, dưới nhiều hình thức khác nhau Ngày nay, tình hình tội mua bán người

có xu hướng gia tăng về quy mô, tính chất và mức độ nghiêm trọng; đã phát hiệnnhiều vụ án mua bán người có tổ chức, đặc biệt là ở vùng giáp biên giới Các đốitượng phạm tội đã lợi dụng tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, sự nhẹ dạ cả tin,mất cảnh giác của người dân, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi để lôi kéo, dụ dỗ,lừa gạt đưa trái phép ra nước ngoài, ép nạn nhân hoạt động mại dâm, lao độngcưỡng bức hoặc thực hiện các hình thức vô nhân đạo khác Việc đưa người tráiphép ra nước ngoài xuất hiện dưới dạng xuất khẩu lao động, du lịch… Hoạt độngtội phạm xảy ra trên địa bàn cả nước, nhưng chủ yếu vẫn là các tỉnh vùng cao, cáctỉnh có đường biên giới chung với Trung Quốc, Lào, Campuchia,…

Quảng Ninh là tỉnh miền núi biên giới Đông Bắc, nằm trong vùng tam giáckinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là khu công nghiệp than lớn nhất cảnước Quảng Ninh có 132,8 km đường biên giới trên bộ và khoảng 250 km đường

Trang 10

biên giới trên biển với nước ngoài Đặc biệt trên địa bàn tỉnh có các cửa khẩu kinh

tế tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và trở thành một trong nhữngkhu vực trọng điểm kinh tế phía Bắc của Tổ quốc Do vậy, hằng năm lưu lượngngười và phương tiện qua lại hai bên biên giới để kinh doanh, buôn bán, du lịch,thăm thân,… là rất lớn Các đối tượng phạm tội thường triệt để lợi dụng các điềukiện về địa lý, địa hình và sự thông thoáng trong cơ chế, chính sách đối với dân cưkhu vực biên giới để đưa phụ nữ, trẻ em từ các địa phương các tỉnh phía trong quaQuảng Ninh bán sang Trung Quốc với nhiều mục đích khác nhau, trong đó chủ yếu

là mục đích bóc lột tình dục và mục đích thương mại

Xuất phát từ tình hình phức tạp cũng như tính đặc thù của tội phạm mua bánngười, thời gian qua Đảng, Nhà nước cũng như các Bộ, ngành chức năng có liênquan đã đặc biệt quan tâm, tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống muabán người, đồng thời nỗ lực xây dựng, bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp luật chophù hợp thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh, làm công cụ pháp lý cho các cơ quanthực thi pháp luật trong công tác phòng, chống mua bán người Cụ thể, Bộ Chính trị

đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối vớicông tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, trong đó tập trung đấu tranh,

xử lý nghiêm minh các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về thamnhũng, tội phạm về ma túy… và tội phạm mua bán người Ngày 29/3/2011, Quốchội đã thông qua Luật Phòng, chống mua bán người; Các Bộ, ngành chức năngcũng ký kết 2 Thông tư liên tịch trong các năm 2013 và 2014 nhằm hướng dẫn thựchiện Luật Phòng, chống mua bán người trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử Đặcbiệt, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ các hành vi, bổsung các tình tiết định khung … về tội mua bán người, đã tạo tiền đề pháp lý chocác hoạt động phòng ngừa và đấu tranh đối với các tội phạm nói chung và tội phạmmua bán người nói riêng Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký kết 4 Hiệp định songphương về phòng, chống mua bán người với các nước láng giềng là Thái Lan,Campuchia, Lào và Trung Quốc Việt Nam cũng đã tham gia phê chuẩn Nghị địnhthư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị hành vi buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ

và trẻ em (Nghị định thư Palermo) của Liên hợp quốc

Trang 11

Tuy nhiên, thực tiễn khách quan luôn biến đổi không ngừng dẫn đến việc vănbản quy phạm điều chỉnh về tội phạm này còn một số bất cập, hạn chế Thực tiễn ápdụng pháp luật cho thấy một số trường hợp không có sự thống nhất về hiểu và ápdụng pháp luật giữa các cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án Trước những thựctrạng đó, việc nghiên cứu các quy định của PLHS hiện hành về tội mua bán ngườidưới 16 tuổi dưới góc độ thực tiễn tại một địa phương nhất định, không những có ýnghĩa sâu sắc về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật, để từ đóđưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật

đối với loại tội phạm này Nhận thức được điều đó, tôi chọn đề tài: “Tội mua

bán người dưới 16 tuổi trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Quảng Ninh)” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Trong quá trình làm luận văn, tôi đã tham khảo, nghiên cứu một số tài liệu lànhững giáo trình, sách chuyên khảo, những luận văn đã được công bố và tập trung ở

ba nhóm chủ yếu như sau:

- Các sách chuyên khảo: GS TSKH Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau

đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; GS.TSKH Lê Cảm (2018), Sách chuyên khảo Sau

đại học: Nhận thức khoa học về phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; GS TSKH Lê Cảm

(2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; GS TSKH Lê Cảm, PGS TS Trịnh Quốc Toản (2011), Định

tội danh: Lý luận, lời giải mẫu và 500 bài tập thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội; GS TS Nguyễn Ngọc Hòa (2017) Bình luận Khoa học BLHS năm

2015,được sửa đổi bổ sung 2017 (Phần các tội phạm), Nxb Tư pháp; PGS TS.

Trịnh Quốc Toản (2011), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung

trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội; Trường Đại

học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,

Hà Nội; Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt

Trang 12

Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội; TS Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận Khoa học BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Nxb Lao động; PGS.

TS Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb Chính trị Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội

- Các luận văn: Trần Thị Quế (2104), Tội mua bán người, mua bán trẻ em trên

đại bàn tỉnh Hà Giang – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật

học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội; Bùi Thanh Phương (2016), Tội mua

bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em trong luật hình sự Việt Nam (trân cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang), Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc

gia Hà Nội; Lê Việt Hà (2009), Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc

gia Hà Nội

- Các bài viết trong các tạp chí chuyên ngành: TS Trương Quang Vinh (2004),

Đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Luật học Số 3/2004; TS Nguyễn Văn Hương (2012), Phòng ngừa tội mua bán người, mua bán trẻ em hiện nay, Tạp chí Luật học Số 1/2012; TS.

Lê Văn Luật (2006), Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối

với trẻ em” Tạp chí khoa học pháp lý số 2(33)/ 2006; TS Phạm Minh Tuyên

(2018), Thực trạng các vụ án mua bán người, mua bán trẻ em – Một số vướng mắc

và kiến nghị, Tạp chí tòa án nhân dân 26/02/2018; ThS Đinh Văn Quế, một số vấn

đề về phạm tội có tổ chức - Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao; Quan

điểm và giải pháp chiến lược phòng, chống tội phạm thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước; Lê Văn Hưng - Tạp chí Tòa án nhân dân (số 14/2005); Nguyễn

Khắc hải (2013), Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống mua bán người hiện

nay, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 29, Số 1 (2013).

Các công trình khoa học, bài viết trên cho thấy các tác giả thường nghiên cứumột cách tổng quát các vấn đề pháp lý ở phạm vi rộng hoặc chỉ tập trung nghiên cứumột vài khía cạnh có liên quan đến nhóm các tội về mua bán người, mua bán ngườidưới 16 tuổi Hầu hết chưa nghiên cứu sâu về tội mua bán người dưới 16

Trang 13

tuổi một cách đầy đủ, toàn diện, có tính hệ thống từ lý luận đến thực tiễn áp dụngpháp luật.

Đồng thời, qua nghiên cứu BLHS năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thôngqua tại kỳ họp thứ 10, ngày 27 tháng 11 năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sauđây gọi chung là BLHS năm 2015) thay thế cho BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sungnăm 2009 (sau đây gọi chung là BLHS năm 1999), nhận thấy đã có những sửa đổi,

bổ sung quy định về tội mua bán người dưới 16 tuổi để khắc phục những hạn chếcủa BLHS năm 1999, tuy nhiên vẫn còn những điểm quy định chưa được chặt chẽlàm cho việc định tội danh, quyết định hình phạt, việc phân hóa TNHS đối với tộiphạm chưa cao, hình phạt chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với tội phạm Hơn nữa,BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã có những thay đổi cơ bản và hiệntại vẫn chưa có nghiên cứu nào về tội mua bán người dưới 16 tuổi Do đó, việc tiếptục nghiên cứu để góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự hiện hành

và BLHS năm 2015 quy định về tội phạm này vẫn có ý nghĩa rất lớn cả về mặt lýluận và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ những quy định của BLHS về tội mua bánngười dưới 16 tuổi và phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS tronggiải quyết các vụ án mua bán người dưới 16 tuổi, tìm ra những khó khăn, vướngmắc và giải pháp khắc phục, nâng cao chất lượng áp dụng các quy định của BLHStrong giải quyết các vụ án mua bán người dưới 16 tuổi Đồng thời tìm ra phươnghướng hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về tội mua bán người dưới

16 tuổi, nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu

cụ thể như sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung và lịch sử lập pháp về tội mua bánngười dưới 16 tuổi trong luật hình sự Việt Nam

Trang 14

- Làm rõ quy định của BLHS về tội mua bán người dưới 16 tuổi và thực tiễn xét

xử loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn (2015 – 2018) ); nêu được một

số hạn chế, vướng mắc trong hoạt động xét xử đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi vàtìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, vướng mắc đó

quy định của BLHS Việt Nam về tội mua bán người dưới 16 tuổi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Tội mua bán người dưới 16 tuổi trong

Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh QuảngNinh)”

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp phân tích luật viết như: diễn dịch,quy nạp để phân tích các quy định của pháp luật Ngoài ra, còn sử dụng các phươngpháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê toán học, báo cáo tổng kết của TANDcác cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để phân tích và luận giải các vấn đề tươngứng được nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện về mặt lý luận đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cụ thể:

Trang 15

- Đưa ra khái niệm về tội mua bán người dưới 16 tuổi.

quy định về tội mua bán người dưới 16 tuổi từ năm 1945 đến nay So sánh với quy định của luật hình sự một số nước trên thế giới quy định về tội phạm này

- Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý, khung hình phạt của tội mua bán người dưới 16 tuổi

năm 2015 đến năm 2018, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nhữngtồn tại, hạn chế đó

quả áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi

và các tội phạm có liên quan

6.2 Ý nghia thực tiễn

Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án cáccấp trong việc định tội danh, giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứpháp luật Ngoài ra, luận văn còn là cơ sở để đưa ra các kiến nghị hoàn thiện PLHSViệt Nam liên quan đến định tội danh đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi vànâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm này Đặc biệt, luận văn còn làtài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyênngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật trên cả nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm ba chương, cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội mua bán người dưới 16 tuổi.

Chương 2: Quy định về tội mua bán người dưới 16 tuổi trong BLHS Việt Nam năm 2015 và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Chương 3: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu

quả áp dụng quy định của BLHS Việt Nam về tội mua bán người dưới 16 tuổi

Trang 16

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI MUA BÁN NGƯỜI DƯỚI 16 TUỔI

1.1 Khái niệm tội mua bán người dưới 16 tuổi và sự cần thiết của việc quy định tội phạm này trong Luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm tội mua bán người dưới 16 tuổi trong Luật hình sự Việt Nam

“Tội phạm là một hiện tượng xã hội - pháp lý gắn liền với sự ra đời của nhànước và pháp luật, cũng như với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân và sự phân chia

xã hội thành các giai cấp đối kháng” [3, tr 287] Vì vậy, để bảo vệ đặc quyền củamình, Nhà nước sẽ quy định những hành vi nguy hiểm nào bị xem là tội phạm và

áp dụng TNHS đối với người thực hiện hành vi đó, Điều 8 BLHS năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017) quy định tội phạm như sau:

Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện mộtcách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật

tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của côngdân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quyđịnh của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [41, Điều 8]

Với định nghĩa này, tội phạm được các nhà làm luật đề cập đến có bốn đặcđiểm (dấu hiệu) cơ bản: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lựcTNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện, có lỗi và trái với PLHS

Khái niệm "buôn bán người" được quy định trong nhiều văn bản pháp luậtquốc tế, trong đó có Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị việc buônbán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em (Nghị định thư Palermo) Văn kiện này đượcĐại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2000 và có hiệu lựcngày 25 tháng 12 năm 2003 Theo quy định của Nghị định thư này, khái niệm buônbán người (trong đó có phụ nữ, trẻ em) được quy định như sau:

Trang 17

a) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhậnngười nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe dọa dùng bạo lực hay cáchthức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế

dễ bị tổn thương hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạtđược sự đồng ý của một người kiểm soát đối với người khác vì mụcđích bóc lột Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bao gồm bóc lột vì mục đíchmại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao độnghay dịch vụ cưỡng bức nô lệ hay những hình thức tương tự như nô lệ,khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể

có chủ ý được nêu tại điểm (a) trên đây sẽ không được tính đến nếu bất kỳ một cáchthức nào nêu trong điểm (a) đã được sử dụng

trẻ em với mục đích bóc lột sẽ bị coi là buôn bán người thậm chí khi không có nhữnghình thức được nêu ở điểm (a) trên đây

Theo quy định của Nghị định thư Palermo, sự đồng ý của trẻ em là vô hiệu vàbất kỳ sự tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận trẻ em nhằmmục đích bóc lột đều cấu thành tội buôn bán người, cho dù không có việc sử dụng

vũ lực, cưỡng ép, man trá, lừa gạt trẻ em đó Đây là khái niệm có tính chính thống

về buôn bán người theo tinh thần Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốcgia và Nghị định thư bổ sung Công ước về chống buôn bán người

Ngoài Nghị định thư Palermo, một số văn kiện pháp luật quốc tế cũng đưa rakhái niệm liên quan đến buôn bán người, trong đó có nhiều điểm tương đồng vớikhái niệm của Nghị định thư chống buôn bán người, nhưng do được tiếp cận dướicác góc độ khác nhau, nên không một khái niệm nào đầy đủ, toàn diện như kháiniệm được nêu trong Nghị định thư Palermo Theo quy định của Nghị định thưkhông bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ

em, bổ sung cho Công ước quyền trẻ em thì mua bán trẻ em là “bất kỳ hành động

Trang 18

giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người này sang một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay bất cứ đồ vật

gì khác” [30] Khái niệm này có điểm rộng hơn khái niệm của Nghị định thư

Palermo (không quy định mục đích bóc lột nạn nhân là yếu tố bắt buộc cấu thànhtội phạm), nhưng lại có điểm hẹp hơn khái niệm của Nghị định thư Palermo ở chỗchỉ giới hạn hành vi chuyển giao trẻ em vì lợi nhuận, tức là chỉ điều chỉnh hành vimua hoặc bán Trong khi đó, Nghị định thư Palermo đề cập đến nhiều loại hành vibuôn bán người như tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người

vì mục đích bóc lột [26, 28]

Về khái niệm của tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi, Nghịquyết 02/2019/NQ-HĐTP do Hội đồng thẩm phán TANDTC ban hành hướng dẫnnhư sau:

Mua bán người là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn

khác thực hiện một trong các hành vi sau đây:

- Chuyển giao người để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

- Chuyển giao người để người khác bóc lột tình dục, cưỡng bức lao

động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác [16, Điều 2] Đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi (trước đây gọi là mua bán trẻ em)được quy định, hướng dẫn cụ thể qua các lần pháp điển hóa bộ luật hình sự Thông

tư liên tịch 01/2013/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP, tại Điều 4, quyđịnh về các thuật ngữ được hiểu như sau:

1 “Mua bán trẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật

chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là mộttrong các hành vi sau đây:

Trang 19

a) Bán trẻ em cho người khác, không phụ thuộc vào mục đích của người mua;

cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào;

pháp luật khác [49, Điều 4]

Nghị quyết 02/2019/NQ-HĐTP do Hội đồng thẩm phán TANDTC lại hướng dẫn hành vi đối với tội mua bán người dưới 16 tuổi như sau:

Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:

vật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

lao động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiệnhành vi chuyển giao người; tiếp nhận người dưới 16 tuổi để giao tiền, tài sản hoặc lợi íchvật chất khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

động, lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác[16, Điều 2] Từ đó, cóthể thấy rõ những thay đổi cơ bản trong việc quy định các dấu hiệu cấu thành tội

mua bán người dưới 16 tuổi của BLHS 2015 (Điều 151) so với BLHS

1999 (Điều 120)

Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bánngười dưới 16 tuổi, có thể thấy rằng khái niệm mua bán người dưới 16 tuổi ở ViệtNam đã có một số điểm tương đồng với quy định của pháp luật quốc tế, đó là: đãquy định là tội phạm hình sự đối với hành vi mua bán người có tính chất tổ chức,nhiều lần như quy định của Công ước quốc tế;quy định mục đích mua bán người,mua bán người dưới 16 tuổi để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân, để đưa ra nướcngoài, để sử dụng vào mục đích mại dâm hoặc mục đích vô nhân đạo là các tình tiết

Trang 20

định khung hình phạt; hoặc tuy không quy định cụ thể trong Bộ luật hình sự nhưngcác văn bản hướng dẫn áp dụng đã hướng dẫn về các thủ đoạn phạm tội mua bánngười là môi giới hôn nhân với người nước ngoài trái phép, đưa người đi lao độngnước ngoài trái phép, môi giới nuôi con nuôi trái pháp luật.

Một điểm tương đồng quan trọng giữa pháp luật hình sự Việt nam và quốc tế

là khi đối tượng bị xâm hại là trẻ em thì không cần tính đến việc tội phạm có sửdụng hay không sử dụng các phương thức, thủ đoạn như đe dọa dùng vũ lực haycác hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ

bị thương tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng

ý của một người kiểm soát đối với những người khác Điều đó có nghĩa là, trongtrường hợp trẻ em hoàn toàn đồng tình với hành vi mua bán người của tội phạm thìvẫn bị coi là mua bán trẻ em nếu có hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao trẻ em nhằm mục đích bóc lột

Một điểm tương đồng quan trọng khác là về mục đích (yếu tố để bóc lột): mộttrong những dấu hiệu quan trọng để phân biệt tội buôn bán người dưới 16 tuổi vớicác tội phạm khác chính là yếu tố "bóc lột" nạn nhân Theo Nghị định thư Palermothì mục đích "để bóc lột" là một trong những yếu tố bắt buộc cấu thành tội buôn bánngười, buôn bán người dưới 16 tuổi Đây cũng chính là một trong những dấu hiệuchính để phân biệt tội buôn bán người, buôn bán người dưới 16 tuổi với tội đưangười trái phép qua biên giới và phân biệt với các loại tội phạm khác Chẳng hạncùng là một hành vi đưa người sang bên kia biên giới để thu lợi nhuận nhưng sẽcấu thành tội buôn bán người khi có dấu hiệu chứng minh là nhằm mục đích bóc lộtnạn nhân và sẽ chỉ là tội đưa người trái phép qua biên giới nếu không chứng minhđược mục đích này Pháp luật hình sự Việt Nam cụ thể là BLHS năm 2015 cũng đã

quy định mục đích "để bóc lột" là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm này.

So với trước đây, khi BLHS năm 1999 chưa quy định mục đích “để bóc lột” là

yếu tố cấu thành tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi đã dẫn đến sự khác biệt nhấtđịnh khi xác định tội danh mua bán người, mua bán người dưới 16 tuổi theo pháp luậtViệt Nam và buôn bán người, buôn bán trẻ em theo pháp luật quốc tế trong một

Trang 21

số trường hợp cụ thể Hoặc trong nhiều trường hợp, người bán không cần biết ngườimua sử dụng nạn nhân vào mục đích gì, mà chỉ cần lấy một khoản tiền nhất định Nếungười bán nạn nhân với mục đích để bóc lột (như làm mại dâm, lấy bộ phận cơ thể )thì họ sẽ bị áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng (vì mục đích mại dâm, để lấy bộphận cơ thể của nạn nhân ) đối với hành vi phạm tội của họ Như vậy theo quy địnhcủa pháp luật hình sự Việt Nam trước đây, chỉ cần có hành vi mua hoặc bán người, trẻ

em để lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là cấu thành tội phạm mà không cần có

yếu tố "bằng thủ đoạn và mục đích bóc lột" như quy định của Nghị định thư Palermo.

Động cơ, mục đích của người phạm tội không có ý nghĩa quyết định đối với việc địnhtội danh mà chỉ bị coi là tình tiết định khung tăng nặng

Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn còn có nhiều điểm khác biệt, chưatương thích với khái niệm buôn bán người của pháp luật quốc tế Sự khác biệt rõràng nhất được thể hiện như sau: Luật Trẻ em 102/2016/QH13 của Quốc Hội cóhiệu lực ngày 01/06/2017 quy định như sau: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [40,Điều 1], hay có thể hiểu người dưới 16 tuổi thì được coi là trẻ em Theo đó, kháiniệm "trẻ em" của pháp luật Việt Nam chưa tương thích với Nghị định thư

Palermo và một số văn kiện pháp lý quốc tế khác Pháp luật Việt Nam quy định “trẻ

em là người dưới 16 tuổi”, trong khi đó quy định của Nghị định thư Palermo thì

“trẻ em là người dưới 18 tuổi” [27] Như vậy, trường hợp nạn nhân là người nước ngoài thì dễ dẫn tới sự xung đột giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, điều

này sẽ làm giảm đi hiệu quả của quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng,chống buôn bán người giữa Việt Nam với một số quốc gia

Từ điều 151 BLHS năm 2015, Nghị Quyết 02/2019/NQ-HĐTP cũng như cácquy định của luật pháp quốc tế, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tội mua bánngười dưới 16 tuổi có thể đưa ra định nghĩa như sau:

Tội mua bán người dưới 16 tuổi là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do

người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạmquyền được tự do về thân thể, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và quyềnđược quản lý, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của người dưới 16 tuổi

Trang 22

1.1.2 Sự cần thiết của việc quy định tội mua bán người dưới 16 tuổi trong Luật hình sự Việt Nam.

Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về độ tuổi nhất địnhtrong giai đoạn đầu của sự phát triển con người Sự phát triển mạnh mẽ của quátrình công nghiệp hóa ở châu Âu thế kỷ XVI, XVII và XVIII đã kéo theo tình trạngbóc lột sức lao động trẻ em một cách phổ biến, khắp nơi trên thế giới, rất nhiềuthảm kịch về trẻ em đã diễn ra Thêm vào đó cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I(1914 -1918) đã đẩy hàng triệu trẻ em vào hoàn cảnh khốn khổ Năm 1919, một tổchức cứu trợ trẻ em đã được thành lập ở Anh và Thụy Điển Tổ chức lao động quốc

tế (ILO) đã ban hành một số công ước nhằm bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực laođộng, việc làm và bảo trợ xã hội Năm 1923, người sáng lập ra Quỹ cứu trợ trẻ em

ở nước Anh – bà Eglantuyne Jebb, khởi thảo hiến chương trẻ em Đây được coi làmốc quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em Năm 1924, tuyên ngôn Giơnevơ vềquyền trẻ em được Hội Quốc Liên thông qua, năm 1948 Đại hội đồng Liên HợpQuốc thông qua tuyên ngôn thế giới về quyền con người Năm 1959 Đại hội đồngLiên Hợp Quốc thông qua tuyên ngôn (thứ 2) về quyền trẻ em gồm 10 điểm Tuyênngôn khẳng định “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em điều tốt nhất” Điều

24 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 nêu rõ “Các trẻ em

các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 quy định “Thanh thiếu niên phải đượcbảo vệ chống mọi hình thức bóc lột về kinh tế và xã hội” Một số văn kiện khác nhưTuyên ngôn về việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong các trường hợp khẩn cấp hoặc xungđột vũ trang năm 1974 Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử vớiphụ nữ năm 1979 Quy tắc chuẩn tối thiểu của Liên Hiệp Quốc về việc áp dụng pháp luậtvới người chưa thành niên năm 1985 cũng quy định nội dung tương tự…

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” là câu nói bao hàm đầy đủ ý nghĩa vềTrẻ em Trẻ em hôm nay là tương lai của nhân loại, của thế giới, của mỗi dân tộc,

mỗi cộng đồng, mỗi họ tộc và mỗi gia đình mai sau Như chúng ta cũng đã biết,

14

Trang 23

sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu thiếu niên, nhi đồng tìnhthương yêu và quan tâm đặc biệt Bác thường xuyên quan tâm nhắc nhở và giaonhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em Qua các bài nói, bài viết và bằng những việc làm

cụ thể, Người đã đặt nền tảng tư tưởng và nêu tấm gương sáng về việc bảo vệ,

chăm sóc và giáo dục trẻ em Xây dựng và phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em được

coi là một trong các ưu tiên hàng đầu của nhà nước ta Việc bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em, bảo đảm quyền trẻ em được sống hạnh phúc, vừa là mục tiêu, vừa

là động lực và tương lai phát triển bền vững đất nước Đây là một quá trình và sựnghiệp quốc gia, đòi hỏi sự phối hợp, kết hợp đồng bộ, hiệu quả trách nhiệm và hoạtđộng của toàn hệ thống chính trị với sự nỗ lực của gia đình, nhà trường và toàn xãhội, cũng như các nguồn lực trong nước và quốc tế Theo đó, trẻ em cần và phảiđược coi như những công dân đặc biệt của xã hội, được nhà nước và nhân dânchăm sóc và được dành cho những ưu tiên, cũng như tạo môi trường lành mạnh đểphát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và đạo đức

Ngày 20/11/1989, Liên hợp quốc thông qua và phê chuẩn “Công ước vềquyền trẻ em” bao gồm 54 điều khoản có hiệu lực từ ngày 20/11/1990 Trong lời

mở đầu, công ước đã khẳng định: “Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách củamình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnhphúc, yêu thương và cảm thông…”

Ngày 26/1/1990, Việt Nam đã ký Công ước về quyền trẻ em 1989 và phêchuẩn Công ước ngày ngày 20/2/1990, mà không kèm theo bảo lưu nào Việt Nam

là quốc gia thứ hai trên thế giới và cũng là quốc gia đầu tiên ở châu Á phê chuẩnCông ước này Việc phê chuẩn Công ước đã tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho việc bảo

vệ trẻ em ở Việt Nam, đồng thời cũng đặt ra những nghĩa vụ đối với việc thực thi.Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có một đạo luật chuyên ngành điều chỉnhcác quan hệ xã hội cơ bản liên quan đến trẻ em - Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2016 Luật Trẻ em có các quy định nghiêm cấmcác hành vi như cha mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giámhộ; dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang, lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; cản

Trang 24

trở việc học tập của trẻ em; áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh

dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật …

Luật HNGĐ năm 2014 xác định các nguyên tắc cơ bản: nhà nước, xã hội vàgia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, không thừa nhận sự phân biệt đối xửgiữa các con, con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoàigiá thú Luật HNGĐ nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ,con, cháu, anh, chị, em và các thành viên khác trong gia đình Quyền và lợi ích củatrẻ em còn được thể hiện trong các quy định của chế định con nuôi trên nguyên tắckhuyến khích việc nhận trẻ em có hoàn cảnh khó khăn làm con nuôi, nghiêm cấmlợi dụng việc nuôi con nuôi để thực hiện những hành vi vi phạm đạo đức và phápluật

Bộ Luật Dân sự Việt Nam xác định chế định về năng lực chủ thể pháp luật dân

sự của người chưa thành niên, chế định giám hộ; chế định thừa kế với việc bảo vệquyền lợi cho trẻ em là con nuôi Người chưa thành niên bình đẳng so với các cánhân khác trong năng lực pháp luật dân sự

Là thành viên chính thức của ILO, Việt Nam đã tham gia phê chuẩn nhiềuCông ước của tổ chức này về lao động trẻ em Bộ luật lao động đã giành mộtchương riêng - chương XI về lao động người chưa thành niên và một số lao độngkhác Bộ luật Lao động đã quy định những điều cấm và những nghĩa vụ ràng buộcđối với người sử dụng lao động trong việc sử dụng lao động trẻ em, trong việc bảo

vệ lao động nữ trong thời kỳ thai nghén, nuôi con nhỏ, chỉ được sử dụng trẻ em vàonhững công việc phù hợp với sức khỏe để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực,nhân cách của họ BLLĐ đã quy định những biện pháp chế tài áp dụng đối vớinhững hành vi vi phạm đối với các đối tượng sử dụng lao động Để phù hợp với cácquy định về đỡ đầu, giám hộ được quy định tại Bộ luật Dân sự, Luật HNGĐ, Bộluật Lao động quy định đối với ngành nghề và công việc được nhận trẻ em chưa đủ

15 tuổi vào làm việc, học nghề, tập nghề thì việc nhận và sử dụng những trẻ em nàyphải có sự đồng ý và theo dõi của cha mẹ hoặc người đỡ đầu

Trang 25

Hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã có những quy định tươngđối đầy đủ để xử lý những hành vi vi phạm quyền trẻ em cũng như xử lý nhữnghành vi vi phạm do trẻ em thực hiện Tuổi chịu trách nhiệm hành chính được quyđịnh đối với những người từ đủ 14 tuổi trở lên (từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu tráchnhiệm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; từ đủ 16 tuổi trở lên - về mọihành vi vi phạm hành chính) Pháp lệnh đã quy định khi phạt tiền đối với người từ

đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì người có thẩm quyền áp dụng mức phạt không quá1/2 mức phạt đối với người thành niên Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đángcủa trẻ em còn được thể hiện ở các quy định nghiêm ngặt về tạm giữ người theothủ tục hành chính, khi người chưa thành niên vi phạm bị tạm giữ trên 6 giờ nhấtthiết phải thông báo cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết

Người dưới 16 tuổi (Trẻ em) là đối tượng đặc biệt cần được quan tâm, chămsóc và bảo vệ Một trong các quyền, lợi ích hợp pháp của người dưới 16 tuổi cónguy cơ lớn và trên thực tế bị xâm hại khá nặng nề bởi các loại tội phạm xâm hạiđến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Công cụ pháp lý quan trọng nhấtđược Nhà nước ta sử dụng để bảo vệ trẻ em tránh khỏi những nguy cơ xâm hại kểtrên, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý để trừng phạt nghiêm khắc các đối tượngphạm tội trong lĩnh vực này là các tội phạm quy định tại chương XIV Bộ luật hình

sự năm 2015, bao gồm: Điều 123 Tội giết người, khoản 1, điểm b, giết người dưới

trong khi thi hành công vụ, khoản 2, điểm b, đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết

là có thai; Điều 130 Tội bức tử, khoản 2, điểm b, đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ màbiết là có thai; Điều 133 Tội đe dọa giết người, khoản 2, điểm d, đối với

người dưới 16 tuổi; Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏengười khác, khoản 1, điểm c, đối với người dưới 16 tuổi, người già yếu,…; Điều 140.Tội hành hạ người khác, khoản 2, điểm a, đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết

là có thai,…; Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Điều 144 Tội cưỡng dâmngười từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi; Điều 145 Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan

hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi; Điều 146 Tội

Trang 26

dâm ô đối với người dưới 16 tuổi; Điều 147 Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vàomục đích khiêu dâm; Điều 151 Tội mua bán người dưới 16 tuổi; điều 152 Tộiđánh tráo người dưới 01 tuổi; Điều 153 Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi.

Trong những năm gần đây, tình trạng mua bán người dưới 16 tuổi diễn biếnngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số vụ và số đối tượng phạmtội với tính chất ngày càng nghiêm trọng, nhất là tại các tỉnh biên giới phía Bắc giápTrung Quốc Đảng và Nhà nước đã có các chính sách, biện pháp mạnh mẽ nhằmngăn chặn, phòng ngừa loại tội phạm này Ngày 17/9/1997, Thủ tướng Chính phủ

đã ra Chỉ thị 776/TTg về “Tăng cường trách nhiệm thực hiện các biện pháp ngănchặn việc đưa trái phép phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài” Trong Chương trình quốcgia phòng chống tội phạm được ban hành theo Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày31/7/1998 của Chính phủ đã đưa ra 4 Đề án; trong đó có Đề án 4 quy định một sốnội dung về đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm phạm trẻ em và tội phạm dongười chưa thành niên gây ra Đặc biệt, Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg ngày14/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động phòng chống tộiphạm buôn bán phụ nữ và trẻ em từ năm 2004 đến 2010 đã quy định cụ thể chứcnăng, nhiệm vụ của các cơ quan, ban, ngành trong phòng chống tội phạm mua bánphụ nữ, trẻ em Ngày 30 tháng 11 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyếtđịnh số 312/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt các đề án thuộc Chương trình hànhđộng phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005 đến năm 2010,Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2016 – 2020 của Chính phủ,Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em; Chương trình phòng, chống bạolực đối với trẻ em; Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em và cácchương trình chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em,

Việc mua bán người dưới 16 tuổi thực sự là tội ác, gây nhức nhối cho toàn xãhội và là sự quan tâm đặc biệt của cả xã hội Trẻ em bị buôn bán đã phải rơi vàonhững hoàn cảnh sống rất thương tâm, bị méo mó nhân cách và ảnh hưởng nặng nề

về tâm lý, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sức khỏe, nhân phẩm, tinh thần củatrẻ mà còn tác động tiêu cực đến xã hội Bên cạnh đó, hiện nay đã xuất hiện những

Trang 27

tổ chức, đường dây buôn bán người hoạt động xuyên quốc gia, đe dọa nghiêmtrọng đến quyền được bảo vệ, được sống hạnh phúc của con người nói chung vàcủa trẻ em nói riêng Trước thực trạng đó, việc tiếp tục áp dụng chế tài pháp lý củacác ngành luật tương ứng khác ít nghiêm khắc hơn luật hình sự đối với hành vi muabán người dưới 16 tuổi sẽ không còn đủ sức ngăn chặn nữa Do đó, việc bảo vệngười dưới 16 tuổi bằng Luật Hình sự với các chế tài nghiêm khắc là hết sức cầnthiết BLHS năm 1985 đã tội phạm hóa những hành vi này thành tội bắt trộm, muabán hoặc đánh tráo trẻ em quy định tại Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhângia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên Đến lần pháp điển hóa thứhai, BLHS năm 1999 đã đưa tội này về Chương các tội xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự của con người với tội danh mua bán, đánh tráo hoặcchiếm đoạt trẻ em cho phù hợp với khách thể loại bị xâm phạm Việc quy định tộiphạm này trong BLHS là hết sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác phòng,chống, bảo vệ trẻ em khỏi nạn buôn bán người BLHS năm 2015 coi tội mua bánngười dưới 16 tuổi là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm của con người người thể hiện ở mức hình phạt quy địnhđối với tội phạm này rất nghiêm khắc, hình phạt cao nhất được quy định là tù chungthân Chính vì vậy, việc quy định tội mua bán người dưới 16 tuổi trong BLHS làquan trọng và cần thiết.

1.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của tội mua bán người dưới

16 tuổi trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 2015

1.2.1 Giai đoạn trước khi có BLHS năm 1985

Sau hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến và gần một trăm năm dưới áchthống trị thực dân, người dân Việt Nam được tự do lựa chọn những người có đủtài, đức để gánh vác công việc nước nhà Trong điều kiện “thù trong, giặc ngoài” đeđọa, nhưng nhân dân ta đã tiến hành Tổng tuyển cử thành công, bầu ra Quốc hội;Quốc hội đã cử ra Chính phủ - một Chính phủ thực sự của nhân dân Đồng thời,quyền làm chủ của nhân dân còn được xác định rõ trong Hiến pháp đầu tiên trong

Trang 28

lịch sử Việt Nam - Hiến pháp dân chủ tiến bộ nhất ở khu vực Đông Nam Á, đó là:

“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước làcủa toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo,giai cấp, tôn giáo” (Điều thứ nhất); “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽđưa ra nhân dân phúc quyết” (Điều thứ 32),… Hiến pháp cũng xác định tất cả côngdân đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa; công dân đềubình đẳng trước pháp luật, được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc, cóquyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng,

tự do cư trú, Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không được ai xâm phạmmột cách trái pháp luật Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giamcầm công dân Việt Nam Quyền làm chủ của nhân dân còn được gắn liền với nghĩa

vụ bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật của mọi công dân Bêncạnh đó, Hiến pháp cũng quy định công dân phải tham gia vào công việc của Nhànước, có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xâydựng, bảo vệ và phát triển Nhà nước

Nội dung trên đã thể hiện một cách toàn diện về quyền làm chủ của nhân dânViệt Nam, quyền đó đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp đầu tiên của nước nhà.Những tàn dư, hủ tục của xã hội phong kiến từng bước bị xoá bỏ, thay vào đó là cácquyền cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và đảm bảo, mọi công dân bìnhđẳng trước pháp luật, trong đó có trẻ em Ngay tại Điều 1, Hiến pháp năm 1946 quyđịnh: "Quyền bính trong nước là của toàn dân, không phân biệt nòi giống, trai, gái,giàu, nghèo" Trong những ngày đầu mới thành lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộnghòa vừa phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, vừa từng bước tổ chức xây dựng xã hộimới Để ổn định tình hình đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 47/SLngày 10/10/1945 cho phép áp dụng một số văn bản pháp luật của đế quốc, phong kiếnvới điều kiện là không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thểDân chủ cộng hòa Đây là biện pháp mang tính tình thế cấp bách để ổn định tình hìnhđất nước Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những khu căn cứ cách mạng,những vùng do cách mạng quản lý thì những vụ phạm tội được áp dụng theo Sắc lệnh

số 27/SL ngày 28/2/1946 truy tố các tội bắt

Trang 29

cóc, tống tiền và ám sát; Thông tư số 442/TTg ngày 19/1/1955 về trừng trị một sốtội phạm Những vùng thuộc chính quyền thực dân Pháp quản lý thì áp dụng theo ba

bộ luật cũ ở ba miền: Bắc, Trung, Nam Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp củadân tộc ta đã thắng lợi, hoà bình được lập lại, cách mạng chuyển sang giai đoạnmới, vì vậy, những văn bản pháp luật của đế quốc và phong kiến mặc dù được ápdụng với tinh thần mới vẫn không còn thích hợp nữa Vì vậy, Bộ Tư pháp đã cóThông tư số 19/VHH-HS ngày 30/6/1955 yêu cầu các toà án không áp dụng luật lệcủa đế quốc và phong kiến nữa Văn bản pháp lý này đã tạo cho pháp luật hình sựViệt Nam nói chung cũng như pháp luật quy định các tội xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, nhân phẩm con người sang một giai đoạn mới Toà án xét xử tội phạm nàycăn cứ vào đường lối, chính sách và những văn bản pháp luật do Toà án nhân dântối cao ban hành

Nhìn chung, pháp luật trong giai đoạn sau cách mạng tháng Tám đến trước khiban hành BLHS năm 1985, do những điều kiện lịch sử hạn chế nên còn nhiều thiếusót, chủ yếu là xét xử theo án lệ thông qua công tác tổng kết và hướng dẫn của Toà

án nhân dân tối cao Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn này, chúngtôi nhận thấy chưa có điều luật cụ thể quy định về tội mua bán, đánh tráo hoặcchiếm đoạt trẻ em Việc xét xử tội phạm này (nếu có) căn cứ vào đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước

1.2.2 Quy định về tội mua bán trẻ em trong BLHS năm 1985

Đặc điểm cơ bản nhất của giai đoạn này là Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời làcông cụ quan trọng góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổquốc xã hội chủ nghĩa Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã được sửađổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Qua bốn lần sửa đổi, bổsung có trên 100 lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung Với những sửa đổi, bổsung này luật hình sự đã có sự phát triển đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộcđấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện đổi mới Bộ luật Hình sự đượcQuốc hội thông qua ngày 27 - 6 - 1985 và có hiệu lực từ ngày 01 - 01 - 1985 (Sauđây gọi tắt là BLHS năm 1985) là một dấu mốc quan trọng nhất trong sự phát triểncủa pháp luật hình sự Việt Nam Nó là công cụ quan trọng để đấu tranh chống tội

Trang 30

phạm trong đó có tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em.

Trong BLHS năm 1985, tại Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân giađình và các tội phạm đối với người chưa thành niên, điều 149 quy định về tội bắttrộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em Tội này xâm phạm trực tiếp quan hệ gia đìnhgiữa cha mẹ và con cái (quyền của các em được sống yên vui và phát triển lànhmạnh trong sự chăm sóc của gia đình, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ về việc chămsóc, giáo dục và bảo vệ con cái) cũng như trật tự an toàn xã hội Trẻ em quy định

tại điều luật này bao gồm "các em từ mới sinh đến 15 tuổi" (Điều 3 Pháp lệnh ngày

14-11-1979 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em"

Điều 149 BLHS năm 1985 quy định về tội này như sau: “Người nào bắt trộm,mua bán hoặc đánh tráo trẻ em thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm; phạt tù từnăm năm đến hai mươi năm nếu thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức; đểđưa ra nước ngoài; bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo nhiều trẻ em hoặc gây ra hậuquả nghiêm trọng khác; tái phạm nguy hiểm” [33, Điều 149]

Về khách thể, tội phạm đã xâm phạm trực tiếp quan hệ gia đình giữa cha mẹ

và con cái cũng như trật tự an toàn xã hội

Về mặt khách quan, Điều 149 BLHS năm 1985 quy định hành vi mua bán trẻ emnhư sau: Hành vi mua bán trẻ em là hành vi mua hoặc bán trẻ em nhằm kiếm lời,không kể là mua của chính người có con mang bán hoặc mua bán của kẻ đã bắt trộm.Hành vi này có sự tương đồng, liên kết với hành vi bắt trộm, đánh tráo trẻ em Có thểhiểu việc bắt trộm, đánh tráo trẻ em nhằm thực hiện nhiều mục đích khác nhau, nhưngmục đích chính của tội phạm vẫn là hướng tới hoạt động mua bán trẻ em Cũng có thểchỉ là hành vi mua như trường hợp mua trẻ em biết rằng đã bị bắt trộm dù rằng chỉ để

về nuôi hoặc hành vi bán nhằm tránh thực hiện các nghĩa vụ, do điều kiện kinh tế, Hậu quả của hành vi là làm cho trẻ em phải rời bỏ hẳn gia đình

hoặc nơi đang ở đi theo mình mà không có sự thoả thuận của cha, mẹ hoặc củangười có trách nhiệm chăm sóc, quản lý với mục đích lấy con của người kháckhông kể thủ đoạn thực hiện như thế nào Tội phạm được coi là hoàn thành khi đã

có hành vi mua hoặc bán

Trang 31

Về chủ thể, Điều 149 BLHS năm 1985 quy định chủ thể của các tội này là bất

kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc chung

Về mặt chủ quan, tội này được thực hiện do cố ý Động cơ rất đa dạng, khôngảnh hưởng đến việc định tội nhưng có ý nghĩa quan trọng đến việc quyết định biệnpháp và mức độ xử lý Thông thường là vì tư lợi như bắt trộm trẻ em để mang bán,mua trẻ em để bán kiếm lời, nhận đánh tráo trẻ em để được tiền hoặc vì lạc hậu nhưbắt trộm trẻ em hay mua trẻ em bị bắt trộm để về nuôi vì hiếm con, thuê đánh tráolấy con trai vì tư tưởng trọng nam khinh nữ Cũng có những trường hợp vì động cơ

đê hèn như do thù hằn mà bắt trộm con người khác để phá hoại hạnh phúc gia đìnhhọ… Trường hợp bắt trộm trẻ em không nhằm chiếm đoạt mà chỉ nhằm đòi tiềnchuộc thì không phạm tội bắt trộm trẻ em mà là phạm tội “bắt cóc nhằm chiếm đoạttài sản của công dân” (Điều 132 BLHS năm 1985)

Về hình phạt, theo quy định tại Điều 149 BLHS năm 1985, tội mua bán trẻ em

có hai khung hình phạt và có mức hình phạt nặng nhất (đến 20 năm tù) so với tất cảcác tội ở chương này, do tính chất rất nguy hiểm, không chỉ có khả năng gây tác hạilớn đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ em và đối với hạnh phúc gia đình màcòn cả đối với trật tự an toàn xã hội, gây căm phẫn chính đáng trong dư luận quầnchúng

Đối tượng bị xử lý nghiêm khắc là vì tư lợi hoặc vì động cơ đê hèn mà gâynên những cảnh chia ly Những người vì lạc hậu mà phạm tội bị xử lý nhẹ hơn vàcách thức họ nuôi dưỡng đứa trẻ bị bắt trộm như thế nào thường là một tình tiếtđược xem xét để cân nhắc mức xử phạt thích hợp

Trên tinh thần chính sách xử lý có phân biệt các đối tượng nói trên, khoản 2Điều 149 BLHS năm 1985 có quy định những trường hợp phải xử phạt nặng Trong

số này, ngoài những tình tiết thường gặp ở một số tội phạm khác như phạm tội có

tổ chức, tái phạm nguy hiểm, đáng chú ý là tình tiết “để đưa ra nước ngoài” nhằmvào bọn bắt trộm hoặc mua trẻ em để bán ra nước ngoài, kể cả trường hợp bán chongười nước ngoài biết rõ để họ đưa ra nước ngoài và tình tiết “gây hậu quả nghiêmtrọng khác” nhằm vào bọn tội phạm đã gây tác hại lớn đến sự phát triển

Trang 32

lành mạnh của các em bị mua bán (như gây bệnh tật, thất học,…) hoặc đến hạnhphúc gia đình của người thân (như vì con bị bắt trộm, bị mua bán, bị đánh tráo mà

bố mẹ của đứa trẻ bị lâm bệnh nặng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và sức lao động, ảnhhưởng đến cuộc sống bình thường của gia đình nạn nhân…)

Ngoài ra, Điều 150 BLHS năm 1985 còn quy định hình phạt bổ sung đối vớitrường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm d khoản 2 Điều 149 thì bị phạtquản chế từ một năm đến năm năm

Đến khi ban hành BLHS năm 1999, do việc nhìn nhận lại khách thể loại củatội phạm này không chỉ xâm hại đến quan hệ gia đình giữa cha mẹ và con cái màcòn xâm hại một cách trực tiếp đến quyền của trẻ em được chăm sóc, bảo vệ về tínhmạng, sức khỏe và được phát triển trong môi trường lành mạnh, hạnh phúc nên tộiphạm này đã được đưa về Chương “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nhânphẩm, danh dự của con người” cho phù hợp với khách thể loại bị xâm phạm

1.2.3 Quy định về tội mua bán trẻ em trong BLHS năm 1999(sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam, phát huy thành tựucủa BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và1997) Sau hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm2009) đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo

vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệtốt hơn quyền con người, quyền công dân, thể hiện trên một số điểm lớn như sau

Từ khi được ban hành vào năm 1999, BLHS đã sớm đi vào cuộc sống và phát huyvai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chốngtội phạm Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn diện về các nguyên tắc

xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt cũng nhưviệc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, BLHS một mặt đãthể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống

Trang 33

tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố,xét xử tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; tội phạm về kinh tế, ma túy vàtội phạm tham nhũng qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm,bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Bộ luật hình sự năm 1999 đã có nhiều quy địnhthể hiện tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trongđấu tranh phòng, chống tội phạm, cụ thể như quy định về khoan hồng đối vớingười tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, tự nguyện sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra; về các trường hợp loại trừ hoặc giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự; về miễn trách nhiệm hình sự, miễn giảm hình phạt…

Đặc biệt, BLHS đã quy định chặt chẽ hơn các điều kiện áp dụng hình phạt tửhình; mở rộng diện đối tượng không áp dụng, không thi hành hình phạt tử hình vàthu hẹp diện các tội danh có quy định hình phạt tử hình Các quy định này đã gópphần bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, nâng cao vai trò giáo dục,cảm hóa đối với người phạm tội, đồng thời giáo dục người dân ý thức tuân thủpháp luật, chủ động phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củamình Bộ luật hình sự năm 1999 có những quy định phù hợp với xu hướng chungcủa quốc tế, tạo tiền đề quan trọng cho việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấutranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm mang tính quốc tế, tội phạm có tổchức xuyên quốc gia như tội phạm về ma túy, mua bán người, rửa tiền, khủng bố,tài trợ khủng bố; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao… qua đó, góp phầnvào việc thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về hội nhậpquốc tế

Trong BLHS năm 1999, tại Chương XII Các tội xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Điều 120 quy định về Tội mua bán, đánhtráo hoặc chiếm đoạt trẻ em Việc quy định Tội phạm này trong chương các tội vềtính mạng, sức khỏe thể hiện cái nhìn mới của nhà làm luật Qua đó, có thể thấyđược tính nguy hiểm trong hành vi cũng như hậu quả của loại tội phạm này Khác

Trang 34

với BLHS năm 1985 khi tội phạm chỉ được quy định trong phần các tội xâm phạmđến chế độ hôn nhân gia đình và các tội phạm đối với người chưa thành niên Trẻ

em quy định trong điều luật này là người dưới 16 tuổi (Điều 1, Luật bảo vệ,chămsóc và giáo dục trẻ em năm 2004)

Điều 120 BLHS năm 1999 quy định về loại tội phạm này như sau:

kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm

từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

e) Để đưa ra nước ngoài;

k) Gây hậu quả nghiêm trọng;

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đếnnăm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làmcông việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ mộtnăm đến năm năm [35, Điều 120]

Đây là một tội ghép của ba tội khác nhau là mua bán trẻ em, đánh tráo trẻ em

và chiếm đoạt trẻ em Mua bán trẻ em được hiểu là việc mua hoặc bán trẻ em vìmục đích tư lợi, dù là mua của kẻ bắt trộm hay của chính người có con đem bánhoặc mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm cũng bị xử lý về tội mua bán trẻem; Đánh tráo trẻ em là dùng thủ đoạn hoặc mánh khóe gian lận để thay thế đứa trẻnày bằng đứa trẻ khác; Chiếm đoạt trẻ em là hành vi lấy đứa trẻ của người khác cho

Trang 35

mình bằng các thủ đoạn như dựa vào vũ lực, quyền thế Hậu quả của các hành vitrên là đứa trẻ bị đem ra mua bán, bị đánh tráo, bị chiếm đoạt thoát ra khỏi sự quản

lý của bố mẹ và gia đình

Do các yếu tố cấu thành tội phạm của tội mua bán người và tội mua bán trẻ emtheo quy định của Bộ luật hình sự là tương tự như nhau, độ tuổi của nạn nhân chỉ có

phạm Nếu nạn nhân là người lớn (từ đủ 16 tuổi trở lên) thì người phạm tội bị truy cứutrách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 119 về tội mua bán người, nếu nạn nhân làtrẻ em (người dưới 16 tuổi) thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quyđịnh tại Điều 120 về tội mua bán trẻ em với khung hình phạt nặng hơn Do vậy, trongkhuôn khổ đề tài của luận văn, tác giả chỉ đề cập phân tích hành vi mua bán trẻ em màkhông đề cập đến hành vi đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em

Các dấu hiệu pháp lý của tội mua bán trẻ em theo quy định của BLHS năm

1999 như sau:

dưới 16 tuổi như một hàng hóa để mua, bán, trao đổi nhằm mục đích kiếm lợi Hành viphạm tội đã xâm phạm quyền tự do, thân thể của trẻ em và quyền được quản lý, chămsóc và giáo dục của trẻ em Cao hơn là đã xâm phạm đến quyền con người của trẻ em

Thong-tu-lien-tich-01-2013-TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP Hướng dẫn việc truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người có hành vi mua bán trẻ em quy định:

1 “Mua bán trẻ em” là hành vi dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật

chất khác để trao đổi trẻ em (người dưới 16 tuổi) như một loại hàng hóa; cụ thể là một trong các hành vi sau đây:

người mua;

cho ai và mục đích của người mua sau này như thế nào;

27

Trang 36

d) Mua trẻ em để bóc lột, cưỡng bức lao động hoặc vì mục đích trái pháp luật khác [49, Điều 4].

Các hành vi khách quan trong tội mua bán trẻ em thường được biểu hiện như rủ

rê, lôi kéo, dụ dỗ, lừa dối trẻ em theo người phạm tội hoặc người phạm tội có thể mua

để nuôi, rồi đem bán với động cơ, mục đích vụ lợi Trong thực tiễn đã xảy ra việc tấncông bắt cóc trẻ em để bán qua Trung Quốc Người phạm tội cũng coi trẻ em như hànghóa để mua, bán, trao đổi lấy tiền, hàng hóa hoặc các lợi ích vật chất khác Đối tượngcủa việc mua bán là con người dưới 16 tuổi, không phân biệt giới tính (nam hay nữ) vàngười phạm tội cũng phải nhận thức được hành vi của mình là hành vi mua bán thìmới là hành vi phạm tội Những người thực hiện ở các vai trò chủ mưu, tổ chức, xúigiục hoặc giúp sức cho người thực hiện hành vi mua bán trẻ em đều phải chịu tráchnhiệm hình sự với vai trò đồng phạm Hậu quả của hành vi mua bán trẻ em là trẻ em bịđem ra mua bán, trao đổi như hàng hóa Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến các quyềncủa trẻ em, là đối tượng được pháp luật đặc biệt bảo vệ

tuổi trở lên

không quy định động cơ, mục đích phạm tội, do vậy, người phạm tội thực hiện với bất

kỳ động cơ, mục đích gì thì đều là phạm tội mua bán trẻ em

BLHS năm 1999 đã hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp,

đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội

Bộ luật hình sự năm 1999 tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyềncon người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo

vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường địnhhướng XHCN, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu

tranh phòng, chống tội phạm và tăng cường hội nhập quốc tế Trong đó, tội phạm

đối với trẻ em đặc biệt là tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em được quyđịnh một cách tương đối chi tiết và đầy đủ Nhìn chung, ở giai đoạn này có thể thấycác quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua bán trẻ em đã có một sốđiểm tương đồng với các quy định của pháp luật quốc tế

Trang 37

1.3 Đặc điểm của tội mua bán người dưới 16 tuổi

Đặc điểm (các dấu hiệu pháp lý hình sự) là cơ sở, là những điều kiện cần thiết

để xem xét một hành vi nào đó của chủ thể đã thực hiện có phải là tội phạm haykhông phải là tội phạm Dấu hiệu pháp lý hình sự của tội phạm bao gồm: khách thểcủa tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan củatội phạm

* Khách thể của tội mua bán người dưới 16 tuổi

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ,

bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trong mộtchừng mực nhất định Bất kỳ tội phạm nào cũng xâm phạm đến ít nhất một kháchthể được BLHS xác lập và bảo vệ [58, tr 98]

Theo đó, khách thể của tội mua bán người dưới 16 tuổi là quyền bất khả xâmphạm về thân thể, nhân phẩm và danh dự của con người; quyền được nuôi dưỡng,chăm sóc, quản lý, giáo dục bởi gia đình (cha mẹ, ông bà, người thân, người giám

hộ, cơ sở nuôi dưỡng, cơ sở bảo trợ,…), nhà trường, các cơ quan chức năng cũngnhư của toàn xã hội Trẻ em bị coi như một thứ công cụ, phương tiện hay như mộtthứ “hàng hóa” để các đối tượng phạm tội chiếm đoạt, khai thác hoặc sử dụng vàonhững mục đích nhất định, như trực tiếp nuôi làm con nuôi, bán lấy tiền hoặc lợiích vật chất khác, khai thác tình dục, bóc lột sức lao động bằng cách bắt các em làmcác công việc khổ sai, nặng nhọc

Đối tượng bị xâm hại bởi tội phạm là người dưới 16 tuổi, bao gồm cả giớitính nam và giới tính nữ Người dưới 16 tuổi cũng là đối tượng đặc biệt được Nhànước quan tâm, chăm sóc và bảo vệ

* Mặt khách quan của tội mua bán người dưới 16 tuổi

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm hay là những dấuhiệu của tội phạm biểu hiện ra ngoài thế giới khách quan, gồm các dấu hiệu: hành vinguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vinguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm phạm tội, phươngpháp, thủ đoạn phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội và hoàn cảnh phạm tội [58,

Trang 38

tr 98] Hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu khách quan hay còn gọi là hành vikhách quan, có tính chất bắt buộc của tất cả cấu thành tội phạm Hành vi kháchquan là biểu hiện cơ bản và quan trọng nhất trong mặt khách quan của tội phạm, nógiữ vai trò quyết định và chi phối những yếu tố khác của mặt khách quan Hành vikhách quan bao gồm những biểu hiện của con người ra thế giới khách quan và biểuhiện đó phải được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển, đó chính là kết quả hoạtđộng của ý chí Hành vi khách quan có 3 đặc điểm như sau:

Bất cứ một loại tội phạm nào cũng đều phải có hành vi khách quan, không cóhành vi khách quan thì không có tội phạm Tội phạm mua bán người dưới 16 tuổithể hiện ở hành vi dùng các thủ đoạn khác nhau để tách chuyển trái phép ngườidưới 16 tuổi khỏi sự quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo hộ của gia đình, bố mẹ,người thân, người quản lý hợp pháp để thiết lập sự quản lý đứa trẻ cho mình, khiếntrẻ em phải lệ thuộc hoàn toàn vào mình rồi tùy ý khai thác, sử dụng theo nhữngmục đích nhất định Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội quy định tại Điều 151, Bộluật hình sự năm 2015, có hình thức thể hiện là hành động Tuổi của người bị hại làmột tình tiết thuộc yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan củangười phạm tội

Mua bán người dưới 16 tuổi là thực hiện một trong các hành vi sau đây:

khác, trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

trừ trường hợp vì mục đích nhân đạo;

lấy bộ phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

- Tiếp nhận người dưới 16 tuổi để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ

phận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;

Trang 39

- Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người dưới 16 tuổi để thực hiện hành vichuyển giao người dưới 16 tuổi để nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, (trừtrường hợp vì mục đích nhân đạo) hoặc để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộphận cơ thể hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác [18, tr 167].

Về thủ đoạn phạm tội, đối với tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi nhà làmluật xác định thủ đoạn phạm tội là “dưới bất kỳ hình thức nào” Tội phạm sử dụngnhiều thủ đoạn khác nhau để thực hiện được mục đích phạm tội của mình Mộttrong các thủ đoạn phổ biến là lừa gạt, mua chuộc, rủ rê, lôi kéo, dùng tiền hoặc lợiích vật chất khác để thực hiện hành vi mua bán người dưới 16 tuổi

Về hậu quả, hậu quả trực tiếp trước tiên mà tội phạm mua bán người dưới 16tuổi gây ra là tách chuyển trái phép trẻ em khỏi sự chăm sóc, quản lý của gia đình hoặcngười quản lý hợp pháp, nghĩa là các em bị mất đi quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng,giáo dục, bị đẩy ra khỏi mái ấm gia đình Những hậu quả tiếp theo mà tội phạm có thểgây ra là đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, chà đạp lên nhân phẩm, danh dự của các em:

bị hành hạ về thể xác, đứa trẻ bị ốm đau dẫn đến tử vong, bị mua bán như một thứ

“hàng hóa”, bị đưa ra nước ngoài, bị sử dụng vào mục đích mại dâm,bị lấy bộ phận cơthể, mục đích vô nhân đạo (lao động khổ sai, bị ép phải đi trộm cắp, giết người, ).Những hậu quả gián tiếp kéo theo là người thân của trẻ bỏ công việc để đi tìm kiếmđứa trẻ mất nhiều thời gian, hạnh phúc bị tan vỡ, con cái thiếu sự quan tâm, chăm sóc,dạy dỗ, các thành viên trong gia đình sống trong lo âu, mặc cảm, người thân đi tìmngười nhà dễ có nguy cơ trở thành nạn nhân, tốn kém về tiền bạc; “ảnh hưởng lớn đếncác chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước như chính sách cho người nước ngoàinhận trẻ em làm con nuôi” Ngoài ra tội phạm còn gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự

xã hội; làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh, ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng; làmthiếu hụt lao động, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, tăng gánh nặng kinh tế trongđịa phương trong việc giải quyết hậu quả của nạn nhân của tội phạm mua bán ngườidưới 16 tuổi Vì những hậu quả nguy hại mà tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi cóthể gây ra nên tại Khoản 2,3 Điều 151 BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể các tình tiếtđịnh khung tăng nặng đối với loại

Trang 40

tội phạm này.

* Chủ thể của tội mua bán người dưới 16 tuổi

Chủ thể của tội phạm là cá nhân phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự

và đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể Đối với một số tộiphạm pháp luật có yêu cầu chủ thể là cá nhân phải có thêm các dấu hiệu khác nhưchủ thể có chức vụ, quyền hạn, là chủ thể xác định như điều tra viên, kiểm sátviên, gọi là chủ thể đặc biệt [58, tr 99]

Chủ thể của tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi, trước hết, phải là người đãthực hiện hành vi phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi dưới bất kỳ hình thức nàoquy định tại Điều 151 Bộ luật hình sự năm 2015, có năng lực trách nhiệm hình sự

và đủ 14 tuổi trở lên [41, Điều 12]

* Mặt chủ quan của tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi

Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức, bao giờ hoạt động cũngthống nhất hai mặt bên trong và bên ngoài Tội phạm là một dạng hoạt động có ýthức nên tội phạm gồm mặt bên trong và mặt bên ngoài Hai mặt của hoạt động luônthống nhất với nhau Mặt bên trong không thể thấy được nếu nó không thể hiện rabên ngoài bằng hành vi nguy hiểm cho xã hội, bằng hậu quả tác hại, bằng thời gian,địa điểm, phương pháp, phương tiện,công cụ thực hiện tội phạm [58, tr 99]

Mặt bên trong của tội phạm là diễn biến tâm lý của tội phạm nên diễn biến nàygồm các dấu hiệu: lỗi, động cơ, mục đích của tội phạm

Lỗi của người phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi là lỗi cố ý trực tiếp.Người phạm tội thấy trước được hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy trước đượchậu quả của hành vi đó, tuy nhiên vẫn mong muốn cho hậu quả đó xảy ra

Động cơ phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi là động lực bên trong thúc đẩyngười phạm tội thực hiện hành vi mua bán người dưới 16 tuổi Đối với loại tộiphạm này, động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu định tội, nhưng lại là dấu hiệu

định khung tăng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 151 BLHS năm 2015: “vì

động cơ đê hèn”.

Mục đích phạm tội mua bán người dưới 16 tuổi là điều mà người phạm tội đặt

Ngày đăng: 04/11/2020, 16:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w