Áp dụng pháp luật về xét xử các vụ ánhình sự của tòa án phải tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của xét xử hình sự,các nguyên tắc hiến định đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*************
TRẦN THỊ THU HÀ
VAI TRÒ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN, QUA THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2015
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VAI TRÒ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ 8
XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 9
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 9
1.1.1 Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp luật 9
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật 14
1.2 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhân dân 20
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân 20
1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân 22
1.3 Các giai đoạn áp dụng pháp luật về xét xử vụ án hình sự của tòa án nhân dân 34
1.3.1 Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 35
1.3.2 Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử phúc thẩm 42
1.3.3 Áp dụng pháp luật của tòa án trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự 46
1.4 Vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam 50
1.4.1 Nhận thức chung về nhà nước pháp quyền 50
1.4.2 Vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam 52
Chương 2 Error! Bookmark not defined THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN 62
HÌNH SỰ QUA THỰC TIỄN TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 62
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Hải Phòng 62
2.2 Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng 64
2.3 Kết quả áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng 67
2.4 Đánh giá về ưu điểm trong áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng 74
2.5 Đánh giá về những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng 77
Trang 32.6 Về những bất cập từ các quy định pháp luật và vướng mắc trong thực tiễn
áp dụng pháp luật về xét xử hình sự ở các tòa án nhân dân thành phố Hải phòng77
Chương 3 86
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VAI TRÒ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM 86
3.1 Quan điểm về đảm bảo vai trò áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người 86
3.1.1 Bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp,bảo vệ các quyền con người, quyền công dân 87
3.1.2 Bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phòng chống oan sai trong áp dụng pháp luật của tòa àn về xét xử các vụ án hình sự 89
3.1.3 Đảm bảo tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự, tính công minh, dân chủ của phiên toà hình sự, tạo lập niềm tin của người dân vào công lý, tranh tụng trong xét xử các vụ án hình sự 90
3.1.4 Đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc xét xử hình sự trong áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án 92
3.1.5 Áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự nhằm tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quyền giám sát của nhân dân, của các tổ chức chính trị, xã hội 93
3.2 Các giải pháp bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật về xét xử hình sự của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay ở nước ta 94
3.2.1 Khái quát chung về các nhóm giải pháp cơ bản 95
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự 96
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện Bộ luật hình sự 102
3.2.4 Giải pháp về công tác cán bộ 104
3.2.5 Tổng kết thực tiễn xét xử và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật 108
3.2.6 Tăng cường sự kiểm tra, giám sát đối với hoạt động áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án 109
3.2.7.Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo, trách nhiêm của các tổ chức Đảng đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của tòa án 109 KẾT LUẬN LUẬN VĂN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án cóvai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ quyền con người, quyền côngdân, bảo vệ công lý, công bằng xã hội Áp dụng pháp luật về xét xử các vụ ánhình sự của tòa án phải tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của xét xử hình sự,các nguyên tắc hiến định đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và trong
Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nướcpháp quyền ở nước ta hiện nay
Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật của ngành Tòa án, củng cố lòngtin của nhân dân là trách nhiệm, là thông điệp của ngành tòa án mà Đảng vàNhà nước ta đã xác định, việc đánh giá hoạt động của ngành tòa án không có aibằng dân, đó là bài phátt biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổilàm việc với lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao về kết quả công tác tòa án năm
2014 Chủ tịch nước đã nêu yêu cầu ngành tòa án cần rút kinh nghiệm, kịp thờikhắc phục những tồn tại, nhất là việc án hủy sửa còn diễn ra, tránh tình trạngoan sai, lọt tội phạm để nâng cao chất lượng hoạt động của tòa án[1] Đặc biệt
là đảm bảo thực hiện các nguyên tắc hiến định theo Hiến pháp năm 2013 nhằmđảm bảo chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sựcủa Tòa án nhân dân các cấp
Áp dụng pháp luật trong xét xử vụ án hình sự đúng pháp luật để tạo lậpniềm tin của người dân vào công lý, bảo vệ, bảo đảm quyền, lợi ích chính đángcủa con người về tài sản, danh dự, nhân phẩm, tính mạng
Trang 5Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được, hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế,yếu kém trong áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án donhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Qua các vụ án oan, sai một đặcđiểm chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạm tố tụng nghiêm trọngtrong quá trình tiến hành tố tụng cũng như sự bất cập, lạc hậu, mâu thuẫn trongnhiều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự.
Để góp phần nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằmtăng cường vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự, tôi mạnh
dạn chọn đề tài “Vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự, trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền, qua thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng ” để làm luận văn cao học của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu đề tài vai trò tòa án, về ápdụng pháp luật trong dân sự, hôn nhân, gia đình, về xây dựng đội ngũ thẩmphán về hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói riêng Có thể điểm qua một sốcông trình khoa học sau đây
Luận văn cao học của tác giả Phan Huyền Ly về đề tài Vai trò của tòa ántrong nhà nước pháp quyền", bảo vệ tại Khoa Luật , ĐHQH HN năm 2012;Luận văn cao học về đề tài " Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp đấtđai tại tòa án nhân dân qua thực tiễn của tòa án nhân dân tối cao", của tác giảNguyễn Thị Hồng Minh, đã bảo vệ tại Khoa Luật , ĐHQH HN năm 2014,
Luận văn cao học về đề tài " Xây dựng ý thức pháp luật của thẩm phántrong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay" của tác giả Trần thị ThanhBình, bảo vệ năm 2014 Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Xuân Thân: “Áp dụngpháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”,năm 2004 Luận án tiến sĩ của tác giả: Chu Thị Trang Vân “Hoạt động áp dụngpháp luật hình sự của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt
Trang 6Nam”, năm 2009 Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Đức Hiệp “Áp dụngpháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dân ở tỉnh NinhBình” năm 2004.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Kim Chung “Vi phạm pháp luậttrong hoạt động giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” năm 2005.Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Mạnh Tiến “Tranh tụng tại phiên Tòa -một số vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2005
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Văn Kiểm: “Áp dụng pháp luật tronghoạt động xét xử án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nam Định”, năm 2010 Tácgiả Lưu Tiến Dũng với bài “Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử”, Tạpchí Toà án nhân dân số tháng 5/2005 Bài viết của tác giả Chu Thi Trang Vân : “Vaitrò sáng tạo của Toà án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự”, Tạp chí Lậppháp số 27 tháng 9/2007 Tác giả Nguyễn Ngọc Chí, “ Chức năng của Tòa án trong
tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia
Hà Nội năm 2009; tác giả Đinh Văn Quế,
bài viết “Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, những vấn đề lý luận và thựctiễn”
Đây là những công trình có chất lượng cao, là nguồn tài liệu để tác giảtham khảo cho việc thực hiện luận văn Đồng thời tác giả còn nghiên cứu cácbáo cáo thực tiễn của tòa án TP Hải phòng, các bài viết, bài phát biểu của cáclãnh đạo Đảng, nhà nước gần đây về cải cách tư pháp, về thi hành Hiến phápnăm 2013
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
3.1 Mục đích.
Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở lý luận về vai trò áp dụng pháp luật về xét
xử các vụ án hình sự của tòa án nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nướcpháp quyền, cải cách tư pháp và thi hành Hiến pháp năm 2013 Đề xuất 6
Trang 7trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng ADPL về xét xử các vụ án hình sự của TAND.
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò áp dụng về xét xử các vụ ánhình sự của tòa án
4.2 Phạm vi nghiên cứu.
Tác giả giới hạn phạm vi luận văn cho phù hợp với chuyên ngành lý luận
và lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung phân tích những vấn đề lýluận cơ bản và đánh giá tổng quan về thực trạng, đề xuất quan điểm, giải pháp
áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự mà không đi sâu vàonghiên cứu cụ thể việc áp dụng pháp luật đối với các loại tội phạm cụ thể
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Trang 8Luận văn được tiếp cận trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lenin, các quan điểmcảu Đảng ta về nhà nước pháp quyền, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm củakhoa học pháp lý.
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là: phương pháp phântích, phương pháp tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học
6 Kết cấu luận văn
Bao gồm phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về vai trò áp dụng pháp luật về xét xử các vụ ánhình sự trong bối cảnh xây dựng nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự, quathực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hải phòng
Chương 3 Quan điểm, giải pháp cơ bản đảm bảo vai trò áp dụng phápluật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựngnhà nước pháp quyền Việt nam
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VAI TRÒ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
Trang 9XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
1.1.1 Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức thực hiện pháp luật
Trước khi nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình
sự, và vai trò của hoạt động này, để có cái nhìn toàn diện về cơ sở lý luận, cầnthiết phải tìm hiểu áp dụng pháp luật nói chung trong tất cả các lĩnh vực phápluật
Áp dụng pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật theo lýluận nhà nước và pháp luật Tuy có những đặc trưng riêng song áp dụng phápluật trong xét xử các vụ án hình sự cũng có những đặc điểm chung như cáchình thức áp dụng pháp luật khác
- Khái niệm và vai trò của thực hiện pháp luật
Pháp luật chỉ có ý nghĩa thực sự khi được thực hiện trong cuộc sống, tức
là tính hiện thực của các quy phạm, các nguyên tắc của pháp luật Thực hiệnpháp luật hiện nay đang có nhiều hạn chế, bất cập trong đó có áp dụng phápluật hình sự Nếu các quy định pháp luật không được thực hiện cũng như phápluật xa rời thực tế cuộc sống thì sẽ giảm hoặc mất ý nghĩa, giá trị của pháp luật
Các Mác đã từng khẳng định: “pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội" và, "chừng nào
bộ luật không còn thích hợp với xã hội nữa thì nó sẽ biến thành mớ giấy lộn"[2].
Trong lý luận nhà nước và pháp luật, khái niệm thực hiện pháp luật đãđược quan tâm nghiên cứu và có sự thống nhất về cơ bản
Trang 10Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật[3].
Pháp luật của nhà nước ta ngày càng thể hiện rõ tính pháp quyền, dânchủ, đặc biệt là việc xác định và cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền côngdân Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước ta thông qua, chương 2 “Quyềncon người và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân” được coi là một bước tiếnmới trong nhận thức về quyền con người mà các bản hiến pháp trước đó chưa
có Điều quan trọng đặt ra là việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, đặcbiệt là đảm bảo tính hiện thực của các quyền con người, quyền công dân Phápluật của nhà nước ta là hệ thống các quy tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích củanhân dân, các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân do nhà nước banhành (hoặc thừa nhận), có tính bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thựchiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế; nhằm điều chỉnhcác quan hệ xã hội vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh[3]
Trong bối cảnh đó, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự có vai tròđặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ, bảo đảm quyền con người ở nước tahiện nay Các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế thì chúngmới có ý nghĩa thiết thực Các chế tài trong các quy phạm pháp luật sẽ đượcthực hiện khi có sự xâm phạm đế các quyền, lợi ích của các chủ thể mà phápluật đã ghi nhận và đảm bảo thực hiện cho họ Để thực hiện các quyền, nghĩa
vụ mà pháp luật đã quy định, các chủ thể phải thực hiện đúng các trình tự, thủtục được quy định trong các văn bản pháp luật Tầm quan trọng của thực hiệnpháp luật đã được quan tâm đầy đủ hơn trong những năm gần đây song songvới hoạt động xây dựng pháp luật Chương trình tổng thể cải cách hành chínhnhà nước giai đoạn 2011-2020 đã xác định rõ xây dựng, hoàn thiện quy địnhcủa pháp luật mà trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân 10
Trang 11dân, lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sáchquan trọng và về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quanhành chính nhà nước[4] Như vậy, trên cơ sở ý kiến của nhân dân trong việchoàn thiện các quy định của pháp luật và xây dựng pháp luật thì pháp luật sẽđược nâng cao, có hiệu quả khi được thực hiện trên thực tế.
Đối với hoạt động xây dựng pháp luật, pháp luật dù được ban hành thậtnhiều mà không phù hợp với thực tiễn cuộc sống thì sẽ không có tính khả thi vàdẫn hoạt động áp dụng pháp luật cũng không thể thực hiện được Chính vì vậy,nhà làm luật chỉ ngồi ở văn phòng, hội trường ban hành ra văn bản pháp luậtthôi thì chưa đủ, họ cần phải có kiến thức thực tế về hiện thực xã hội để có thể
dự liệu trước được những điều kiện, hoàn cảnh thực tế đang diễn ra để đưa ranhững quy phạm pháp luật phù hợp
Các chủ thể trong xã hội có các quyền và nghĩa phụ pháp lý trên thực tếkhi và chỉ khi pháp luật thực sự được đưa vào cuộc sống Để việc thực hiệnpháp luật được hiệu quả, các chủ thể trong xã hội từ nhà nước, cá nhân, tổchức, cơ quan có thẩm quyền cho đến công dân, tổ chức xã hội khác phải có ýthức tự giác, có kiến thức và kỹ năng thực hành pháp luật
- Các hình thức thực hiện pháp luật
Khoa học pháp lý truyền thống đã xác định bốn hình thức thực hiện phápluật Căn cứ chủ yếu của sự phân loại này là dựa vào tiêu chí các loại quy phạmpháp luật Đời sống xã hội vô cùng đa dạng nên các quy phạm pháp luật điềuchỉnh quan hệ xã hội cũng hết sức phong phú Tất nhiên, còn có thể có cáchphân loại khác về hình thức, nhưng cách phân loại theo tiêu chí các loại quyphạm cũng có tính hợp lý
Có bốn hình thức thực hiện pháp luật: tuân thủ pháp luật, chấp hành phápluật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Trong bốn hình thức thực hiệnpháp luật, áp dụng pháp luật là một hình thức cơ bản, mang tính chất đặc thù
Trang 12Mặc dù vậy, việc phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối vì các hình thức thực hiện pháp luật luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau.
- Tuân thủ pháp luật, còn gọi là tuân theo pháp luật, là một hình thức
thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hành vi mà pháp luật ngăn cấm.
Nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật là phải tuân thủ pháp luật,không được thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Một khi điều nàykhông được thực hiện, họ chắc chắn sẽ bị các chế tài trong quy phạm pháp luậttrừng phạt hoặc phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định Nhờ vào cácchế tài đó mà việc tuân thủ pháp luật sẽ có tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa đềcho các chủ thể có ý thức tôn trọng và cẩn trọn không để xẩy ra Tuy vậy, cũng
có trường hợp, cá nhân hay tổ chức tuy hiểu biết rất rõ về các quy định cấm củapháp luật song vẫn cố tình vi phạm do rất nhiều động cơ mục đích và nguyênnhân khác nhau
- Thi hành pháp luật, còn gọi là chấp hành pháp luật, là một hình thức
thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực.
Trong một văn bản pháp luật có chứa đựng các quy phạm pháp luật, cácquy phạm pháp luật đưa ra những quyền, nghĩa vụ pháp lý mà chủ thể pháp luậtbuộc phải chịu sự điều chỉnh nhất định Những quy phạm pháp luật chứa đựngtrong nó các nghĩa vụ pháp lý buộc các chủ thể bắt buộc phải thực hiện mộtcách tự giác bằng những hành vi tích cực của mình
Với tính chất bắt buộc phải thực hình những hành vi một cách tự giác màquy phạm pháp luật đã quy định cho họ các nghĩa vụ pháp lý, việc thi hànhpháp luật đòi hỏi mọi chủ thể từ phía nhà nước cho đến mọi cá nhân, công dânđều thực hiện Việc thực hiện này mang ý nghĩa tích cực, chủ động từ phía cácchủ thể trong từng điều kiện hoàn cảnh mà nhà làm luật đã dự trù sẵn Và
Trang 13đương nhiên, nếu các chủ thể không thi hành đúng pháp luật thì sẽ phải gánhchịu những hậu quả pháp lý mà các chế tài đã thể hiện trong các quy phạmpháp luật.
- Sử dụng pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép
Trong nhà nước pháp quyền, sử dụng pháp luật có ý nghĩa xã hội to lớn,thể hiện tính tích cực pháp lý của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là đối với ngườidân trong việc sử dụng có văn hóa pháp luật các quyền hiến định và luật địnhcủa mình
Tuy sử dụng pháp luật không phải là hình thức thực hiện pháp luật mangtính chất bắt buộc, song nhà nước cần đảm bảo những điều kiện cần thiết để các
cá nhân tích cực sử dụng pháp luật một cách đúng pháp luật Bởi vì việc sửdụng pháp luật của cá nhân có ý nghĩa không chỉ đối với họ mà còn đối vớihoạt động của bộ máy nhà nước, khắc phục, khôi phục các quyền con người bịxâm hại, làm lành mạnh hóa các hoạt động quản lý nhà nước
Trong các văn bản pháp luật, có các quy phạm pháp luật nói lên mộtcách rõ ràng, chính xác các quyền pháp lý chỉ gắn liền với một chủ thể nhấtđịnh, và chỉ những chủ thể này mới được thực hiện các quyền đó hoặc phảitrong một điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nào đó thì chủ thể pháp luật mới đượcthực hiện quyền chủ thể của mình Bằng ý chí của mình, các chủ thể thực hiệncác quyền chủ thể mà không bị cưỡng chế bắt buộc từ phía nhà nước hay từphía một chủ thể nào khác trong xã hội Điều đó có nghĩa, pháp luật đã quyđịnh cho chủ thể có các quyền nhất định, nhưng các chủ thể này có thể thựchiện hoặc không thực hiện quyền này, đây chính là đặc điểm của hình thức sửdụng pháp luật so với các hình thức thực hiện pháp luật khác
Trang 14Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Ở Việt Nam hiện nay, quan niệm về “áp dụng pháp luật” dưới góc độhọc thuật còn có những cách tiếp cận khác nhau nhất định Tuy vậy, một quan niệmđược thừa nhận chung về áp dụng pháp luật với tư cách là một hình thức thực hiệnpháp luật chỉ do các cơ quan nhà nước ( hoặc các cá nhân công quyền, tổ chức đượcnhà nước trao quyền ) có thẩm quyền thực hiện
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan Nhànước Nó vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức Nhà nước
tổ chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật Áp dụng pháp luật cũng được coi
là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, đặc biệt ở chỗ chủ thể của ápdụng pháp luật chỉ có thể là các cơ quan nhà nước, các cá nhân, tổ chức đượcnhà nước trao quyền nhằm thực thi quyền lực nhà nước Điểm đặc biệt nàykhác với ba hình thức thực hiện pháp luật ở trên, trong khi ba hình thức thựchiện pháp luật đó có chủ thể bao gồm nhà nước, cá nhân, công dân, tổ chứckhác, tức là tất cả các chủ thể pháp luật trong xã hội Ví dụ hoạt động của côngchức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, đăng ký khai sinh,đăng ký khai tử, là hoạt động áp dụng pháp luật của cá nhân có thẩm quyền,được nhà nước trao quyền nhằm áp dụng pháp luật, đưa các quy định của phápluật về hộ tịch vào trong cuộc sống Đối với với lĩnh vực tư pháp, Viện kiểmsát nhân dân ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định truy tố trước pháp luậthoặc Tòa án nhân dân ra một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì đóchính là hoạt động áp dụng pháp luật của Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân
Trang 15nhằm áp dụng pháp luật, đưa các quy định của Luật hình sự, Luật tố tụng hình
sự và các luật chuyên ngành khác đi vào cuộc sống
Trong hoạt động thực hiện pháp luật, sự phân biệt giữa hoạt động ápdụng pháp luật và thi hành pháp luật cũng chỉ là mang nghĩa tương đối Bởi lẽtrên thực tế, hai hoạt động này có sự giao thoa với nhau trong quá trình thựchiện pháp luật bởi các chủ thể của việc thi hành pháp luật và áp dụng pháp luậtđều có trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đã quy định.Chính vì vậy, việc áp dụng pháp luật cũng có thể được coi như là một hoạtđộng thi hành pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật
Không chỉ có sự tương đối giữa áp dụng pháp luật với thi hành pháp luật
mà áp dụng pháp luật khi phân biệt với các hình thức thực hiện pháp luật cũngmang nghĩa tương đối Điều này có nghĩa là các hình thức thực hiện pháp luật ởmột góc độ nào đó thì chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau để từ đó các chủthể có cách thức thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật
Pháp luật được đi vào cuộc sống được thông qua việc áp dụng pháp luật
từ phía nhà nước, và nhờ vào nó mà nhà nước bằng chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của mình mà điều chỉnh, quản lý các lĩnh vực trong đời sống xã hộisao cho chúng diễn ra một cách có trật tự và giúp cho nhà nước hoạt động đượchiệu quả hơn Do vậy, sự xuất hiện của nhà nước trong hoạt động áp dụng phápluật sẽ càng làm cho các quy định của pháp luật được đảm bảo thực hiện trênthực tế hơn là chỉ tồn tại hoạt động tuân theo pháp luật, chấ p hành pháp luật và
Trang 16thực hiện hành vi trộm cắp tài sản theo quy định của BLHS, nhưng không phảingay sau đó trách nhiệm hình sự tự động phát sinh và công dân A tự giác chấphành các chế tài tương xứng Vì vậy cần phải có hoạt động áp dụng pháp luậtcủa các cơ quan tiến hành tố tụng để ra bản án đối với A và buộc A phải chấphành hình phạt đó Liên hệ như trường hợp phạm tội của Lê Văn Luyện ở BắcGiang, Luyện thực hiện hành vi trộm cắp rồi giết người nhưng những hành vinày không mặc nhiên bị xử lý mà phải có hoạt động áp dụng pháp luật của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền: sự tham gia của cơ quan điều tra ra quyếtđịnh khởi tố, viện kiểm sát ra quyết định truy tố và tòa án xét xử và tuyên bốbản án Từ chức năng, nhiệm vụ vai trò của mình, tòa án nhân dân, viện kiểmsát nhân dân hay cơ quan điều tra sẽ áp dụng các quy định của bộ luật hình sự,
bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết một cách chính xác các vụ án hình sự xảy
ra trong xã hội
Thứ hai, áp dụng pháp luật cần thiết khi các những quyền và nghĩa vụpháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sựcan thiệp của Nhà nước Ví dụ, pháp luật có quy định công dân có quyền tự dokinh doanh, nhưng quyền này chỉ phát sinh khi công dân làm thủ tục đăng kýkinh doanh và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh Quyền đó có thể bị chấm dứt nếu công dân đó vi phạmpháp luật
Sự tham gia từ phía nhà nước (những cá nhân, tổ chức được nhà nướctrao quyền) là điều kiện quyết định để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt cácquyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định của các chủ thể pháp luật Ví dụ: theo quyđịnh tại Điều 36 Hiến pháp 2013 thì nam nữ có quyền kết hôn, ly hôn Mặc dùvậy quyền kết hôn, ly hôn đó của nam nữ sẽ không được thực hiện nếu nhưkhông có sự tham gia từ phía nhà nước, cụ thể là Ủy ban nhân xã có thẩmquyền trong việc thực hiện đăng ký kết hôn hay tòa án nhân dân ra quyết định
ly hôn Do vậy, quyền và nghĩa vụ pháp lý của hai bên nam nữ sẽ phát sinh 16
Trang 17hoặc chấm dứt sau khi có sự can thiệp từ phía Ủy ban nhân dân xã cấp giấychứng nhận đăng ký kết hôn hay tòa án ra quyết định ly hôn.
Thứ ba, cơ quan nhà nước áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp về
các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể Nhà nước đóng vai trò làm bênthứ ba trong trường hợp này là nhằm mục đích giải quyết tranh chấp để phápluật được thực hiện một cách nghiêm minh trên thực tế
Thứ tư, áp dụng pháp luật cần thiết trong hoạt động thanh tra, kiểm tra,
giám sát việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trong xã hội Đồng thời, nhànước cũng đứng ra để xác thực một sự kiện pháp lý xảy ra trên thực tế mà phápluật đã quy định Trong trường hợp này điển hình nhất là việc các bên tham giacác giao dịch dân sự được công chứng tại các phòng công chứng nhà nước, cáccông chứng viên của phòng công chứng nhà nước đứng ra chứng nhận tính hợppháp, tính xác thực của các hợp đồng giao dịch đó
- Đặc điểm của áp dụng pháp luật
Là một hình thức thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật có những đặc điểm riêng bên cạnh những đặc điểm chung như các hình thức pháp luật khác,
- Thứ nhất, tính quyền lực nhà nước của áp dụng pháp luật
Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan Nhà nước hay nhàchức trách có thẩm quyền tiến hành Cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyềnđược thay mặt nhà nước thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật theo đúngnhiệm vụ và chức năng của họ mà pháp luật đã quy định
Áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng vàcác chủ thể có liên quan Hoạt động áp dụng pháp luật có mang tính quyền lựcnhà nước nên nó được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các hình thức cưỡngchế, giáo dục và thuyết phục Các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền, được nhànước trao quyền thực thi quyền lực nhà nước sẽ căn cứ quy định pháp luật để
Trang 18đưa ra quyết định áp dụng pháp luật có giá trị pháp luật thi hành đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan.
- Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động phải tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định
Hoạt động áp dụng pháp luật phải thực hiện hoạt động áp dụng pháp luậttheo đúng những quy trình, thủ tục mà pháp luật đã quy định Ví dụ, việc giảiquyết một vụ án hình sự phải tiến hành theo những quy định cụ thể của Bộ luật
Tố tụng Hình sự; hoặc việc xử phạt hành chính được điều chỉnh bởi những quyphạm, thủ tục xử phạt hành chính Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cácbên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặtcác quy định về thủ tục luật định để đảm bảo quyền, lợi ích của cá nhân, tổchức, đảm bảo nguyên tắc pháp chế
Trong từng trường hợp cụ thể, chủ thể áp dụng pháp luật phải thực hiệnhoạt động áp dụng pháp luật theo đúng những quy trình, thủ tục mà pháp luật
đã quy định Tương ứng với từng lĩnh vực mà hoạt động áp dụng pháp luật cóthể gây bất lợi hoặc có lợi cho các đối tượng chịu sự điều chỉnh của luật Từ đó,việc áp dụng pháp luật phải thật chính xác đầy đủ để tránh tình trạng áp dụngkhông đúng quy định của pháp luật khiến cho các đối tượng đáng ra đượchượng lợi thì lại phải gánh chịu hậu quả nặng nề, hoặc đối tượng đáng ra bị xử
lý nghiêm minh thì lại ung dung ngoài vòng pháp luật
-Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối vớicác quan hệ xã hội nhất định
Bằng hoạt động áp dụng pháp luật những quy phạm pháp luật nhất địnhđược cá biệt hóa vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống Một tìnhhuống xảy ra trong thực tế được chủ thể áp dụng pháp luật áp dụng một cáchchính xác các điều luật mà ở đó đã dự liệu được sẵn tình huống này xảy ra trênthực tế Sau khi xem xét, đối chiếu tình huống thực tế và quy định của pháp
Trang 19luật, các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền sẽ đưa ra những mệnh lệnh
cá biệt để đưa những quy phạm pháp luật đã được luật định đó áp dụng vàođúng trường hợp đang diễn ra trong đời sống Ví dụ: công dân A là công dânViệt Nam đã câu kết với phần tử phản động có hành vi chống phá chế độ, phảnbội Tổ quốc, trong trường hợp này, trên cơ sở pháp luật hiện hành, công dân A
sẽ bị xử lý theo Điều 78 BLHS về tội phản bội Tổ quốc
-Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo
Thực tiễn cuộc sống diễn ra vô cùng đa dạng, phong phú, mà quy địnhpháp luật thì phải cô động, như là một công thức chung để áp dụng vào “ 101”tình huống khác nhau trong thực tiễn Do vậy, đòi hởi tính sáng tạo của áp dụngpháp luật, nhưng là sự sáng tạo trên các nguyên tắc của pháp luật
Yêu cầu đối với áp dụng pháp luật là các cơ quan nhà nước có thẩmquyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó
để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành.Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vậndụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự Điều đó đồi hởicác chủ thể của hoạt động áp dụng phải có kiến thức, kỹ năng và bản lĩnh nghềnghiệp, có đạo đức nghề nghiệp thì mới có thể phân tích, đánh giá tình huống
để đưa ra một cách giải quyết đúng pháp luật Có như vậy, quyết định áp dụngpháp luật mới được tâm phục, khẩu phục, có tính khả thi Kết quả áp dụng phápluật chủ yếu được thể hiện bằng các văn bản áp dụng pháp luật, hay còn gọi làvăn bản pháp luật cá biệt do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chứctrách hoặc các tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sởpháp luật về nội dung và thủ tục để xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thểcủa cá nhân, tổ chức hoặc xác định trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạmpháp luật Văn bản áp dụng pháp luật có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện
Trang 201.2 Khái niệm, đặc điểm áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của tòa án nhân dân
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
Áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của TAND là một trongnhững dạng áp dụng pháp luật nói chung do các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện Về thuật ngữ, trong thực tế cũng có cách sử dụng khác như áp dụng pháp luật hình sự về xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân Tuy
vậy, khi dùng khái niệm áp dụng pháp luật ở đây có thể còn bao hàm ý nghĩarộng hơn, vì theo nguyên tắc pháp quyền, tòa án ngoài việc căn cứ vào phápluật hình sự còn phải căn cứ vào Hiến pháp để giải quyết vụ án hình sự
Trong luận văn này, như đã nêu ở phạm vi nghiên cứu đề tài luận văn,tác giả xin được giới hạn vào áp dụng pháp luật hình sự về xét xử các vụ ánhình sự của tòa án nhân dân
Xét về bản chất, ADPL hình sự của Tòa án là một hình thức áp dụng pháp luật do Tòa án tiến hành, áp dụng quy phạm pháp luật tố tụng hình sự
và quy phạm pháp luật hình sự để giải quyết các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền và thực hiện một số nhiệm vụ trong giai đoạn thi hành án hình sự.
Để nhận thức đầy đủ về áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử các vụ ánhình sự của tòa án, cần thiết xác định vị trí của hoạt động này trong toàn bộhoạt động tố tụng hình sự theo quy định pháp luật hiện hành
Hoạt động giải quyết án hình sự của TAND là một giai đoạn trong toàn
bộ quá trình giải quyết án hình sự
Theo quy định hiến hành, tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.
Trang 21Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, hoạt động giảiquyết án hình sự là toàn bộ quá trình hoạt động từ khởi tố, điều tra, hoạt độngtruy tố đến hoạt động xét xử (sơ thẩm; phúc thẩm) và thi hành án hình sự Giámđốc thẩm, tái thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong giải quyết
tố tụng chuẩn, tránh sai sót và làm oan cho người vô tội, bỏ lọt người phạm tội.Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án được gọi là quá trình tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật.
Như vậy, theo quy định của BLTTHS, xét xử vụ án hình sự của Toà án làmột giai đoạn chuyển tiếp sau giai đoạn điều tra, truy tố Xét xử là chức năngđặc trưng của tòa án đã được xác định trong Hiến pháp Bản chất của hoạt động
Trang 22xét xử vụ án hình sự của tòa án nhân dân thực hiện là nhằm định tội danh vàhình phạt đối với các chủ thể phạm tội.
Sau khi tiếp nhân hồ sơ từ Viện kiểm sát, Tòa án tiến hành các thủ tục tốtụng cần thiết như: áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn, quyết định đưa vụ
án ra xét xử…Nhiệm vụ quan trọng nhất của tòa án với tư cách là cơ quan cóchức năng xét xử vụ án hình sự là xác định tội danh và quyết định hình phạtđược giải quyết thông qua phiên tòa xét xử hình sự
Xét từ phương diện pháp luật thủ tục và pháp luật nội dung, Áp dụng Bộluật hình sự (BLHS) là ADPL về nội dung ( áp dụng pháp luật vật chất ), còn
đó để tạo lập niềm tin của xã hội vào công lý
1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự của Tòa
án nhân dân.
Áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của TAND là mộttrong những hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩmquyền cho nên cũng có những đặc điểm chung như của các loại hình áp dụngpháp luật nói chung Đồng thời, áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình
sự của TAND lại có những đặc điểm riêng xuất phát từ đối tượng xét xử, từ
Trang 23chức năng, nhiệm vụ của Tóa án nhân dân trong bộ máy nhà nước Trong điềukiện nhà nước pháp quyền, tổ chức thi hành Hiến pháp năm 2013, cần có sự bỏsung, tiếp cận mới đầy đủ hơn về Tòa án nhân dân nói chung, về áp dụng phápluật trong xét xử vụ án hình sự nói riêng.
Yêu cầu của ADPL trong xét xử các vụ án hình sự của TAND là đảmbảo tính khách quan của một vụ án cụ thể, đảm bảo việc lựa chọn đúng các quyphạm pháp luật hình sự và đưa ra một bản án đúng đắn đối với người phạm tội,không làm oan cho người vô tội Hoạt động ADPL trong xét xử vụ án hình sựcủa tòa án vừa phải tuân thủ đúng quy định pháp luật về thủ tục, vừa phải ápdụng đúng các quy định pháp luật về nội dung và kết quả được thể hiện ở việcđịnh tội danh và quyết định hình phạt
Hoạt động ADPL trong xét xử vụ án hình sự của tòa án có những đặcđiểm cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất, áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự
là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nhân danh công lý do Tòa án thực hiện
Tòa án là cơ quan duy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có thẩm quyền xét xử Điều 102 của Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa
án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Hoạt động ADPL HS của Tòa án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongtoàn bộ qúa trình giải quyết vụ án hình sự Thông qua phiên tòa xét xử côngkhai, mọi kết quả điều tra, truy tố, các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiếttăng nặng, giảm nhẹ, được thẩm vấn, đối chất, tranh luận, làm sáng tỏ các tìnhtiết của vụ án tại phiên tòa Việc xét xử phải tuân thủ đúng thủ tục luật định và
Trang 24các quy phạm pháp luật về nội dung, không nên coi nhẹ quy trình thủ tục, điều
mà có thể nói thời kỳ trước đây còn có sự xem nhẹ
Trên cơ sở đánh giá toàn diện vụ án, hội đồng xét xử đưa ra quyết định
về tội danh và hình phạt đối với chủ thể phạm tội Chỉ có hội đồng xét xử nhândanh nhà nước mới có quyền quyết định một người có tội hay không, tội danhđược quy định tại điều khoản nào của Bộ luật hình sự và buộc người phạm tộiphải chịu hình phạt tương xứng, đồng thời minh oan cho người không phạm tội
bị truy tố
Hoạt động áp dụng pháp luật của Hội đồng xét xử là trọng tâm của hoạtđộng tố tụng hình sự Các giai đoạn tố tụng trước khi xét xử cũng như tại phiêntòa đều nhằm giúp cho hội đồng xét xử đưa ra một phán quyết chính xác, đúngpháp luật Hoạt động ADPL trong xét xử các vụ án hình sự phải phù hợp vớiHiến pháp năm 2013, các văn bản của Đảng và nhà nước về cải cách tư pháp
Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của tòa án phải đảmbảo các nguyên tắc về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, của tòa ánnhân dân và phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù theo quy định của Bộ luậthình sự, bộ luật tố tụng hình sự
Theo Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước phápquyền, khi tiến hành xét xử, tòa án nhân dân các cấp cần quán triệt sâu sắc banguyên tắc quan trọng đã được Hiến định, là: Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độclập và chỉ tuân theo pháp luật; tranh tụng trong xét xử được bảo đảm và quyềnbào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự đượcbảo đảm
Đồng thời những nguyên tắc cơ bản khác trong áp dụng pháp luật trong hoạtđộng xét xử án hình sự của tòa án cũng phải được tuân thủ nghiêm ngặt nhằmđảm bảo cho tính khách quan, công bằng của các bản án, bảo vệ công lý,quyền, lợi ích của con người, trật tự an toàn xã hội và phát triển đất nước như
Trang 25nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo,nguyên tắc hai cấp xét xử, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắcbảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nguyên tắc không
ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Trong quá trình xét xử, yêu cầu cao nhất là bảo đảm ra bản án, quyếtđịnh đúng pháp luật, mang lại công lý cho mọi người, không được để xảy ra ánoan và bỏ lọt tội phạm[5] Chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật trong hoạt độngxét xử bao giờ cũng là hội đồng xét xử án hình sự Hội đồng xét xử sơ thẩmgồm thẩm phán và hội thẩm nhân dân Điều 185 BLTTHS năm 2003 quy định
“Thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán và hai hội thẩmnhân dân Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì thànhphần hội đồng xét xử gồm 2 thẩm phán và 3 hội thẩm nhân dân” Các quyếtđịnh của hội đồng xét xử hình sự sơ thẩm, chủ yếu là bản án hình sự sơ thẩm vàsau khi tuyên án (ban hành) một thời gian nhất định, hết thời hạn kháng cáo,kháng nghị mới có hiệu lực pháp luật
Theo quy định tại điều 15, 16, 17 BLTTHS năm 2003 thì khi xét xử thẩmphán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, hội thẩm nhândân ngang quyền với thẩm phán, hội đồng xét xử cả sơ thẩm và phúc thẩm đềuthảo luận và quyết định theo đa số Vì vậy quyết định của hội đồng xét xử làquyết định mang tính tập thể của đa số thành viên hội đồng xét xử
Điều 224 BLTTHS năm 2003 quy định thành phần của hội đồng xét xửphúc thẩm gồm 3 thẩm phán trong trường hợp cần thiết có thêm 2 hội thẩmnhân dân Quyết định của hội đồng xét xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luậtngay sau khi tuyên án
Tuy rằng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án là sự tiếptục sau giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và phải căn cứ vào kết qủa điều tra,truy tố của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, nhưng đồng thời hoạt động xét xử
Trang 26là một giai đoạn tố tụng độc lập Hội đồng xét xử không chỉ căn cứ vào tài liệuchứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập mà hội đồng xét xử cònphải căn cứ vào thực tế của quá trình thẩm tra, thẩm vấn, tranh tụng tại phiêntòa để đưa ra các quyết định tương ứng như: trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung,đình chỉ vụ án, tuyên bố bị cáo vô tội hoặc có tội.
Thẩm quyền của Tòa án là nhân danh Nhà nước, nhân danh công lý đểthực hiện hoạt động xét xử thông qua phiên tòa xét xử để ra bản án xác định tộidanh và hình phạt đối với người phạm tội hoặc tuyên bố sự vô tội của mộtngười một công dân có tội hay vô tội Chính vì vậy, trọng trách nặng nề và ýnghĩa xã hội rất lớn lao đối với hoạt động xét xử của tòa án luôn là một trongnhững vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Điều này đặt lên vai ngườithẩm phán, hội thẩm nhân dân nhiêm vụ nặng nề và chỉ được thực hiện bằng ýthức trách nhiệm đạo đức, pháp lý, năng lực chuyên môn và bản lĩnh nghềnghiệp với tư cách là người cầm cân nẩy mực, thiết diện vô tư
Áp dựng pháp luật trong xét xử hình sự là lao động trí tuệ, đặc thù bởi nóliên quan đến quyền, lợi ích, đến danh dự, tài sản, kể cả trong một số trườnghợp là cả tính mạng của con người Chế tài hình sự là những biện pháp cưỡngchế lớn nhất, mạnh mẽ nhất của Nhà nước đối với người phạm tội, ảnh hưởngtrực tiếp đến tính mạng, tự do, danh dự, tài sản, nhân thân, uy tín của công dân
mà hình phạt cao nhất có thể áp dụng là loại bỏ người phạm tội khỏi đời sống
xã hội (tử hình) và chỉ Toà án là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử, cóquyền đưa ra quyết định cuối cùng để xác định tội phạm và hình phạt Vì vậy,đòi hởi sự cẩn trọng đối với Hội đồng xét xử đối với số phận của mỗi cá nhântrong mỗi vụ án cũng như đối với quyền, lợi ích của toàn xã hội
Đặc điểm thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự của Toà án nhân dân chủ yếu được tiến hành tại phiên tòa công khai.
Trang 27Áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự góp phần thúc đẩy hoạt độngđấu tranh phòng chống tội phạm được diễn ra một cách kịp thời Các vụ ánhình sự được TAND giải quyết một cách hợp pháp, nhanh chóng để có thể đápứng được nhu cầu của xã hội cần được giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân được thực hiện trên thực tế Với tình hình tộiphạm ngày nay diễn ra ngày càng phức tạp, hoạt động áp dụng pháp luật hình
sự của tòa án không chỉ cần đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp bách của xã hội mà
nó cần phải được thực hiện một cách công bằng, hợp pháp ADPL của tòa ánphải tôn trọng và đảm bảo quyền được xét xử công bằng Chỉ có như vậy mọitình tiết trong vụ án mới được làm sáng tỏ một cách trung thực và Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân mới đảm bảo được nguyên tắc độc lập khi xét xử
Từ khi nhận được hồ sơ vụ án cho đến khi ban hành bản án, quyết định thihành án, Tòa án tiến hành nhiều hoạt động áp dụng pháp luật như: Quyết định việctạm giam, quyết định đưa vụ án ra xét xử…do thẩm phán chủ tọa, chánh án, phóchánh án tiến hành theo quy định tại điều 38, 39 BLTTHS năm 2003
Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự được biểu hiện tập trung ở kết quả
là Tòa án là quyết định tội danh và hình phạt, hoạt động này phải được tiếnhành tại phiên tòa công khai, trừ trường hợp đặc biệt phiên tòa cần giữ bí mậtNhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sựtheo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín theo quy định tại điều 18BLTTHS năm 2003, nhưng tuyên án phải công khai
Các phiên tòa hình sự được tổ chức trang nghiêm, theo trình tự thủ tụcchặt chẽ, hoàn toàn công khai, dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa Mọicông dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền dự phiên tòa Các cơ quan truyềnthông, báo chí đều có quyền tham dự và đưa tin về phiên tòa Bản án được gửicho tất cả những người tham gia tố tụng, cơ quan hữu quan, chính quyền địaphương nơi bị cáo cư trú
Trang 28Phiên tòa hình sự là trọng tâm của việc giải quyết vụ án hình sự, trước sựchứng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân, nhân chứng, người liên quan,
bị hại, luật sư, giám định viên…, toàn bộ tài liệu chứng cứ thu thập trong quátrình điều tra, truy tố được xem xét, đánh giá, thẩm tra, thẩm vấn, đối chất,tranh tụng công khai, làm sáng tỏ các tình tiết, nội dung của vụ án tại phiên tòa
Sự công khai đòi hỏi thành phần tham dự phiên tòa từ những cá nhân, cơquan truyền thông báo chí đưa thông tin về phiên tòa để có sự cập nhật cho xã hộimột cách kịp thời Nội dung vụ án hình sự khi được công khai đến xã hội sẽ phầnnào răn đe, giáo dục công dân trong việc phòng, chống tội phạm Đồng thời, việc
áp dụng pháp luật hình sự công khai tại phiên tòa cũng nói lên được tính khả thicủa pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện từ phía chủ thể là tòa án nhân dân.Ngoài ra, khi bản án, quyết định của TAND được ban hành thì nó phải được côngkhai gửi tới người tham gia tố tụng tại phiên tòa hay các chủ thể khác có liên quannhư cơ quan thi hành án, ủy ban nhân dẫn xã, phường, thị trấn trong việc tạo điềukiện cho cơ quan thi hành án thực hiện nhiệm vụ của mình
Theo luật định, bị cáo được quyền tự do trình bày ý kiến của mình về lờibuộc tội của cơ quan công tố, đối chất với bị hại…luật sư có quyền đưa ra cácchứng cứ, quan điểm, tranh luận với kiểm sát viên duy trì công tố tại phiên tòa
để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình (Luật sư có thể là người bảo vệquyền lợi cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan)
Trong điều kiện hiện nay, tòa án các cấp cần tiếp tục triển khai thực hiệntốt Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) và các Nghịquyết của Quốc hội, trong đó tập trung thực hiện những giải pháp đột phá làtiếp tục đổi mới thủ tục tranh tụng tại phiên tòa xét xử theo hướng thực chất,bảo đảm dân chủ, công khai, đúng quy định của pháp luật Tại phiên tòa, hộiđồng xét xử nghe tranh luận giữa luật sư với kiểm sát viên về các tình tiết của
vụ án, thẩm vấn và nghe lời trình bày của bị cáo, bị hại, nhân chứng, người liên
Trang 29quan, giám định viên, xem xét vật chứng… để xác định sự thật của vụ án, làm
rõ các dấu hiệu cấu thành tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tạo điềukiện thuận lợi cho các bên trình bày quan điểm, ý kiến của mình về vụ án
Phần nghị án là phần cuối của quy trình xét xử để đưa ra phán quyết củatòa án Sau khi xem xét toàn bộ các tình tiết,chứng cứ, nội dung của vụ án tạiphiên tòa một cách khách quan toàn diện, Hội đồng xét xử tiến hành nghị án,biểu quyết về việc bị cáo có tội hay không có tội; quy phạm nào cần được ápdụng trên cơ sở tội danh của các bị cáo, vấn đề lượng hình cũng phải được xácđịnh một cách thận trọng, các biện pháp trách nhiệm pháp lý khác như bồithường, án phí, hình phạt bổ sung Chủ tọa phiên tòa tuyên án (công bố bảnán)và tuyên bố kết thúc phiên tòa
Tính công khai của phiên tòa xét xử là sự thể hiện bản chất và nguyên tắccủa một nền tư pháp dân chủ, minh bạch và công bằng, góp phần đảm bảo tínhkhách quan, không thiên vị của hoạt động xét xử các vụ án hình sự trong bốicảnh xây dựng nhà nước pháp quyền
Kết quả áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự của tòa ánđược biểu hiện ở bản án – văn bản áp dụng pháp luật trên cơ sở các văn bảnquy phạm pháp luật, được soạn thảo, công bố tại phiên toà Dư luận xã hội đặcbiệt quan tâm đến kết luận của các bản án, do vậy người làm công tác xét xửphải có trình độ chuyên môn rất vững vàng, bản lĩnh pháp lý, độc lập kháchquan để có thể đưa ra được quyết định đúng đắn
Có rất nhiều hoạt động để đảm bảo việc xét xử được độc lâp, khách quansong có thể nói phiên tòa hình sự là nơi thể hiện các giá trị dân chủ, nhân văncủa nền tư pháp dân chủ, nơi các thẩm phán là công việc “ ở đời và làm người “như Bác Hồ đã từng căn dặn cán bộ ngành tư pháp: “:" Nghĩ cho cùng, vấn đề
tư pháp cũng như mọi vấn đề khác, trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người ,
Trang 30ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ,
Áp dụng pháp luật dù ở lĩnh vực nào, dân sự hay hành chính, tư pháp hayquản lý hành chính thì cũng đều phải tuân thủ quy trình thủ tục pháp lý, songđối với áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết vụ án hình sự yêu cầunày lại có tầm quan trọng đặc biệt bởi tính chất nghiêm khắc của các chế tàihình sự, có thể ảnh hưởng đến các lợi ích vật chất và tinh thần của con ngườinhư quyền tự do, tính mạng, tài sản, danh dự nhân phẩm
Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của BLTTHS là cơ sở, điều kiện bắtbuộc để đảm bảo cho việc ADPL hình sự được chính xác, khách quan Cho nênquá trình áp dụng pháp luật của Tòa án phải vừa áp dụng đúng các đắn các quyphạm pháp luật về nội dung, vừa phải áp dụng đúng các quy phạm pháp luật về
tố tụng mới đảm bảo cho việc ban hành bản án hợp pháp, đúng người, đúng tộiđúng pháp luật
Trong áp dụng pháp luật tại Tòa án những người tiến hành tố tụng phảihết sức vô tư, khách quan Thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập chỉtuân theo pháp luật Theo quy định của BLTTHS, người tiến hành tố tụng tronggiải quyết án hình sự của TAND bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Thẩmphán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án khi tham gia giải quyết vụ án hình sự Đốivới Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán là người được tuyển chọn bổ nhiệm
Trang 31theo trình tự chặt chẽ với những tiêu chuẩn nghiêm ngặt để thực hiện nhiệm vụthường xuyên là giải quyết, xét xử các loại án theo thẩm quyền của Toà án Hộithẩm là người được cử hoặc bầu để đại diện cho nhân dân tham gia xét xử cùngThẩm phán Thư ký Toà án có nhiệm vụ theo quy định của BLTTHS và theo sựphân công của Chánh án.
Điều 38 BLTTHS quy định thẩm quyền của Chánh án, Phó Chánh án, họ
có nhiệm vụ tổ chức công tác xét xử, phân công Thẩm phán, Hội thẩm giảiquyết xét xử, phân công Thư ký tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự Chánh
án, Phó Chánh án có quyền ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biệnpháp tạm giam; quyết định xử lý vật chứng; quyết định thi hành án hình sự;quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù; quyết định tạm đình chỉ chấp hànhhình phạt tù; quyết định xoá án tích…
Thẩm quyền của thẩm phán được quy định tại điều 39 BLTTHS năm
2003, trong xét xử thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn: “a: quyết định áp dụng,thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định của bộ luật này B:quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung C: quyết định định đưa vụ án ra xétxử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án…’’
Vai trò, nhiệm vụ cũng đặt ra rõ ràng đối với Hội thẩm nhân dân tại điều
40 BLTTHS năm 2003, với tư cách là thành viên của HĐXX, Hội thẩm cónhiệm vụ giống như Thẩm phán, tuy nhiên Hội thẩm chỉ có quyền tiến hànhnhững hoạt động tại phiên toà Thư ký phiên tòa xét xử vụ án hình sự cũngđược quy định nhiệm vụ trong điều 41 BLTTHS năm 2003, thư ký chủ yếu làghi biên bản phiên tòa và không có quyền ra quyết định hay tham gia biểuquyết các quyết định của Toà án
Hoạt động xét xử được quy định tại BLTTHS bao gồm giai đoạn chuẩn
bị xét xử và phiên toà hình sự Chuẩn bị xét xử là giai đoạn thẩm phán nghiêncứu hồ sơ vụ án, xem xét điều kiện mở phiên toà Phiên toà là giai đoạn Toà án
Trang 32xác định tội phạm và quyết định hình phạt, được tiến hành công khai với đầy
đủ người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòavới những trình tự tố tụng nghiêm ngặt nhằm xác định bị cáo có tội hay không,nếu có tội thì tội gì, hình phạt tương xứng
Để việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý nói chung và bảo vệ quyềncon người nói riêng, trong hoạt động xét xử của mình, tòa án phải tuân theonhững nguyên tắc nhất định đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp và thủ tụcpháp lý chặt chẽ theo BLTTHS
Tính được xác định chặt chẽ về hình thức, thủ tục pháp lý của ADPLtrong xét xử vụ án hình sự có mục đích đảm bảo xác định toàn bộ sự thật của
vụ án, đảm bảo cho việc ADPL chính xác, bảo đảm quyền của người tham gia
tố tụng, nhằm tránh sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ sởpháp lý cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện cácquyền và nghĩa vụ Tính chặt chẽ về nội dung được thể hiện là mỗi điều luật ápdụng đòi hỏi sự chính xác về điểm khoản phù hợp với nội dung phải giải quyết,không có sự áp dụng tương tự cũng như suy diễn sự việc áp dụng hệ thốngpháp luật thực định
Đồng thời thủ tục xét xử cũng là cơ sở pháp lý để cho các cơ quan, tổchức, công dân giám sát hoạt động tố tụng và thực hiện các quyền khiếu nại tốcáo được quy định tại chương XXXV BLTTHS năm 2003 Hoạt động ADPLhình sự đòi hỏi những yêu cầu nghiêm ngặt từ quy trình áp dụng đến nội dung
áp dụng xuất phát từ tính nghiêm khắc của chế tài pháp luật hình sự, từ yêu cầubảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội
Đặc điểm thứ tƣ, áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án là quá trình
cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự đối với mỗi bị cáo.
Trang 33Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các tình tiết của vụ án, đảm bảophiên tòa xét xử diễn ra đúng luật định, HDXX phải lựa chọn quy phạm phápluật, thảo luận thận trọng để đưa ra văn bản pháp luật cá biệt dưới hình thứcbản án xác định rõ tội danh cũng như áp dụng hình phạt cụ thể với mỗi bị cáo.Căn cứ kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải căn cứvào các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội phạm được quy định tại BLHS để xácđịnh bị cáo có phạm tội như truy tố của VKSND hay không? Nếu phạm tội thìphạm tội gì?Các quy phạm pháp luật hình sự được áp dụng cụ thể đối với từng
bị cáo trong các vụ án cụ thể
Điều này yêu cầu các thành viên HĐXX phải có trình độ, kỹ năng xemxét, đánh giá các chứng cứ, đã thu thập trong giai đoạn điều tra cũng như lờitrình bày của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa Phương pháp phântích, tổng hợp được sử dụng đối với toàn bộ các tình tiết của vụ án, làm sáng tỏ
sự thật của vụ án Lựa chọn quy phạm pháp luật hình sự phù hợp với bản chất,tình tiết vụ án trong quá trình áp dụng pháp luật để tuyên bố bị cáo có tội haykhông có tội và bị áp dụng theo điều, khoản nào của BLHS đối với từng bị cáo
cụ thể
Hội đồng xét xử căn cứ vào khung hình phạt, các tình tiết tăng nặnggiảm nhẹ, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân ngườiphạm tội để lựa chọn (biểu quyết) quyết định cho miễn trách nhiệm hình sựhoặc áp dụng hình phạt phù hợp đối với bị cáo Nếu vụ án có nhiều bị cáo thìkhi quyết định hình phạt còn phải xem xét vai trò đồng phạm của mỗi bị cáo để
có hình phạt tương xứng đối với mỗi bị cáo Nếu bị cáo nhiều lần phạm tội(không phải là tình tiết tăng nặng) hoặc phạm nhiều tội trong cùng một vụ ánhoặc nhiều vụ án thì hội đồng xét xử phải quyết định tổng hợp hình phạt, tổnghợp bản án theo quy định tại điều 50, 51 BLHS năm 1999
Trang 34Yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý được thể hiện trong bản án của tòa
án, việc lựa chọn mức xử phạt cho mỗi bị cáo trong khoảng tối thiểu và tối đacủa khung hình phạt đòi hỏi ở HĐXX đặc biệt là đối với các thẩm phán nănglực chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức lương tâm Văn bản phápluật cá biệt – kết quả của xét xử vụ án hình sự dưới hình thức bản hình sự làvăn bản ADPL, văn bản pháp luật cá biệt, trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lýcủa nó thuộc trách nhiệm của hội đồng xét xử
1.3 Các giai đoạn áp dụng pháp luật về xét xử vụ án hình sự của tòa
án nhân dân
Áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự về nguyên tắc phải tuântheo những giai đoạn cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật nói chung Đồngthời, ADPLHS có những đặc điểm riêng gắn liền với từng giai đoạn xét xử vàđược quy định chặt chẽ trong BLTTHS ADPL HS là một quá trình bao gồmnhiều giai đoạn khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ theo quy trình luật định.Các chủ thể thực hiện ADPL HS xem xét, đánh giá toàn bộ tình tiết khách quancủa mỗi một vụ án cụ thể, căn cứ vào quy định pháp luật để lựa chọn các quyphạm pháp luật phù hợp với tình huống thực tế; ra văn bản áp dụng pháp luật
cá biệt
Áp dụng pháp luật hình sự về xét xử vụ án hình sự bao gồm việc ADPL
HS về nội dung và về thủ tục, được quy định trong hai bộ luật tương ứng –BLHS và BLTTHS Dựa trên tiêu chí về loại quy phạm pháp luật áp dụng tronghoạt động giải quyết án hình sự, có thể phân chia ADPL thành hai dạng:
+ ADPL nội dung (quy phạm pháp luật hình sự);
+ ADPL hình thức (quy phạm pháp luật tố tụng hình sự)
Nếu dựa vào tiêu chí về trình tự thủ tục trong toàn bộ quá trình giải quyết án hình sự, thì phải phân định ADPLHS trong xét xử vụ án hình sự thành
Trang 35các giai đoạn: ADPL trong giai đoạn xét xử vụ án ở cấp sơ thẩm; ADPL tronggiai đoạn xét xử vụ án ở cấp phúc thẩm.
Trong mỗi một giai đoạn chủ yếu nêu trên lại bao gồm những giai đoạncấu thành hay còn gọi là các bước, các khâu cũng được quy định trongBLTTHS Cụ thể là theo tiêu chí phân đoạn trong quá trình xét xử vụ án hình
sự thì có thể phân chia các “ tiểu giai đoạn “ của ADPLHS như sau:
- ADPL trong giai đoạn chuẩn bị xét xử;
- ADPL trong giai đoạn xét xử;
Trong khoa học pháp lý, cũng còn những quan niệm có sự khác nhuanhất định về phân định các giai đoạn ADPL trong toàn bộ quá trình giải quyếthình sự nói chung Trên thực tế thì việc phân định theo nhiều tiêu chí cũngmang tính tương đối và mang tính lý luận nghiên cứu Về phương diện phápluật, các giai đoạn ADPL trong xét xử các vụ án hình sự của TAND phổ biến làchia theo các giai đoạn giải quyết vụ án, thành các giai đoạn : xét xử sơ thẩm,phúc thẩm, ra quyết định thi hành án, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án đã cóhiệu lực pháp luật
1.3.1 Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của TAND được quy định tại
“Phần thứ ba” từ điều 170 đến điều 229 của BLTTHS 2003 Xét xử sơ thẩm làviệc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thựchiện theo quy định của pháp luật Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộluật tố tụng hình sự hiện thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam
là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân
Trang 36nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụngkhác được giải toả tại phiên toà ”.[7]
Theo pháp luật tố tụng nước ta hiện nay, giai đoạn xét xử sơ thẩm đượcxác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình
sự Trong phiên toàn xét xử công khai, các tài liệu chứng cứ của vụ án do cơquan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét mộtcách công khai tại phiên toà
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng đòi hỏi những người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống,đưa ra các lý lẽ chính xác, có sức thuyết phục Điều này đòi hỏi sự tinh thôngnghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm cuộc sống và bản lĩnh cũng nhưnghệ thuật ở mỗi thẩm phán, hội thẩm, kiểm sát viên, luật sư và cả những ngườitham gia tố tụng tố tụng khác
- Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:
Giai đoạn chuẩn bị xét xử được quy định tại chương XVII, từ điều 176đến điều 183 BLTTHS 2003 Giai đoạn chuẩn bị xét xử là thời gian từ khi Tòa
án nhận hồ sơ vụ án (thụ lý vụ án) đến trước ngày khai mạc phiên tòa Tronggiai đoạn này, nhiệm vụ của Chủ tọa phiên tòa là chịu trách nhiêm cá nhân vềviệc nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa vụ án
ra xét xử theo đúng thời hạn luật định, trừ trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra
bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Chất lượng, tính đắn của phiên tòa xét xử phụ thuộc vào công tác chuẩn
bị xét xử Hội đồng xét xử nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án, dự kiến các tìnhhuống có thể xảy ra tại phiên tòa, chuẩn bị nội dung cần thẩm vấn, tranh tụngtại phiên tòa, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, đề nghị lãnh đạo quyết định ápdụng hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn, giấy triệu tập, giấy mời những ngườitham gia tố tụng và những công việc khác đảm bảo cho phiên tòa xét xử
Trang 37Theo quy định tại Điều 176 BLTTHS 2003, thẩm phán được phân côngchủ tọa phiên tòa sơ thẩm nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầucủa những người tham gia tố tụng và tiến hành những việc cần thiết khác choviệc mở phiên tòa Khi các tình tiết của vụ án có sự phức tạp, Chánh án tòa án
có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử và phải thông báo ngay choViện kiểm sát cùng cấp
Điều 177 BLTTHS 2003 quy định thẩm phán có thể đưa ra một quyết địnhviệc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và Chánh án, PhóChánh án tòa án thì có thẩm quyền áp dụng quy định của pháp luật hình sự để
ra quyết định về việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam Nếu
có trường hợp bị cáo đang tạm giam mà đến mở phiên tòa thời hạn tạm giam đãhết và việc tiếp tục tạm giam là cần thiết thì Tòa án ra một quyết định áp dụngpháp luật đặc biệt trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự đó là lệnh tạmgiam cho đến khi kết thúc phiên tòa
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thẩm phán có thể ra quyết định trả hồ sơcho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo quy định tại điều 179 BLTTHS
2003 Quyết định trả hồ sơ được áp dụng khi cần xem xét thêm những chứng
cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; khi cócăn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; khi pháthiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có vai trò vô cùng quantrọng nhằm bảo đảm các điều kiện cần thiết để xét xử những bị cáo đã bị Việnkiểm sát truy tố Trên thực tế, ở nhiều địa phương, còn có sự nhận thức chưađầy đủ ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử, dẫn đến cách làm qua loa, đạikhái, ảnh hưởng đến tính đúng đắn của quá trình áp dụng phát luật trong xét xử
vụ án hình sự biểu hiện ở một số vụ việc oan, sai, hoặc việc Toà án trả hồ sơ
Trang 38điều tra bổ sung thiếu căn cứ; vi phạm thời hạn xét xử; đình chỉ và tạm đình chỉ
vụ án còn nhiều bất cập…
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán phải xem xét vấn đề quan trọng,bao gồm: căn cứ để đưa vụ án ra xét xử; lên kế hoạch tổ chức phiên tòa và thựchiện các việc cần thiết để mở phiên tòa, chuẩn bị những vấn đề cần làm sáng tỏtại phiên tòa, xác định những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, mời hoặctriệu tập họ tham dự Trong khâu nghiên cứu hồ sơ vụ án, còn phải xem xétviệc phát hiện những vi phạm tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, nhữngtình tiết của vụ án cần phải làm sáng tỏ trong quá trình xét xử vụ án; thẩmquyền xét xử; xem xét tính hợp pháp của quá trình điều tra, truy tố, việc đảmbảo trình tự tố tụng luật định trong thu thập các tài liệu chứng cứ của vụ án vv
- Trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa sơ thẩm:
Giai đoạn này được tiến hành gồm các bước: thủ tục bắt đầu phiên tòa;xét hỏi tại phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa; nghị án và tuyên án
Giai đoạn xét xử tại phiên tòa sơ thẩm có vai trò đặc biệt quan trọngtrong việc áp dụng pháp luật hình sự của TAND Nội dung vụ án được làmsáng tỏ tại phiên tòa, thẩm tra công khai những tài liệu chứng cứ thu thập trongquá trình điều tra, truy tố cũng như chứng cứ mới tại phi ên tòa Sau khi ngheThư ký Tòa án báo cáo danh sách những người được triệu tập đã có mặt, chủtọa phiên tòa kiểm tra căn cước của họ Hội đồng xét xử phải kiểm tra và xácđịnh tư cách của những người tham gia tố tụng khác, như người bị hại, nguyênđơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đạidiện hợp pháp, nhân chứng, luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo, luật sư bảo vệquyền lợi cho bị hại, giám định viên, phiên dịch …
Điều 181 BLTTHS 2003 quy định tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết
của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, 38
Trang 39nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định,xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, ngườibảo vệ quyền lợi của đương sự Do vậy, bản án chỉ được căn cứ vào nhữngchứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa
Căn cứ vào Điều 196 BLTTHS 2003, trong phạm vi xét xử vụ án hình sựtòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểmsát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử Trong giai đoạn xét xử sơthẩm, bản án của Tòa án sẽ quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạmtội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác; quyết định về việc thay đổi thànhviên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định,người phiên dịch, chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặcđình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo luôn được TANDthực hiện theo đúng thủ tục luật định đó là phải được thảo luận và thông qua tạiphòng nghị án và phải được lập thành văn bản
- Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa:
Theo quy định của BLTTHS, các bước thuộc thủ tục xét hỏi tại phiên toàxét xử vụ án hình sự phải được tuân thủ Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sátviên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có Về trình tự xét hỏi,Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từngtội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý; khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiêntòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa,người bảo vệ quyền lợi của đương sự
Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét những vật chứng có liên quantrong vụ án Áp dụng quy định tại Điều 207 BLTTHS 2003, Hội đồng xét xửphải xác định đầy đủ các tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án theothứ tự xét hỏi hợp lý
Trang 40Điều 208 BLTTHS 2003 quy định việc công bố những lời khai tại cơquan điều tra, nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xửkhông được nhắc hoặc công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra trước khi họkhai tại phiên tòa về những tình tiết của vụ án Hội đồng xét xử chỉ được công
bố những lời khai tại Cơ quan điều tra khi lời khai của người được xét hỏi tạiphiên tòa có mâu thuẫn với lời khai của họ tại Cơ quan điều tra; người được xéthỏi không khai tại phiên tòa; người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết
Thủ tục hỏi bị cáo được quy định tại Điều 209 BLTTHS 2003 Khi tiếnhành thủ tục xét hỏi, hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng bị cáo Nếu lời khaicủa bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiêntòa phải cách ly họ và bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khaicủa bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó Khi xét hỏi, bị cáo
sẽ được trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án và hộiđồng xét xử sẽ hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc
có mâu thuẫn
Điều 211 BLTTHS 2003 quy định về thủ tục hỏi người làm chứng tạiphiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử phải hỏi riêng từng người và không để chonhững người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó Đối với vật chứng
mà không thể đưa ra tại phiên tòa, hội đồng xét xử có thể đến xem xét tại chỗnhững vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được và hội đồng xét xử có thểhỏi thêm về những vấn đề có liên quan đến vật chứng theo quy định tại Điều
212 BLTTHS 2003
Điều 213 BLTTHS 2003 quy định cho tòa án có quyền được xem xét tạichỗ, theo đó hội đồng xét xử có thể cùng với đại diện Viện kiểm sát, người bàochữa và những người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tộiphạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án Điều 216 BLTTHSquy định về kết thúc xét hỏi, theo đó, khi nhận thấy các tình tiết của vụ án đã