Kế thừa quy định của các nghị định nêu trên, Điều 2 của Luật Côngchứng số 82/2006/QH11 đưa ra khái niệm công chứng như sau: "Công chứnglà việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH HÀ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Hà
Trang 4Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG 6
CHỨNG VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
1.1.1 Khái quát sự hình thành, phát triển của pháp luật về công 6
chứng ở nước ta
1.1.2 Một số nội dung chính của Luật Công chứng số 82/2006/QH11 8
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật công chứng 221.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật công chứng 251.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật công chứng 28
1.2.5 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật công chứng 31
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG 36
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng việc thực hiện quy định về công chứng viên 37
2.1.2 Miễn đào tạo nghề và miễn tập sự hành nghề công chứng 462.2 Thực trạng việc thực hiện quy định về tổ chức hành nghề 49
công chứng
Trang 52.2.4 Nghĩa vụ của các tổ chức hành nghề công chứng 582.3 Thực trạng việc thực hiện quy định về thủ tục công chứng 64
2.3.2 Thủ tục công chứng một số loại giao dịch cụ thể 78
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN 82
PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
3.1 Định hướng bảo đảm thực hiện pháp luật công chứng 823.1.1 Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật 823.1.2 Bảo đảm khả thi của văn bản quy phạm pháp luật 82
3.2.2 Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật công chứng, 109
nâng cao ý thức pháp luật công chứng
3.2.3 Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước 1123.2.4 Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và 114
khen thưởng
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
117119
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Công chứng, cóhiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007 Đây là một bước tiến quan trọngtrong việc cụ thể hóa nội dung về hoàn thiện thể chế công chứng ở nước tađược nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị vềChiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Đến nay, sau 07 năm thi hànhLuật Công chứng, những kết quả bước đầu đạt được đã khẳng định Luật đãthực sự đi vào cuộc sống, chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng là hếtsức đúng đắn, đội ngũ công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng ởnước ta đã phát triển nhanh về số lượng và ngày càng tăng cường về chấtlượng So với thời điểm giữa năm 2007 khi Luật Công chứng bắt đầu có hiệulực thi hành, Hà Nội có tổng số 341 công chứng viên đang hành nghề, đứngđầu trong cả nước (68 công chứng viên tại 10 Phòng công chứng và 273 côngchứng viên tại 93 Văn phòng công chứng) Thông qua việc đảm bảo tính antoàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự và kinh tế, hoạt động côngchứng đã góp phần quan trọng vào việc phòng ngừa các tranh chấp, khiếu nạitrong lĩnh vực đất đai, nhà ở, một lĩnh vực vốn phức tạp và tiềm ẩn nhiềunguy cơ dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện Chúng ta không thể phủ nhận côngchứng là -lá chắn- phòng ngừa hữu hiệu, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợpđồng, giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, giảm thiểu -gánhnặng- pháp lý cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự
Tuy nhiên qua 07 năm thi hành, Luật Công chứng cũng bộc lộ nhữngbất cập, hạn chế Tiêu chuẩn công chứng viên quy định còn đơn giản; thờigian đào tạo nghề ngắn, cơ sở đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu; chưaquy định về quyền, nghĩa vụ của công chứng viên cũng như người tập sự hànhnghề công chứng, đối tượng miễn đào tạo nghề, miễn tập sự hành nghề công
Trang 7chứng rộng nên chất lượng công chứng viên được bổ nhiệm thấp, có nhiều saisót khi công chứng hợp đồng, giao dịch Tiêu chuẩn thành lập Văn phòngcông chứng chưa chặt chẽ; quy hoạch ban hành chậm và thiếu cơ sở pháp lý;thiếu sự kiểm tra, thanh tra sau khi cho phép thành lập tổ chức hành nghềcông chứng; chưa có quy định về việc chuyển đổi mô hình Văn phòng côngchứng do một công chứng viên thành lập sang mô hình văn phòng công chứng
do 2 công chứng viên trở lên thành lập và ngược lại; nghĩa vụ của các tổ chứchành nghề công chứng chưa chặt chẽ, đặc biệt về việc thực hiện lưu trữ hồ sơcông chứng và mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên,chưa quy định việc chia sẻ và khai thác cơ sở dữ liệu công chứng giữa tổ chứchành nghề công chứng và các cơ quan liên quan Thủ tục công chứng chưa cụthể, chi tiết, chưa thuận tiện, chưa có sự phối hợp, liên thông với các thủ tụchành chính khác liên quan, khiến người yêu cầu công chứng phải mất nhiềuthời gian, công sức; một số thủ tục công chứng chưa hợp lý, chưa rõ ràng,thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định của pháp luật liên quan,gây khó khăn, lúng túng cho công chứng viên khi hành nghề
Tôi chọn đề tài "Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm kiến nghị những giải pháp
bảo đảm thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nóiriêng và trên cả nước nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay, trong lĩnh vực công chứng, tuy là một chế định phápluật mới xuất hiện trong hệ thống pháp luật nước ta, nhưng đã có nhiều côngtrình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này Trước khi Luật Công chứng số
82/2006/QH11 được ban hành, có thể kể đến các công trình, đề tài sau: Cơ sở
lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng
ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ mã số 92-98-224 năm 1993 của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp; Công chứng nhà nước những vấn đề lý luận và
Trang 8thực tiễn ở nước ta, Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Ngọc Nga; Những vấn đề
lý luận và thực tiễn trong việc xác định phạm vi, nội dung hành vi công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ của
tác giả Đặng Văn Khanh; Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta
hiện nay, Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Khánh; Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, của tác giả Lê Thị Phương Hoa; Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân trong lĩnh vực thực hiện các việc công chứng, luận văn thạc sĩ của tác
giả Lê Thị Thúy; Hoàn thiện pháp luật về công chứng, chứng thực ở Việt Nam
hiện nay - lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Tuấn Đạo Thanh; Nâng cao hiệu quả hoạt động công chứng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Chí Thiện
Từ khi Luật Công chứng số 82/2006/QH11 được Quốc hội thông qua,
có thể kể tới một số công trình, bài viết nghiên cứu về lĩnh vực công chứng
sau: Nghiên cứu pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng
ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Tuấn Đạo Thanh năm 2008; Phân cấp quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực (Qua thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008;
Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Minh năm
2009; Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp,
Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Mai Trang năm 2011; Bồi thường thiệt
hại do công chứng viên gây ra, Bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại đăng trên Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14(199), tháng 7 năm 2011; Kiến nghị hoàn thiện
Luật Công chứng, Bài viết của tác giả Lê Quốc Hùng đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 1+2 (210+211), tháng 1 năm 2012; Hoàn thiện pháp luật về
quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng, Bài viết của tác giả Phan Hải
Hồ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (222), tháng 7 năm 2012…
Trang 9Các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đềmang tính tổng thể hoặc những khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của hoạtđộng công chứng Nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu
về việc thực hiện pháp luật về công chứng trên các phương diện công chứngviên, tổ chức hành nghề công chứng và thủ tục công chứng, đặc biệt trongphạm vi một địa phương cụ thể: Thành phố Hà Nội Có thể khẳng định, đề tài
Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội là đề tài đầu
tiên nghiên cứu về khía cạnh này
3 Mục đích của đề tài
Luận văn tổng hợp những kiến thức lý luận về thực hiện pháp luật vềcông chứng; trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn việc thi hành Luật Công chứngtrên địa bàn thành phố Hà Nội để đánh giá những mặt được, chưa được củahoạt động công chứng trên một số phương diện như: công chứng viên, tổ chứchành nghề công chứng, thủ tục công chứng dưới góc độ lý luận nhà nước vàpháp luật Từ đó đưa ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc nâng caohiệu quả thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nóiriêng và trên cả nước nói chung
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật côngchứng trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua, những giải pháp chủyếu để từng bước hoàn thiện pháp luật công chứng trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích những tồn tại, bất
cập của pháp luật công chứng và thực hiện pháp luật về công chứng để đưa ra nhữngkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng trong thời gian tới
- Về thời gian: Các tài liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2007
đến năm 2014
Trang 105 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung đánh giá toàn diện hoạt động công chứng trên địabàn thành phố Hà Nội, những mặt được và chưa được, những thiếu sót trongquy định của pháp luật khiến cho việc thực thi Luật Công chứng khó khăn,gây lúng túng cho các công chứng viên khi hành nghề cũng như người yêucầu công chứng Mặt khác, luận văn đưa ra các giải pháp khoa học, tính khảthi cao để khắc phục những thiếu sót đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạtđộng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội, mang lại nhiều tiện ích cho
cá nhân, tổ chức khi tham gia các hợp đồng, giao dịch dân sự, để công chứngthực sự là một công cụ hữu hiệu của nhà nước trong việc điều chỉnh các quan
hệ pháp luật về dân sự
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật về công chứng và thực
hiện pháp luật về công chứng
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn
thành phố Hà Nội
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật công chứng
Trang 11Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
Tiếp đó, Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về côngchứng đó là: Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị định số75/2000/NĐ-CP) Các văn bản nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng góp phầncho việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng, nghề côngchứng ở Việt Nam
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thi hành pháp luật về công chứng, kể từkhi ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức vàhoạt động công chứng Nhà nước, ngày 29/11/2006 Quốc hội khóa XI, kỳ họpthứ 10 đã thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/7/2007, đây là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lựcpháp lý cao, điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứngnhằm khắc phục những điểm hạn chế bất cập về mặt tổ chức, hoạt động vàquản lý công chứng ở nước ta, cụ thể hóa nội dung về hoàn thiện thể chế vềcông chứng ở nước ta trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 12Sau khi Luật Công chứng số 82/2006/QH11 được Quốc hội thông qua,Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản quyphạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Công chứng, cụthể như sau:
- Nghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
- Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 quy định xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (sửa đổi, bổ sung các chế tài xử lý viphạm hành chính trong hoạt động công chứng)
- Nghị định số 04/2013/NĐ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng (thay thếNghị định số 02/2008/NĐ-CP ngày 04/01/2008)
- Quyết định số 250/QĐ-TTg ngày 10/02/2010 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Đề án -Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghềcông chứng ở Việt Nam đến năm 2020-
- Quyết định số 240/QĐ-TTg ngày 17/02/2011 của Thủ tướng Chínhphủ ban hành -Tiêu chí quy hoạch phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở ViệtNam đến năm 2020-
- Quyết định số 2104/QĐ-TTg ngày 29/12/2012 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt -Quy hoạch tổng thể phát triển tổ chức hành nghề công chứng đếnnăm 2020-
- Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 17/10/2008 của
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sửdụng phí công chứng
- Thông tư số 11/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 của Bộ Tư pháphướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt độngcông chứng, quản lý nhà nước về công chứng
- Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012 của
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý
Trang 13và sử dụng phí công chứng (thay thế Thông tư liên tịch số BTC-BTP ngày 17/10/2008).
91/2008/TTLT Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng
- Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20/02/2008 của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp ban hành một số mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động công chứng
Sau 7 năm triển khai thi hành Luật Công chứng số 82/2006/QH11,ngày 20/6/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Côngchứng số 53/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 thay thế cho LuậtCông chứng số 82/2006/QH11 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về thểchế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theochủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt độngcông chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp vớithông lệ quốc tế
Ngoài ra, bên cạnh hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành LuậtCông chứng, các công chứng viên còn phải áp dụng nhiều văn bản quy phạmpháp luật khác có liên quan đến công chứng: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụngDân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình, Luật cư trú, Luậtdoanh nghiệp, Luật kinh doanh bất động sản
1.1.2 Một số nội dung chính của Luật Công chứng số 82/2006/QH11
1.1.2.1 Khái niệm công chứng
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt độngcông chứng Khái niệm công chứng đã được nêu trong 3 nghị định của Chínhphủ về công chứng: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, Nghịđịnh số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CPngày 8 tháng 12 năm 2000 Việc thể hiện cụ thể khái niệm này có sự khácnhau, song có sự giống nhau về cơ bản như sau: công chứng là việc chứngnhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch
Trang 14Kế thừa quy định của các nghị định nêu trên, Điều 2 của Luật Côngchứng số 82/2006/QH11 đưa ra khái niệm công chứng như sau: "Công chứng
là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợpđồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản màtheo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyệnyêu cầu công chứng" [39]
Hợp đồng, giao dịch có công chứng được coi là hình thức mang tínhxác thực cao nhất và thường được pháp luật quy định với các trường hợp sau:a) Đối với các hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp; b) Đối tượng của nó là những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát
Từ khái niệm trên cho thấy, có hai loại hợp đồng, giao dịch được côngchứng Loại thứ nhất là những hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định bắtbuộc phải công chứng Quy định này phù hợp với quy định tại Điều 401 của
Bộ luật Dân sự:
1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằngvăn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đóphải được giao kết bằng một hình thức nhất định
2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phảiđược thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặcxin phép thì phải tuân theo các quy định đó
Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [36]
Loại thứ hai là những hợp đồng, giao dịch mà nhà nước không bắtbuộc phải công chứng nhưng cá nhân, tổ chức cảm thấy cần thiết nên tựnguyện yêu cầu công chứng
Nguyên nhân là do hợp đồng, giao dịch có công chứng sẽ bảo đảm antoàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao kết Việc đảm bảo tính an toànpháp lý được thể hiện ở chỗ: công chứng viên xác nhận tính xác thực, tính
Trang 15hợp pháp của những tình tiết trong nội dung hợp đồng, giao dịch, bảo đảm cânbằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ngay từ khi giao kết, kiểm tranăng lực hành vi, tính tự nguyện, chữ ký của các chủ thể tham gia hợp đồng,giao dịch, kiểm tra nội dung và mục đích của hợp đồng, giao dịch có vi phạmđiều cấm của pháp luật, có trái đạo đức hay không, đối tượng hợp đồng, giaodịch là có thật hay giả mạo, hình thức của hợp đồng, giao dịch có phù hợp vớiquy định của pháp luật không Trong trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra thìvăn bản công chứng là chứng cứ tin cậy nhất để các chủ thể tham gia hợpđồng, giao dịch tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời đâycũng là chứng cứ để Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấpmột cách nhanh chóng.
Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 6 của Luật Công chứng số82/2006/QH11, quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng:
1 Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bênliên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mìnhthì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừtrường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác
2 Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết,
sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa
án tuyên bố là vô hiệu [39]
Đây là vấn đề quan trọng, là lý do tồn tại của công chứng Giá trịchứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng đã được quy địnhtại điểm c khoản 1 Điều 80 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004: "c) Nhữngtình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thựchợp pháp" [35]
Cơ sở thực tiễn của việc quy định này là: Các tình tiết, sự kiện về thờigian, địa điểm xác lập hợp đồng, giao dịch, năng lực hành vi dân sự, sự tự
Trang 16nguyện của chủ thể hợp đồng, giao dịch, nội dung trong hợp đồng, giao dịch,chữ ký của các bên hợp đồng, giao dịch là những tình tiết, sự kiện đã đượccông chứng viên nhìn thấy trước mắt trong khi diễn ra việc ký kết hợp đồng
và công chứng viên được Nhà nước giao nhiệm vụ chứng nhận điều đó Do
đó, sau này các bên ký kết hợp đồng không thể chối cãi theo một cách khác
Vì vậy, các tình tiết, sự kiện đó sẽ được Tòa án mặc nhiên công nhận là có giátrị chứng cứ không phải chứng minh Tuy nhiên, quy định này không vi phạmnguyên tắc về quyền đánh giá chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự.Trong trường hợp có chứng cứ ngược lại để bác bỏ tình tiết, sự kiện trong vănbản công chứng thì Tòa án vẫn có thể bác bỏ giá trị chứng cứ của các tình tiết,
sự kiện này
Hiệu lực thi hành của văn bản công chứng được quy định trong LuậtCông chứng số 82/2006/QH11 được hiểu là trong trường hợp hợp đồng, giaodịch đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật thì hợp đồng, giaodịch đó phải được các bên liên quan thực hiện nghiêm túc; trong trường hợpbên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêucầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
Quy định về hiệu lực thi hành của văn bản công chứng không triệt tiêuquyền khởi kiện của các bên vì trong trường hợp bên có căn cứ cho rằng vănbản công chứng được thực hiện không đúng quy định của pháp luật thì vẫn cóquyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố văn bảncông chứng đó là vô hiệu
1.1.2.2 Công chứng viên (từ Điều 13 đến Điều 22)
Công chứng viên là yếu tố trung tâm trong hoạt động công chứng, làchủ thể chứng nhận hợp đồng, giao dịch, bảo đảm an toàn pháp lý cho cácbên Công chứng viên có vai trò rất quan trọng là không chỉ xác lập hợp đồng,giao dịch về mặt hình thức phù hợp pháp luật mà còn phải giải thích về phápluật và tư vấn cho các bên về quyền và nghĩa vụ của họ; bảo đảm các quy
Trang 17định bắt buộc của pháp luật phải được tuân thủ; tư vấn cho các bên về những
sự lựa chọn mà họ có thể trong trường hợp các bên còn chưa thống nhất, haynói cách khác làm cho nội dung của hợp đồng, giao dịch phù hợp theo quyđịnh của pháp luật và đạo đức xã hội Một vấn đề rất quan trọng là côngchứng viên làm cho các hợp đồng, giao dịch thực tế đúng theo các quy địnhcủa pháp luật Nó cũng đòi hỏi công chứng viên phải xác định chính xác vàkhách quan là những người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch hoàn toàn
tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối
Đảm bảo các yếu tố trên trong văn bản công chứng chính là việc côngchứng viên đảm bảo an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranhchấp, đạt hiệu quả tích cực về mặt kinh tế - xã hội vì những tình tiết, sự kiện,
sự thỏa thuận của các bên tham gia giao kết là xác thực và hợp pháp, hay cóthể nói công chứng viên đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của một -thẩm phánphòng ngừa- là phòng ngừa những giao dịch, thỏa thuận không phù hợp vớiquy định của Pháp luật, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch cho đời sốngkinh tế, thương mại, dân sự của xã hội
Với mục tiêu xây dựng đội ngũ công chứng viên chuyên nghiệp, đủ về
số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị, trong sáng vềđạo đức nghề nghiệp, Điều 13 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1 Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thànhvới Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủcác tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên:
Trang 18đ) Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng.
2 Thời gian đào tạo nghề công chứng và tập sự hành nghề công chứng được tính vào thời gian công tác pháp luật [39]
So với Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, công chứng viên được quy địnhtrong luật có tiêu chuẩn cao hơn: có bằng cử nhân luật, có thời gian công tácpháp luật từ 05 năm trở lên, tham gia khóa đào tạo nghề 06 tháng và tập sự 12tháng tại tổ chức hành nghề công chứng Bên cạnh việc quy định nhằm nângcao chất lượng đội ngũ công chứng viên, Luật Công chứng số 82/2006/QH11còn có quy định nhằm tăng nhanh số lượng đội ngũ công chứng viên thôngqua các quy định về miễn đào tạo nghề công chứng:
Điều 15 Người được miễn đào tạo nghề công chứng
1 Đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên
2 Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật
3 Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viêncao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viêncao cấp trong lĩnh vực pháp luật [39]
Đây là những người có trình độ cao, có kinh nghiệm chuyên môn vềpháp luật nói chung và một số người có trình độ, kinh nghiệm chuyên sâu tronglĩnh vực dân sự, kinh tế, là những lĩnh vực gần với hoạt động chuyên môn Ngoài
ra, Luật Công chứng số 82/2006/QH11 cũng quy định người được miễn đào tạonghề đồng thời cũng được miễn tập sự hành nghề công chứng:
Điều 17 Người được miễn tập sự hành nghề công chứng Người được miễn đào tạo nghề công chứng quy định tạiĐiều 15 của Luật này được miễn tập sự hành nghề công chứng [39] Người
mà có đủ các tiêu chuẩn cần thiết nêu trên thì có thể nộp hồ sơ xin bổ nhiệm
công chứng viên theo quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 18Luật Công chứng số 82/2006/QH11
Trang 191.1.2.3 Tổ chức hành nghề công chứng (từ Điều 22 đến Điều 31)
Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định hai hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng:
Phòng công chứng là hình thức tổ chức hành nghề công chứng do Nhànước thành lập Việc thành lập Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấptỉnh quyết định Phòng công chứng là tổ chức dịch vụ công, có trụ sở, con dấu
và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính của đơn vị
sự nghiệp có thu Điều 24 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1 Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập
2 Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp,
có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng
Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng làTrưởng phòng Trưởng Phòng công chứng phải là công chứng viên
và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức
Chính phủ quy định chế độ tài chính, con dấu của Phòng công chứng
3 Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm số thứ tự thànhlập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng đượcthành lập [39]
Văn phòng công chứng: là hình thức tổ chức hành nghề công chứng domột công chứng viên hoặc một số công chứng viên thành lập Việc thành lậpVăn phòng công chứng phải theo một thủ tục chặt chẽ, cụ thể là phải được sựcho phép của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phải đăng ký hoạt động tại
Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở Văn phòng công chứng là tổ chức dịch vụ công,
Trang 20có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tàichính bằng nguồn thu từ kinh phí đóng góp của công chứng viên, phần để lại
từ lệ phí công chứng, phí dịch vụ và các nguồn thu hợp pháp khác Điều 26Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1 Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập
được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lậpđược tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh
Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng công chứng làTrưởng Văn phòng Trưởng Văn phòng công chứng phải là côngchứng viên
2 Văn phòng công chứng có trụ sở, con dấu và tài khoảnriêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ kinh phíđóng góp của công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồnthu hợp pháp khác
Chính phủ quy định con dấu của Văn phòng công chứng
3 Tên gọi của Văn phòng công chứng do công chứng viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm từ - Văn phòng công chứng, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ,
ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc [39].
Việc quy định mô hình Văn phòng công chứng trong Luật Côngchứng số 82/2006/QH11 là nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứngcủa Đảng và Nhà nước ta và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế về côngchứng Vấn đề xã hội hóa công chứng được thể hiện ở Nghị quyết số 08/NQ-
TW ngày 2 tháng 1 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâmcủa công tác tư pháp trong thời gian tới và được khẳng định lại một cách
Trang 21mạnh mẽ, rõ ràng hơn trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
* Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng
Điều 32 Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng
1 Niêm yết lịch làm việc, thủ tục công chứng, phí côngchứng, thù lao công chứng, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng tại trụ sở của tổchức hành nghề công chứng
2 Thực hiện chế độ làm việc theo ngày, giờ làm việc của cơquan hành chính nhà nước
3 Chấp hành các quy định của pháp luật về lao động, thuế, tài chính, thống kê
4 Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra
5 Bồi thường thiệt hại do lỗi mà công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công chứng
7 Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình
8 Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và các quyđịnh khác của pháp luật có liên quan [39]
Theo quy định, các tổ chức hành nghề công chứng có một số nghĩa vụđáng lưu ý sau:
Về thời gian làm việc (Khoản 2): không chỉ các Phòng công chứng là
các đơn vị do nhà nước thành lập mà các văn phòng công chứng do các côngchứng viên đủ điều kiện thành lập cũng phải áp dụng chế độ làm việc giốngcác cơ quan hành chính nhà nước
Bồi thường thiệt hại (Khoản 5): Việc rủi ro xảy ra là không thể tránh
khỏi, tuy nhiên, khi thiệt hại do lỗi mà công chứng viên gây ra thì tổ chứchành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại
Trang 22Lưu trữ hồ sơ công chứng (Khoản 6): hồ sơ công chứng là một hồ sơ
đối chứng cực kỳ quan trọng, bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản côngchứng Chính vì tầm quan trọng của việc lưu trữ hồ sơ, Luật Công chứng quyđịnh một chương riêng về vấn đề này, trong đó quy định hồ sơ công chứngphải được bảo quản chặt chẽ, thực hiện biện pháp an toàn đối với hồ sơ côngchứng Thời hạn lưu trữ cụ thể như sau: bản chính văn bản công chứng phảiđược lưu trữ ít nhất là 20 năm tại tổ chức hành nghề công chứng; các giấy tờkhác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ trong thời hạn ít nhất là 05năm Trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng vănbản về việc cung cấp hồ sơ công chứng phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra,điều tra, truy tố, xét xử liên quan đến việc đã công chứng thì tổ chức hànhnghề công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và cácgiấy tờ khác có liên quan Việc đối chiếu bản sao văn bản công chứng với bảnchính chỉ được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng
Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp (Khoản 7): Nhằm giảm thiểu thiệt
hại cho các bên khi gặp rủi ro trong giao kết hợp đồng, giao dịch, Luật Công chứng
số 82/2006/QH11 quy định Văn phòng công chứng phải mua bảo hiểm nghề nghiệp cho các công chứng viên của tổ chức mình Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động công chứng là một hình thức bảo hiểm bắt buộc.
1.1.2.4 Thủ tục công chứng (từ Điều 35 đến Điều 52)
Thủ tục công chứng là cách thức tiến hành, là những công việc cụ thể
để thực hiện việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch của công chứng viêntheo một sự sắp xếp trước sau nhất định thông qua các bước thực hiện côngchứng và những yếu tố cần thiết bảo đảm cho việc công chứng theo quy địnhcủa luật pháp, đó là: Cơ sở pháp lý, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật côngchứng (người yêu cầu công chứng và công chứng viên), nội dung yêu cầucông chứng, chữ ký của công chứng viên và dấu của tổ chức hành nghề côngchứng trong văn bản công chứng
Trang 23Trình tự, thủ tục công chứng theo Luật Công chứng số 82/2006/QH11
có ý nghĩa bảo đảm sự công bằng, tránh sự áp đặt ý chí chủ quan của côngchứng viên (vì nó đã được pháp luật quy định), và căn cứ vào đó để côngchứng viên xác định được những việc cần phải làm và trình tự thực hiện.Ngoài việc bảo đảm giá trị pháp lý thì trình tự, thủ tục còn giúp người dân cóđiều kiện, có căn cứ để giám sát, kiểm tra hoạt động của công chứng viên cótuân thủ quy định của pháp luật hay không và người dân cũng được biết vàthực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Thủ tục công chứng được chia thành 2 loại, đối với những hợp đồng,giao dịch đã được soạn thảo sẵn, Điều 35 Luật Công chứng số 82/2006/QH11quy định:
Điều 35 Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn
1 Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm các giấy tờ sau đây:
a) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu; b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tùy thân;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụnghoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản
mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng,trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có
2 Bản sao quy định tại khoản 1 Điều này là bản chụp, bản in,bản đánh máy hoặc bản đánh máy vi tính nhưng phải có nội dung đầy đủ, chính xácnhư bản chính và không phải có chứng thực
Khi nộp bản sao thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản chính để đối chiếu
Trang 243 Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra giấy tờtrong hồ sơ yêu cầu công chứng Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ,phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý, ghi vào sổ công chứng.
4 Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầucông chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đedọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu côngchứng hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thìcông chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị củangười yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầugiám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng
5 Công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch;nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức
xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với thực tế thì công chứngviên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Trường hợp người yêucầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng
6 Người yêu cầu công chứng tự đọc lại dự thảo hợp đồng,giao dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe Trườnghợp người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng,giao dịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch Công chứng viên ghi lờichứng; ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch [39]
Đối với những hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo
đề nghị của người yêu cầu công chứng, Điều 36 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
20
Trang 25Điều 36 Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng
1 Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ theo quyđịnh tại các điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều 35 của Luật này và nêu nội dung, ýđịnh giao kết hợp đồng, giao dịch
2 Công chứng viên thực hiện các việc quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 35 của Luật này
Trường hợp nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch làxác thực, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thìcông chứng viên soạn thảo hợp đồng, giao dịch
3 Người yêu cầu công chứng tự đọc dự thảo hợp đồng, giaodịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng nghe Trường hợpngười yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng, giaodịch thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch Công chứng viên ghi lờichứng; ký vào từng trang của hợp đồng, giao dịch [39]
Trong hoạt động hành nghề công chứng, việc thực hiện công chứngcác hợp đồng, giao dịch là nhiệm vụ trọng tâm của công chứng viên Để bảođảm văn bản công chứng có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 6 của LuậtCông chứng số 82/2006/QH11, đồng thời quán triệt tinh thần cải cách thủ tụchành chính trong lĩnh vực tư pháp, Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quyđịnh về quy trình chung đối với việc công chứng hợp đồng, giao dịch theohướng cụ thể hóa những việc công chứng viên phải thực hiện khi thực hiệncông chứng, bao gồm các việc sau:
+ Tiếp nhận hồ sơ do người yêu cầu công chứng cung cấp;
+ Xem xét năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng;+ Tiến hành xác minh hoặc giám định, nếu trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ;
Trang 26+ Soạn thảo văn bản hợp đồng, giao dịch theo đề nghị của người yêu cầucông chứng; trong trường hợp người yêu cầu công chứng tự soạn thảo hợp đồng, giaodịch thì công chứng viên phải kiểm tra hợp đồng, giao dịch đó;
+ Đề nghị người yêu cầu công chứng tự đọc lại hợp đồng, giao dịch Nếungười yêu cầu công chứng đồng ý với toàn bộ điều khoản trong hợp đồng, giao dịchthì công chứng viên đề nghị họ ký vào hợp đồng, giao dịch đó
+ Công chứng viên thực hiện việc ghi lời chứng và ký, đóng dấu vào hợp đồng, giao dịch
Cùng với việc quy định quy trình chung về việc thực hiện công chứng,Luật Công chứng số 82/2006/QH11 còn quy định riêng về việc công chứngđối với một số hợp đồng, giao dịch cụ thể như: hợp đồng thế chấp bất độngsản (Điều 47), di chúc (Điều 48), văn bản thỏa thuận phân chia di sản (Điều49), văn bản khai nhận di sản (50), văn bản từ chối nhận di sản (Điều 50)
Địa điểm công chứng
Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định mọi hành vi công chứngđều phải thực hiện tại trụ sở tổ chức hành nghề công chứng (Khoản 1, Điều39) Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, pháp luật cũng cho phéphành vi công chứng được diễn ra ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề côngchứng, đó là các trường hợp sau: già yếu, bệnh tật; không thể tới trụ sở tổchức hành nghề công chứng bởi một quyết định hay bản án của cơ quan nhànước có thẩm quyền; lý do chính đáng khác (khoản 2 Điều 39) Điều 39 LuậtCông chứng số 82/2006/QH11 quy định:
Điều 39 Địa điểm công chứng
1 Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổchức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
2 Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của
tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu
Trang 27công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạmgiữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng kháckhông thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng [39].
Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch
Trong trường hợp người yêu cầu công chứng muốn sửa đổi, bổ sunghoặc hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã ký kết trước đó thì phải thực hiện theoquy định tại Điều 44 Luật Công chứng số 82/2006/QH11:
Điều 44 Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch
1 Việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đãđược công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bảncủa tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được côngchứng
2 Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy
bỏ hợp đồng, giao dịch phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng
đã thực hiện việc công chứng đó Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đãthực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viênthuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việcsửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch
3 Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giaodịch được thực hiện theo thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tạiChương IV của Luật này [39]
1.2 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật công chứng
Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có vai trò đặc biệtquan trọng trong đảm bảo sự ổn định và phát triển năng động của xã hội.Trong điều kiện đổi mới, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định vai trò hàng đầu
Trang 28của pháp luật trong quản lý xã hội Chính vì vậy, Điều 12 Hiến pháp năm
1992 ghi nhận: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa" [31] Kế thừa và bổ sung quan điểm trên,Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Nhà nước được tổ chức và hoạt độngtheo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thựchiện nguyên tắc tập trung dân chủ" [44]
Khi đặt ra các quy phạm pháp luật, nhà nước mong muốn sử dụngchúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đáp ứng lợi ích của nhân dân và sựtiến bộ xã hội Mục đích đó chỉ đạt được khi các chủ thể thực hiện nghiêmchỉnh pháp luật trong đời sống thực tế Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnhpháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước bằng pháp luật
Theo giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của KhoaLuật, Đại học Quốc gia Hà Nội: "Thực hiện pháp luật là hiện tượng, quá trình
có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hoạt động thực
tế của các chủ thể pháp luật" [58, tr 349]
Trong xã hội có tổ chức luôn tồn tại những mối quan hệ đa dạng giữa
cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức Sựxuất hiện và phát triển của kinh tế thị trường đã làm cho các mối quan hệ nêutrên rất phát triển, nhất là mối quan hệ giao dịch Các quan hệ giao dịch không
có sự hướng dẫn, quản lý của nhà nước sẽ lộn xộn, các tranh chấp vi phạm sẽxảy ra nhiều, gây khó khăn, thiệt hại cho công dân, cơ quan, tổ chức hoặc Nhànước Do vậy tạo sự ổn định trong quan hệ xã hội, giao dịch dân sự, kinh tế,thương mại là điều đặc biệt quan trọng nhằm phát triển kinh tế xã hội Chonên tuyên truyền phổ biến pháp luật là cần thiết, song tăng cường hơn nữa cácbiện pháp, công cụ tổ chức thực hiện pháp luật cũng cần thiết không kém.Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu đượccủa Nhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các quy địnhhướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của
Trang 29đời sống xã hội, thành hành vi xử sự đúng pháp luật, bảo đảm an toàn cho các giao dịch.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định:
Hoàn thiện chế định công chứng Xác định rõ phạm vi củacông chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng.Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướngNhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước điphù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này [25]
Luật Công chứng số 82/2006/QH11 được xây dựng và ban hành thể chế hóa chủ trương của Đảng nhằm:
Xây dựng một hệ thống tổ chức công chứng chuyên nghiệp,rộng rãi, chất lượng cao, hoạt động theo hướng dịch vụ công, nhằmđáp ứng nhu cầu ngày càng cao về an toàn pháp lý trong giao lưudân sự, kinh tế phục vụ đắc lực công cuộc phát triển kinh tế, cảicách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế [16, tr 4]
Để những chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước đi vào cuộcsống trong lĩnh vực công chứng cần tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật côngchứng Thực hiện pháp luật công chứng là thực hiện pháp luật trên lĩnh vực cụthể, do đó, khái niệm về thực hiện pháp luật công chứng cũng có đầy đủ cácnội dung cơ bản của thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời phải nêu đượcnhững phương hướng, mục tiêu cụ thể của Đảng, nhà nước trong xây dựngpháp luật về công chứng Như vậy, có thể nêu khái niệm về thực hiện pháp
luật công chứng như sau: Thực hiện pháp luật công chứng là hiện tượng, quá trình có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về công chứng trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch, đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
Trang 30Từ khái niệm trên cho thấy, thực hiện pháp luật công chứng có các đặc
trưng sau: Về chủ thể: Thực hiện pháp luật công chứng có rất nhiều chủ thể,
bao gồm Nhà nước, các tổ chức và cá nhân tham vào hoạt động này, đượcpháp luật quy định cho những quyền và nghĩa vụ nhất định như Chính phủ,
Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công chứng viên, tổ
chức và cá nhân Về tính chất: Thực hiện pháp luật công chứng thể hiện tính
pháp chế cao, các công chứng viên hoạt động độc lập và chỉ tuân theo phápluật, các quy trình, thủ tục trong hoạt động công chứng được quy định chặtchẽ, cụ thể trong luật: việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp thẻ hành nghề và cáchình thức hành nghề của công chứng viên, các thủ tục công chứng, việc thànhlập, giải thể, hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng được quyđịnh chặt chẽ trong luật để không chỉ các công chứng viên thực hiện mà các tổ
chức, cá nhân khác phải thực hiện Về phạm vi: thực hiện pháp luật công
chứng là một lĩnh vực đặc thù, chủ yếu điều chỉnh các mối quan hệ về giaodịch trong lĩnh vực dân sự và kinh tế
1.2.2 Hình thức thực hiện pháp luật công chứng
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, lý luận chung
về nhà nước và pháp luật xác định bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuânthủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.Nhận thức các hình thức thực hiện pháp luật công chứng cũng dựa trên lý luậnchung về các hình thức thực hiện pháp luật trên và dựa vào nững đặc trưngcủa lĩnh vực pháp luật cụ thể này Theo đó, các hình thức thực hiện pháp luậtcông chứng bao gồm:
- Tuân thủ pháp luật công chứng: là một hình thức thực hiện pháp luật
trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà phápluật ngăn cấm Những quy phạm pháp luật cấm quy định tại Điều 12 của Luật côngchứng được thực hiện dưới hình thức này Để hình thức này đi vào
Trang 31cuộc sống, các chủ thể pháp luật công chứng (công chứng viên, người yêu cầucông chứng, người làm chứng, cơ quan, tổ chức, cá nhân) phải kiềm chếkhông thực hiện hành vi bị nghiêm cấm Ví dụ: Luật công chứng quy định
"nghiêm cấm công chứng viên sách nhiễu, gây khó khăn cho người yêu cầucông chứng", nghĩa là khi công chứng viên không gây khó khăn cho ngườiyêu cầu công chứng thì lợi ích của người yêu cầu công chứng được bảo vệ,ngược lại, khi công chứng viên gây khó khăn, lợi ích của người yêu cầu côngchứng sẽ bị xâm phạm Tuy nhiên, nội dung của quy định phải rõ ràng, dễthực hiện, thực tế cho thấy thế là "gây khó khăn" không quy định hành vi cụthể, do đó chủ thể khó có thể thực hiện được
- Thi hành pháp luật công chứng: là một hình thức thực hiện pháp
luật, trong đó chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực.Những quy phạm pháp luật quy định khoản 2 Điều 22 (Nghĩa vụ của công chứngviên), Điều 32 (Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng) thể hiện dưới hìnhthức này Để hình thức này đi vào cuộc sống, các chủ thể công chứng (công chứngviên, tổ chức hành nghề công chứng) cần tích cực, chủ động thực hiện các quyđịnh về nghĩa vụ cụ thể Ví dụ: Luật công chứng quy định công chứng viên cónghĩa vụ tuân thủ nguyên tắc hành nghề công chứng có nghĩa là bằng hành vi chủđộng của mình, khi hành nghề công chứng, công chứng viên phải tuân thủ nguyêntắc hành nghề đã được pháp luật quy định Nếu công chứng viên không tuân thủnguyên tắc hành nghề, sẽ dẫn tới vi phạm pháp luật
- Sử dụng pháp luật công chứng: là hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó, các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện nhữnghành vi mà pháp luật cho phép) Ở hình thức này, chủ thể pháp luật có thể thựchiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật trao, theo ý thức của mình, chứkhông bị ép buộc phải thực hiện Những quy phạm pháp luật
Trang 32quy định tại khoản 1 Điều 22 (Quyền của công chứng viên), Điều 31 (Quyềncủa tổ chức hành nghề công chứng) thể hiện dưới hình thức này Để hình thứcnày đi vào cuộc sống, các chủ thể pháp luật công chứng (công chứng viên, tổchức hành nghề công chứng) có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyềncủa mình Ví dụ: Luật công chứng quy định "Tổ chức hành nghề công chứng
có quyền thuê nhân viên làm việc cho tổ chức hành nghề công chứng" Thực
tế cho thấy, có những tổ chức hành nghề công chứng thuê nhân viên làm việc,đặc biệt là các văn phòng công chứng, thuê nhiều hay ít nhân viên phụ thuộcvào hiệu quả của từng tổ chức hành nghề công chứng Nhưng cũng có những
tổ chức hành nghề công chứng không thuê nhân viên làm việc, việc nàykhông bị coi là hành vi vi phạm pháp luật
- Áp dụng pháp luật công chứng: là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chứccho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật Trong trường hợp này, các chủthể pháp luật thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước Trong trường hợp đặcbiệt, theo quy định của pháp luật, cơ quan tổ chức xã hội cũng có thể thực hiện hoạtđộng này Áp dụng pháp luật công chứng gồm các chủ thể sau: cán bộ, công chứngphụ trách lĩnh vực công chứng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Tư phápthành phố Hà Nội; công chứng viên hoạt động tại các tổ chức hành nghề công chứng,trong đó các công chứng viên là chủ thể quan trọng Ví dụ: Những quy phạm phápluật quy định tại Điều 27 (thành lập và đăng ký hoạt động Văn phòng công chứng),Điều 35 (Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn) thể hiện dưới hìnhthức này Theo quy định tại Điều 27, khi nhận được hồ sơ đề nghị thành lập và đăng
ký hoạt động Văn phòng công chứng, các cán bộ, công chức phụ trách lĩnh vực côngchứng của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Tư pháp thành phố Hà Nội phảiban hành văn bản áp dụng pháp luật, từ đó Văn
Trang 33phòng công chứng được phép thành lập và hoạt động Theo quy định tại Điều
35, khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành cácthủ tục theo quy định của pháp luật để ban hành văn bản áp dụng pháp luật,làm phát sinh giá trị thực hiện của hợp đồng, giao dịch Để hình thức này đivào cuộc sống đòi hỏi phải nâng cao ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn,kinh nghiệm thực tiễn của các cán bộ, công chức, các công chứng viên để việcban hành các văn bản áp dụng pháp luật nhanh chóng, kịp thời và chính xác
1.2.3 Nội dung thực hiện pháp luật công chứng
Các quy phạm pháp luật về công chứng được quy định trong nhiềuvăn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nội dung rấtrộng, liên quan đến tất cả các mặt của lĩnh vực công chứng Tuy vậy, có thểkhái quát nội dung thực hiện pháp luật công chứng trên 3 vấn đề chủ yếu:thực hiện quy định của pháp luật về công chứng viên; thực hiện quy định củapháp luật về tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện quy định của pháp luật
về thủ tục công chứng
Thực hiện quy định của pháp luật về công chứng viên là việc thực
hiện các quy định từ Điều 13 đến Điều 22 trong Chương II của Luật Côngchứng số 82/2006/QH11, bao gồm các quy định về tiêu chuẩn công chứngviên, đào tạo nghề công chứng, người được miễn đào tạo nghề công chứng,tập sự hành nghề công chứng, người được miễn tập sự hành nghề công chứng,
bổ nhiệm công chứng viên, những trường hợp không được bổ nhiệm côngchứng viên, miễn nhiệm công chứng viên, tạm đình chỉ hành nghề côngchứng, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên
Thực hiện quy định của pháp luật về tổ chức hành nghề công chứng
là việc thực hiện các quy định từ Điều 23 đến Điều 34 trong Chương III củaLuật Công chứng số 82/2006/QH11, bao gồm các quy định về hình thức tổchức hành nghề công chứng, phòng công chứng, thành lập phòng công chứng,
Trang 34văn phòng công chứng, thành lập và đăng ký hoạt động phòng công chứng,thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, cung cấpthông tin về nội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, đăng báonội dung đăng ký hoạt động của văn phòng công chứng, quyền của tổ chứchành nghề công chứng, nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, giải thểphòng công chứng, chấm dứt hoạt động văn phòng công chứng.
Thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục công chứng là việc thực
hiện các quy định từ Điều 35 đến Điều 52 trong Chương IV của Luật Côngchứng số 82/2006/QH11, bao gồm các quy định về công chứng hợp đồng, giaodịch đã được soạn thảo sẵn, công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viênsoạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, thẩm quyền công chứnghợp đồng, giao dịch về bất động sản, thời hạn công chứng, địa điểm công chứng,chữ viết trong văn bản công chứng, ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng, việcghi trang, tờ trong văn bản công chứng, sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản côngchứng, công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch, ngườiđược đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, phạm
vi áp dụng, công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản, công chứng di chúc,công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, công chứng văn bản khai nhận disản, công chứng văn bản từ chối nhận di sản, nhận lưu giữ di chúc
1.2.4 Vai trò thực hiện pháp luật công chứng
Thực hiện pháp luật công chứng là hiện tượng, quá trình có mục đíchlàm cho các quy phạm pháp luật về công chứng trở thành hoạt động thực tếcủa các chủ thể pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịchdân sự, kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham giagiao dịch, đáp ứng yêu cầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính,cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
Từ khái niệm trên cho thấy, vai trò của thực hiện pháp luật côngchứng chính là bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, bảo
Trang 35vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch, đáp ứng yêucầu công cuộc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, cải cách tư pháp và hộinhập quốc tế Bằng các hành vi hợp pháp của mình, với những trình tự, thủtục được pháp luật quy định chặt chẽ, các công chứng viên bảo đảm tính xácthực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, trong đó bao gồm việc xác định nănglực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch, mục đích, nội dung của hợpđồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đốitượng của hợp đồng, giao dịch là có thật, chữ ký là đúng của người tham giagiao dịch Như vậy, hợp đồng, giao dịch sau khi được công chứng sẽ là hợpđồng đúng quy định của pháp luật, được nhà nước thừa nhận, bảo vệ và bảođảm thực hiện, có giá trị thi hành đối với các bên; quyền lợi và nghĩa vụ củacác bên tham gia hợp đồng, giao dịch được bảo đảm, đúng với nguyện vọng,mong muốn của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật Các bên thamgia hợp đồng, giao dịch, dù là cá nhân hay tổ chức, dù là có hay không cótrình độ, nhận thức, hiểu biết về pháp luật đều được các công chứng viên bảođảm quyền và lợi ích khi tham gia quan hệ dân sự, kinh tế, góp phần phòngngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho các hoạt động giaodịch, hạn chế tối đa hậu quả đáng tiếc và không đáng có xảy ra trong các quan
hệ dân sự, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, bảo đảm dân chủ, công bằng,giữ vững ổn định trong giao lưu dân sự, đồng thời bảo đảm cho các tranh chấpphát sinh một cơ sở pháp lý đáng tin cậy để giải quyết theo hướng tích cực,tạo lối ra an toàn cho các tranh chấp đó Các cơ quan xét xử lấy đó làm cơ sởpháp lý để giải quyết vụ tranh chấp được an toàn, nhanh chóng
Ngoài ra, việc thực hiện pháp luật công chứng đã hiện thực hóa chủtrương xã hội hóa lĩnh vực công chứng, huy động được sự tham gia của các cánhân, tổ chức trong lĩnh vực công chứng, các văn phòng công chứng ra đời, từngbước khẳng định được vị thế, đáp ứng nhu cầu công chứng các hợp đồng, giaodịch ngày càng nhiều hơn, đa dạng, phong phú hơn, đòi hỏi phải chặt chẽ về
Trang 36mặt pháp lý, đơn giản về mặt thủ tục hành chính, nhanh chóng, thuận tiện Cùngvới sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) và trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN, tăngcường tham gia các khu vực mậu dịch tự do trên thế giới thì hoạt động côngchứng càng trở nên cần thiết đối với người dân và doanh nghiệp Xét trên góc độxây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội công dân và nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa thì công chứng vừa là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của công dân, vừa là công cụ quản lý, vừa là công cụ hỗ trợquan trọng cho các hoạt động tư pháp và là một trong những điều kiện cơ bảngóp phần đẩy nhanh việc phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
1.2.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật công chứng
1.2.4.1 Pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành (hoặcthừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xãhội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn địnhtrong xã hội
Hiện nay, các quy định của pháp luật về công chứng không chỉ đượcquy định trong Luật Công chứng mà còn được quy định trong rất nhiều cácđạo luật khác: Bộ luật Dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bấtđộng sản, Luật hôn nhân và gia đình, Luật doanh nghiệp, Luật hộ tịch, Luậtkinh doanh bất động sản, Luật cư trú Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnhviệc sửa đổi Luật Công chứng, các luật liên quan đến lĩnh vực công chứng đã
và đang được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy định mới:
- Luật Thủ đô số 25/2012/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013
- Luật số 36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cư trú,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014
- Luật số 37/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung Điều 170 của Luật doanh nghiệp, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2013
Trang 37- Luật đất đai số 45/2013/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2014, thay thế Luật đất đai số 13/2003/QH11
- Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015 thay thế Luật hôn nhân và gia đình số 22/2000/QH10
- Luật hộ tịch số 60/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.
- Luật nhà ở số 65/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày01/7/2015, thay thế Luật nhà ở số 56/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một sốđiều theo Luật số 34/2009/QH12 và Luật số 38/2009/QH12
- Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13, có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2015, thay thế Luật kinh doanh bất động sản số 63/2006/QH11
- Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015, thay thế Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005
Đồng thời, Quốc hội đã cho ý kiến lần đầu tại kỳ họp thứ 8 về Bộ luật Dân sự (sửa đổi)
Điều này tác động lớn đến việc thực hiện pháp luật công chứng, cácluật có thời điểm hiệu lực, số lượng văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thihành khác nhau, dẫn tới việc thực hiện pháp luật không ổn định, các quytrình, thủ tục, hồ sơ liên tục thay đổi, gây khó khăn cho các công chứng viêntrong việc hướng dẫn, thực hiện hoạt động công chứng, ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan
1.2.4.2 Công tác tổ chứ c quả n lý củ a cơ quan nhà nư ớ c có thẩ m quyề n
Quản lý nhà nước về công chứng là loại hoạt động quản lý mang tínhchất quyền lực hành chính của Nhà nước do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền do pháp luật quy định thực hiện Quản lý nhà nước về công chứngnhằm tác động lên quá trình tổ chức và hoạt động công chứng làm cho quátrình này diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật và đạt được mục đích địnhtrước Cụ thể là góp phần bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh
tế, thương mại và quan hệ khác, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật,
Trang 38tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước vềcông chứng Ngoài ra, Bộ Ngoại giao, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cáctỉnh là những cơ quan khác tham gia quản lý nhà nước về công chứng vớinhững trách nhiệm nhất định Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đượcquy định tại Điều 11 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 Việc thực hiệnđúng quy định, đầy đủ, kịp thời trách nhiệm của mình trong quản lý nhà nước
sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả của hoạt động công chứng Ngược lại,nếu việc thực hiện không đúng quy định, chậm hoặc không đầy đủ sẽ ảnhhưởng tiêu cực đến hoạt động công chứng
Thực tiễn cho thấy, trong việc thực hiện trách nhiệm của mình, Bộ Tưpháp có một số tồn tại sau: Chậm ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành công việc quy định pháp luật về công chứng Luật Công chứng
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007 Tuy nhiên, ngày 04/01/2008, Bộ Tưpháp mới tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2008/NĐ-CP quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng Ngày20/02/2008, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP về việc banhành một số mẫu giấy tờ trong hoạt động công chứng Đến ngày 30/10/2012, Bộ
Tư pháp mới có Thông tư số 11/2012/TT-BTP ban hành quy tắc đạo đức hànhnghề công chứng Cho đến nay vẫn chưa ban hành chương trình khung đào tạonghề công chứng Đây là những văn bản quan trọng góp phần đưa các quy địnhcủa Luật Công chứng đi vào cuộc sống
Ngoài ra, Bộ Tư pháp còn sử dụng nhiều công văn để điều hành, quản
lý trong lĩnh vực công chứng: Công văn số 2057/BTP-HCTP ngày 9/5/2007
về việc công chứng hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai;Công văn số 3830/BTP-HCTP ngày 10/9/2007 gửi Giám đốc Sở Tư pháp cáctỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc đăng ký hoạt động văn phòngcông chứng; Công văn số 3834/BTP-HCTP ngày 13/9/2007 về nghiệp vụcông chứng Đây là những văn bản có giá trị pháp lý thấp, giá trị thực hiện
Trang 39không cao, không bảo đảm thực hiện thống nhất pháp luật về công chứng.
1.2.4.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
Nền kinh tế, xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiệnthuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, tác động tích cực tới việc nângcao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của các tầng lớp xã hội Ngược lại,kinh tế, xã hội chậm phát triển, kém năng động và hiệu quả sẽ ảnh hưởng tiêucực tới thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, kinh tế đất nước phát triển, tốc độtăng trưởng kinh tế ổn định qua các năm, đời sống vật chất, tinh thần của ngườidân không ngừng được nâng lên, nhu cầu thực hiện các hợp đồng, giao dịch cócông chứng ngày càng tăng, yêu cầu, đòi hỏi đối với công chứng viên phải cótrình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao để xử lý nhanh, bảo đảm chất lượng, sốlượng các tổ chức hành nghề công chứng phải nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu,trách nhiệm quản lý nhà nước nặng nề hơn, cần phải tăng cường tranh tra, kiểmtra để bảo đảm các quy định của pháp luật công chứng được thực hiện đúng vàchính xác Tuy nhiên, cũng chính sự phát triển kinh tế, xã hội dưới tác động củakinh tế thị trường, nhiều tiêu cực trong hoạt động công chứng cũng nảy sinh, cónhững công chứng viên do hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ đã công chứngbừa, công chứng ẩu, thậm chí tiếp tay với kẻ xấu công chứng sai, gây thiệt hạilớn cho người yêu cầu công chứng và nhà nước; các tổ chức hành nghề côngchứng cạnh tranh không lành mạnh, bỏ qua các thủ tục mà pháp luật quy định,công chứng mọi nơi, mọi lúc gây méo mó hình ảnh hoạt động công chúng, ảnhhưởng tới tính nghiêm minh của pháp luật
1.2.4.4 Ý thức pháp luật
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể pháp luậtthông qua sự tác động vào ý thức của họ Ý thức pháp luật của chủ thể càngcao thì việc thực pháp luật càng đúng đắn, hiệu quả
Thực tế cho thấy, ý thức pháp luật của người dân ngày càng tăng, hiểu
Trang 40biết về pháp luật cũng tăng lên, trước đây còn bị động trong việc thực hiện cácthủ tục công chứng, nay họ đã chủ động tìm hiểu, nghiên cứu trước khi yêucầu thực hiện thủ tục công chứng, thậm chí hồ sơ đã được chuẩn bị đầy đủ,chính xác, khi nộp hồ sơ là các công chứng viên có thể tiếp nhận và thực hiệnngay việc công chứng hợp đồng, giao dịch, thời gian thực hiện thủ tục đượcrút ngắn, tiết kiệm công sức, tiền bạc cho các chủ thể Tuy nhiên, nhận thứccủa người dân ở khu vực ngoại thành, nông thôn, vùng sâu, vùng xa rất thấp,hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật công chứng nói riêng rất kém,nhiều trường hợp đọc mà không hiểu nội dung của hợp đồng, giao dịch, côngchứng viên đã giải thích nhưng vẫn đồng ý thực hiện hành vi công chứng cóthể gây thiệt hại cho chính bản thân mình.
Đối với các công chứng viên, cơ quan quản lý nhà nước, ý thức phápluật cao giúp cho việc lựa chọn quy phạm pháp luật, ra quyết định và tổ chứcthực hiện đúng đắn, hợp lý và chính xác
Do đó, cần phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo,nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao nhận thức, ý thức phápluật của chủ thể pháp luật, để họ có thể hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình,chủ động trong việc thực hiện pháp luật, góp phần rút ngắn thời gian, côngsức, tiền bạc khi thực hiện thủ tục công chứng