Tính mới và những đóng góp của đề tài Luận văn sẽ tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luậncũng như thực trạng của việc xây dựng Cộng đồng ASEAN trên tất cả các lĩnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN BÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
ĐỖ XUÂN ĐANG
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt
Danh mục các bảng, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG ASEAN 5
1.1 Các điều kiện tự nhiên, chính trị, xã hội 5
1.2 Những kết quả của quá trình hợp tác ASEAN 7
1.2.1 Sự phát triển của ASEAN – tiền đề cần thiết của Cộng đồng ASEAN 7
1.2.2 Quan hệ ASEAN với các đối tác đối thoại ngoài ASEAN 9
1.3 Các tiền đề chính trị, pháp lý cho Cộng đồng ASEAN 10
1.4 Cơ sở về chính sách hợp tác ASEAN 11
1.4.1 Sự tiến triển về nhận thức hình thành Cộng đồng ASEAN 11
1.4.2 Tiến triển về mô hình và nội dung liên kết của ASEAN 14
1.4.3 Sự tiến triển về thể chế liên kết ASEAN 19
1.4.4 Tiến triển về lộ trình tiến tới cộng đồng 22
Chương 2: NỘI DUNG, LỘ TRÌNH THỰC HIỆN XÂY DỰNG CỘNG ĐỒNG ASEAN 37
2.1 Cộng đồng về Chính trị - An ninh ASEAN 37
2.1.1 Nội dung của APSC 37
2.1.2 Biện pháp và lộ trình thực hiện của APSC 40
2.2 Cộng đồng ASEAN về Văn hóa – Xã hội 44
2.2.1 Nội dung của ASCC 44
2.2.2 Biện pháp và lộ trình thực hiện của ASCC 47
2.3 Cộng đồng ASEAN về Kinh tế 49
2.3.1 Nội dung của AEC 49
Trang 52.3.2 Biện pháp và lộ trình thực hiện của AEC 55
Chương 3: NHỮNG THÁCH THỨC VỀ PHÁP LÝ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 70
3.1 Các vấn đề pháp lý khi xây dựng Cộng đồng ASEAN 70
3.1.1 Một số thách thức chung 70
3.1.2 Những hạn chế trong thực hiện cam kết Cộng đồng AC 77
3.1.3 Tổ chức và cơ chế ra quyết định của ASEAN 88
3.1.4 Cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN 94
3.2 Một số kiến nghị cho ASEAN và các giải pháp cho Việt Nam 97
3.2.1 Một số kiến nghị đối với ASEAN 97
3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vị thế của Việt Nam trong AC 113
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6KÝ HIỆUACIAAEC
AFASAFTAAIA
AICOAIP
AIPA
AMMAPECARF
ATIGAAPSCASCCASEANASEMCEPTCLM
CLMV
Trang 7SEANWFZTAC
TIG
USD
VAP
ZOPFAN
Trang 9MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết và tình hình nghiên cứu của đề tài
Sự ra đời của tổ chức ASEAN với mục đích phát triển bền vững, bảo đảm anninh, ổn định về các mặt đối nội và đối ngoại cho ASEAN nói chung, giữa các quốcgia thành viên với nhau và ASEAN với bên ngoài nói riêng Cùng với thời gian (gần
5 thập kỷ tồn tại và phát triển), ASEAN ngày càng lớn mạnh trở thành một thực thểchính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định vàhợp tác ở khu vực và trên thế giới, là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổchức lớn trên thế giới ASEAN đang hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEANvững mạnh dựa trên ba trụ cột là: Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC); Cộng đồngKinh tế (AEC); và Cộng đồng Văn hóa và Xã hội (ASCC)
Theo lộ trình đã được lãnh đạo ASEAN thống nhất, Cộng đồng ASEAN sẽhình thành vào ngày 31/12/2015 Đây là dấu mốc rất có ý nghĩa và trọng đại tronglịch sử phát triển của ASEAN Với 3 trụ cột là: chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-
xã hội sẽ là nền móng, là cơ sở để ASEAN phát triển, hội nhập và thịnh vượng.Hiện nay, lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN đã đạt được khoảng 93% khốilượng Tuy nhiên, gần 7% công việc còn lại đều là những vấn đề quan trọng, đòi hỏiASEAN phải nỗ lực để hoàn thành, ví dụ như: vấn đề về hải quan; về giao thươngdịch vụ; và về việc gỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan; đặc biệt là các vấn đề về nộihóa thực hiện các cam kết khu vực, nguồn lực thực hiện, mức độ hiểu biết củangười dân ASEAN về Hiệp hội Đây là các vấn đề cốt lõi cho hội nhập và phát triển
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thực tế dự đoán cộng đồng kinh tế(AEC) sẽ chỉ thật sự đi vào hoạt động vào năm 2025, tức mười năm sau mục tiêucủa ASEAN, vì những cản trở về phi thuế quan từ các nước thành viên và rất khó đểASEAN có thể đạt được toàn bộ mục tiêu vào năm 2015 Hệ thống pháp lý đã hìnhthành và ngày càng hoàn thiện của ASEAN là nền tảng cơ bản của quá trình hộinhập và cần hiện thực hóa những quy định của ASEAN để tăng cường tính pháp lý,hiệu quả hội nhập trên các lĩnh vực của ASEAN Các thành viên ASEAN khôngngừng hợp tác với các đối tác, trên cơ sở hệ thống pháp luật ASEAN và đóng góp ýkiến để hoàn thiện những quy định này Tuy ASEAN có nhiều cơ hội để phát triển,
Trang 10riêng phải hợp tác, liên kết chặt chẽ hơn nữa, cùng nhau đưa ra những ý tưởng mới
và biện pháp thực hiện các ý tưởng đó để biến “Tầm nhìn 2020” thành hiện thực,xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN
ASEAN và vấn đề hợp tác phát triển đã được nghiên cứu và giảng dạy trong
các trường Đại học Có nhiều cuốn sách và bài viết về ASEAN như: Liên kết kinh tế ASEAN, vấn đề và triển vọng của tác giả Trần Đình Thiên, NXB Thế giới, 2005; Ngoài ra, đã có khá nhiều Luận văn viết về đề tài ASEAN, ví dụ như: Hiện thực hóa cộng đồng ASEAN 2015: Thuận lợi và trở ngại của Hoàng Thị Thanh Nhàn và Võ Xuân Vinh, tập 29, số 4, Chuyên san Kinh tế và kinh doanh, 2013; Tiến trình xây dựng cộng đồng an ninh ASEAN của Trần Ánh Phương, Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2010; Hiện thực hóa Cộng đồng chính trị-an ninh ASEAN của Nguyễn Thị Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Nội, 2013 Bên cạnh đó các nhiều bài viết về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đăngtrên các tạp chí chuyên ngành, đáng chú ý là Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu
lý luận, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Như vậy,hầu như các công trình, bài viết này chỉ nhìn nhận dưới góc độ kinh tế - chính trịhọc chứ không phải là luật học, đồng thời, chưa khai thác được những cơ hội vàthách thức pháp lý cho xây dựng Cộng đồng ASEAN
Ngày 31/12/2015, Cộng đồng ASEAN sẽ chính thức ra đời Đây là dấu mốcquan trọng trong lịch sử của ASEAN Dưới mái nhà chung ASEAN, các dân tộc ởĐông Nam Á sẽ chung sống, gắn kết, chia sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đườngmới của mình Mặc dù chưa là hiện thực, nhưng ngay từ lúc này, sự kiện đó đangthu hút mối quan tâm không chỉ của ASEAN mà của cả cộng đồng quốc tế
Vì các lý do nói trên, tác giả chọn đề tài “Tiến trình xây dựng Cộng đồng
ASEAN: thời cơ và thách thức pháp lý” để làm Luận văn thạc sỹ là có tính cấp
thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2. Mục tiêu nghiên cứu
Khái quát quá trình hình thành và phát triển của ASEAN trong xu thế toàncầu hóa - khu vực hóa, cũng như những điều kiện địa – kinh tế - xã hội của khu vựcASEAN, Luận văn phân tích cơ sở hình thành Cộng đồng ASEAN
Trên cơ sở hình thành Cộng đồng ASEAN, Luận văn sẽ nghiên cứu nội
Trang 11dung, lộ trình thực hiện Cộng đồng ASEAN trong các lĩnh vực an ninh – chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội.
Luận văn chỉ ra những thách thức trong quá xây dựng Cộng đồng ASEAN Từ
đó, Luận văn đưa ra những kiến nghị phục vụ cho việc xây dựng Cộng đồng ASEAN
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn sẽ tổng hợp, phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luậncũng như thực trạng của việc xây dựng Cộng đồng ASEAN trên tất cả các lĩnh vực
an ninh – chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội;
Luận văn sẽ nhấn mạnh tính cấp thiết của việc hợp tác trong nội khốiASEAN nhằm thực hiện thành công việc xây dựng Cộng đồng ASEAN;
Luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị có giá trị thực tiễn, có thể làm cơ sởpháp lý tham khảo có giá trị trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN, cũng như lànguồn tài liệu tham khảo cho việc đào tạo và nghiên cứu khoa học về ASEAN tạicác cơ sở đào tạo luật nói chung và pháp luật về ASEAN nói riêng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vấn đề pháp lý của quá trình
xây dựng cộng đồng ASEAN, nghiên cứu về ASEAN nói chung, đặc biệt tập trungnghiên cứu trên cơ sở của ba trụ cột: Cộng đồng An ninh – Chính trị; Cộng đồngKinh tế; và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài có nội hàm rất rộng, có thể được nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau, nhưng vì giới hạn của một luận văn, tác giả chủ yếu đề cậpđến cơ sở pháp lý để hình thành Cộng đồng ASEAN, cơ hội và thách thức pháp lý củatiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN Trên cơ sở nghiên cứu các văn kiện pháp lý củaASEAN, có xem xét đến kinh nghiệm của Liên minh châu Âu (EU), tác giả đưa ra ýkiến và đóng góp cho việc xây dựng và thực hiện Cộng đồng ASEAN
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các phương pháp luận của Chủ nghĩaMác - Lê Nin, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của khoa học pháp lý truyềnthống như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu lịch sử, thống kê,logic Các phương pháp này sẽ giúp học viên nghiên cứu thành công đề tài
Trang 126. Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu làm 03 chương:
Chương 1 Những tiền đề hình thành Cộng đồng ASEAN.
Chương 2 Nội dung, lộ trình thực hiện xây dựng Cộng đồng ASEAN.
Chương 3 Những thách thức pháp lý và một số kiến nghị cho Việt Nam.
Trang 13Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG ASEAN
1.1 Các điều kiện tự nhiên, chính trị, xã hội
Là một khu vực của châu Á, Đông Nam Á nằm ở phía Nam Trung Quốc,phía Đông Ấn Độ, phía Bắc của Australia, Đông Nam Á chiếm một vị trí địa lýquan trọng trong trục lộ giao thông hàng hải quốc tế, là cửa ngõ nối liền Ấn ĐộDương và Thái Bình Dương, nối liền các quốc giá Tây Âu và Đông Á Hiện nay,ASEAN bao gồm 10 quốc gia ở Đông Nam Á: Indonesia, Malaysia, Philippines,Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanmar, Campuchia Các quốc giaASEAN (ngoại trừ Thái Lan), đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của cácquốc gia phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau
ASEAN có sự thống nhất xuất phát từ một cơ sở chung rất gần gũi nhau vềđiều kiện tự nhiên và con người [66, tr.30] Với tổng diện tích vào khoảng 4,43 triệukm2 và dân số gần 600 triệu người, tổng thu nhập quốc dân của các quốc giaASEAN năm 2009 đạt 1.492 tỉ USD [67, tr.7] Sau gần 5 thập kỷ tồn tại và pháttriển, ASEAN đã lớn mạnh, trở thành thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai tròquan trọng, đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực Hợp tác ASEANngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị - anninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường và khoahọc – công nghệ … ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ nhiều mặt với đối táctrong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như: ASEAN + 1 (hợp tác ASEANvới từng đối tác); ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao ĐôngÁ; Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)
Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liênkết nhằm hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột:Cộng đồng APSC; Cộng đồng AEC và Cộng đồng ASCC vào cuối năm 2015 Vớimục tiêu là đưa ASEAN ngày càng liên kết sâu rộng và vững mạnh hơn, hướng tớiphục vụ và nâng cao cuộc sống của người dân, khu vực hòa bình, ổn định và thịnhvượng, liên kết khu vực bền vững và hiệu quả nhằm góp phần thúc đẩy sức mạnhcủa các quốc gia Đông Nam Á
Trang 14Trước thời điểm ASEAN được thành lập, tại Đông Nam Á đã xuất hiện một
số tổ chức quốc tế như Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) thành lập 1961 với thành viên
là Thái Lan, Malaysia, Philippines và MAPHILINDO với thành viên là Malaysia,Philippines và Indonesia thành lập vào năm 1963 Vì nhiều lí do khác nhau nênnhững tổ chức này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn
ASEAN ra đời vào ngày 08/08/1967 trên cơ sở Tuyên bố Bangkok đượcthông qua tại Hội nghị bộ trưởng ngoại giao 5 quốc gia là Thái Lan, Singapore,Malaysia, Indonesia và Philippines Có thể nói, đây là sự kiện tất yếu trong bối cảnhlịch sử của khu vực lúc đó cũng như bối cảnh của từng quốc gia ASEAN 5 Nhằmtrực tiếp đảm bảo an ninh và các lợi ích chính trị cho các quốc gia ASEAN khi đó,trong các yếu tố về chính trị, kinh tế, địa lý, văn hóa – xã hội tác động đến sự ra đờicủa ASEAN thì yếu tố cơ bản là yếu tố chính trị
Do vị trí địa – chính trị quan trọng của khu vực Đông Nam Á nên hai siêucường Liên Xô (cũ) và Mỹ đều muốn tranh thủ các quốc gia ASEAN, khiến cho khuvực này trở nên hết sức nhạy cảm, trở thành “bàn cờ chính trị” [67, tr.10] để cácquốc gia lớn thi thố quyền lực và ảnh hưởng của mình Do đó, hòa bình, an ninh củacác quốc gia Đông Nam Á rất dễ bị tác động
Các quốc gia Đông Nam Á khi đó đã bị phân thành hai nhóm đối lập, chịuảnh hưởng khác nhau của các cường quốc (các quốc gia Đông Dương và các quốcgia thân phương Tây) Đặc biệt, các quốc gia ASEAN 5 lo ngại về việc bị lôi kéovào cuộc chiến tranh xâm lược mà Mỹ đang bị sa lầy tại Việt Nam
Để có thể thực thi được chính sách “cân bằng lợi ích” [67, tr.11], giảm sự
chi phối của các quốc gia lớn, cách duy nhất là các quốc gia Đông Nam Á cần thiếtphải liên kết với nhau và dựa vào nhau trong một tổ chức khu vực và đây cũngchính là nhân tố cơ bản quyết định tới sự hình thành xu hướng trung lập trong chínhsách của ASEAN sau này
Ngoài ra, hoạt động kém hiệu quả của các tổ chức tiền thân của ASEAN nhưASA và MAPHILINDO cũng dẫn đến việc cần phải thay thế bằng hình thức hợp táckhác có hiệu quả hơn
Tóm lại, dù giữa các quốc gia vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn nhưng trongbối cảnh quốc tế và ở mối quốc gia, nhất là sau khi chiến tranh ở Đông Dương đangvào giai đoạn quyết liệt thì cả năm quốc gia là thành viên sáng lập ASEAN đều
Trang 15đứng trước nhu cầu phải liên kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực chínhtrị để củng cố hòa bình và đảm bảo an toàn trong khu vực cũng như mỗi quốc gia.
Bên cạnh yếu tố về chính trị là nguyên nhân có tính quyết định, các yếu tố vềkinh tế, văn hóa – xã hội cũng là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra đời củaASEAN, là cơ sở hình thành nên Cộng đồng ASEAN
Theo đó, về kinh tế, sự phục hồi và phát triển kinh tế sau thế chiến lần thứ 2
và sau đó là toàn cầu hóa đã dẫn đến nhiều tổ chức hợp tác kinh tế khu vực đượcthành lập như: thị trường chung Trung Mỹ (CACM); khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA); cộng đồng Caribe Trào lưu khu vực hóa này đã tác động mạnh mẽtới ý tưởng xây dựng sự hợp tác khu vực ở Đông Nam Á Bên cạnh đó, vai trò củacác tổ chức quốc tế như: Liên Hợp Quốc và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB).LHQ thành lập Ủy ban kinh tế châu Á và Viễn Đông (Economic Commission forAsia and Far Est – ECAFE, 1947) nhằm thúc đẩy nền sản xuất ở các nước châu Á;ADB được thành lập gồm 31 quốc gia, trong đó có 19 quốc gia châu Á để cung cấpnguồn vốn cho sự phục hồi và phát triển kinh tế ở Châu Á (1966)
Sau khi giành được độc lập, năm quốc gia sáng lập ASEAN đều gặp phải vấn đềkhó khăn chung về kinh tế như sự lạc hậu của các cơ cấu kinh tế, tình trạng độc canh vàxuất khẩu nguyên liệu thô Vì vậy, để phát triển, các quốc gia phải hợp tác và trước hết
là hợp tác trong khu vực Văn hóa xã hội, các quốc gia ASEAN đều có nhiều nét tươngđồng về đời sống văn hóa – xã hội như tổ chức đời sống dân cư được dựa trên cộngđồng làng xã và “nền văn minh lúa nước” [67, tr13] Trừ Thái Lan, các quốc giaASEAN đều bị phương Tây đô hộ nên vừa có ý thức về nền độc lập dân tộc, vừa cónhu cầu về đảm bảo an ninh chung của khu vực và hợp tác để phát triển
ASEAN ra đời đánh dấu sự trưởng thành về chính trị của các quốc gia ĐôngNam Á, thể hiện quyết tâm tự gánh vác trách nhiệm đối với sự phát triển của đấtnước cũng như khu vực, đặc biệt trong vấn đề an ninh mà không dựa vào ngoại lựcbên ngoài Sự hình thành ASEAN đã đặt nền móng cho sự hợp tác và phát triểntrong mọi lĩnh vực của các quốc gia Đông Nam Á trong hiện tại và tương lai
1.2 Những kết quả của quá trình hợp tác ASEAN
1.2.1 Sự phát triển của ASEAN – tiền đề cần thiết của Cộng đồng ASEAN
Trong Tuyên bố thành lập ASEAN được ký tại Bangkok ngày 08/8/1967 đã
Trang 16ghi nhận rằng Hiệp hội ASEAN mở rộng cho tất cả các quốc gia ở khu vực ĐôngNam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích nói trên tham gia [4] và tiếp tụcđược khẳng định lại trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á [6] Tuynhiên, phải đợi đến năm 1984, tức là 17 năm sau ngày thành lập, ASEAN mới bắtđầu tiếp nhận thêm Brunei, quốc gia có dân số ít nhất ở Đông Nam Á Tuy nhiên,ngay sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, cả ASEAN và Đông Dương đều nhận thấy
sự cần thiết phải hợp tác với nhau trong một tổ chức chung Sau nhiều cân nhắc vềcách thức và thời điểm mở rộng ASEAN, ngày 28/7/1995, ASEAN đã kết nạp ViệtNam, sau đó là Lào, Myanmar (1998) và Campuchia (1999) Như vậy, ASEAN làmột tổ chức hợp tác khu vực đã hình thành ASEAN-10 đã thật sự là một khối chínhtrị và kinh tế lớn trên thế giới Vì vậy, sự phát triển của ASEAN trong hơn bốn thập
kỷ qua chính là tiền đề cần thiết cho sự phát triển thành cộng đồng ASEAN
ASEAN đã xây dựng được những nguyên tắc ứng xử giữa các nước thànhviên làm cơ sở cho các hoạt động của Hiệp hội ASEAN đã thống nhất đưa ra một
số quy tắc ứng xử trong Điều 2 của Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á(TAC) và đề ra các nguyên tắc giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên theocác Điều 13, 14, 15, chương IV Hiệp ước Bali 1976 Trong đó chỉ rõ các bên thamgia sẽ thành lập một Hội đồng cấp cao bao gồm một đại diện cấp Bộ trưởng của mỗibên tham gia hiệp ước, để ghi nhận sự tồn tại của các tranh chấp hoặc tình hình cóthể phá rối hòa bình và hòa hợp trong khu vực Trong trường hợp không đạt đượccác giải pháp thông qua thương lượng trực tiếp, Hội đồng cấp cao sẽ ghi nhận tranhchấp hoặc có những khuyến nghị về những giải pháp thích đáng đối với các bêntranh chấp Như vậy, với việc đưa ra sáu nguyên tắc ứng xử trong Hiệp ước Bali,các nhà lãnh đạo ASEAN đã bước đầu thành công trong việc đặt ra những cơ chếhợp tác khu vực để tạo cơ sở cho việc duy trì hòa bình, ổn định và loại trừ nguy cơxung đột nội bộ giữa các nước thành viên của mình
ASEAN đã xây dựng được các cơ chế hợp tác khu vực ASEAN cũng đãnhận thấy sự cần thiết phải tạo ra một cơ chế hợp tác khu vực nhằm thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực [4] Ngay từ Hộinghị AMM lần ba (1969) các nhà lãnh đạo ASEAN đã thành lập một nhóm chuyêngia tìm hiểu và nghiên cứu về các khả năng hợp tác của ASEAN (từ năm 1969 đến
Trang 17năm 1972) Báo cáo về kết quả nghiên cứu trong ba năm này đã được trình bày tạiHội nghị AMM lần năm (1972) Tại Hội nghị lần đầu tiên Bộ trưởng kinh tếASEAN với sự tham gia của năm nước thành viên đã đưa ra thảo luận những đềxuất, sáng kiến về hợp tác kinh tế Những khuyến nghị của họ đã được Hội nghịThượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất chấp nhận và được phản ánh trong Tuyên bố hòahợp ASEAN với các nội dung về các hàng hóa cơ bản, về công nghiệp, thương mại[7] Ngoài ra, ASEAN còn có kế hoạch tìm kiếm và mở rộng thị trường cho hànghóa của ASEAN ở ngoài khu vực và hợp tác khoa học công nghệ.
ASEAN đã đưa ra nhiều chương trình hợp tác kinh tế trong nội bộ khu vựcnhư Thỏa thuận ưu đãi mậu dịch (PTA), Chương trình công nghiệp ASEAN,Chương trình bổ sung công nghiệp (AIC) và Bổ sung nhãn hiệu công nghiệp (BBC),Liên doanh công nghiệp (AIJV) và Chương trình xây dựng Khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA)
1.2.2 Quan hệ ASEAN với các đối tác đối thoại ngoài ASEAN
Hiện nay, ASEAN đã có 10 nước lớn (ví dụ như, Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU )ngoài khu vực là đối tác đối thoại Quan hệ này đã mang lại cho ASEAN những sựbảo đảm về an ninh, chính trị cũng như những lợi ích về kinh tế ASEAN đã lập ranhiều cơ chế hợp tác đa phương và song phương, như: Diễn đàn khu vực ASEAN(ARF); ASEAN + 3; ASEAN + 1; và Thượng đỉnh Đông Á (EAS) Trong các cơ chếhợp tác này, ASEAN luôn đóng vai trò là trung tâm nhằm giải quyết các vấn đề liênquan tới hòa bình, an ninh và phát triển của Đông Nam Á, cũng như nâng cao vị thếchính trị và kinh tế của ASEAN trên thế giới Cụ thể như:
Thứ nhất, ASEAN tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư vào các nền kinh tế ASEAN
Thứ hai, ASEAN đã ký kết các Hiệp định thương mại tự do với các đối tác
bên ngoài như: Trung Quốc (2002); Nhật Bản (2008); Ấn Độ, Australia, NewZealand (2009) nhằm mở rộng thị trường cho hàng hóa của ASEAN ra ngoài khuvực (Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản ) ngày càng tăng
Thứ ba, các sáng kiến hội nhập kinh tế khu vực như AFTA, AICO, AIA…
của ASEAN đã tạo điều kiện quan trọng để ASEAN gia tăng trao đổi hàng hóa vàđầu tư
Trang 18Thứ tư, sáng kiến hội nhập ASEAN và ủng hộ các nỗ lực hợp tác tiểu vùng
đã giúp các nước thành viên thu hẹp khoảng cách phát triển
Hiện nay, ASEAN đã có các tam giác tăng trưởng, như: Indonesia, Malaysia
và Singapore (ISM-GT); Indonesia, Malaysia và Thái Lan (IMT-GT); khu vực tăngtrưởng phía Đông ASEAN (BIMP-EAGA); tam giác phát triển CLV… Để tạo thuậnlợi cho hợp tác quốc tế của các tam giác tăng trưởng trên, tại Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ 6 (Hà Nội tháng 12/1998), ASEAN đã chính thức công nhận hợptác tiểu vùng là một hình thức hội nhập khu vực của ASEAN Chính sự thừa nhậnnày đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào các khu vực nói trên
Như vậy, với những kết quả hợp tác nêu trên, đã từng bước tạo đà vững chắc
cho hình thành Cộng đồng ASEAN trong tương lai
1.3 Các tiền đề chính trị, pháp lý cho Cộng đồng ASEAN
Lãnh đạo các nước ASEAN đã thông qua văn kiện quan trọng Tầm nhìnASEAN 2020, với mục tiêu tổng quát là đưa Hiệp hội trở thành một nhóm hài hòacác dân tộc Đông Nam Á, gắn bó trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫnnhau Để triển khai Tầm nhìn 2020, Hội nghị Cấp cao ASEAN 6 (Hà Nội, tháng12/1998) đã thông qua Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) cho giai đoạn 1999-
2004, trong đó đề ra các phương thức hoạt động cụ thể để thúc đẩy hợp tác ASEANtrên các lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế, văn hóa-xã hội và quan hệ đối ngoại
Tháng 10/2003, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố Hòa hợpASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II), đề ra mục tiêu hình thành Cộng đồngASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: APSC, AEC và ASCC; đồng thời khẳngđịnh ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vìmục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi ở khu vực Để triển khai
và kế tục Chương trình Hành động Hà Nội, ASEAN đã đề ra Chương trình Hànhđộng Viên Chăn (VAP) cho giai đoạn 2004-2010 và các Kế hoạch hành động để xâydựng ba trụ cột nói trên, trong đó có hợp phần quan trọng là thực hiện Sáng kiếnLiên kết ASEAN (IAI) nhằm giúp thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN vớicác kế hoạch hành động và các dự án cụ thể
Để kịp thích ứng với những chuyển biến tình hình quốc tế và khu vực cũngnhư trên cơ sở những thành tựu của ASEAN trong gần 50 năm qua, nhất là kết quả
Trang 19thực hiện Chương trình Hành động Viên Chăn (VAP), Lãnh đạo các nước ASEAN(tháng 1/2007) đã quyết tâm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối dựa trên cơ sởpháp lý là Hiến chương ASEAN, nhất trí vì mục tiêu hình thành Cộng động ASEANvào năm 2015 (thay vì vào năm 2020 như thỏa thuận trước đây).
ASEAN đã khẩn trương xúc tiến xây dựng các Kế hoạch tổng thể(Blueprints) để xây dựng các Cộng đồng: APSC, AEC và ASCC, trong đó đề ra mụctiêu và thời hạn hoàn thành đối với từng biện pháp/hoạt động cụ thể Tại Hội nghịCấp cao ASEAN-13 (tháng 11/2007), Hiến chương ASEAN đã được ký kết nhằmtạo cơ sở pháp lý và khuôn khổ thể chế cho gia tăng liên kết khu vực, trước mắt là
hỗ trợ mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Hiến chươngASEAN đã chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008
Hội nghị Cấp cao ASEAN-14 (tháng 2/2009) đã thông qua Tuyên bố về Lộtrình xây dựng Cộng đồng ASEAN kèm theo 3 Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụcột Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch công tác về IAI giai đoạn 2 (2008-2015) Đây
là một văn kiện quan trọng như một chương trình hành động tổng thể cho giai đoạntiếp theo để tiếp tục thực hiện mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm
2015, kế tục Chương trình Hành động Viên Chăn
Qua các văn kiện pháp lý của ASEAN nêu trên đã cho thấy nền tảng pháp lýcủa ASEAN đã được hình thành, đặc biệt Hiến chương ASEAN đã thiết lập đượckhuôn khổ thể chế gia tăng liên kết trong ASEAN là những điều kiện pháp lý choxây dựng Cộng đồng ASEAN thành công vào cuối năm 2015
1.4 Cơ sở về chính sách hợp tác ASEAN
1.4.1 Sự tiến triển về nhận thức hình thành Cộng đồng ASEAN
Ý tưởng thành lập một tổ chức khu vực ở Đông Nam Á đã được hình thành
từ năm 1947 qua sáng kiến của lãnh tụ Miến Điện (Myanmar) Aung San Theo đó sẽthành lập một liên bang gồm các nước Miến Điện, Thái Lan, các nước ĐôngDương, Indonesia, Philippines và Malaysia, nhằm mục đích hợp tác kinh tế Sau đócòn nhiều sáng kiến khác, ví dụ như sáng kiến của Indonesia năm 1954 về Khốiđoàn kết liên Á (Pan-Asian Unity); của Philippines và Liên mình Đông Nam Á(Southeast Asian Unity); và của Thái Lan về Liên minh các nước theo Phật giáogồm Thái Lan, Miến Điện và Campuchia
Trang 20Năm 1961, Hiệp hội Đông Nam Á – ASA (bao gồm Thái Lan, Malaysia vàPhilippines) được thành lập Mục đích chính của việc thành lập ASA là: i) thiết lậpmột bộ máy hiệu quả để tham khảo, cộng tác một cách hữu hiệu và tương trợ lẫnnhau trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học và hành chính; ii) cung cấp đào tạogiáo dục, nghề nghiệp, kỹ thuật và hành chính, phương tiện nghiên cứu cho ngườidân và quan chức các nước tham gia; iii) trao đổi thông tin về các vấn đề thuộc lợiích chung hoặc các mối quan tâm trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục vàkhoa học; và iv) hợp tác trong việc thúc đẩy nghiên cứu Đông Nam Á [56, tr.25].
Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, trong đó có vấn đề về lợi ích quốc gia,dân tộc (tranh chấp lãnh thổ giữa Malaysia và Philippines) dẫn đến việc ASA đãhoàn toàn tê liệt vào năm 1964 Ý tưởng xây dựng một tổ chức hợp tác khu vực vẫnđược các nhà lãnh đạo ở Đông Nam Á theo đuổi Ví dụ như, ý tưởng thành lập một
tổ chức Đại Malay của Tổng thống Philippines Diosdado Macapagal Ý tưởng này
đã được Malaysia và Indonesia ủng hộ, chính vì vậy MAPHILINDO đã được thànhlập vào năm 1963, và sau một thời gian ngắn MAPHILINDO đã tan rã vì lý dotranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia thành viên
Năm 1967 ASEAN ra đời là kết quả của sự hợp tác giữa các quốc gia ĐôngNam Á, gác lại những tranh chấp bất đồng, xây dựng lòng tin cậy lẫn nhau vì lợi íchchung của toàn khu vực Tuyên bố Bangkok thành lập ASEAN năm 1967 đã nêu rõhai mục đích cơ bản của ASEAN là: i) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội
và phát triển văn hóa ở khu vực; và ii) thúc đẩy hòa bình và ổn định thông quaThượng tôn luật pháp quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực và tuân thủ cácnguyên tắc của Hiến chương LHQ
ASEAN đã chú trọng phát triển hợp tác theo các “lĩnh vực chức năng” [48, tr.24]vốn ít nhạy cảm để giải tỏa mối quan ngại nói trên Tuy nhiên, trải qua thời gian chính sựhợp tác chức năng, mà chủ yếu là kinh tế và văn hóa – xã hội, đã tạo ra sự tin cậy lẫn nhau
ở Đông Nam Á, tạo ra nền móng cho quyết tâm phát triển toàn diện quan hệ hợp tácASEAN và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác này qua việc xây dựng một cộng đồng Cácnhà lãnh đạo ASEAN nhận thức rõ hơn rằng mặc dù ASEAN có thể vẫn giữ tên gọi như lúcban đầu là “hiệp hội” các quốc gia, song ASEAN cần hướng tới một sự hội nhập cuối cùng
là hình thành một “cộng đồng” các quốc gia [48, tr.24], không chỉ
Trang 21trên lĩnh vực kinh tế mà cả các lĩnh vực văn hóa – xã hội và đặc biệt là an ninh –chính trị vốn từng bị tránh né Đây chính là sự khẳng định mạnh mẽ nhất sự tồn tại,sức mạnh và đoàn kết của ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn
ra sâu sắc, trước sự tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn và để giúp ASEANhoạt động có hiệu quả hơn, đóng góp tốt hơn cho an ninh, thịnh vượng và hài hòa xãhội ở Đông Nam Á và trên thế giới
Gần 5 thập kỷ qua, ASEAN đã không ngừng phát triển cả về lượng và chất,nếu ban đầu chỉ là một Hiệp hội với 05 quốc gia thành viên thì nay ASEAN quy tụtất cả quốc gia ở khu vực Đông Nam Á Năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đãtuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN với ba trụ cột: APSC; AEC; và ASCC CácCộng đồng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và việc xây dựng thành công mỗiCộng đồng là điều kiện quan trọng để xây dựng thành công Cộng đồng khác APSCnhằm duy trì hòa bình ổn định ở Đông Nam Á là điều kiện tiên quyết cho hợp táckinh tế khu vực phát triển và thúc đẩy giao lưu giữa những người dân ASEAN; AECtạo ra sự tùy thuộc và ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế buộc các nước phải giảiquyết xung đột bằng biện pháp hòa bình; còn ASCC tạo ra một “xã hội ASEAN” hàihòa và tin cậy lẫn nhau tuân theo những chuẩn mực và đạo đức chung là điều kiệncần thiết cho hòa bình và phát triển
Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II thành lập Cộng đồng ASEAN nêu rõ: “Cộngđồng ASEAN sẽ được thiết lập với ba trụ cột chính là hợp tác an ninh, chính trị, hợptác về kinh tế và hợp tác văn hóa – xã hội đan xen và hỗ trợ chặt chẽ cho nhau vìmục đích đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung trong khu vực ASEAN
sẽ tiếp tục có những nỗ lực bảo đảm tiến trình hội nhập cùng có lợi giữa các dân tộcgần gũi hơn, thúc đẩy hòa bình và ổn định, an ninh, phát triển và thịnh vượng trongkhu vực… ASEAN sẽ tiếp tục phấn đấu cho một cộng đồng các xã hội đùm bọc
nhau và tăng cường bản sắc khu vực “Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II cũng một lần nữa khẳng định ASEAN sẽ có một sự thống nhất trong tương lai qua việc duy trì và xây dựng “một tầm nhìn, một bản sắc và một cộng đồng” [48, tr.25].
Tuy nhiên, quá trình phát triển của ASEAN hình thành cộng đồng chung khôngchỉ thể hiện sự tiến triển trong quan điểm của ASEAN về một cộng đồng mà còn thểhiện qua quan niệm hội nhập ASEAN trên ba khía cạnh: (i) mô hình và nội dung hợptác của tổ chức; (ii) nguyên tắc và cơ cấu tổ chức; (iii) lộ trình tiến tới cộng đồng
Trang 221.4.2 Tiến triển về mô hình và nội dung liên kết của ASEAN
Về mô hình liên kết, Tuyên bố Bangkok thành lập ASEAN nêu rõ việc thành
lập một Hiệp hội hợp tác khu vực giữa các nước Đông Nam Á được gọi là Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam Á Tên gọi là “Hiệp hội” của tổ chức này được duy trì chođến ngày nay, chưa có sự thay đổi Tuy nhiên, ý tưởng thay đổi tên gọi từ “Hiệphội” thành “Cộng đồng” của các nhà lãnh đạo ASEAN đã xuất hiện từ lâu Vậy mộtcâu hỏi đặt ra là giữa “Hiệp hội” và “Cộng đồng” có gì khác nhau? Thiết nghĩ, Hiệphội là một hình thức hợp tác, liên kết ở mức độ thấp hơn Cộng đồng, Hiệp hội làmột bước khởi đầu để tiến đến một Cộng đồng
Tuyên bố Bangkok đã nêu rõ một trong những mục đích của Hiệp hội là tăngcường cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á hòa bình và thịnhvượng Như vậy ý tưởng về một cộng đồng đã xuất hiện ngay từ khi ASEAN đượcthành lập, tuy vậy, ý tưởng này chưa được thực hiện ngay Khi mới được thành lập,ASEAN chỉ có 5 thành viên và các hoạt động hợp tác chỉ thuộc một số lĩnh vựcnhất định, song mục tiêu của ASEAN là biến ASEAN thành mái nhà chung của tất
cả các quốc gia Đông Nam Á với các hoạt động hợp tác trên tất cả các lĩnh vực
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ hai ở Kuala Lumpur,Tầm nhìn ASEAN 2020 (Tầm nhìn 2020) đã được thông qua Trong đó các nhà lãnhđạo ASEAN đã nhận định đến năm 2020 toàn bộ Đông Nam Á sẽ là một Cộng đồngASEAN nhận thức được các mối liên hệ lịch sử của mình, hiểu rõ di sản văn hóacủa mình và gắn bó với nhau bằng một bản sắc chung của khu vực [45] Tuy vậy, ýtưởng và mục tiêu hướng tới một cộng đồng cũng chỉ là một trong những mục tiêucủa Tầm nhìn 2020 vì theo Tầm nhìn đó ASEAN sẽ là một nhóm hài hòa các dântộc… Quan hệ đối tác trong phát triển năng động…, một Cộng đồng các xã hội đùmbọc nhau và một ASEAN hướng ngoại”
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 họp tại Bali, Indonesia, ý tưởng vàkhái niệm Cộng đồng ASEAN đã thể hiện một cách chính xác và rõ ràng nhất Tại đây,các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Tuyên bố Hòa hợp ASEAN (Declaration ofASEAN Concord II/Bali Concord II) Năm 2004, ý tưởng xây dựng Cộng đồngASEAN trên cơ sở ba trụ cột bắt đầu được triển khai Tại Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ 10 (Viên Chăn, Lào), các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua
Trang 23Chương trình Hành động Viên Chăn (Vientian Action of Programme) với chủ đề
“Hướng tới một Cộng đồng ASEAN hội nhập, hòa bình, đùm bọc và thịnh vượng chung” [29] Chương trình này nêu rõ việc ASEAN đồng ý theo đuổi mục tiêu hội
nhập toàn diện và tiến tới thực hiện một Cộng đồng ASEAN cởi mở, năng động vàvững mạnh vào năm 2020 như đã ghi nhận trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II vàcác Phụ lục kèm theo dưới hình thức các chương trình hành động của các trụ cột vànhững khuyến nghị của Nhóm đặc trách Cao cấp về Hội nhập Kinh tế ASEAN [29]
Như vậy, theo thời gian, khái niệm về tổ chức khu vực của ASEAN đã dầndần thay đổi Đó là từ “Hiệp hội” thành “Cộng đồng”, sự thay đổi này là một trongnhững biểu hiện của sự tiến triển quan điểm của ASEAN về cộng đồng
Về nội dung liên kết và hợp tác Từ Tuyên bố Bangkok (1967) đến Tầm nhìn
ASEAN 2020 (1997), Mục tiêu hàng đầu của ASEAN là hợp tác chính trị an ninh nhằmthúc đẩy hòa bình ở Đông Nam Á; thúc đẩy sự cộng tác giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn
đề cùng quan tâm trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật vàhành chính… Tuyên bố Bangkok đã nêu rõ tôn chỉ mục đích của Hiệp hội
đó là thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắcluật pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc củaHiến chương Liên hợp quốc Ngoài ra, Tuyên bố Bangkok còn nêu lên một số mục tiêukhác của ASEAN như thúc đẩy nghiên cứu về Đông Nam Á, duy trì sự hợp tác chặt chẽvới các tổ chức quốc tế, một số quy định về các cơ chế, cách thức hoạt động củaASEAN… đã cho chúng ta thấy rằng những mục tiêu ban đầu của ASEAN còn kháchung chung Tuy nhiên với việc đưa ra mục tiêu thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vựclên đầu văn bản chứng tỏ rằng, vào thời điểm đó vấn đề đầu tiên mà các nhà lãnh đạoASEAN quan tâm là hợp tác chính trị và an ninh trong khu vực
Trong thời gian đầu ASEAN quan tâm nhiều hơn đến hai nội dung hợp tác đó
là hợp tác chính trị an ninh và hợp tác kinh tế Năm 1971, ASEAN đã nâng cao nhậnthức về hợp tác chính trị an ninh lên một bước cao hơn bằng việc thông qua Tuyên
bố khu vực Đông Nam Á Hòa bình Tự do và Trung lập (ZOPFN) hay còn gọi làTuyên bố Kuala Lumpur, Tuyên bố này nêu rõ rằng mong muốn làm dịu tình hìnhcăng thẳng quốc tế và đạt được nền hòa bình lâu dài ở Đông Nam Á, là một khu vựchòa bình, tự do và trung lập thoát khỏi bất cứ hình thức và phương cách can thiệp
Trang 24Năm 1976, tại Bali, Indonesia, Hội nghị Cao cấp ASEAN lần thứ nhất đãđược tổ chức và thông qua Tuyên bố Hòa hợp ASEAN hay còn gọi là Tuyên bốBali Tuyên bố là một chương trình hành động tổng thể trong khuôn khổ hợp tácASEAN, đề cập đến tất cả các lĩnh vực hợp tác trong ASEAN như: chính trị anninh, kinh tế và văn hóa – xã hội.
Về chính trị, an ninh, Tuyên bố này đã nêu lên những vấn đề như: ký kết
Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á; giải quyết các tranh chấp trong khuvực bằng các biện pháp hòa bình càng sớm càng tốt; xem xét những bước đi banđầu của việc thực hiện khu vực Hòa bình Tự do và Trung lập; tăng cường đoàn kếtchính trị [6] Như vậy, cũng như trong Tuyên bố thành lập ASEAN, Hiệp ước Thânthiện và hợp tác Đông Nam Á cho thấy tư tưởng của ASEAN là sẵn sàng quy tụ tất
cả các quốc gia Đông Nam Á vào một cộng đồng
Về kinh tế, Tuyên bố nhắc đến hợp tác về các hàng hóa cơ bản, đặc biệt là
trong các lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng; hợp tác công nghiệp bao gồm việcxây dựng những nhà máy công nghiệp có quy mô lớn của ASEAN; hợp tác thươngmại bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực thương mại nhằm thúc đẩy sự phát triển vàtăng trưởng sản xuất, cải thiện cơ cấu thương mại, hình thành những dàn xếpthương mại ưu đãi và coi đó là mục tiêu lâu dài v.v…
Về văn hóa – xã hội, Tuyên bố đề cập đến các vấn đề hợp tác trong lĩnh vực
văn hóa xã hội như phát triển xã hội, chú trọng đến sự phồn thịnh của tầng lớp thunhập thấp, mở rộng cơ hội việc làm cho nhân dân ở các vùng nông thôn; hợp táctrong việc giải quyết các vấn đề về tăng dân số, đề ra các chiến lược hợp tác với các
cơ quan, tổ chức quốc tế có liên quan; thúc đẩy việc nghiên cứu Đông Nam Á v.v…
Có thể nói Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ nhất là một bước đột phá quantrọng trong quá trình phát triển của ASEAN nói chung và trong sự tiến triển quanđiểm ASEAN về cộng đồng nói riêng Từ chỗ ban đầu với những mục tiêu chungchung, đến năm 1976, ASEAN đã đưa ra một kế hoạch tổng thể bao gồm tất cả cáclĩnh vực hợp tác cụ thể
Việc ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á vào năm 1976,được coi là bộ quy tắc ứng xử quan trọng nhất của ASEAN ASEAN đã bắt đầutriển khai một số chương trình hợp tác về thương mại và công nghiệp quan trọng
Trang 25như Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), Dự án công nghiệp ASEAN (AIP),Chương trình bổ trợ công nghiệp ASEAN (AIC), Chương trình liên doanh côngnghiệp ASEAN (AIJV) đã được ký kết và đưa vào thực hiện Năm 1992, tạiSingapore, ký kết Hiệp định Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT), Hiệp địnhnày là cơ sở nền tảng để xây dựng Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Ngoài
ra, ASEAN đã ký kết một số văn bản hợp tác kinh tế quan trọng khác như Chươngtrình hợp tác Công nghiệp ASEAN – AICO (1996) và Hiệp định khung về đầu tưASEAN – AIA (1998)… Có thể coi Khu vực Mậu dịch tự do, Chương trình hợp táccông nghiệp và Hiệp định khung về đầu tư là những nền tảng cơ bản, những bước điđầu tiên để ASEAN tiến tới Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tương lai
Về mặt hợp tác chính trị, an ninh, ASEAN cũng đã có được những thành tựunhất định Trước hết phải kể đến việc ASEAN thông qua Tuyên bố về biển Đôngvào năm 1992, lần đầu tiên công khai quan điểm của mình về vấn đề biển Đôngbằng một văn kiện riêng biệt Tuyên bố về biển Đông nhấn mạnh sự cần thiết phảigiải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến chủ quyền và quyền tài phán ở biển Đôngbằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực; và kêu gọi các bên liên quankiềm chế nhằm tạo ra một bầu không khí tích cực cho giải pháp cuối cùng đối vớimọi tranh chấp [12]
Việc thành lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) cũng là ví dụ cho hợp tácchính trị an ninh của ASEAN ARF được thành lập vào năm 1994 với mục tiêu là đểtăng cường đối thoại hợp tác và hội đàm các vấn đề chính trị và an ninh của cácnước có chung lợi ích và mối quan tâm và đóng góp đáng kể vào những nỗ lựcnhằm xây dựng một khu vực đáng tin cậy và dân chủ ở châu Á – Thái Bình Dương.ARF là một diễn đàn mở dành cho tất cả các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
và các quốc gia bên ngoài khu vực có liên quan bày tỏ quan điểm của mình về vấn
đề chính trị và an ninh Diễn đàn này cũng có thể được coi là một cơ cấu hợp tácchính trị an ninh của ASEAN
Thập kỷ 90 của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều thành công của ASEAN, từviệc ASEAN trở thành một tổ chức khu vực ASEAN-10, cho đến các hoạt động hợptác được mở rộng như chính trị an ninh, kinh tế, văn hóa – xã hội Mục tiêuASEAN-10 đã trở thành hiện thực, các hoạt động hợp tác đã từng bước được mở
Trang 26rộng có hiệu quả và có chiều sâu, từ hợp tác chính trị an ninh, hợp tác kinh tếthương mại đến hợp tác văn hóa – xã hội.
Nội dung liên kết hợp tác từ Tầm nhìn 2020 (1997) đến Tuyên bố Cebu về đẩy nhanh việc thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 (2007) Vào năm 1997,
tại Hội nghị Cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ hai, được tổ chức tại KualaLumpur, Malaysia, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020.Theo đó, đến năm 2020, ASEAN sẽ trở thành một Cộng đồng các xã hội đùm bọclẫn nhau Để hiện thực hóa Tầm nhìn 2020, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ
6, được tổ chức tại Hà Nội năm 1998, đã thông qua Chương trình Hành động HàNội (HPA) Chương trình này đã nhấn mạnh rằng để thực hiện Tầm nhìn có tính dàihạn này, ASEAN cần chuẩn bị các chương trình hành động nhằm biến Tầm nhìn
2020 thành hiện thực Chương trình Hành động Hà Nội là chương trình đầu tiêntrong các chương trình tiến tới thực hiện các mục đích của Tầm nhìn ASEAN 2020
Có thể thấy, Chương trình hành động Hà Nội đã bao gồm tất cả các nội dung hợptác của ASEAN đó là hợp tác chính trị an ninh, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa –
xã hội Ba nội dung này đều có tầm quan trọng như nhau, tuy nhiên nội dung hợptác kinh tế phần nào được ưu tiên hơn
Nhằm cụ thể hóa Tầm nhìn ASEAN 2020, năm 2003 tại Hội nghị Thượngđỉnh ASEAN lần thứ 9, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nêu quyết tâm xây dựng Cộngđồng ASEAN với ba trụ cột là: APSC; AEC; và ASCC Tại Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ 10 họp tại Viên Chăn, Lào vào năm 2004, ASEAN đã thông qua cácChương trình Hành động Viên Chăn Chương trình này, theo như Tuyên bố của Chủtịch Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 10, là “Một phương tiện để xây dựng một Cộngđồng ASEAN thông qua sự nhận thức hội nhập toàn diện” Chương trình Hành độngViên Chăn đã nêu lên các mục tiêu và chiến lược tiến tới thực hiện Cộng đồngASEAN với ba trụ cột
Thứ nhất, APSC với chủ đề tăng cường hòa bình, ổn định, dân chủ và thịnh
vượng trong khu vực thông qua hợp tác toàn diện về chính trị và an ninh cùng cácđịnh hướng chiến lược: phát triển chính trị; xây dựng và chia sẻ các tiêu chuẩn;ngăn chặn xung đột; giải quyết xung đột xây dựng hòa bình sau xung đột;
Thứ hai, AEC với chủ đề tăng cường khả năng cạnh tranh để đạt được tăng
Trang 27trưởng và phát triển kinh tế thông qua hội nhập kinh tế chặt chẽ hơn cùng với cácđịnh hướng chiến lược là: các lĩnh vực ưu tiên ban đầu cho hội nhập; khu vực đầu tưASEAN; thương mại dịch vụ; hợp tác giao thông vận tải; viễn thông và công nghệthông tin; khoa học công nghệ; năng lượng; tăng cường thể chế; và quan hệ kinh tếvới các nước đối thoại;
Thứ ba, ASCC với chủ đề khuyến khích các nguồn lực con người, văn hóa
và vì người dân cùng các định hướng chiến lược là: xây dựng một cộng đồng củacác xã hội đùm bọc và chia sẻ; thúc đẩy môi trường bền vững; quản lý tác động xãhội của hội nhập kinh tế; và khuyến khích bản sắc ASEAN
Tại Hội nghị này, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Kế hoạch hànhđộng cho APSC và ASCC Có thể nói, đến năm 2004, các hoạt động hợp tác củaASEAN đã trở nên hoàn thiện, nó đã được thể hiện cụ thể bằng Chương trình hànhđộng Viên Chăn với các Kế hoạch Hành động của các Cộng đồng Nói cách khác,
mô hình và lộ trình để tiến tới Cộng đồng ASEAN đã được xác định một cách tươngđối rõ ràng Kể từ năm 2004 đến nay, chủ đề Cộng đồng ASEAN luôn là mộtchương trình nghị sự quan trọng hàng đầu trong tất cả các cuộc họp của ASEAN
Như vậy, sau hơn 30 năm mới thực hiện được ý tưởng về tổ chức ASEAN,thì việc thưc hiện ASEAN thành một Cộng đồng chỉ mất 10 năm (1997-2007), vớimục tiêu với mô hình, nội dung và lộ trình rõ ràng là một thành công cần được ghinhận của ASEAN
1.4.3 Sự tiến triển về thể chế liên kết ASEAN
Sự tiến triển thể chế liên kết ASEAN được thể hiện qua nguyên tắc và cơ sở
pháp lý của liên kết Trước hết, về nguyên tắc cơ bản và phương thức ASEAN Nhìn
lại quá trình hình thành và phát triển của ASEAN, khi ra đời vào năm 1967, ASEANchưa có nguyên tắc hoạt động cụ thể Trong Tuyên bố Bangkok (1967) không đềcập đến nguyên tắc hoạt động của ASEAN Theo ông Rodolfo C Severino, nguyênTổng thư ký ASEAN, thì Tuyên bố Bangkok và văn kiện thành lập ASEAN, là mộttuyên bố có nội dung đơn giản Nó không được diễn đạt bằng những nội dung pháp
lý, không tạo nên những thể chế mang tính khu vực, và không được ràng buộc trongmột ý nghĩa pháp lý [73, tr.11]
Đến Hội nghị Cấp cao ASEAN đầu tiên diễn ra vào năm 1976, ASEAN mới
Trang 28xây dựng cho mình những nguyên tắc ứng xử giữa các quốc gia thành viên và vớibên ngoài Những nguyên tắc cơ bản này của ASEAN được nêu trong Hiệp ướcThân thiện và Hợp tác Như vậy, có thể nói Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ĐôngNam Á là bộ quy tắc ứng xử quan trọng nhất của ASEAN Ngoài ra, ASEAN còn cómột số nguyên tắc điều phối hoạt động của mình như nguyên tắc ra quyết định đồngthuận, bình đẳng, hay nguyên tắc áp dụng cho Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, đó
là yếu tố then chốt cùng với sự tồn tại và phát triển của ASEAN Có thể nói, sựtrưởng thành ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực được quốc tế thừa nhậnrộng rãi là do ASEAN đã kiên trì thực hiện mục tiêu này
Tiếp đến, tiến triển thể chế liên kết của ASEAN không thể không nói đến cơ
sở pháp lý của liên kết, đó chính là Hiến chương ASEAN Sau gần 50 năm tồn tại,
ASEAN vẫn còn duy trì sự lỏng lẻo về mặt thể chế nhưng giữ nguyên nguyên tắcđồng thuận và linh hoạt, cùng bàn bạc hiệp thương rồi đi đến nhất trí, vẫn là bộ máyđiều hành phi tập trung, chưa có một cơ quan hành chính tương đối độc lập, đủmạnh để giám sát việc thực thi chính sách Thêm vào đó, các văn bản đã ký kết củaASEAN phần nhiều mang tính chính trị, vạch phương hướng hành động hay mụctiêu hướng tới nhiều hơn là ràng buộc về mặt pháp lý
Có thể ASEAN đã nhận ra những hạn chế này nên chỉ sau khi ý tưởng về
Trang 29Cộng đồng ASEAN được thông qua hai năm, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lầnthứ 11 năm 2005, ASEAN đã thông qua một Tuyên bố về việc thiết lập Hiến chươngASEAN Tuyên bố này nêu rõ sự tận tâm thiết lập Hiến chương ASEAN….
Hiến chương ASEAN sẽ được coi như một khung thể chế và pháp luật của ASEANcho việc hỗ trợ thực hiện những mục đích và mục tiêu của Hiệp hội… Hiến chươngASEAN sẽ hệ thống hóa tất cả các tiêu chuẩn, quy tắc và giá trị… [35] Tuyên bốnày cũng đã ghi nhận sự đồng ý thiết lập một nhóm các Nhân vật kiệt xuất…, vớinhiệm vụ kiểm tra và cung cấp những khuyến nghị thực tế về phương hướng và bảnchất của Hiến chương ASEAN liên quan đến cộng đồng ASEAN
Trên cơ sở đó, Hiến chương ASEAN đã được thông qua tại Hội nghị Thượngđỉnh ASEAN lần thứ 13 ở Singapore vào tháng 11/2007 Hiến chương đã quy định
về mục đích và nguyên tắc hoạt động của ASEAN Hiến chương bao gồm các nộidung khá toàn diện, quy định từ mục đích, nguyên tắc hoạt động, tư cách pháp nhân,biểu tượng, bài hát… của ASEAN, đến tư cách thành viên, quản lý, lãnh đạo, cơ chếhoạt động, các cơ quan trực thuộc, quan hệ với bên ngoài của ASEAN Như vậy,Hiến chương ASEAN chính là cơ sở pháp lý cao nhất, đầy đủ nhất của ASEAN,điều này đã được khẳng định tại Lời nói đầu của Hiến chương, ASEAN sẽ thiết lậpkhuôn khổ pháp lý và thể chế cho ASEAN [38]
Trải qua mấy thập kỷ tồn tại, từ một tổ chức thành lập bởi một bản Tuyên bố(Tuyên bố Băng Cốc năm 1967) mà nội dung của nó không có những công thức pháp lýthông thường, thiếu những điều khoản có hiệu lực, những thủ tục được phê chuẩn,những quy định chặt chẽ… cần thiết, Tuyên bố này thiếu vắng các cơ sở để ASEANxây dựng (hoặc thành lập) ra những cơ quan mang tính thực thi, hoặc có một thẩmquyền nhất định, hoặc những quy định cho cơ chế giải quyết tranh chấp ASEAN [73,tr.11] Do vậy, chính sự ra đời của Hiến chương đã khẳng định và bổ sung cho nhữngthiếu sót đó, Hiến chương đã quy định khá đầy đủ các vấn đề mà ASEAN cần có và cóthể được xem như một tiền đề cho ASEAN tiến tới một Cộng đồng
Cuối cùng, tiến triển thể chế được thể hiện qua sự phát triển về cơ cấu tổ chức, có thể thấy rằng cơ cấu tổ chức của ASEAN đã không ngừng tiến triển Trong
những năm đầu, cơ quan cao nhất của ASEAN là Hội nghị Bộ trưởng, và số lượngcác tổ chức của ASEAN còn hạn chế, thậm chí còn không có Ban thư ký Sau Hội
Trang 30nghị Thượng đỉnh lần thứ nhất, Ban thư ký ASEAN được thành lập, từ Hội nghịThượng đỉnh năm 1992… số lần hội nghị Thượng đỉnh ngày càng nhiều hơn và từnăm 2001 đến nay Hội nghị này đã được tổ chức thường niên Ngoài ra, ASEANcòn có các Hội nghị cấp Bộ khác và các Hội nghị này cứ tăng dần theo thời gian;các Hội đồng và các Ủy ban ASEAN; các Hội đồng Cộng đồng ASEAN và Cơ quanNhân quyền ASEAN Điều này có thể coi là một sự phát triển đột biến trong cơ cấu
tổ chức của ASEAN và nó làm cho cơ cấu tổ chức của ASEAN ngày càng hoànthiện hơn, là một trong những cơ sở để hình thành Cộng đồng ASEAN
1.4.4 Tiến triển về lộ trình tiến tới cộng đồng
Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra là, ASEAN sẽ tồn tại được trong bao lâu và nó
sẽ trở nên như thế nào trong tương lai Trong Tuyên bố Bangkok không có một phầnnào nói về thời hạn tồn tại, cũng như mô hình mà ASEAN có thể tiến đến [87] Quathời gian câu hỏi này mới được các nhà lãnh đạo ASEAN từng bước tính tới Nói mộtcách khác, lộ trình tiến tới một Cộng đồng ASEAN đã từng bước được vạch ra
Lần đầu tiên, ASEAN đặt ra cho mình một mốc thời gian nhất định là vào năm
1997, khi thông qua Tầm nhìn ASEAN 2020 tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN khôngchính thức lần thứ hai Theo đó, năm 2020, ASEAN sẽ trở thành một cộng đồng các xãhội hài hòa Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 (2003) tại Indonesia, các nhàlãnh đạo ASEAN đã đi đến quyết định xây dựng Cộng đồng ASEAN, bao gồm ba trụcột: APSC, AEC và ASCC vào năm 2020 Để thực hiện quyết định này, Hội nghịThượng đỉnh ASEAN lần thứ 10 (2004), lần thứ 11 (Kuala Lumpur), và lần thứ 12(Cebu, Philippines) năm 2007, các nhà lãnh đạo ASEAN đã quyết định đẩy nhanh việcxây dựng cộng đồng ASEAN Trong Tuyên bố Cebu các nhà lãnh đạo ASEAN đã nêu
rõ cam kết mạnh mẽ của ASEAN hướng tới việc đẩy nhanh tiến trình thành lập Cộngđồng ASEAN vào năm 2015 trong khuôn khổ thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020 vàTuyên bố Hòa hợp ASEAN II, với ba trụ cột là: APSC, AEC và ASCC [40] Như vậy lộtrình xây dựng Cộng đồng ASEAN đã được rút ngắn 5 năm
Cơ sở thực tiễn cho việc hình thành Cộng đồng ASEAN qua quá trình hợptác của ASEAN trên các lĩnh vực chủ yếu dưới đây:
Một là, hợp tác về an ninh - chính trị Hợp tác này không được đề cập một
cách chính thức trong Tuyên bố Bangkok 1967, nhưng nó có vai trò rất quan trọng
Trang 31đối với Hiệp hội nói chung và với các thành viên nói riêng trong thời kỳ mới thànhlập Sự hợp tác giữa các thành viên về chính trị - an ninh thời gian này là trao đổi ýkiến để hiểu biết lẫn nhau hơn, dẹp bỏ dần những nghi kỵ còn thể hiện qua việc dànxếp những bất đồng, tranh chấp giữa các nước thành viên do lịch sử để lại, tránhtình trạng xảy ra xung đột, cải thiện tăng cường quan hệ giữa các nước thành viên,tạo dựng ý thức và thói quen hợp tác khu vực Hợp tác quan trọng nhất trên lĩnh vựcchính trị - an ninh của Hiệp hội thời kỳ này là sáng kiến thành lập ZOPFAN doMalaysia đề xuất tại Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN (Kuala Lumpur) 11/1971
và được ASEAN chấp nhận như là một sáng kiến chung của Hiệp hội
Hội nghị cấp cao lần thứ nhất tại Bali, Indonesia (2/1976) bàn về chính sáchcủa Hiệp hội, Hội nghị đã thảo luận chính sách của ASEAN, ủng hộ sự hợp tác vàchung sống hòa bình ở khu vực này Vấn đề hợp tác nội bộ ASEAN cũng đã đượccác nhà lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội đưa ra thảo luận Các nước thành viên đã kýkết hai văn kiện quan trọng là Tuyên bố về sự hòa hợp ASEAN và Hiệp ước thânthiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) Cùng với việc ký kết hai văn kiện này, Hộinghị cấp cao Bali đã chính thức khẳng định sự hợp tác chính trị của ASEAN đánhdấu chuyển biến cơ bản của Hiệp hội
ASEAN đã có bước đột phá phát triển tại Hội nghị cấp cao lần thứ IV tạiSingapore (tháng 01/1992) Hội nghị đã ký kết các văn kiện có nội dung nghiêng vềkinh tế Ví dụ như, Tuyên bố Singapore, quyết định thành lập Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA) Đây là một quyết định đánh dấu bước quan trọng trong lịch sửhợp tác kinh tế của ASEAN, thúc đẩy được buôn bán trong nội bộ ASEAN, tăng sứchấp dẫn của khu vực đối với các nhà đầu tư nước ngoài Thông qua thực hiệnAFTA, các nền kinh tế ASEAN cũng sẽ được đặt ra trong mối quan hệ phụ thuộclẫn nhau, từ các dân tộc Đông Nam Á sẽ có sự gắn kết với nhau hơn trong các vấn
đề chung của khu vực, trong đó có việc hòa giải các mâu thuẫn và tìm kiếm biệnpháp giải quyết xung đột
Hội nghị cấp cao Singapore cũng đã chính thức đề cập đến vấn đề hợp tác anninh trong ASEAN Trong bối cảnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngàycàng gia tăng, các thành viên ASEAN nhận thức rõ vai trò của các nước Đông
Trang 32Dương trong việc duy trì hòa bình an ninh và phát triển của khu vực trong thời kỳmới Các nhà lãnh đạo ASEAN đã hoan nghênh các nước còn lại trong khu vựctham gia vào Hiệp ước Bali 1976, cam kết tăng cường quan hệ chặt chẽ với cácnước Đông Dương Một vấn đề nổi lên gay gắt trong thời gian này là tranh chấp chủquyền ở biển Đông Do tính chất phức tạp của tranh chấp liên quan đến các vấn đềnhạy cảm về chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển và đảo trong đó có
cả quyền quản lý và khai thác các tài nguyên biển, bất kỳ động thái bất lợi nào diễn
ra ở khu vực này đều ảnh hưởng trực tiếp đến hòa bình và ổn định trong vùng Xuấtphát từ nhận thức đó, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) lần thứ 25(1992), các nước ASEAN đã ra Tuyên bố ASEAN về biển Đông, trong đó nhấnmạnh các nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực và tựkiềm chế, đồng thời đề xuất xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) trên
cơ sở các nguyên tắc của Hiệp ước Bali 1976 Vấn đề biển Đông đã giúp ASEANnhận thấy sẽ cần thiết phải tỉm ra một số cơ chế hợp tác an ninh đa phương và xúctiến các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu trung lập hóa Đông Nam Á
Đông Nam Á lại nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nơi hội tụnhững lợi ích chiến lược cũng như những mâu thuẫn giữa các nước lớn và giữa cácnước lớn với các nước trong khu vực, do đó an ninh của khu vực không thể khôngphụ thuộc vào an ninh châu Á-Thái Bình Dương Do vậy, theo đề xuất của Việnnghiên cứu chiến lược về quốc tế của ASEAN (ASEAN ISIS), Diễn đàn khu vựcASEAN (ARF) đã được thành lập tại Băng Cốc (25/7/1994) Đây là cơ chế hợp tác
an ninh đa phương đầu tiên của ASEAN với sự tham gia của 4 cường quốc Mỹ,Trung Quốc, Nhật Bản và Nga Tại cuộc họp lần thứ hai của ARF (30/7/1995), cácthành viên đã nhất trí ARF là diễn đàn để đối thoại, trao đổi ý kiến về các vấn đề anninh khu vực nhằm duy trì hòa bình và ổn định, ARF cần có sự tham gia và hợp táctích cực, đầy đủ, bình đẳng và tự nguyện của các thành viên, trong đó ASEAN đượccoi là động lực chính
ARF đã góp phần thúc đẩy quan hệ đối thoại, hợp tác và tăng cường hiểubiết, tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên Hiệp hội, cũng như giữa các nước ASEANvới bên ngoài, góp phần bảo đảm an ninh khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu
Trang 33Á–Thái Bình Dương nói chung Thông qua ARF, các nước thành viên ASEAN đãphối hợp với các nước đối thoại đưa ra nhiều sáng kiến nhằm duy trì hòa bình, ổnđịnh khu vực Các nước ASEAN cùng với Trung Quốc ký kết nguyên tắc về phươngthức giải quyết tranh chấp ở biển Đông trên tinh thần Hiệp ước Bali 1976 Đâyđược coi như là một trong những biện pháp xây dựng lòng tin quan trọng nhằm duytrì hòa bình và ổn định khu vực.
Trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ VIII họp tại PhnomPenh(Campuchia), 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của cácbên ở biển Đông (DOC) – bước đi đầu tiên trong tiến trình xây dựng Bộ quy tắc ứng
xử ở biển Đông giữa các bên liên quan (COC) DOC đã đề cập đến các nguyên tắcchỉ đạo cách ứng xử của các bên nhằm giảm bớt căng thẳng đi đến giải quyết cáctranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán trên biển Đông, nhấn mạnh nguyên tắc giảiquyết các tranh chấp giữa các bên liên quan bằng biện pháp hòa bình, không sửdụng vũ lực, thông qua tham khảo và đàm phán hữu nghị, phù hợp với các nguyêntắc đã được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế Việc ký kết DOC có ý nghĩaquan trọng trong việc tạo ra một môi trường hòa bình bình, ổn định, hợp tác trongkhu vực, thúc đẩy xây dựng lòng tin và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước ASEAN vàTrung Quốc cũng như giữa các nước ASEAN với nhau
Hai là, hợp tác kinh tế được thể hiện qua các mặt khác nhau Về tự do hóa thương mại, khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp ước ưu đãi hiệu quả
chung (CEPT) là cơ chế cho sự liên kết thương mại trong ASEAN ASEAN đã tăngcường hoạt động thương mại nội khối, cũng như buôn bán giữa ASEAN với bênngoài Kế hoạch CEPT của ASEAN cho phép hàng nhập khẩu trong nội khốiASEAN được hưởng mức thuế quan thấp hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ ngoàikhối Các rào cản thương mại đối với hoạt động buôn bán nội khối ASEAN đượcgiảm bớt Các nước ASEAN 6 đã đặt ra mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn thuế quan vàonăm 2010, với một số giải pháp hành động, bốn nước còn lại sẽ đạt được mục tiêunày vào năm 2015, được chi tiết như Bảng dưới đây:
Trang 34Bảng 1.1: Tổng số dòng thuế ở các nước 0-5% và > 5% của ASEAN
(Nguồn: 23 rd AFTA Council Meeting, Bangkok Thailand, 13 August 2009)
Kỳ họp lần thứ 21 của Hội đồng AFTA (8/2007) đã quyết định tăng cườngHiệp định CEPT-AFTA và chuyển đổi thành một Hiệp định thương mại hàng hóatoàn diện (ATIGA) ATIGA đã được các nước thành viên ASEAN phê chuẩn năm
2009 Trên cơ sở đó, từ tháng 01/2010, sáu nước ASEAN phát triển hơn làSingapore, Thái Lan, Brunei, Malaysia, Indonesia và Philippines bắt đầu thực hiệnmột khu vực thương mại tự do còn các nước còn lại sẽ thực hiện vào năm 2015
Ngoài ra, nhằm thiết lập vai trò trung tâm trước những sáng kiến liên kếtkinh tế khu vực, Hội nghị Cấp cao ASEAN 19 đã thông qua Khung khổ ASEAN vềĐối tác Kinh tế Toàn diện (ARCEP), trong đó, quy định các nguyên tắc chung củaASEAN trong đàm phán thành lập các liên kết kinh tế mới tại khu vực Khung khổcũng chỉ rõ ASEAN sẽ tiến hành thành lập FTA/CEP khu vực với các đối tác đã cóFTAs/CEP với ASEAN trước, sau đó mới mở rộng cho các đối tác bên ngoài Các
Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và các nước đối tác FTAs, tại Tham vấn bên lề Hội nghị
Bộ trưởng Kinh tế lần thứ 44 (Siêm-Riệp, tháng 30/8/2012), đã thống nhất khuyến
Trang 35nghị trình các Nhà Lãnh đạo tuyên bố khởi động đàm phán ARCEP dịp Hội nghịCấp cao ASEAN 21 (Phnôm-Pênh, tháng 11/2012) Dự kiến đàm phán sẽ bắt đầunăm 2013 và kết thúc vào cuối năm 2015 Các Bộ trưởng đã thông qua các Nguyêntắc và Mục tiêu hướng dẫn đàm phán ARCEP Một số điểm quan trọng gồm: (i) đốitượng được hưởng ưu đãi đặc biệt và khác biệt; (ii) phương thức đàm phán; (iii)phạm vi đàm phán (các vấn đề mới ngoài thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư);
(iv) mức độ tự do hóa; và (v) cơ cấu tổ chức đàm phán Nhìn chung, ASEAN dànhđược thế chủ động trong việc xây dựng tài liệu này, đạt được các mục tiêu phục vụlợi ích của Hiệp hội Tháng 11/2012, các nhà Lãnh đạo ASEAN và các đối tác FTAhiện nay đã ra một tuyên bố khởi động đàm phán RCEP với các Nguyên tắc và Mụctiêu hướng dẫn đàm phán ARCEP đã được thông qua tại AEM 44 Đến tháng2/1014, đã có 3 vòng đàm phán RCEP diễn ra vào tháng 5/2013, 9/2013 và 1/2014
Về tự do hóa đầu tư Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) là một phần của tiến
trình hợp nhất ASEAN thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhằm thúc đẩyFDI trong nội khối ASEAN, cũng như FDI từ bên ngoài ASEAN, thông qua việcgiảm bớt những hạn chế đối với các luồng FDI vào khu vực Năm 2000, Hội đồngAIA đã quyết định đẩy nhanh thời hạn xóa bỏ danh sách ngoại lệ tạm thời đối vớilĩnh vực chế tạo; đối với ASEAN 6 và Myanmar là năm 2003, ba nước còn lại vàonăm 2010 Đối với khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác mỏ thời hạn xóa bỏ
là năm 2010 với ASEAN 6 và Campuchia, 2013 đối với Việt Nam và 2015 đối vớiLào, Myanmar Hội đồng cũng đã quyết định rút ngắn thời hạn phân biệt đối xử đốivới các nhà đầu tư ngoài ASEAN từ năm 2020, xuống năm 2010 đối với ASEAN,
2015 đối với Việt Nam, Lào và Campuchia và 2020 đối với Myanmar
Trong giai đoạn 1990-2005, tổng vốn FDI đổ vào ASEAN đạt 284,2 tỷ USD,với FDI nội khối ASEAN là 32,5 tỷ USD, chiếm 11,4% tổng luồng FDI Tính trungbình trong giai đoạn 1999-2005, thành phần FDI đổ vào ASEAN bao gồm 30% vàokhu vực chế tạo (50,8 tỷ USD/ 169,3 tỷ USD), 0,7% vào nông nghiệp (1,2 tỷ USD)
và dịch vụ khoảng 60,7% [48, tr.53]
Nhằm tiến tới AEC, kỳ họp lần thứ 10 của Hội đồng AIA tháng 8/2007 đãquyết định sửa đổi Hiệp định khung về AIA (1998) và kết hợp với Hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư ASEAN (1987) để chuyển thành Hiệp định đầu tư
Trang 36toàn diện ASEAN (ACIA) nhằm xây dựng một khu vực đầu tư tự do ASEAN vàonăm 2015 ACIA đã được các Bộ trưởng ASEAN ký kết vào tháng 2/2009.
Về tự do hóa thương mại dịch vụ Dịch vụ ngày càng đóng góp nhiều hơn
vào GDP tại tất cả các nước ASEAN, nhưng lĩnh vực này cũng được bảo hộ nhiềuhơn so với khu vực hàng hóa Việc tự do hóa lĩnh vực dịch vụ trong ASEAN đãđược đưa vào Hiệp định AFAS năm 1995 giống với AFTA đối với hàng hóa và AIAđối với vốn Các mục tiêu ban đầu của AFAS đã được bổ sung bằng thỏa thuận đạtđược tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 37 tại Viên Chăn vàotháng 9/2005, xác định lại cam kết tự do hóa thương mại dịch vụ phù hợp với tầmnhìn Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) AEM lần thứ 37 cũng đã nhất trí năm 2015
là thời hạn cuối cùng cho tự do hóa thương mại dịch vụ, nhưng có một số linh độngđối với một số lĩnh vực Kế hoạch hành động Viên Chăn là kế hoạch liên kết dịch vụgiai đoạn 2004-2010 Mục tiêu của AFAS là cải thiện đường vào thị trường và đối
xử với nhà cung cấp dịch vụ trong nội khối ASEAN bình đẳng như các nhà cungcấp dịch vụ trong nước
Cuộc họp các Bộ trưởng kinh tế ASEAN vào tháng 9/2005 và Hội nghịthượng đỉnh ASEAN lần thứ 11 vào tháng 12/2005 thay vì 2020 Đến tháng12/2009, ASEAN đã đạt được 7 gói cam kết về tự do hóa thương mại dịch vụ cùngvới 01 gói bổ sung về dịch vụ tài chính và hai gói bổ sung khác về dịch vụ hàngkhông Đặc biệt, ASEAN tiếp tục tiến hành đàm phán các Thỏa thuận công nhận lẫnnhau (MRA) trong lĩnh vực dịch vụ, ASEAN đã đạt được MRA trong lĩnh vực dịch
vụ cơ khí năm 2005; dịch vụ y tá năm 2006; dịch vụ kiến trúc năm 2007; dịch vụchuyên môn du lịch năm và dịch vụ y tế và khám chữa răng năm 2008; khung khổMRA về dịch vụ điều tra nắm 2007 và dịch vụ về kế toán năm 2009 Nói chung,việc tự do hóa thương mại dịch vụ theo AFAS tiến triển nhanh hơn so với thời gianbiểu của WTO Do những cam kết tự do hóa khác nhau, một số thành viên ASEANđược lợi hơn từ AFAS, trong khi một số khác được lợi ít hơn
Về hợp tác tài chính ASEAN Một sáng kiến quan trọng của ASEAN sau cuộc
khủng hoảng tài chính là những nỗ lực ngăn chặn nguy cơ tái xuất hiện các cuộc khủnghoảng tương tự và đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính tương lai thông qua hợptác khu vực trong lĩnh vực tài chính Sau cuộc khủng hoảng 1997-1998, những cải cách
Trang 37tài chính nhằm tự do hóa và mở cửa các thị trường tài chính được hỗ trợ nhờ cácthông lệ quản lý doanh nghiệp và xử lý rủi ro tốt hơn Nhìn chung, hệ thống tàichính trong khu vực là yếu kém, thiếu một hệ thống cảnh báo sớm và sự hợp táckhông tương xứng Sau đó, ASEAN và các nước Đông Á khác đã đưa ra Sáng kiếnChieng Mai (CMI) và Sáng kiến phát triển thị trường trái phiếu châu Á (ABM).
Sự phản đối của Mỹ đối với đề xuất thành lập Quỹ Tiền tệ châu Á đã dẫn tớiviệc thiết lập CMI, ASEAN đã mời thêm Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc vàHội nghị cấp cao ASEAN + 3 (1999) đã ra một tuyên bố chung về hợp tác tài chínhĐông Á Theo CMI năm 2000, một hệ thống hỗ trợ tiền mặt đã được sáp nhập vớicác dàn xếp trao đổi song phương (BSA) CMI đã được thiết kế nhằm mở rộng Dànxếp trao đổi ASEAN (ASA) hiện có thông qua việc tăng quy mô những dàn xếp traođổi và tạo ra BSA giữa các nước thành viên ASEAN với ba nước Đông Bắc Á Trên
cơ sở của những dàn xếp này, một nước đang bị đầu cơ tấn công có thể vay ngoại tệcủa một nước khác để ổn định tỷ giá Số tiền trong ASA và 10% số tiền BSA là vôđiều kiện, nghĩa là không liên quan đến bất kỳ chương trình nào của IMF ASEAN+3 đã tăng cường CMI bằng việc tăng quy mô các dàn xếp trao đổi và giá trị traođổi vô điều kiện lên 20% Tính đến năm 2005, giá trị các dàn xếp trao đổi 58,5 tỷUSD [48, tr.55-56], đây là mức tương đối thấp và cần được tăng thêm
Về chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) AICO được ký kết
năm 1996 với mục đích khuyến khích các nhà sản xuất công nghiệp của ASEANhợp tác, bổ trợ nguồn lực lẫn nhau trong sản xuất để hạ giá thành, nâng cao năng lựccạnh tranh với mức thuế quan ưu đãi từ 5% trở xuống ngay tại thời điểm tham gia
cơ cấu AICO Nghị định thư sửa đổi Hiệp định AICO đã được ký ngày 21/4/2004với mức thuế quan ưu đãi mới cam kết dành cho các dự án AICO như sau: 0%(Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Singapore); 0-1% (Philippines); 0-3% (Thái Lan); 0-5% (Myanmar, Việt Nam) Myanmar, Philippines và Thái Lancam kết giảm mức thuế quan ưu đãi xuống 0% vào 01/01/2005 còn cam kết của ViệtNam là ngày 01/01/2006 [48, tr.56]
Về hội nhập các ngành ưu tiên Tháng 11/2004, tại kỳ họp thượng đỉnh lần
thứ 10, ASEAN đã ký Hiệp định Khung ASEAN về Hội nhập các ngành ưu tiên,như một phần quan trọng của Chương trình hành động Viên Chăn nhằm xây dựng
Trang 38AEC Theo Hiệp định này, các nước thành viên cam kết loại bỏ thuế quan trong 11lĩnh vực ưu tiên hội nhập sớm hơn cam kết theo Chương trình CEPT-AFTA Cácngành ưu tiên hội nhập gồm: 7 ngành sản xuất hàng hóa là nông sản, thủy sản, sảnphẩm cao su, sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử, ô tô; 4 ngành dịch vụ là hàng không, e-ASEAN (hay thương mại điện tử), y tế và công nghệ thông tin Mỗi ngành sẽ domột nước thành viên ASEAN làm điều phối viên thực hiện tiến trình đàm phán vàthực hiện Cuối 2005, các Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) đã bổ sung ngành dịch
vụ hậu cần (giao nhận và lưu kho) thành ngành ưu tiên hội nhập lần thứ 12
Về sáng kiến hội nhập ASEAN và thu hẹp khoảng cách phát triển Sáng kiến
hội nhập ASEAN (IAI) là bước triển khai của Chương trình hành động Hà Nội(1997) về thu hẹp khoảng cách phát triển nội khối ASEAN Năm 2002, ASEAN đãthông qua Kế hoạch thực hiện IAI với thời gian 6 năm (2002-2008), bao gồm bốnlĩnh vực ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng (chủ yếu là hệ thống đường giao thông vàmạng lưới điện) phát triển nguồn nhân lực, công nghệ thông tin và viễn thông (cơ sở
hạ tầng “mềm”), và hội nhập kinh tế khu vực; sau đó đã bổ sung thêm 3 lĩnh vực là
du lịch, xóa đói giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống, và các dự án pháttriển tổng hợp Để tiến tới việc hoàn thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, cácnhà lãnh đạo ASEAN cũng đã thông qua Sáng kiến hội nhập ASEAN và Kế hoạchthực hiện IAI trong giai đoạn 2009-2015
Vê hợp tác văn hóa – xã hội và chuyên ngành Các chương trình dự án liên
kết chuyên ngành rất phong phú, đa dạng, nhiều lĩnh vực với mục tiêu cao, nhiềutham vọng Kết quả bước đầu là rất quan trọng, tuy còn rất khiêm tốn Ý nghĩa cơbản là đã khởi động và đặt nền móng cho hoạt động chuyên ngành trong tương lai.Một điểm yếu rõ ràng là nguồn tài chính cho liên kết chuyên ngành dựa chủ yếu vàocác đối tác như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và một số tổ chức quốc tế.Mặt khác, mục tiêu đề ra thường quá cao trong khi không có các biện pháp, lộ trìnhphù hợp Nguyên nhân chính là quyết tâm chính trị của các nhà lãnh đạo quốc giathành viên chưa cao, dẫn tới tính đồng thuận đạt được thường chậm về mặt thời gian
và nguồn tài chính huy động của các quốc gia thành viên chưa chỉ hoạt động liên kếtchuyên ngành ASEAN còn yếu
Về hợp tác văn hóa, thông tin ASEAN đã quan tâm đến sự hợp tác về văn
hóa thông tin Mục đích của hợp tác văn hóa, thông tin là nhằm giới thiệu bản sắc
Trang 39văn hóa của các dân tộc, tăng cường sự hiểu lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên,qua đó thúc đẩy hơn nữa sự liên kết của toàn khối Năm 1987 đã thành lập Ủy banVăn hóa – thông tin ASEAN, gọi tắt là ASEAN COCI (ASEAN Committee onCulture and Information) để điều phối các hoạt động hợp tác văn hóa, thông tin nộikhối Các quốc gia thành viên cũng thành lập các COCI quốc gia.
Kỳ họp lần thứ 5 của các Bộ trưởng Thông tin ASEAN (1998) đã quyết địnhthực hiện dự án trang Internet văn hóa và thông tin ASEAN nhằm tăng cường sựnhận thức về di sản văn hóa của khu vực Hiệp định khung về ASEAN điện tử được
ký kết tại Singapore (24/11/2000) đã khẳng định quyết tâm tăng cường nhằm nângcao tính cạnh tranh của Công nghệ thông tin (CNTT) và tin học của ASEAN, thuhẹp khoảng cách kỹ thuật số trong khu vực, hợp tác giữa các nhà nước và tư nhânnhằm thực hiện một ASEAN điện tử và tự do hóa buôn bán các sản phẩm CNTT.Hiệp định cũng đề ra phương án xây dựng một xã hội điện tử thông qua việc pháttriển một xã hội dựa trên trí thức, thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số, tăng tính cạnhtranh và tự do di chuyển của lực lượng lao động, sử dụng CNTT nhằm tăng cườngtính Cộng đồng ASEAN và hướng tới một Chính phủ điện tử
Về hợp tác về các vấn đề xã hội Trong lĩnh vực phúc lợi xã hội và phát triển
được thực hiện thông qua hợp tác ASEAN trong khuôn khổ Hội nghị quan chức caocấp ASEAN phụ trách phúc lợi xã hội và phát triển (SOMSWD) Hội nghị Bộ trưởngASEAN phụ trách phúc lợi xã hội và phát triển (ASEAN – MMSWD) Chươngtrình hợp tác ASEAN về phúc lợi xã hội, gia đình và dân số nhằm xây dựng một xãhội chăm sóc đùm bọc và kiểm soát tác động hội nhập kinh tế, đóng góp cho cácnghiên cứu về chính sách trong ASEAN như đánh giá tác động xã hội, bao gồm tácđộng của sự phát triển đối với chức năng của gia đình, nghiên cứu chính sách về sựthay đổi trong cấu trúc gia đình và vai trò của gia đình trong việc cung cấp chămsóc; tư liệu hóa điển hình tốt, bài học kinh nghiệm tốt cho việc tăng cường khả năngcung cấp chăm sóc từ gia đình, bao gồm có chính sách công cho việc củng cố giá trịgia đình truyền thống và các hoạt động dự án nhằm tăng cường khả năng và vai tròcủa gia đình
Chương trình phòng chống HIV/AIDS của ASEAN đã được thực hiện thôngqua các hội nghị, hội thảo, chia sẻ thông tin trong nhiều phiên họp của ASEAN
Trang 40Nhiều nghiên cứu về các dịch vụ chăm sóc người bị HIV/AIDS cũng đã được thựchiện và cung cấp những kinh nghiệm tốt cho các nước ASEAN Chương trình chămsóc sức khỏe cho mọi người cao tuổi đã được thực hiện thông qua nhiều hoạt độngkhác nhau nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng các tổ chức phi chính phủ trongviệc chăm sóc người cao tuổi.
Trong lĩnh vực lao động việc làm, mục tiêu của ASEAN là xây dựng một Cộngđồng ASEAN vào năm 2020 theo đó ASEAN sẽ trở thành một cơ sở sản xuất duy nhất,một thị trường rộng lớn có sự chu chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động cótay nghề cao, các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực lao động được tiếp cận nhanh và đẩymạnh hơn với tính đồng thuận cao trong khuôn khổ của Hội nghị quan chức cao cấp laođộng SLO và Hội nghị Bộ trưởng Lao động ALMN của ASEAN
Về Hợp tác vì sự tiến bộ của phụ nữ và trẻ em Từ thập niên 1970, hợp tác vì
sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ và trẻ em đã là trọng tâm hàng đầu của ASEAN
Ví dụ, thành lập (1976) Ủy ban ASEAN về phát triển xã hội (ASD) và Tiểu banASEAN về phụ nữ (ASW) nhằm thúc đẩy phụ nữ tham gia tích cực vào tất cả cáclĩnh vực đời sống xã hội, giúp những người hoạch định và thi hành chính sách cónhận thức rõ hơn về vai trò của phụ nữ trong phát triển; Tuyên bố ASEAN vì sự tiến
bộ phụ nữ (1988) kêu gọi phụ nữ tham gia bình đẳng và tích cực trong tất cả cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội tại mọi cấp độ: quốc gia, khu vực và quốctế; Kế hoạch (1993) hành động ASEAN vì trẻ em khẳng định cần thiết phải giảiquyết các vấn đề như lạm dụng và khai thác trẻ em, nhấn mạnh ưu tiên bảo vệ trẻ
em khỏi nạn buôn lậu, mại dâm và lao động cưỡng bức, bảo vệ trẻ em đường phố vàtrẻ em bị bỏ rơi; Tầm nhìn ASEAN 2020 và Kế hoạch hành động Hà Nội đã đề racác quy tắc ứng xử và biện pháp hợp tác tại khu vực Đông Nam Á để giải quyết nạnbuôn lậu phụ nữ và trẻ em trong khu vực, nêu rõ sự cần thiết phải thi hành Kế hoạchhành động vì trẻ em
Về hợp tác bảo vệ môi trường ASEAN đã đưa ra cơ chế hợp tác thích hợp
theo các cấp khác nhau: thượng đỉnh, bộ trưởng, quan chức cao cấp và các nhómcông tác, và những nội dung hợp tác khả thi như Hợp tác vì môi trường trong Tiểuvùng Mê Kông mở rộng với chương trình môi trường 5 năm (2001-2005) của Ủyban hội sông Mê Kông
Cơ chế chính để thực hiện sự hợp tác môi trường ASEAN là các Hội nghị và