1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực thi pháp luật bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh thái nguyên

85 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 161,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trong thời điểm BHXH tỉnh Thái Nguyên đangtiến hành một loạt các biện pháp an sinh xã hội nhằm đảm bảo cho đời sốngcủa nhân dân trên địa bàn T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỒNG ĐỨC DUY

THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ

NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số :60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trongbất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trongLuận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đãhoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụtài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Kính đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đồng Đức Duy

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

Chương 1:KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

TỰ NGUYỆN 6

1.1 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội tự nguyện 6

1.2 Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam 8

1.2.1 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội tự nguyện 8

1.2.1.1.Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội 8

1.2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do ý chí của người tham gia bảo hiểm 12

1.2.2 Chủ thể trong quan hệ Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 13

1.2.2.1 Người thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện 14

1.2.2.3 Người được bảo hiểm xã hội tự nguyện 18

1.2.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện 18

1.2.3.1 Chế độ hưu trí 22

1.2.4.1 Nguồn hình thành 28

1.2.4.3 Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện 33

Chương 2 : THỰC TIỄN THỰC HIỆN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 34

2.1 Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội ở Tỉnh Thái Nguyên 34

2.2 Đối tượng tham gia 36

2.3 Các chế độ 42

2.3.1 Chế độ hưu trí 42

Trang 5

2.3.2 Chế độ tử tuất 47

2.4 Thực trạng về quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên 49

2.4.1 Thực trạng thu quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện 51

Chương 3 : MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở THÁI NGUYÊN 62

3.1 Các yêu cầu cơ bản của việc nâng cao hiệu quả thực thi Pháp luật về BHXH tự nguyện 62

3.1.1 Tăng cường tính linh hoạt cho các quy định về BHXH tự nguyện 62

3.1.2 Phù hợp với xu thế hội nhập 63

3.2 Một số kiến nghị cụ thể 63

3.2.1 Ban hành văn bản hướng dẫn Luật BHXH 63

3.2.3 Kiến nghị một số biện pháp tổ chức thực hiện pháp luật BHXH tự nguyện từ thực tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 67

KẾT LUẬN 73

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

BHXH

BHYT

HCSN

HĐNDILO

KCBKH

LĐTB&

XH

NĐCP

NLĐ

XKLĐ

Trang 7

: Khám chữa bệnh

và xã hội: Nghị định Chính phủ

: Ủy ban Nhân dân

3

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời gian qua đãmang lại những thành tựu to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đấtnước Tuy nhiên, cuộc sống của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn đặcbiệt là dân cư khu vực nông thôn, miền núi: thu nhập thấp, việc làm không ổnđịnh, hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chịu nhiềurủi ro do thiên tai Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách ansinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta Tại kỳ họp thứ IX Quốc hội khoá XI đãthông qua luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007 BHXH tựnguyện là một phần của luật BHXH có hiệu lực thi hành từ 01/01/2008 Sauhơn 5 năm thực hiện, đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn ít, mới cókhoảng 150.000 lao động, chiếm 0,57% số lao động thuộc đối tượng tham giaBHXH tự nguyện, đặc biệt là đối với những vùng khó khăn, dân số chủ yếulàm nông nghiệp, mức sống thấp

Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nóiriêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưukinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Địahình Thái Nguyên có nhiều rừng núi cao với nhiều dân tộc sinh sống trên địabàn Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, TháiNguyên đã đạt được nhiều thành tựu, kinh tế phát triển nhưng còn chưa đồngđều, một số vùng núi cao còn gặp nhiều khó khăn, người dân có thu nhập cònthấp Việc thực hiện BHXH cho người lao động trên địa bàn còn nhiều khókhăn, đặc biệt là phát triển BHXH tự nguyện

Để có thể làm tốt hơn công tác thực hiện pháp luật về BHXH tự

nguyện, góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Tỉnh, đề tài “Thực thi

pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” có

Trang 10

thể sẽ đưa ra được những giải pháp tích cực và phù hợp để tăng cường tínhhiệu BHXH tự nguyện cho người dân Góp phần nâng cao hiệu quả của việc

áp dụng dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội trong những năm sắp tới

2 Tình hình nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trong thời điểm BHXH tỉnh Thái Nguyên đangtiến hành một loạt các biện pháp an sinh xã hội nhằm đảm bảo cho đời sốngcủa nhân dân trên địa bàn Tỉnh, chất lượng phục vụ cũng như công tác thựchiện pháp luật về BHXH nói chung đã có những bước tiến đáng ghi nhận

Nhìn chung trong những năm gần đây một số biện pháp tổ chức thựchiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện mà cơ quan BHXH Thái Nguyên

đã áp dụng mang lại sự đổi mới nhất định trong việc thực hiện các chính sách

về Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Tỉnh, nhằm góp phần từng bước ổn định tìnhhình an sinh xã hội ở địa phương, tuy nhiên kết quả đạt được vẫn còn nhiềumặt hạn chế cần có giải pháp để khắc phục Bên cạnh đó thì Bảo hiểm xã hội

tự nguyện lại là một vấn đề mới ở Thái Nguyên nên những công trình nghiêncứu đã được công bố về mảng đề tài này chiếm một phần rất nhỏ chủ yếu là

trong một số lĩnh vực về kinh tế như "Tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội trên

địa bàn thành phố Thái Nguyên, thực trạng và giải pháp" của tác giả Đinh

Văn Sơn (thực hiện năm 2012); " Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên

địa bàn Võ Nhai Tỉnh Thái Nguyên" tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng (thực hiện

2014); tuy vậy đây cũng là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá bổ trợ chotôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu của mình Những bài viết này đã bổsung cho tôi một số những kiến thức nhất định về lý luận và thực tiễn của cácvấn đề về BHXH tự nguyện dưới góc nhìn Kinh tế thế nhưng chưa có đề tàinào trên địa bàn Tỉnh (đặc biêt là đề tài ở lĩnh vực Pháp Luật) đánh giá về tìnhhình thực hiện Pháp luật trên thực tiễn ở Tỉnh Thái Nguyên

Trang 11

3. Mục tiêu nghiên cứu

3.1. Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu các giải pháp thực hiện pháp luật về BHXH tựnguyện của người dân tỉnh Thái Nguyên nói chung và các đối tượng tham giaBHXH tự nguyện khác nói riêng

3.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách BHXH ởViệt Nam và trên thế giới Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật BHXH nóichung, trong đó đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng, một số yếu tố liênquan đến pháp luật BHXH tự nguyện và đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH tự nguyện trên địa bàn Tỉnh TháiNguyên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Tình hình triển khai thực hiện pháp luật về

* Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về thời gian: Số liệu phục vụ phân tích đánh giá thực trạngtrong thời kỳ 2008-2014 và số liệu do cơ quan BHXH Tỉnh Thái Nguyêncung cấp

- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện ở Tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

5 Phương Pháp nghiên cứu

* Phương pháp tổng hợp thông tin

Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, tác giả đã sử dụngphương pháp này nhằm tổng hợp các thông tin, số liệu liên quan được dùngcho việc phân tích, đánh giá tình hình tham gia BHXH tự nguyện tại tỉnh TháiNguyên được lấy trong khoảng thời gian từ năm 2008 – 2014

- Đối với những thông tin và số liệu thứ cấp

Là thông tin đã có sẵn và đã qua tổng hợp được thu thập từ các tài liệu đãcông bố như: Báo cáo nội bộ cơ quan gồm báo cáo quyết toán của BHXH tỉnhThái theo quý, theo năm; Tài liệu từ các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngànhBHXH; các bài báo chuyên ngành đăng trên các mạng internet; Số liệu thứ cấp

có ưu điểm là kinh phí tìm hiểu ít, được cập nhật kịp thời Tuy nhiên, đây lànhững thông tin cơ bản đã được tổng hợp qua xử lý nên ít được sử dụng để dựbáo, số liệu này thường là cơ sở để phát hiện ra vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp phân tích thông tin

Tác giả sử dụng phương pháp này dùng để so sánh đối chiếu các chỉtiêu thống kê, so sánh sự khác nhau về tình hình tham gia BHXH tự nguyện

6 Ý nghĩa khoa học của luận văn

Đề tài "Thực thi pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn

tỉnh Thái Nguyên" là một đề tài còn mới, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu

trong lĩnh vực Pháp luật về BHXH tự nguyện cụ thể trên địa bàn tỉnh TháiNguyên

Với đề tài này hướng nghiên cứu của tác giả chủ yếu tập trung vào đốitượng tham gia BHXH tự nguyện, cách thức thực tiễn thực hiện Pháp luật vềmặt văn bản trên cả nước cũng như ở tỉnh Thái Nguyên và làm rõ việc tại saochính sách, áp dụng pháp luật về BHXH tự nguyện của nhân dân trên địa bàntỉnh vẫn còn thấp Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đề tài tác giả đề xuất một số

Trang 13

giải pháp phát triển việc áp dụng có hiệu quả pháp luật hơn nữa nhằm nângcao tỷ lệ người tham gia với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội tốt hơn chongười dân, đây cũng là một trong những chính sách an sinh xã hội của Đảng

Chương 1: Khái quát Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chương 2: Thực tiễn thực hiện Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện

ở Tỉnh Thái Nguyên

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về bảo hiểm xã hội tự nguyện từ thực tiễn thực hiện ở Thái Nguyên

Trang 14

Chương 1 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1.1 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội tự nguyện được hiểu như là một công cụ bảo đảm tốithiểu để người lao động duy trì và tái tạo khả năng lao động mà không phải làcác khoản chi trả trực tiếp để người lao động chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn.Các khoản chi trả trực tiếp như vậy do các quỹ bảo hiểm y tế thực hiện

Từ khi triển khai đến nay bảo hiểm xã hội tự nguyện luôn phát huy tácdụng trong những lúc người lao động gặp khó khăn hiểm nghèo trên cơ sởnhững đóng góp của người lao động trước khi xảy ra những biến cố rủi ro đó.Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng giống như bảo hiểm xã hội bắtbuộc chỉ giúp đỡ người lao động giữ thăng bằng phần thu nhập bị giảm, bịmất hoặc giúp họ trang trải một phần chi tiêu trong cuộc sống khi có nhữngbiến cố.Và thực chất Bảo hiểm xã hội tự nguyện là quá trình tổ chức và sửdụng một quỹ tiền tệ tập trung được tích lũy dần do sự đóng góp tự nguyệncủa người lao động nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh sốngthiết yếu cho người lao động và gia đình họ khi gặp phải những rủi ro làmgiảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội Cùng với sự pháttriển của xã hội, các hình thức bảo hiểm ngày càng phong phú và đa dạng.Bên cạnh bảo hiểm xã hội còn có các hình thức bảo hiểm dân sự (Hay còn gọi

là các hình thức bảo hiểm thương mại)

Mặt khác, Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của

an toàn xã hội hay an sinh xã hội Theo định nghĩa của Tổ chức Lao độngQuốc tế (ILO), an toàn xã hội là:

Sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra

Trang 15

bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [17].

Qua đây, chúng ta thấy những cơ chế cơ bản của hệ thống an toàn xãhội bao gồm cả bảo hiểm xã hội (hình thức bắt buộc và tự nguyện), ưu đãi xãhội, cứu trợ xã hội Bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng có nội dung gần gũi vớibảo trợ xã hội nhưng bảo hiểm xã hội không đồng nghĩa với bảo trợ xã hội.Bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể được hiểu như sau:

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một hình thức bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức và quản lý hoặc do cộng đồng người lao động tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các thành viên nhằm đảm bảo thu nhập để thoả mãn nhu cầu sinh sống thiết yếu người lao động và gia đình họ khi gặp phải những rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.

Trong khoản 3 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 thì Bảo hiểm xã hội

tự nguyện được định nghĩa:

“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội” [20]

Với định nghĩa này, BHXH tự nguyện được nhìn nhận đơn giản dướihình thức mà do người lao động tham gia dựa trên tinh thần tự nguyện củachính họ, nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống khi họ không còn khả năng làmviệc trong tương lai Đồng thời, người lao động được lựa chọn mức, phươngthức đóng do Luật BHXH đã giới hạn sẵn được quy định dựa trên sự tiên liệutrước về khả năng đóng quỹ phụ thuộc chủ yếu vào mức thu nhập của ngườilao động khi tham gia loại hình này Tuy nhiên, định nghĩa BHXH tự nguyệntheo Luật BHXH 2006 lại chưa thực sự chỉ rõ được tính chất, tầm quan trọng

và tính cụ thể của loại hình này; gây khó khăn nhất định trong việc hình dungcũng như nắm bắt của người tham gia đối với loại hình này Để giải quyết

Trang 16

những vướng mắc còn tồn tại trong luật BHXH 2006; luật BHXH 2014 đã cómột quy định mới với nhiều nét cụ thể và rõ ràng hơn đó là:

“Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước

tổ chức mà người tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng Bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất”[22].

Như vậy, có thể xác định được rõ ràng chủ thể tổ chức thực hiện BHXH

tự nguyện là Nhà nước thông qua cơ chế đại diện là các cơ quan BHXH ở cáccấp Bên cạnh việc giữ nguyên quyền được chọn mức và phương thức đóngphù hợp với thu nhập của người tham gia thì định nghĩa về BHXH tự nguyệntheo Luật mới còn đề cập đến chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm khuyếnkhích thêm nhiều các đối tượng khác trong xã hội tham gia BHXH tự nguyện,đồng thời thể hiện đây là một chính sách BHXH có ý nghĩa sâu sắc của Nhànước nhằm tạo cơ hội cho người tham gia đều có thể được hưởng hai chế độcốt lõi của BHXH tự nguyện

1.2 Pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

1.2.1 Các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Là một loại hình bảo hiểm xã hội, nên bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng

có những nguyên tắc chung giống như bảo hiểm xã hội bắt buộc, song do cónhững đặc trưng riêng nên để đảm bảo việc thực hiện BHXH tự nguyện cũngcần phải chú trọng các nguyên tắc sau:

1.2.1.1.Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt củađời sống xã hội, nó chứa đựng cả một nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nộidung pháp lý Để đảm bảo thực hiện hài hoà các nội dung nói trên và đạt đượcmục tiêu mà bảo hiểm xã hội đặt ra thì việc thực hiện bảo hiểm xã hội trướchết là trách nhiệm thuộc về Nhà nước

Trang 17

Vai trò của Nhà nước đã thể hiện thông qua việc Nhà nước giữ vai trò trựctiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội trong đó có

cả BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc Trách nhiệm đã thể hiện: Nhà nước

là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xãhội thông qua việc ban hành các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội vàkiểm tra việc thực hiện các quy định đó Nhà nước tuỳ theo điều kiện kinh tế

xã hội định chính sách quốc gia về bảo hiểm xã hội, nhằm từng bước ở từngthời kỳ mà quy mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn địnhđời sống cho người lao động và gia đình họ khi người lao động bị suy giảmkhả năng lao động hoặc gặp các rủi ro, khó khăn khác như: chết, tai nạn, thấtnghiệp …

Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại Hiến pháp 1992, điều 56 Tuynhiên, Điều 55, 56 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung thành điều 35

Hiến pháp 2013 đã bỏ quy định “Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày

càng nhiều việc làm cho người lao động” [21] Điều này cho thấy, BHXH tự

nguyện dựa trên sự tự nguyện tham gia của người lao động là chủ yếu, mặc dù

là tự nguyện nhưng theo quy định của pháp luật thì Nhà nước vẫn nắm giữ vaitrò quản lý và tổ chức thực hiện loại hình BHXH này

Như vậy, có thể nói người lao động được Nhà nước tạo đầy đủ các điềukiện để có thể thực hiện tốt công việc của mình, ngoài việc tổ chức thực hiệnBHXH tự nguyện thì Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ để người lao động để

có thể thu hút thêm số lượng người tham gia loại hình BHXH này, nhằm đảmbảo tốt hơn cho đời sống của chính người lao động

1.2.1.2 Nguyên tắc thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động và cho mọi người lao động

Quyền được hưởng BHXH của người lao động là một trong những biểu

Trang 18

hiện cụ thể của quyền con người Biểu hiện cụ thể quyền được hưởng BHXHcủa người lao động là việc họ được hưởng chế độ trợ cấp BHXH theo các chế

độ xác định Các chế độ này gắn với các trường hợp người lao động hoặc bịgiảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị giảm hoặc mất nguồnsinh sống Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đó có thể có rất nhiều

và xảy ra một cách ngẫu nhiên Về nguyên lí thì mọi trường hợp như thế,người lao động đều phải được BHXH BHXH là thu nhập khách quan, đadạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạtđộng theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đếnmức nào đó Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoànthiện, càng chứng tỏ được những mặt ưu điểm hơn Vì vậy có thể nói kinh tế

là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗinước Đóng vai trò như một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi rolàm giảm thu nhập trong cuộc sống Có thể nói nhu cầu về BHXH thuộc vềnhu cầu tự nhiên của con người Xuất phát từ nhu cầu cần thiết để đảm bảocho các tiêu chuẩn hay giá trị cho cuộc sống tối thiểu

Ý nghĩa xã hội của bảo hiểm xã hội tự nguyện thể hiện ở chỗ người laođộng có quyết định tham gia hay không, chính vì lẽ đó BHXH tự nguyệnđược thực hiện với nguyên tắc là không bắt buộc người lao động phải thamgia, đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu chung hướng tới việc người laođộng ai cũng có cơ hội được hưởng BHXH Nguyên tắc này nhằm đảm bảocho người lao động làm việc trong bất kỳ thành phần kinh tế nào, bất kỳ loạihình tổ chức lao động nào Khi có đủ điều kiện, dấu hiệu phát sinh quan hệbảo hiểm xã hội thì đều được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội không phânbiệt hình thức pháp lý làm phát sinh quan hệ lao động, giới tính, tuổi tác …Mặt khác, việc quy định số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội hay nói cách

Trang 19

khác khả năng khống chế, khắc phục các rủi ro đến đâu còn phụ thuộc vàođiều kiện kinh tế xã hội cụ thể.

1.2.1.3 Đảm bảo sự linh hoạt trong quy định nội dung và thực hiện chế độ BHXH tự nguyện

Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện thường là những người nông dân,người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức và người nghèo, đời sống

và thu nhập của họ bấp bênh, không ổn định Vì vậy, để tạo điều kiện chonhững đối tượng này có đủ điều kiện tham gia BHXH tự nguyện thì các quyđịnh về BHXH tự nguyện phải linh hoạt Sự linh hoạt thể hiện rõ nhất ở cácquy định về mức đóng, phương thức đóng, và mức hưởng bảo hiểm Khác vớiBHXH bắt buộc, mức đóng được tính trên cơ sở tiền công, tiền lương, mứcđóng trong BHXH tự nguyện thường được tính trên cơ sử mức thu nhập củangười lao động Người lao động tham gia BHXH tự nguyện thường có quan

hệ lao động không ổn định Để có một mức thu nhập nhất định trong mộttháng họ phải làm nhiều công việc khác nhau, ở nhiều nơi khác nhau, thunhập giữa các tháng cũng khác nhau Bởi vậy để thuận tiện cho người laođộng thì việc quy định mức đóng của BHXH tự nguyện dựa trên cơ sở mứcthu nhập là phù hợp và linh hoạt Phương thức đóng cũng phải linh hoạt đểngười lao động tham gia có thể lựa chọn Họ có thể đóng bảo hiểm hàngtháng, hàng quý, hoặc sáu tháng một lần, thậm chí một năm một lần Vì thunhập bấp bênh, nên họ không thể có mức đóng ổn định, họ có thể tạm ngừngđóng BHXH mà không cần lý do Chính vì vậy, mức hưởng của người thamgia BHXH tự nguyện cũng rất đa dạng, cần được tính toán phù hợp, đảm bảolợi ích của người tham gia bảo hiểm Mức hưởng BHXH tự nguyện cần đượctính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH Quy định mức hưởng nhưvậy mới phù hợp, vừa đảm bảo quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, vừacân đối được thu – chi của quỹ BHXH tự nguyện

Trang 20

Tuy nhiên, không có quyền lợi nào là tuyệt đối, ngoài việc quy định vềBHXH tự nguyện một cách linh hoạt, cũng cần trong một giới hạn nhất định,như vậy mới cân đối được lợi ích của các chủ thể trong quan hệ BHXH tựnguyện, lợi ích của người lao động mới được lâu dài, bền vững Ví dụ nhưtheo quy định của Pháp luật Việt Nam, mức đóng BHXH tự nguyện được tínhtrên cơ sở mức thu nhập tháng đóng BHXH nhưng thấp nhất bằng mức lươngtối thiểu chung và cao nhất bằng 20 mức lương tối thiểu chung Sở dĩ phảiquy định mức thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung để tin tưởng rằngcuộc sống của người lao động khi về già và nghỉ hưu vẫn được đảm bảo dù họlàm công việc giản đơn nhất Pháp luật giới hạn mức đóng bảo hiểm để tránhtình trạng hưởng bảo hiểm nhưng phải đóng thuế thu nhập.

1.2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do ý chí của người tham gia bảo

hiểm

Theo nguyên tắc này, việc tham gia hay không tham gia là hoàn toàn dongười tham gia quyết định Mức đóng được tính dựa trên cơ sở mức thu nhậptháng do người tham gia lựa chọn, phương thức đóng theo nhu cầu và khảnăng của bản thân trên cơ sở những khung quy định.Với đối tượng tham giabảo hiểm xã hội tự nguyện là hầu hết người lao động không có quan hệ laođộng, cho nên nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện không phải

do nhiều bên đóng góp mà sự đóng góp của chính bản thân người lao động vàkhả năng đầu tư phần tiền nhàn rỗi của Quỹ

Luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định mức đóng và phương thức đóngbảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động cũng thể hiện rõ nguyên tắc tự

do ý chí của người tham gia BHXH tự nguyện như sau: Mức đóng hàng thángbằng 16% mức thu nhập của người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội;

từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng tăng thêm 2% cho đến khi đạt mứcđóng là 22% Cụ thể hơn như sau:

Trang 21

Thời điểm phải đóng:

- 15 ngày đầu tháng đối với phương thức đóng hàng tháng

- 45 ngày đầu quý đối với phương thức đóng hàng quý

- 03 tháng đầu đối với phương thức đóng 6 tháng một lần

Trường hợp đã đóng theo phương thức đóng hàng quý hoặc 6 thángmột lần, mà trong thời gian đó chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểuchung thì không phải truy đóng số tiền chênh lệch so với mức lương tối thiểumới

Đây là nguyên tắc đặc trưng của BHXH tự nguyện xuất phát từ đốitượng của loại hình BHXH này do rất khó quản lý những lao động ở khu vựcphi chính thức, cũng như các đối tượng này thường là những người có thunhập không ổn định, do đó cần tạo điều kiện để phù hợp với nhu cầu tham giacủa họ

1.2.2 Chủ thể trong quan hệ Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự

nguyện

Quan hệ Pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng giống như bảo

hiểm xã hội nói chung đều có sự tham gia của ba bên chủ thể đó là: "Người

thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện; Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; Người được bảo hiểm xã hội tự nguyện" [13].

Trang 22

1.2.2.1 Người thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện

Người thực hiện bảo hiểm là người đại diện cho cơ quan bảo hiểm xã hội

do Nhà nước thành lập Hoạt động của cơ quan bảo hiểm xã hội được Nhànước giám sát, kiểm tra chặt chẽ Hệ thống cơ quan bảo hiểm xã hội đượcthành lập thống nhất từ trung ương đến địa phương Trong đó, hệ thống bảohiểm xã hội ở địa phương, ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng Bởi vì, nhiệm vụchính của tổ chức bảo hiểm xã hội là cấp phát đúng đắn, nhanh chóng, kịpthời các khoản trợ cấp cho người được hưởng bảo hiểm theo quy định củapháp luật Các nhiệm vụ khác đều rất cần thiết nhưng đều phụ thuộc hoặc bổsung cho nhiệm vụ trên Như vậy, cơ quan bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệmtrước Nhà nước về thực hiện bảo hiểm xã hội đối với mọi người lao động theoquy định của pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm về vật chất và tài chính đốivới người được bảo hiểm khi họ có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.Các thành viên tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội có mối quan hệ mật thiếtvới nhau Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ các bên được đặt trong mối quan

hệ thống nhất với nhau Song cũng như bất cứ một quan hệ pháp luật nào,trong quá trình phát sinh, tồn tại các quan hệ bảo hiểm xã hội giữa các chủ thểkhông tránh khỏi có sự bất đồng với nhau dẫn đến tranh chấp Nếu tranh chấpgiữa người lao động và người sử dụng lao động về bảo hiểm xã hội thì giảiquyết theo quy định về giải quyết tranh chấp lao động Nếu tranh chấp giữangười lao động, người sử dụng lao động với cơ quan bảo hiểm xã hội thì giảiquyết theo Điều 130, Luật Bảo hiểm Xã hội 2006

1.2.2.2 Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Người tham gia bảo hiểm xã hội là người đóng góp phí bảo hiểm xã hội

để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác được bảo hiểm xã hội Như vậy,người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật chủ yếu là người

Trang 23

lao động có đủ những điều kiện mà Pháp luật quy định để tham gia BHXH tựnguyện Đối tượng áp dụng BHXH theo loại hình BHXH tự nguyện quy địnhtại Điều 2 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và hướng dẫn tại Phần I Thông tư

số 02/2008/TT-BLĐTBXH là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổiđối với nam và từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện áp

dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc, bao gồm: “Người lao động làm việc

theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng; Cán bộ không chuyên trách

cấp xã, ở thôn và tổ dân phố; Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân; Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc tham gia BHXH bắt buộc nhưng đã nhận BHXH một lần; Người tham gia khác Các đối tượng quy định trên gọi chung là người tham gia BHXH tự nguyện”[10].

Theo Khoản 5 Điều 2 Luật BHXH 2006 cho rằng: “Người tham gia

bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc đối tượng được quy định tại khoản 1 điều này”[20] Vậy có thể

hiểu là, để trở thành chủ thể tham gia BHXH tự nguyện theo Pháp luật ViệtNam phải là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động từ đủ 15 – 60 tuổi đốivới nam hoặc từ 15 – 55 đối với nữ

Đến dự thảo Luật BHXH 2014, các nhà làm luật đã chú ý sửa đổi bổsung một cách có cụ thể hơn như sau: Theo Khoản 4 Điều 2 Luật BHXH 2014

cho rằng: “Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam

từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng được quy định tại khoản

1 điều này”[22] Có nghĩa là, điều kiện để trở thành chủ thể tham gia BHXH

tự nguyện theo Pháp luật Việt Nam phải là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi

Trang 24

trở lên (trong độ tuổi lao động) và không thuộc các diện tham gia BHXH bắtbuộc theo khoản 1 Luật BHXH 2014 Như vậy, có thể thấy rằng người thamgia BHXH tự nguyện là tất cả người lao động trong độ tuổi lao động (từ đủ 15tuổi trở lên), kể cả thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Một số ítngười lao động có quan hệ lao động nhưng quan hệ này không bền vững,không ổn định, còn hầu hết đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyệnkhông có quan hệ lao động, chủ yếu họ là nông dân, xã viên hợp tác xã, người

tự tạo việc làm Cụ thể là các dối tượng người lao động sau đây:

- Người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng thực tế họ lại không được tham gia vì nhiều lý do khác nhau

Theo thống kê năm 2012, cả nước có 52,3 triệu người từ 15 tuổi trở lênthuộc lực lượng lao động, bao gồm 51,4 triệu người có việc làm và 925,6ngàn người thất nghiệp 69,7% lực lượng lao động ở nông thôn Tính đến cuốinăm 2012, tức là qua 6 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, đối tượng thamgia BHXH mới chỉ đạt khoảng 10,577 triệu người tham gia BHXH, trong đó

có 10,437 triệu người tham gia BHXH bắt buộc, có khoảng 0,14 triệu ngườitham gia BHXH tự nguyện Trong số này còn có một lượng vô cùng lớnngười lao động chưa được tham gia bảo hiểm xã hội [9] Đây là lực lượng vôcùng lớn muốn tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, vì cùng với bảo hiểm xãhội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện tạo điều kiện cho mọi người lao độngtích luỹ một phần thu nhập khi còn trẻ để đảm bảo ổn định cuộc sống khi vềgià, góp phần an sinh xã hội Thậm chí những người đang thực hiện bảo hiểm

xã hội bắt buộc cũng có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện vì trong quátrình tổ chức, thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng khó xác định đượcngười nào đang tham gia hay không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

- Lao động làm việc trong các doanh nghiệp có quan hệ lao động,

không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc: Những người làm

Trang 25

công ăn lương theo hình thức hợp đồng lao động dưới 3 tháng;

- Lao động làm việc trong các đơn vị không có quan hệ lao động, cónguyện vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Những đối tượng này bao gồm tất cả mọi người lao động không thuộcdiện bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, để có căn cứ xây dựng các chế độbảo hiểm xã hội phù hợp với nhu cầu và khả năng tham gia đóng góp bảohiểm xã hội tự nguyện của từng loại hình, cần phải nghiên cứu các đặc điểmcủa từng ngành nghề, tính chất và mức độ thu nhập của các loại hình laođộng Vì vậy, trong số các loại hình lao động không thuộc diện bảo hiểm xãhội bắt buộc bao gồm:

- Lao động tiểu thủ công nghiệp;

- Lao động buôn bán dịch vụ;

- Lao động nông nghiệp;

- Lao động tự do, lao động cá thể [20]

Lao động tiểu thủ công nghiệp: Là những lao động sống ở thành phố,

thị xã và nông thôn sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, đây là lao động

có thu nhập ổn định, nhiều đơn vị có thu nhập tương đương với thu nhập củalao động các doanh nghiệp Nhà nước

Lao động làm nghề buôn bán dịch vụ: Chủ yếu sống ở thành phố, thị

xã, ước tính khoảng trên 7%, và có mức thu nhập bình quân thuộc vào loạikhá

Về lao động nông nghiệp: Chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số lao

động ở nước ta Có khoảng 70% số người trong độ tuổi lao động đang làmviệc ở những lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, loại hình này cóhai đặc điểm chính [9].Thu nhập thấp và mức độ tăng chậm do sản lượngnông sản tăng hàng năm thấp nên mức độ thu nhập của nông dân không bằngthu nhập của lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Đây là đặc điểm cho

Trang 26

thấy năng tham gia đóng bảo hiểm xã hội của nông dân khác hẳn các loại hìnhlao động khác.

c. Lao động khác: lực lượng này chiếm khoảng 1 triệu người, đặc điểm

tính chất công việc của đối tượng lao động này là tương đối phức tạp, không

có tính hệ thống Việc làm, thu nhập không ổn định, đa dạng nghề nghiệp,thường xuyên di chuyển Do vậy, việc tham gia bảo hiểm xã hội dù có nhucầu lớn nhưng sẽ gặp khó khăn trong việc tổ chức thực hiện [9]

1.2.2.3 Người được bảo hiểm xã hội tự nguyện

Người được bảo hiểm xã hội là người lao động hoặc thành viên giađình họ khi thoả mãn đầy đủ các điều kiện bảo hiểm xã hội tự nguyện theoquy định của pháp luật

Các thành viên tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội nói chung và bảohiểm xã hội tự nguyện nói riêng có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc thựchiện quyền và nghĩa vụ của các bên được đặt trong mối quan hệ tương hỗ,thống nhất với nhau Đơn vị sử dụng lao động đóng bảo hiểm cho người laođộng, người lao động đóng bảo hiểm cho cơ quan bảo hiểm Cơ quan bảohiểm thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động

1.2.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Các chế độ BHXH tự nguyện là các quyền lợi mà người tham gia tự nguyện được hưởng khi có đủ các điều kiện bảo hiểm phát sinh

Việc xác định đối tượng tham gia, xác định các chế độ BHXH tựnguyện thuộc nhu cầu tham gia và trình độ quản lý rủi ro của từng nước Tuynhiên, việc xây dựng và thực hiện các chế độ BHXH tự nguyện ở các quốc giađều dựa vào các quy định của Công ước số 102 về các chế độ của BHXH đãđược tổ chức lao động quốc tế (ILO) thông qua ngày 28/6/1952 và điều kiệnkinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia

Theo quy định của ILO trong Công ước 102, để đảm bảo mức tối thiểu,thì trong BHXH các nước thành viên cần lựa chọn ít nhất là ba trong chính

Trang 27

chế độ sau: Chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp hưutrí; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thaisản; trợ cấp tàn tật; trợ cấp tiền tuất Trong đó, phải có ít nhất một trong cácchế độ: bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàntật và tiền tuất Như vậy, ILO không quy định rõ là BHXH tự nguyện phải ápdụng chế độ nào Bởi vậy, các chế độ BHXH tự nguyện được áp dụng linhhoạt tùy theo điều kiện của từng nước Tuy nhiên đa số các nước trên thế giớiđều lựa chọn chế độ hưu trí và chế độ tử tuất cho BHXH tự nguyện Bởi đây

là hai chế độ BHXH mang tính dài hạn và tu hút được nhiều người tham gia

Có rất nhiều nước trên thế giới thực hiện bảo hiểm xã hội (BHXH) tựnguyện, tuy nhiên mỗi nước có cách thức tổ chức thực hiện và chế độ riêng,phù hợp với đặc điểm của từng nước, do đó mô hình tổ chức thực hiện chế độBHXH tự nguyện của các nước cũng có sự khác biệt nhất định như:

Tại Pháp, BHXH tự nguyện ra đời trước cả bảo hiểm thương mại, dướidạng các quỹ tương tế, từ cuối thế kỷ XIX Những đối tượng là người nôngdân, thợ thủ công, người làm nghề đánh cá trên biển…BHXH tự nguyện ởPháp áp dụng các chế độ sau: Bảo hiểm hưu trí; Bảo hiểm ốm đau, sinh đẻ,thương tật; Bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp; Bảo hiểm thất nghiệp đối vớinhững người làm công trong nông nghiệp; Trợ cấp gia đình Người tham giabảo hiểm hoàn toàn tự nguyện.Về hình thức đóng góp, để phù hợp với đặcđiểm thu nhập đa dạng của các đối tượng tham gia bảo hiểm, BHXH tựnguyện của Pháp đã tính toán mức đóng và quy ra điểm, tương ứng với mộtgiá trị nhất định.Tại mỗi thời điểm có thể có giá trị khác nhau, tùy theo giá trịđồng tiền tại thời điểm tính và tổng lượng tiền dự tính cơ quan BHXH có thểthu được trong năm Việc trả lương hưu và các trợ cấp bảo hiểm được thựchiện thông qua hệ thống bưu chính Pháp theo hai hình thức chuyển vào tàikhoản của người thụ hưởng tại các bưu cục hoặc vào bất kỳ ngân hàng nào màngười thụ hưởng có tài khoản, làm tăng số tiền họ có trong tài khoản

Trang 28

Những người không có tài khoản được nhận trợ cấp bằng tiền mặt trực tiếp tạicác bưu điện Một số đối tượng đặc biệt (cao tuổi, tàn tật…) được bưu điệnmang trợ cấpđến tận nhà.

Ở Ba Lan , Hệ thống BHXH tự nguyện ở Ba Lan bắt đầu được thựchiện chính thức từ năm 1990 Chính phủ Ba Lan cũng cho phép các hiệp hộitương trợ bảo hiểm – là những tổ chức phi chính phủ, được tổ chức thực hiệnBHXH tự nguyện cho nông dân và các thành viên trong gia đình họ Như vậy,

ở Ba Lan, hệ thống BHXH tự nguyện độc lập với hệ thống BHXH bắt buộc.Tuy nhiên, trong thiết kế các chế độ luôn luôn có hai loại hình là tự nguyện vàbắt buộc để mọi người, tùy từng đối tượng cụ thể có thể bắt buộc phải thamgia hoặc tự nguyện tham gia Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện bao gồmnhững người không đáp ứng được các điều kiện đối với BHXH bắt buộc, đó

là những người làm việc trong các trang trại nhỏ, những nông dân cá thể, cácthành viên trong gia đình họ Các chế độ BHXH tự nguyện bao gồm: Tai nạn,

ốm đau và thai sản Các chế độ bảo hiểm dài hạn, gồm bảo hiểm tuổi già, bảohiểm tàn tật, chế độ tử tuất; Trợ cấp gia đình Ngoài các chế độ trên (bằngtiền),người tham gia bảo hiểm cũng được trợ cấp bằng hiện vật, như thuốcmen, các phương tiện trợ giúp, đồ mặc và hiện vật cho trẻ sơ sinh; nhà dưỡnglão đối với người già…

Phần Lan là một nước phát triển và nông dân chỉ chiếm 7% trong tổng

số dân Thu nhập của người nông dân khá đa dạng và thu nhập từ sản xuấtnông nghiệp chỉ chiếm 50% trong tổng thu nhập Đây là điều kiện rất lý tưởng

để người nông dân có thể tham gia BHXH Hệ thống BHXH đối với nông dân

ở Phần Lan bao gồm bảo hiểm dài hạn (hưu trí, tàn tật) và bảo hiểm ngắn hạn(ốm đau,tai nạn, thất nghiệp) Các chế độ bảo hiểm dài hạn do tổ chức bảohiểm xã hội quốc gia (KELA) quản lý và thực hiện cho mọi người dân vàngười nông dân được hưởng trợ cấp cơ bản từ hệ thống này (thấp hơn rấtnhiều so với những người làm công ăn lương) Hệ thống BHXH dài hạn cho

Trang 29

mông dân do tổ chức BHXH nông dân(MELA) quản lý Hai loại trợ cấp nàyđảm bảo cho người nông dân có được trợ cấp hưu thỏa đáng Người nông dân

đủ 65 tuổi (cả nam và nữ) được hưởng trợ cấp hưu Mức hưởng phụ thuộc vào

tỷ lệ đóng góp và thời gian đóng góp, nhưng tối đa bằng 60% mức thu nhậptheo tính toán Nếu nghỉ hưu sớm hơn (ở độ tuổi từ 64 trở xuống) thì mức trợcấp bị giảm đi tương ứng Ngoài trợ cấp hưu, người nông dân Phần Lan cũngđược hưởng trợ cấp ốm đau, tai nạn hay thất nghiệp Mọi nông dân từ 18 tuổitrở lên bắt buộc phải tham gia vào hệ thống bảo hiểm tai nạn cho nông dân, từ

14 – 17 tuổi có thể tham gia tự nguyện.Ngoài ra, những người trên 65 tuổicũng được tham gia tự nguyện cho chế độ bảohiểm tai nạn Mức trợ cấp đượcthực hiện như đối với khu vực làm công ăn lương do nhà nước quy định

Bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Thổ Nhĩ Kỳ được chia thành hai tiểu hệthống là bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động tự do và bảo hiểm xã hội

tự nguyện đối với nông dân tự do Đối tượng của bảo hiểm xã hội tự nguyệnđối với lao động tự do bao gồm: người lao động độc lập không có quan hệ laođộng; vợ hoặc chồng thất nghiệp của lao động trong khu vực nông nghiệp;những người nội trợ; những người gốc Thổ có quốc tịch nước ngoài; vợ hoặcchồng trong khu vực nông nghiệp, thân nhân của những người Thổ định cư ởnước ngoài do điều điện phải sống phụ thuộc và không có công việc ổn định.Đối tượng của bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với nông dân tự do gồm nhữngngười lao động tự do không thuộc đối tượng của bảo hiểm xã hội bắt buộc.Các chế độ bảo hiểm được áp dụng gồm:chế độ mất sức lao động, chế độ bảohiểm tuổi già và chế độ tử tuất (chế độ tuất chỉ áp dụng đối với lao động tự

do, không áp dụng đối với nông dân) Đối với bảo hiểm tuổi già, tuổi nghỉhưu đối với nam là 55 vànữ là 50 và phải có thời gian đóng góp bảo hiểm xãhội tự nguyện tối thiểu là 25 năm Những người có thời gian đóng góp từ 15năm đến dưới 25 năm hưởng bảo hiểm tuổi già một phần (gọi là hưu sớm,được hưởng mức trợ cấp hàng tháng thấp hơn so với những người đủ điều

Trang 30

kiện) Đối với những người có dưới 15 năm đóngbảo hiểm thì được hưởng trợcấp hưu một lần.

Như vậy, qua đánh giá quy định pháp luật của một số nước cho thấyviệc lựa chọn cách thức thực hiện BHXH tự nguyện ở một số quốc gia chothấy có những nước đưa ra các chế độ gần giống với BHXH bắt buộc, việcthực hiện cũng nhanh chóng, linh hoạt như bắt buộc Đồng thời, họ lựa chọncác chế độ dễ thực hiện, do quản lý được mức thu nhập tốt hơn Bên cạnh đó,Nếu như chính sách BHXH bắt buộc theo quy định thực hiện 6/9 chế độ theokhuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế thì BHXH tự nguyện do điều kiệnkinh tế - xã hội của đất nước vẫn còn phát triển chậm, năng suất lao độngchưa cao, thu nhập thực tế của người lao động thấp, do đó bước đầu loại hìnhBHXH tự nguyện không thể thực hiện ngay tất cả các chế độ BHXH mà chỉmới có hai chế độ đó là chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

1.2.3.1 Chế độ hưu trí

Đúng như tên gọi của nó, bảo hiểm hưu trí tự nguyện hoạt động dựatrên nguyên tắc tự nguyện Trên cơ sở đóng phí, người được bảo hiểm bắt đầunhận quyền lợi bảo hiểm hưu trí khi đạt đến tuổi theo quy định của Pháp luật

Nữ giới sẽ bắt đầu nhận quyền lợi của mình ở tuổi 55 và nam giới là 60 tuổi

Độ tuổi nhận quyền lợi hưu trí này cũng trùng với độ tuổi nhận lương hưu từquỹ bảo hiểm hưu trí bắt buộc Số tiền bảo hiểm sẽ được DN bảo hiểm chi trảđịnh kỳ đến khi người được bảo hiểm tử vong hoặc tối thiểu trong 15 năm, tùytheo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm Mức hưởng quyền lợi bảo hiểm mỗi

kỳ và số kỳ nhận tiền bảo hiểm cũng rất linh hoạt, tùy theo thỏa thuận giữangười mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm Khi tham gia bảo hiểm hưutrí tự nguyện, mỗi người lao động sẽ có một tài khoản bảo hiểm hưu trí riêng.Phần quyền lợi hưu trí chưa chi trả cho bên mua bảo hiểm sẽ được tính lãi tíchlũy Theo quy định của Bộ Tài chính, lãi này không được thấp hơn lãi suất đầu

tư cam kết tối thiểu thoả thuận tại hợp đồng bảo hiểm

Trang 31

Bên cạnh đó, khi tham gia bảo hiểm hưu trí tự nguyện, tùy theo nhu cầu

và khả năng tài chính của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có thểnhận thêm các quyền lợi bảo hiểm hỗ trợ như: Quyền lợi điều chỉnh mứchưởng quyền lợi hưu trí định kỳ; quyền lợi bảo hiểm thất nghiệp; quyền lợichăm sóc y tế; quyền lợi hỗ trợ nằm viện; quyền lợi bảo hiểm cho người phụthuộc; quyền lợi bảo hiểm bệnh hiểm nghèo; quyền lợi bổ trợ khác theo thoảthuận tại hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên với những quyền lợi bảo hiểm bổ trợnày, doanh nghiệp bảo hiểm không được phép khấu trừ phí bảo hiểm Chủ sửdụng lao động cũng có thể mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho các nhân viêncủa mình Đặc biệt, nếu chủ sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ hoặcbảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động với mức phí không quá1.000.000đ/tháng sẽ không phải nộp thuế thu nhập Doanh nghiệp, người laođộng chỉ phải đóng tiền thuế thu nhập cá nhân khi nhận tiền bảo hiểm.[14]

Mục đích chủ yếu của chế độ này khi được thực hiện đó là thay thế mộtphần thu nhập và góp phần đảm bảo ổn định về thu nhập cho người lao độngcho đến tuổi nghỉ hưu Đây là chế độ quan trọng trong hệ thống BHXH nóichung được mọi người lao động quan tâm Việc đưa chế độ này trở thành mộttrong những chế độ BHXH tự nguyện đã đáp ứng nhu cầu lớn nhất của ngườilao động về BHXH, làm cho chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam có ýnghĩa thiết thực hơn Các quy định về tuổi nghỉ hưu và số năm tham giaBHXH của Việt Nam có sự tương đồng với các nước trong khu vực, thậm chítuổi nghỉ hưu của Việt Nam còn thấp hơn, đây là một lợi thế cho người laođộng được nghỉ ngơi sớm hơn mà vẫn được đảm bảo về thu nhập Ví dụ: TạiLào hiện nay cả nam và nữ có tuổi nghỉ hưu ngang bằng nhau là 60.Campuchia quy định nam và nữ công chức nghỉ hưu ở tuổi 60, riêng đối vớilãnh đạo cấp cao (từ Quốc Vụ Khanh – tương đương thứ trưởng- trở lên) thìkhông giới hạn tuổi nghỉ hưu Tại Trung Quốc Chính phủ quy định 60 tuổi

Trang 32

đối với nam, 55 tuổi với nữ công nhân làm việc trong các khu vực sản xuất.Các quy định về tuổi nghỉ hưu và số năm đóng BHXH để được hưởng chế độhưu trí theo Pháp luật Việt Nam là khá phù hợp với điều kiện kinh tế, cũngnhư sự phát triển chung của xã hội Tuy nhiên, để đảm bảo được nhu cầu, cần

có những quy định linh hoạt hơn Quy định chung của Pháp luật về BHXH tựnguyện là người lao động được hưởng chế độ hưu trí ít nhất là đủ 20 nămtham gia BHXH, không có các trường hợp khác, điều này thiếu tính linh hoạthơn so với các quy định của BHXH bắt buộc Đây là một trong những lý dokhiến cho người lao động chưa mặn mà với việc tham gia BHXH tự nguyện.Việc quy định thời gian tham gia BHXH tối thiểu là 20 năm để được nhậnlương hưu nhằm đảm bảo giá trị tồn tích của quỹ để tránh việc mất cân đối vềtài chính giữa giá trị hiện tại của các khoản đóng phí và mức trợ cấp mà ngườinày được hưởng Người tham gia BHXH tự nguyện chỉ được hưởng chế độbảo hiểm khi đã thực hiện việc đóng các khoản phí đầy đủ và phải đạt đến độtuổi nhất định theo quy định của pháp luật Trong khi đó ở chế độ bảo hiểm xãhội bắt buộc thì quy định đó tỏ ra mềm dẻo hơn nhiều Loại hình BHXH tựnguyện không có quy định về giảm độ tuổi hưởng chế độ hưu trí cho lao độnglàm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (nam 55 tuổi, nữ 50tuổi có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm) trong khi đốitượng tham gia BHXH bắt buộc lại được hưởng chế độ này Quy định này cóthể làm hạn chế khả năng tham gia của nhiều lao động, đặc biệt là lao độnglàm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm

Việc quy định thời gian tham gia BHXH tối thiểu 20 năm, hoặc thiếukhông quá 5 năm so với quy định đã làm giảm một số lượng lớn những laođộng nam trên 45 tuổi và lao động nữ trên 41 tuổi tham gia BHXH tự nguyện.Trong nền kinh tế thị trường việc người lao động phải di chuyển tìm kiếmviệc làm khi thì thuộc thành phần kinh tế này, lúc thì chuyển sang thành phần

Trang 33

kinh tế khác, khi thì có hợp đồng lao động, luc thì phải tự hành nghề để kiếmsống là điều khó tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động xã hội Nhiềungười tham gia cả hai hình thức BHXH bắt buộc và tự nguyện trong nhiềugiai đoạn nhưng cuối đời vẫn không đáp ứng đủ ít nhất 15 năm tham giaBHXH (dù chỉ thiếu một vài tháng) để được hưởng lương hưu hàng tháng - đóthực sự là một điểm hạn chế cần được các nhà làm chính sách xem xét Có thểtham khảo các quy định của Pháp luật tại các nước phát triển, mô hình bảohiểm hưu trí với 3 tầng bảo vệ đã được áp dụng từ lâu Trong đó, bảo hiểm xãhội bắt buộc là "tầng bảo vệ" thứ nhất nhằm đảm bảo người lao động có mứcthu nhập tối thiểu sau khi về hưu; bảo hiểm hưu trí bổ sung là "tầng bảo vệ"thứ 2 nhằm bổ sung thêm phần thu nhập trên cơ sở mức lương hưu tối thiểu từbảo hiểm xã hội bắt buộc; còn bảo hiểm hưu trí tự nguyện là "tầng bảo vệ" thứ

3 giúp bổ sung thêm phần thu nhập cho người lao động sau khi hết tuổi laođộng, cộng thêm các quyền lợi bảo hiểm nhân thọ được hưởng khác

1.2.3.2 Chế độ tử tuất

Ngoài quyền lợi hưu trí nêu trên, người lao động còn được nhận thêmquyền lợi bảo hiểm rủi ro trong thời hạn đóng phí bảo hiểm, thậm chí có thểđược bảo vệ trong thời gian nhận quyền lợi hưu trí Tùy theo thỏa thuận giữadoanh nghiệp bảo hiểm và người lao động, quyền lợi bảo hiểm rủi ro tối thiểubao gồm quyền lợi trợ cấp mai táng và quyền lợi bảo hiểm tử vong hoặcthương tật toàn bộ vĩnh viễn

Con người chúng ta không ai tránh khỏi được cái chết, đó là quy luậtchung của tự nhiên Ngoài mất do tuổi già, con người cũng phải đối mặt vớibệnh tật, tai nạn, rủi ro Đối với người lao động, khi bị mất, gia đình họ sẽ bịmất đi khoản thu nhập, kèm theo đó là sự gia tăng đáng kể về chi phí lo maitáng, trợ giúp tài chính cho cuộc sống người thân Do đó, sự mất đi của họ

Trang 34

dẫn đến đe dọa “an toàn kinh tế” cho người lao động và cho gia đình họ, điềunày sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của thân nhân người lao động tronggia đình Bởi vậy, khi người lao động bị mất rất cần những khoản trợ cấpnhằm bảo đảm và ổn định cuộc sống cho người thân BHXH với bản chất làbảo hiểm thu nhập cho người lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao độngnên có trách nhiệm trợ giúp cho thân nhân người lao động là những đối tượngđược hưởng thu nhập từ người lao động Với ý nghĩa to lớn đó, chế độ tử tuấtđược đông đảo người lao động trong xã hội quan tâm, không chỉ người laođộng trong BHXH bắt buộc mà cả những người tham gia BHXH tự nguyện đa

số ủng hộ Theo quy định của Pháp luật hiện nay, chế độ tử tuất trong BHXH

tự nguyện gồm hai chế độ: chế độ trợ cấp mai táng và chế độ trợ cấp tuất mộtlần BHXH tự nguyện không có chế độ trợ cấp tuất hàng tháng (nếu khôngthực hiện việc liên thông với BHXH bắt buộc) mà chỉ có chế độ trợ cấp tuấtmột lần BHXH tự nguyện không có trợ cấp tuất hàng tháng (nếu không thựchiện việc liên thông với BHXH bắt buộc) mà chỉ có chế độ trợ cấp tuất mộtlần

Chế độ tử tuất trong BHXH tự nguyện thực hiện với mục đích hỗ trợ tàichính cho gia đình người lao động khi người lao động tham gia BHXH tựnguyện chết Đối tượng tham gia chế độ tử tuất và đối tượng hưởng trợ cấp tửtuất là hai chủ thể khác nhau Đối tượng tham gia chế độ này là tất cả ngườilao động tham gia BHXH tự nguyện, còn đối tượng hưởng trợ cấp là gia đình

họ Vì thế Người tham gia BHXH tự nguyện khi chết thì thân nhân đượchưởng chế độ tử tuất với hai loại trợ cấp như sau:

Trang 35

- Người đang hưởng lương hưu

+ Trợ cấp mai táng bằng được tính bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng

mà người lao động đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 5 năm trở lên

và người lao động đang hưởng lương hưu chết

+ Trường hợp người lao động đã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ

5 năm trở lên và người lao động đang hưởng lương bị Tòa án tuyên bố là đãchết thì thân nhân được hưởng trợ cấp bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng

mà người lao động chết [20]

a Về trợ cấp tuất

Trường hợp có toàn bộ thời gian đóng BHXH tự nguyện và thời gian đãđóng từ đủ 1 năm trở lên: Mức trợ cấp tuất một lần được tính theo số năm đãđóng BHXH, cứ mỗi năm (đủ 12 tháng) tính bằng 1,5 tháng mức bình quânthu nhập tháng đóng BHXH (nếu có tháng lẻ thì làm tròn theo quy định).Trường hợp có toàn bộ thời gian đóng BHXH tự nguyện nhưng thời gian

đã đóng chưa đủ 1 năm: Mức trợ cấp tuất một lần được tính bằng số tiền đãđóng, nhưng mức tối đa chỉ bằng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập thángđóng BHXH [20]

Trường hợp vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóngBHXH tự nguyện mà thời gian đóng BHXH bắt buộc dưới 15 năm hoặc từ đủ

15 năm trở lên mà không có thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàngtháng: Mức trợ cấp tuất một lần được tính theo số năm đã đóng BHXH, cứmỗi năm (đủ 12 tháng) tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiềncông và thu nhập tháng đóng BHXH (nếu có tháng lẻ thì làm tròn theo quyđịnh) Mức trợ cấp tuất một lần thấp nhất bằng 3 tháng mức bình quân tiềnlương, tiền công và thu nhập tháng đóng BHXH (trường hợp có thời gianđóng BHXH dưới 3 tháng thì chưa thuộc diện được tính mức hưởng trợ cấptiền tuất một lần)

Trang 36

Mức trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân của người đang hưởng lươnghưu có toàn bộ thời gian đóng BHXH tự nguyện chết được tính theo thời gian

đã hưởng lương hưu, nếu chết trong hai tháng đầu hưởng lương hưu thì tínhbằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứhưởng thêm một tháng lương hưu thì mức trợ cấp giảm đi 0,5 tháng lươnghưu [20]

Trường hợp người đang hưởng lương hưu có thời gian đóng BHXH bắtbuộc dưới 15 năm hoặc có từ đủ 15 năm trở lên nhưng không có thân nhânthuộc diện hưởng tiền tuất hàng tháng thì khi chết, thân nhân được hưởng trợcấp tuất một lần với cách tính hưởng như nêu trên, nhưng mức thấp nhất bằng

3 tháng lương hưu đang hưởng trước khi chết [20]

1.2.4 Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quỹ bảo hiểm xã hội là tập hợp những phương tiện nhằm thoả mãn nhữngnhu cầu phát sinh về bảo hiểm xã hội Cụ thể là các khoản dự trữ về tài chính

và các phương tiện cơ sở vật chất phục vụ cho quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảohiểm xã hội là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham giabảo hiểm xã hội hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho nhữngngười được bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập

do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm

Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dựphòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiệnhay cơ sở vật chất quan trọng nhất bảo đảm cho toàn bộ hệ thống bảo hiểm xãhội tồn tại và phát triển

1.2.4.1 Nguồn hình thành

Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được hình thành từ các nguồn như:

* Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng theo quy định

Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện họ có thể đăng ký tham gia với nhiều mức đóng khác nhau như: Hằng tháng, hằng quý, sáu

Trang 37

tháng một lần Việc thực hiện thu tiền đóng bảo hiểm xã hội được thực hiệnvào nửa đầu của thời gian ứng với phương thức mà người tham gia bảo hiểm

xã hội lựa chọn một trong ba hình thức trên [12] Mặt khác, người đang thamgia bảo hiểm xã hội tự nguyện nếu có nhu cầu về việc chuyển đổi phươngthức đóng, hay trong quá trình làm việc họ được tăng lương, có thêm thunhập; hoặc thậm chí bị giảm lương, chuyển công việc khác có mức thu nhậpthấp hơn mức đang đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thì họ được đăng ký lạiphương thức đóng hoặc mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

tự nguyện với tổ chức bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, việc đăng ký lại phươngthức đóng và mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng được thực hiện ít nhất làsau 6 tháng kể từ lần đăng ký trước

* Tiền từ quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc chuyển sang chi trả cho đối tượng là người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được hạch toán độc lập để chi trả chế

độ hưu trí cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và chế độ tử tuấtcho thân nhân của các đối tượng này dựa trên mức đóng và thời gian đóng bảohiểm xã hội Đồng thời, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phốihợp với Bộ Tài chính hướng dẫn sử dụng việc chi trả chế độ hưu trí và tử tuất

từ Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc và Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện đối vớiđối tượng vừa có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời giantham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

* Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện; Các

khoản đầu tư trước đây của Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện trong thời kỳtrước đây còn chưa được định hình một cách rõ ràng do số tổng thu của Quỹ

còn ít, lại phải chi trả nhiều nên số tiền nhàn rỗi dùng để đầu tư mới

Trang 38

chỉ tập trung được ở một số kênh manh mún Do vậy, Luật BHXH 2014 đã chỉ

ra các kênh đầu tư cụ thể định hướng cho đơn vị quản lý quỹ như mua tráiphiếu Chính phủ; gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại cácngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam Nhằm hướng tới mục tiêu là làm cho các hoạtđộng đầu tư quỹ sao cho có hiệu quả nhất

* Hỗ trợ của Nhà nước

Nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức và cá nhân hỗ trợ phần đóngcho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc hỗ trợ vào nguồn quỹ bảohiểm xã hội tự nguyện Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dânchủ, công khai, kinh bạch, được hạch toán tương ứng với từng nhóm chế độ;quản lý và sử dụng theo nguyên tắc cân đối thu-chi, bảo toàn và phát triển;được Nhà nước bảo hộ Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách an sinh xãhội đã đề ra, việc đảm bảo nguồn thu cho quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyệnđược Nhà nước hỗ trợ bằng nhiều phương thức khác nhau như huy động cácnguồn đóng góp từ xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động Hoặc cóthể đồng thời đưa ra các chính sách nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp giúp laođộng của mình tiếp cận với hình thức bảo hiểm xã hội tự nguyện, vừa là đểdoanh nghiệp có sự gắn kết với người lao động, vừa là để tăng nguồn thu hỗtrợ cho quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trang 39

động có thể xin thay đổi mức thu nhập làm căn cứ nộp BHXH.

+ Mức đóng BHXH tự nguyện hàng tháng (cho mỗi tháng):

Mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọnđóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2%cho đến khi đạt mức đóng là 22% Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảohiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời

kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng haimươi tháng lương tối thiểu chung

Tỷ lệ phần trăm đóng BHXH tự nguyện: Từ tháng 01/2008 đến tháng12/2009 bằng 16%; từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2011 bằng 18%; từ tháng01/2012 đến tháng 12/2013 bằng 20% và từ tháng 01/2014 trở đi bằng 22%

Bên cạnh đó thì Nhà nước sẽ căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế

-xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗtrợ, đối tượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng bảohiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

b. Đối với phương thức đóng

Theo Luật BHXH 2006 người tham gia BHXH tự nguyện được đăng kývới tổ chức BHXH theo một trong 3 phương thức là: Đóng hàng tháng; đónghàng quý; đóng 6 tháng một lần Trường hợp đóng hàng tháng thì đóng trongthời hạn của 15 ngày đầu; đóng hàng quý thì đóng trong thời hạn của 45 ngàyđầu và đóng 6 tháng một lần thì đóng trong thời hạn của 3 tháng đầu [20].Tuy nhiên, để phù hợp với khả năng tham gia của người dân, 6 năm nămtriển khai thực hiện, với nhiều sự tham khảo, nghiên cứu kỹ lưỡng của cácChuyên gia đã được thể hiện qua các nét mới về phương thức đóng được quyđịnh trong Luật BHXH 2014 như sau:

+ Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây:

Trang 40

Có thể thấy rằng, người tham gia có thể lựa chọn phương thức đóngBHXH tự nguyện một cách linh hoạt ngoài các phương thức đã quy định lầnnày cho phép có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc một lần chonhững năm còn thiếu để hưởng chế độ BHXH tự nguyện Căn cứ vào điềukiện phát triển kinh tế - xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời

kỳ hoặc khả năng đóng góp của người lao động để quy định mức hỗ trợ, đốitượng hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH chongười lao động tham gia BHXH tự nguyện Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quyđịnh mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện của người

lao động như sau: “Mức đóng hàng tháng bằng 22% mức thu nhập tháng do

người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất Mức thu nhập làm cơ sở để đóng bảo hiểm xã hội được xác định với mức thấp nhất là bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất là bằng 20 lần mức lương cơ sở” [22] Đồng thời, bỏ quy định mức sàn thu nhập đóng BHXH tự

nguyện thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung (nay là mức lương cơ sở)

để phù hợp với khả năng tham gia của người dân; đồng thời quy định Nhànước hỗ trợ người tham gia BHXH tự nguyện bằng khả năng ngân sách củaNhà nước trong từng thời kỳ

Ngày đăng: 04/11/2020, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w