ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIKHOA LUẬT NGUYỄN ĐẶNG MINH THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD - NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN luËn v¨n th¹c sÜ lu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐẶNG MINH
THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD - NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐẶNG MINH
THÔNG LỆ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ OECD - NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa
Hµ néi - 2008MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Tra
ng
Trang phụ bìa Lời cam đoan
Trang 3VÀ CÁC THÔNG LỆ TỐT VỀ
QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO OECD
1.2.2 Tính không bắt buộc, tính thích nghi và ý nghĩa của 20
các thông lệ tốt về quản trị công ty của
THÔNG LỆ TỐT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀO CÔNG TY CỔ PHẦN
lệ tốt vào quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam
2.2.1
Hiện trạng về quản trị công ty trong công ty cổ phần 30
ở Việt Nam2.2.2
Sự cần thiết và các tác động của việc áp dụng thông 39
lệ tốt vào quản trị công ty cổ phần
Chương 3: CƠ CHẾ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT VÀO 47
QUẢN TRỊ CÔNG TY
CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
3.1
Cơ sở của việc áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công 47
ty cổ phần3.2
Thực tiễn du nhập và áp dụng thông lệ tốt vào quản 49trị công ty cổ phần ở Việt Nam3.3
Các cơ chế áp dụng thông lệ tốt vào quản trị công ty 51
cổ phần ở Việt Nam3.3.1
Đề xuất các biện pháp và cơ chế 513.3.2
Nghiên cứu tình huống áp dụng thông lệ quản trị 72công ty: trường hợp Công ty cổ phần Cho thuê Máy
bay Việt Nam3.3.2
.1
Giới thiệu Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay Việt Nam 733.3.2
.2
Cơ cấu quản trị Công ty cổ phần Cho thuê Máy bay 74Việt Nam
3.3.2.3
Yêu cầu và thực tiễn áp dụng cácchuẩn mực quốc tế 75trong quản trị và điều hành hoạt động kinh doanh của
Công ty3.3.2
.4
Sự thể chế hóa các thông lệ tốt
về quản trị công ty 79trong các văn bản quản lý nội bộ của Công ty cổ phần
Cho thuê Máy bay Việt Nam
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, các thông lệ tốt về
quản trị công ty (QTCT) ngày càng
được đề cập đến nhiều trong quá trình
hội nhập Bên cạnh các yếu tố lợi
nhuận, tốc độ tăng trưởng, các vấn đề
về hành xử của doanh nghiệp, trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp, các
yêu cầu về môi trường, v.v
đòi hỏi mức độ cao trong việc áp dụng
thông lệ kinh doanh chuẩn mực để
phát triển trong một môi trường đầy
thách thức Quản trị công ty với các
thông lệ tốt của nó dần du nhập vào
Việt Nam như một tất yếu Trước thực
tế đó, việc tìm hiểu các thông lệ quốc
tế tốt về quản trị công ty và việc
nghiên cứu áp dụng các thông lệ này
vào các công ty ở Việt Nam là rất cần
thiết
Sự hiện diện của một hệ thống
quản trị công ty hiệu quả với việc áp
dụng các thông lệ tốt, trong phạm vi
một công ty đơn lẻ và cao hơn nữa
trong cả nền kinh tế như một tổng thể,
giúp cho sự thúc đẩy phát triển cho cả
nền kinh tế quốc gia
Áp dụng thông lệ tốt về QTCT,
đặc biệt đối với công ty cổ phần
(CTCP) ở giai đoạn ban đầu, vừa là
hoạt động mang tính thử nghiệm, mở
đường trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực vừa tạo ra nhu cầu
thể chế hóa trong lĩnh vực pháp luật
Hiện nay, môi trường pháp lý cho
hoạt động này cũng còn nhiều vấn đề
cần được nghiên cứu Đánh giá được
khả năng và thực tiễn áp dụng thông
lệ tốt về QTCT của các doanh nghiệp
Việt Nam, nhu cầu và các bước phát
triển của hoạt động này trong tương
lai và khả năng điều chỉnhpháp luật đang đặt ra nhữngvấn đề cần xem xét Đề tài
"Thông lệ về quản trị công
ty của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD - Nghiên cứu áp dụng vào công ty cổ phần ở Việt Nam"
là một hướng tiếp cận nhằm
phân tích và đề xuất các cơ
chế điều chỉnh, đặc biệt vềmặt pháp lý một cách thíchhợp đối với hoạt động này, do
đó, là cần thiết trong bối cảnhhiện nay cả trên phương diện
lý luận và thực tiễn
3
Trang 52 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển
kinh tế (OECD) đã có rất nhiều nghiên cứu và báo
cáo về thông lệ tốt về QTCT và thực tiễn áp dụng ở
các nền kinh tế ("Best practices in corporate
governance"), nhưng các báo cáo chủ yếu tập trung
vào các quốc gia thành viên
Ở Việt Nam, QTCT và các thông lệ tốt của nó
là một khái niệm còn chưa phổ biến Hiện nay, các
công trình nghiên cứu khoa học về áp dụng thông lệ
tốt về quản trị công ty còn rất ít, tiêu biểu nhất là
luận án tiến sĩ luật học "Nghiên cứu so sánh quản lý
công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và pháp
luật Trung Quốc" của tác giả Ngô Viễn Phú Thông
lệ tốt mới chỉ được đề cập như những tiêu chí quản
trị của doanh nghiệp mang tính khuyến nghị, chưa
có các nghiên cứu sâu về cơ chế áp dụng và hướng
thể chế hóa các thông lệ này vào CTCP Với đề tài
"
Thông lệ về quản trị công ty của tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế OECD - Nghiên cứu áp dụng
vào công ty cổ phần ở Việt Nam", tác giả có sự kế
thừa, học hỏi kết quả của các công trình nghiên cứu
khoa học liên quan và các nghiên cứu của các tổ
chức quốc tế về tình hình QTCT ở Việt Nam đã
được công bố nhằm đặt ra một số yêu cầu
về xây dựng và cải thiện môi trường pháp
lý cho việc áp dụng thông lệ tốt trong loạihình CTCP ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trong bốicảnh luật pháp Việt Nam đang có nhiềubiến chuyển, sự ra đời và áp dụng của LuậtDoanh nghiệp "thống nhất" 2005 với sựgiới thiệu nhiều quy định và chuẩn mựcmới về quản trị công ty theo thông lệ quốc
tế Việc áp dụng các thông lệ và chuẩn mựcquản trị công ty là xu hướng tất yếu kháchquan Nghiên cứu cơ chế áp dụng các thông
lệ có tính quốc tế này là mục đích của luậnvăn Để thực hiện mục đích và ý tưởng này,tác giả sử dụng một số tư liệu từ báo chí,một vài vụ việc đã được đưa ra giải quyếtbằng con đường tố tụng Tòa án, nhữngthông tin này sẽ làm sáng tỏ cho các nộidung nghiên cứu của đề tài Cụ thể, đề tàinhắm đến các mục đích sau:
4
- Nêu ra và làm rõ một số vấn đề về thông lệ
tốt về QTCT theo tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt chú
trọng đến thông lệ tốt về QTCT của OECD;
- Đánh giá các vấn đề như tính quả hiệu quả,
cách thức tổ chức, những khó khăn, trở ngại, những
bảo đảm pháp lý và những đề xuất, giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng thông lệ tốt
trong quản trị công ty của CTCP ở Việt Nam;
- Góp một phần nhỏ trong cung cấp thông tin
mang tính tham khảo cho cộng đồng doanh nghiệp,
đặc biệt là các công ty niêm yết về những nguyên
tắc, kinh nghiệm áp dụng những chuẩn mực và
thông lệ quốc tế tiên tiến về QTCT;
- Phân tích lý luận và thực tiễn áp dụng thông
lệ tốt qua việc làm rõ các quy định liên quan trong
Luật Doanh nghiệp 2005; Luật Chứng Khoán 2006;
các luật và quy định liên quan
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu và phạm
vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn
trong các vấn đề sau:
- Tìm hiểu một số thông lệ tốt về QTCT theo OECD; sự thể hiện các thông lệtốt về QTCT trong pháp luật hiện hành của Việt Nam;
- Nghiên cứu cơ chế xây dựng và áp dụng thông lệ tốt vào CTCP và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thông lệ tốt ở Việt Nam;
- Những đề xuất và giải pháp về mặt pháp lý và thực tế nhằm nâng cao hiệu quả
áp dụng các thông lệ tốt vào CTCP ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện luận văn,tác giả đã sử dụng phươngpháp luận duy vật biện chứng,phương pháp luận duy vậtlịch sử, phương pháp phântích quy phạm pháp luật cụthể, phương pháp đối chiếupháp luật, phương pháp
Trang 6nghiên cứu tình huống Thêm vào đó,
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
QTCT vào CTCP ở Việt Nam
Chương 3: Cơ chế áp dụng thông lệ tốt
vào quản trị CTCP ở Việt Nam
néi dung c¬ b¶n cña luËn v¨n
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG THÔNG LỆ TỐT
VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ CÁC
THÔNG LỆ TỐT
VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY THEO
OECD 1.1 Một số vấn đề lý luận về áp dụng thông lệ tốt về quản trị công ty
1.1.1 Một số khái niệm và định nghĩa
Khái niệm "quản trị công ty"
Khái niệm "quản trị công ty" trongluận văn này được tác giả lấy từ chữ
"corporate governace" Đã có rất nhiềuđịnh nghĩa về QTCT, theo đó, QTCT đượchiểu như tổng hợp các thiết chế và phươngpháp để định hướng cho công ty trong mộtkhuôn khổ hoạt động nhằm hướng tới việctạo ra tài sản thặng dư và hài hòa hóa lợiích nội bộ cũng như đảm bảo trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp
Theo OECD, QTCT là một hệ thống các
cơ chế, các hành vi quản lý Cơ chế này xácđịnh việc phân chia các quyền và nghĩa vụgiữa các cổ đông, Hội đồng quản trị (HĐQT),các chức danh quản lý và những người có lợiích liên quan, quy định trình tự ban hành cácquyết định kinh doanh Bằng cách này, công
ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạtđộng, tạo ra phương
Trang 76tiện thực thi và giám sát việc thực
hiện các mục tiêu đó QTCT không
phải là một khái niệm tĩnh, ngay cả
trong OECD, khái niệm này cũng có
sự biến chuyển theo thời gian Nhìn
chung, theo OECD, QTCT "là hệ
thống được xây dựng để điều khiển và
kiểm soát các doanh nghiệp Cấu trúc
QTCT chỉ ra cách thức phân phối
quyền và trách nhiệm trong số những
thành phần khác nhau có liên quan tới
doanh nghiệp như HĐQT, Giám đốc,
cổ đông, và những chủ thể khác có
liên quan Quản trị công ty cũng giải
thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các
quyết định liên quan tới vận hành
doanh nghiệp Bằng cách này, QTCT
cũng đưa ra cấu trúc thông qua đó
người ta thiết lập các mục tiêu công
ty, và cả phương tiện để đạt được mục
tiêu hay giám sát hiệu quả công việc"
(OECD 4/1999)
Với sự hội nhập môi trường pháp
lý quốc tế, pháp luật Việt Nam về
QTCT cũng đang dần tiệm cận đến
các khái niệm pháp lý gần với "chuẩn"
quốc tế Theo đó, pháp luật Việt Nam
hiện hành coi QTCT là hệ thống các
quy tắc để đảm bảo cho công ty được
định hướng điều hành và được kiểm
soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi
của cổ đông và những người liên quan
đến công ty Các nguyên tắc QTCT cơ
bản bao gồm:
- Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả;
- Đảm bảo quyền lợi của cổ đông;
- Đối xử công bằng giữa các cổ đông;
- Đảm bảo vai trò của các bên có quyền lợi
liên quan đến công ty;
- Minh bạch trong hoạt động của công ty;
- HĐQT và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát
công ty có hiệu quả
1.1.2 Bản chất của việc áp dụng các thông lệ
tốt về quản trị công ty
Thông lệ tốt, thực tế ởViệt Nam hiện nay chỉ ápdụng phổ biến và được nhậnthức bởi các công ty niêm yết.Theo định nghĩa của pháp luật
Việt Nam, "công ty niêm yết"
là công ty cổ phần được chấpthuận niêm yết cổ phiếu trên
Sở Giao dịch Chứng khoán(SGDCK)/ Trung tâm Giaodịch Chứng khoán(TTGDCK) trên lãnh thổ ViệtNam;
Bản chất của việc ápdụng thông lệ tốt trong QTCTchính là sự tuân thủ tựnguyện kết hợp với việc ápdụng pháp luật các nguyên tắcquản trị
7
Trang 8trong điều hành hoạt động công ty Tuy nhiên, câu
hỏi đặt ra là sự áp dụng này do ai thực hiện, hay là
chủ thể của nó? Câu trả lời chính xác nhất có lẽ là
HĐQT và các Giám đốc, những người quản lý hay
được ủy trị quản lý công ty, đó là các chủ thể cơ
bản của hoạt động QTCT
1.1.3 Cơ sở của việc áp dụng Thông lệ tốt
vào quản trị công ty
1.1.3.1 Sự tự nguyện và thích nghi áp dụng
thông lệ tốt
Với sự bành trướng của các công ty đa quốc
gia, sự xuất hiện của các siêu thực thể kinh tế này ở
các quốc gia tạo ra tác động lan truyền về các thiết
chế, thông lệ quản trị tại quốc gia tiếp nhận đầu tư:
các công ty nội địa "bắt chước" hình mẫu quản trị
của công ty đa quốc gia (ở mức độ nhất định), các
nhân viên được đào tạo có thể rời các công ty đa
quốc gia để làm việc cho các công ty địa phương;
tác động hai chiều: các công ty địa phương buộc
phải nỗ lực hơn vì cạnh tranh trở nên gay gắt hơn,
trong đó, công tác QTCT được đặt ra như một trong
những nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển
công ty "Công nghệ quản lý" được xem như một
trong những nguồn lực hàng đầu của công ty
Trong sự phức tạp của tổ chức kinh doanh, người ta
hướng đến những chuẩn mực, chuẩn tắc hành xử chung,
lâu dần được chấp nhận rộng rãi và thành lệ.Các thông lệ kinh doanh đang ngày càng đóngmột vai trò quan trọng điều chỉnh các hoạt độngcủa thị trường toàn cầu Chúng ta đã và đangchứng kiến vô vàn các hình thức thông lệ nhưIncoterms 2000, các khuyến nghị của PhòngThương mại Quốc tế ICC, các thông lệ tốt vềQTCT của OECD và của các tổ chức nghềnghiệp Bên cạnh luật quốc gia và điều ướcquốc tế, thông lệ và thực tiễn kinh doanh đangngày càng có vai trò cực kỳ quan trọng Hiệnnay, rất nhiều quốc gia thành viên OECD ủng
hộ phương pháp tiếp cận các quy định và thựcthi bằng việc kết hợp các tiêu chuẩn minh bạchthông tin với sự tin tưởng vào cơ chế tuân thủ tựnguyện Điều này tạo ra cán cân thăng bằnggiữa các quy định pháp luật và các sáng kiếnđược thực thi tự nguyện
1.1.3.2 Cơ chế luật hóa các thông lệ tốt vào hệ thống pháp luật
Hệ thống các quy định về QTCT củamột quốc gia bao gồm các quy định chínhthức và không chính thức Bản chất củathông lệ, với đúng
8như từ ngữ nó phản ánh là các khuyến
cáo, là tập quán của thương nhân,
nhưng theo nghĩa nào đó thì được,
buộc phải, được khuyến cáo hay được
khuyến khích áp dụng… tức là nó có
giá trị về mặt thực tiễn rất cao Giá trị
thực tiễn của thông lệ được phản ánh
ở mức độ phổ biến trong việc áp dụng
của nó Không phải ngẫu nhiên mà
Incoterm - Các điều khoản thương
mại quốc tế được công nhận và sử
dụng rộng rãi trên toàn thế giới; các
thông lệ quản trị công ty của OECD
được khuyến cáo áp dụng và được rất
cơ chế nào: khuyến nghị haybắt buộc áp dụng, dưới hìnhthức nào: quy định pháp luậthay khuyến nghị thì các thông
lệ tốt về QTCT đang ngàycàng được hiện hữu rõ ràngtrong các công ty đại chúng
Việc luật hóa các thông lệ tốt về QTCT đã được áp dụng rất đa dạng
ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia cónền kinh tế phát triển Việc thể chế hóa cácthông lệ này vào hệ thống luật quốc gia tạocho thông lệ một vỏ bọc pháp lý và tínhkhả dụng cao hơn cho việc ứng dụng cácthông lệ vào thực tiễn, đặc biệt đối với cáccông ty đại chúng
1.1.3.3 Các cơ chế bổ trợ khác
Trang 9Việc áp dụng thông lệ tốt về QTCT
không chỉ chịu tác động đơn thuần từ
các văn bản luật do Nhà nước ban hành,
nó còn chịu vô vàn yếu tố tác động Một
xã hội thượng tôn pháp luật cũng tạo ra
vô vàn cơ chế giám sát, cả về khía cạnh
cưỡng chế nhà nước và các sức ép vô
hình từ về mặt văn hóa, đạo đức kinh
doanh, mối quan hệ với truyền thông và
dư luận… Tất cả tạo ra các luồng gió
thổi vào công ty, càng có tính "đại
chúng", công ty càng phải tuân thủ các
yếu tố giám sát và kiềm chế này, càng
phải có tính minh bạch cao; nếu đi đúng
hướng với các sự tác động đó, công ty
sẽ phát triển bền vững trong xã hội và
điều ngược lại sẽ xảy ra khi công ty đi
ngược lại với các chuẩn mực pháp lý và
các chuẩn mực xã hội khác QTCT, do
đó, phải được xem là một nghệ thuật
dung hòa các tác động đó
9
Các nguyên tắc QTCT đã được phát triển
ở nhiều quốc gia khác nhau và được áp dụng
ở các thị trường chứng khoán, các công ty,các nhà đầu tư tổ chức và các hiệp hội với sự
hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức liên quan.Như một quy luật bất thành văn, các nguyêntắc này phù hợp với các kiến nghị áp dụngnày không được quy định một cách rõ ràngbởi luật mặc dù các quy tắc này, trong một sốtrường hợp, có thể có liên kết chặt chẽ vớicác quy định về niêm yết cổ phiếu, và do đó,
có ý nghĩa bắt buộc áp dụng với các công tyniêm yết Ví dụ, các công ty niêm yết ở thịtrường chứng khoán Luân Đôn và Torontokhông bị bắt buộc áp dụng các kiến nghị vềcác nguyên tắc QTCT trong các bộ quy tắc vềQTCT của quốc gia mình Tuy nhiên, cáccông ty này có nghĩa vụ công bố là họ có tuânthủ các kiến nghị về thông lệ QTCT haykhông trong các tài liệu nội bộ của mình,trong trường hợp không tuân thủ,các công tynày cần đưa ra các giải thích liên quan đếncác việc không áp dụng các thông lệ hay có
sự áp dụng khác biệt Sự công bố hay giảitrình này đã dẫn tới một sức ép đáng kể trongviệc áp dụng các thông lệ/nguyên tắc QTCTđối với các công ty niêm yết
Như vậy, các thông lệ tốt về QTCT,trong nhiều trường hợp là không có tính bắtbuộc áp dụng, kể cả đối với công ty niêmyết Tuy nhiên, bằng con đường này haycon đường khác, với các tác động và nghĩa
vụ đi kèm, các công ty niêm yết thường sẽchọn áp dụng các thông lệ này như điềukiện tiên quyết cho việc niêm yết trên thịtrường chứng khoán (TTCK)
1.2 Các thông lệ tốt về quản trị công
ty của OECD
1.2.1 Sự hình thành các thông lệ tốt về quản trị công ty của OECD
1.2.1.1 Giới thiệu chung về OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế(tiếng Anh: Organisation for Economic Co-operation and Development; viết tắt: OECD)
là một diễn đàn dành cho chính phủ của các
Trang 10nền kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cùng
nhau bàn bạc giải quyết các vấn đề kinh tế của bản
thân họ và của thế giới Hiện OECD có ba mươi thành
viên, 24 trong số đó được Nhóm Ngân hàng Thế giới
xếp vào nhóm các quốc gia có thu nhập cao,
6 quốc gia khác được xếp vào nhóm các quốcgia có thu nhập trung bình cao
10
1.2.1.2 Giới thiệu chung về các nguyên tắc quản
trị công ty của OECD
Các thông lệ QTCT của OECD
được xem là một trong các thông lệ
QTCT có tầm ảnh hưởng lớn nhất Đầu
tiên, các nguyên tắc QTCT của được
xác nhận bởi các Bộ trưởng OECD vào
năm 1999 và sau đó được cập nhật, bổ
sung và hoàn thiện vào năm 2004, từ đó
đã trở thành một chuẩn quốc tế cho các
nhà lập chính sách, nhà đầu tư, các công
ty và các đối tượng có liên quan khác
trên toàn thế giới OECD vẫn đang tiếp
tục đưa ra các đề xuất và khuyến nghị
áp dụng của các nguyên tắc QTCT trên
toàn thế giới
Theo OECD, các thông lệ hay
nguyên tắc QTCT bao gồm 06 vấn đề
chính (mỗi một thông lệ lại được hỗ
trợ bởi một số các nguyên tắc phụ hay
"nguyên tắc bổ trợ") Tác giả xin được
trích dẫn nội dung các thông lệ về
QTCT của tổ chức này tại Phụ lục 1
của luận văn
1.2.2 Tính không bắt buộc, tính
thích nghi và ý nghĩa của các thông
lệ tốt về quản trị công ty của OECD
Không có một mô hình đơn nhất
nào cho QTCT Tuy nhiên, các nghiên
cứu được tiến hành ở các quốc gia
OECD và cả các quốc gia ngoài OECD
đã chỉ ra một số nhân tố chung làm nền
tảng cho sự QTCT tốt Các nguyên tắc
QTCT của OECD được xây dựng dựa
trên các nhân tố đó và được trình bày có
hệ thống nhằm bao quát các mô hình
khác nhau về QTCT đang tồn tại
Các nguyên tắc về QTCT của
OECD không có tính bắt buộc và
không nhằm đến một mô hình cụ thể
chi tiết cho công tác lập pháp quốc
gia Đúng hơn là, các nguyên tắc này
hướng tới việc định ra các mục tiêu
của công ty và đưa ra cáckhuyến nghị về các phươngthức để đạt các mục tiêu đó
Các mục tiêu này có vai trònhư những điểm tham khảo,
có thể được các nhà hoạchđịnh chính sách sử dụng trongviệc rà soát và phát triểnkhung pháp luật về QTCT,phản ánh hoàn cảnh kinh tế,
xã hội, chính trị, pháp lý vàvăn hóa của quốc gia, hoặc cóthể được các chủ thể tham giathị trường sử dụng để pháttriển chính các "thông lệ" củamình
1.2.3 Một số thông lệ tốt về quản trị công ty của các tổ chức khác
Trên cơ sở các nguyêntắc của OECD, các tổ chứcquốc tế khác, các hiệp hội tưnhân và hơn 20 bộ quy tắcquốc gia về QTCT đã đượcban hành Hiện nay, có nhiều
tổ chức đưa ra các khuyếnnghị, các thông lệ,
11