Đặc biệt theo quy định của Hiến pháp năm 1980 vànăm 1992 đều quy định đất đai thuộc sở hữu của toàn dân Nhà nước, theo đóLuật Đất đai và Luật Dân sự thể chế hóa những quy định đó của Hiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HUYỀN
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ HUYỀN
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Trung Tập
HÀ NỘI - 2012
Trang 31.3 Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất (quyền sử dụng đất là 11
Chương 2: THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 33
Trang 42.1.2 Thừa kế quyền sử dụng đất ở 43
2.4 Trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất 55
2.6 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử 60
dụng đất
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 63
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất 633.1.1 Xác định tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất có phải là 64
tranh chấp đất đai hay không
3.1.2 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế di sản chung của vợ, chồng 65
khi thời hiệu khởi kiện về thừa kế di sản của người chết
trước đã hết
3.1.3 Khi thời hiệu khởi kiện thừa kế đã hết thì có thể lựa chọn áp 67
dụng chia tài sản chung theo Nghị quyết 02, nhưng rất khó
đảm bảo điều kiện để được chia tài sản chung
3.1.5 Trong thực tiễn áp dụng pháp luật nhận thấy có một số 72
trường hợp không nên tính vào thời hiệu khởi kiện
Trang 53.1.6 Về vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng, di tặng 743.1.7 Quyền sử dụng đất được tặng cho trước khi người để lại di 75
sản chết
3.1.9 Trường hợp ghi tên người sử dụng đất trên giấy chứng nhận 763.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các quy định 77
pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
3.2.1 Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp, đầy đủ và 77
cụ thể hơn về thừa kế quyền sử dụng đất
3.2.3 Không ngừng nâng cao trình độ, năng lực của cán bộ, 81
công chức
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sở hữu tài sản là quyền thiêng liêng của mỗi người được pháp luật bảo hộ
và thừa kế tài sản chính là phương tiện để duy trì quyền sở hữu đó Vì vậy, chếđịnh thừa kế là chế định rất quan trọng trong pháp luật của các quốc gia nói chung
và của Việt Nam nói riêng Thừa kế rất thiết thực với cuộc sống của người dânnên dù không mới nhưng đề tài thừa kế vẫn luôn mang tính phổ biến và sôi động
Đất đai là một loại tư liệu sản xuất quan trọng của quốc gia, do vậy đấtđai là một loại tài sản quý giá Ở nước ta, trải qua nhiều thời kỳ của chế độ dânchủ nhân dân nhưng chính sách về đất đai cũng có sự biển đổi cơ bản trongmỗi thời kỳ tương ứng Đặc biệt theo quy định của Hiến pháp năm 1980 vànăm 1992 đều quy định đất đai thuộc sở hữu của toàn dân (Nhà nước), theo đóLuật Đất đai và Luật Dân sự thể chế hóa những quy định đó của Hiến pháp vàcho phép người sử dụng đất là cá nhân có quyền để lại thừa kế quyền sử dụngđất theo trình tự thừa kế theo di chúc và theo pháp luật Do sự thay đổi vềchính sách đất đai qua mỗi thời kỳ, trên thực tế giải quyết những tranh chấp vềđất đai rất phức tạp, hàng năm có hàng chục ngàn vụ tranh chấp đất đai đượcgiải quyết tại Tòa án nhân dân các cấp về chuyển nhượng, chuyển đổi, chothuê, thế chấp và thừa kế quyền sử dụng đất Tuy nhiên không phải bao giờ cáctranh chấp cũng được tòa án giải quyết thấu tình đạt lý, đặc biệt trong giai đoạnhiện nay quyền sử dụng đất được coi là hàng hóa, những tranh chấp về đất đaingày càng tăng về số lượng, phức tạp về tính chất Trong quan hệ thừa kếquyền sử dụng đất có nhiều tranh chấp đã xảy ra liên quan đến việc xác địnhnguồn gốc di sản là quyền sử dụng đất, người thừa kế quyền sử dụng đất…
Vì những lý do đó nên việc lựa chọn đề tài "Thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam" là thật sự cần thiết, đáp ứng được nhu
cầu nghiên cứu vấn đề kể cả về lý luận và thực tiễn
Trang 72 Tình hình nghiên cứu
Thừa kế quyền sử dụng đất xét ở góc độ nói chung tính đến thời điểmhiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau về thừa kế
mà có liên quan ít nhiều đến di sản thừa kế là quyền sử dụng đất Những công
trình tiêu biểu như: Luật thừa kế Việt Nam, TS Phùng Trung Tập, Nxb Hà Nội, 2008; Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, TS Phạm Văn Tuyết, Nxb Chính trị quốc gia, 2007; Chế định thừa kế theo di chúc, Luận
án Tiến sĩ Luật học của Phạm Văn Tuyết, 2005; Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Minh Tuấn, 2007; Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học của Trần Thị Huệ, 2007; Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thừa kế, Dương Bạch Long và Nguyễn Xuân Anh, Nxb Chính
trị Quốc gia, 2005 Nhưng những công trình này chỉ nghiên cứu những quyđịnh chung về thừa kế hoặc cụ thể là thừa kế theo di chúc, thừa kế theo phápluật hay về di sản thừa kế
Ngoài những công trình trên, còn một số luận văn cao học nghiên cứu
về thừa kế quyền sử dụng đất như các luận văn cao học luật của Lê Khắc Hạnh
về thừa kế quyền sử dụng nhà ở và đất ở tại thành phố Hải Phòng, của PhạmThị Thúy Liễu về thực trạng thi hành các quy định của pháp luật về thừa kếquyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hà Nam Bên cạnh đó, một số khóa luậncủa Trường Đại học Luật Hà Nội cũng nghiên cứu về thừa kế quyền sử dụngđất theo di chúc hoặc theo pháp luật Đó là những đề tài nghiên cứu về quyền
sử dụng đất ở các góc độ cụ thể theo di chúc, theo pháp luật hay về thừa kế mộtloại đất trong một thành phố, một tỉnh
Dưới góc độ pháp luật thường thức cũng có những cuốn sách với nộidung hỏi đáp, tư vấn liên quan đến thừa kế nói chung và thừa kế quyền sử dụng
đất nói riêng có thể kể đến là "99 tình huống và tư vấn pháp luật về thừa kế nhà và quyền sử dụng đất" của Luật sư, Tiến sĩ Phan Thị Hương Thủy,
Trang 8Nxb Tư pháp, 2005…; "Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án"
của Tiến sĩ Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia, 2009; …
Bên cạnh đó, còn có những bài nghiên cứu trên các cuốn tạp chí, cácbáo… nhưng chúng chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về một khía cạnh nhỏ củathừa kế hay chỉ với tính chất đưa tin, tìm hiểu phân tích không chuyên sâu
Như vậy, có thể thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào mangtính toàn diện, chuyên sâu về thừa kế quyền sử dụng đất nói chung Do đó, học
viên mạnh dạn lựa chọn đề tài "Thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật Việt Nam" để thực hiện luận văn cao học luật của mình nhằm bổ
sung thêm vấn đề lý luận và thực tiễn về thừa kế quyền sử dụng đất
Tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau để thựchiện đề tài: phương pháp biện chứng, phương pháp nghiên cứu lịch sử, phươngpháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, thống kê Cùngvới việc sử dụng kết hợp các phương pháp này, tác giả cũng sẽ dựa vào đặcđiểm truyền thống, tập quán của nước ta để làm rõ nét hơn vấn đề thừa kếquyền sử dụng đất Ngoài ra, một số những vấn đề khoa học đã được các tácgiả đi trước nghiên cứu, kết luận cũng được tham khảo sử dụng nhằm hoànthiện đề tài
4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ vấn đề thừa kế của mộtloại tài sản đặc biệt là quyền sử dụng đất Trong quá trình nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật, vừa phân tích và đánh giá làm sáng tỏ hơn về lý luận, thựctiễn của thừa kế quyền sử dụng đất, từ đó tìm ra giải pháp nhằm hoàn thiệnpháp luật
Trang 9- Nhiệm vụ:
+ Xây dựng các khái niệm về thừa kế, thừa kế quyền sử dụng đất;+ Tìm hiểu, phân tích về loại di sản đặc biệt là quyền sử dụng đất;+ Vận dụng phù hợp những quy định của pháp luật dân sự và pháp luậtđất đai để nghiên cứu về các hình thức thừa kế quyền sử dụng đất;
+ Từ thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết những vấn đề nảy sinhtrong lĩnh vực thừa kế quyền sử dụng đất, tìm ra những điểm còn hạn chế, chưa phù hợpnhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
5 Những đóng góp mới của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn đã đạt được những tính mới:
- Xây dựng được hệ thống khái niệm về thừa kế quyền sử dụng đất;
- Xác định được những hình thức thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc và theo pháp luật;
- Xác định được di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và so sánh được disản thừa kế là quyền sử dụng đất với các loại di sản khác ngoài quyền sử dụng đất;
- Chỉ ra được những bất cập của pháp luật quy định về thừa kế quyền
sử dụng đất và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật vềthừa kế quyền sử dụng đất ở nước ta hiện nay
6 Kết cấu của luận vănNgoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm về thừa kế và thừa kế quyền sử dụng đất Chương 2: Thừa kế quyền sử dụng đất
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu
quả của các quy định pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
Trang 10Chương 1
KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 KHÁI NIỆM VỀ THỪA KẾ VÀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Tài sản chính là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển sự sống của mỗi conngười, tài sản cần có chủ của nó và sở hữu tài sản ra đời Khi con người chết
đi, tài sản cần được dịch chuyển sang cho người còn sống để nó tiếp tục duytrì, phát huy giá trị Việc dịch chuyển tài sản từ người chết cho người còn sốngchính là thừa kế và từ đây thừa kế đã manh nha xuất hiện Sự hình thành, tồntại của sở hữu và thừa kế là khách quan, thuộc phạm trù kinh tế
Thời kỳ đầu công xã nguyên thủy, chế độ quần hôn tạo ra hệ quả là concái sinh ra chỉ xác định được mẹ mà không xác định được cha, nên trải quanhiều thế hệ những người có chung huyết tộc họ mẹ sống chung với nhau hìnhthành nên tổ chức là thị tộc Trong các thị tộc, của cải do con người làm rathuộc của chung thị tộc Người phụ nữ là người có quyền, là lao động chính tạo
ra của cải vật chất Do đó, thừa kế được thực hiện theo họ mẹ, theo huyết thốngcủa người mẹ, tài sản được để lại thừa kế cho con và những người có huyếtthống gần với người mẹ Đây được gọi là chế độ mẫu hệ và thời kỳ này tài sảnchỉ được thừa kế trong nội bộ thị tộc theo phong tục tập quán do từng thị tộcđặt ra
Lực lượng lao động ngày càng được cải tiến, loại công việc xuất hiệnphong phú hơn, phân công lao động hợp lý hơn, người đàn ông phát huy đượcsức mạnh của mình làm được nhiều việc, tạo ra nhiều của cải hơn người phụ
nữ Nam giới dần chiếm thế, chuyển thành người có quyền Cùng với đó, chế
độ hôn nhân cặp đôi hình thành nên người cha của đứa trẻ sinh ra đã được xácđịnh Chế độ mẫu hệ được thay thế bằng chế độ phụ hệ Thừa kế cũng vì thế
Trang 11mà thay đổi, từ việc được thừa hưởng theo họ mẹ, theo huyết thống người mẹchuyển thành thừa kế theo họ cha và theo huyết thống của người cha.
Kinh tế phát triển mạnh lên, của cải làm ra không những đủ dùng màcòn có dư thừa Chính điều này đã tạo ra một bộ phận những người có quyềntrong thị tộc tìm cách chiếm giữ tài sản dư thừa và xã hội xuất hiện người giàungười nghèo Do sự phân hóa giàu nghèo cùng việc tư hữu tài sản hình thànhnên những giai cấp đối kháng Tổ chức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp,nhường chỗ cho tổ chức lớn hơn đủ sức mạnh điều hòa mâu thuẫn giai cấp, đóchính là Nhà nước Khi có Nhà nước, thừa kế không còn được thực hiện theophong tục tập quán của thị tộc, bộ lạc như trước mà tuân theo các quy định củapháp luật, theo sự điều chỉnh bằng ý chí của Nhà nước
Vì có pháp luật điều chỉnh, nên khi pháp luật thay đổi, thừa kế cũng từ
đó thay đổi theo Thừa kế tài sản đã không đơn thuần thuộc phạm trù kinh tếmang tính khách quan mà đã thuộc phạm trù pháp lý mang tính chủ quan, bịchi phối, ảnh hưởng bởi chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và sự phát triển củakinh tế - xã hội qua từng thời kỳ
Trong những Nhà nước mà cơ sở kinh tế dựa trên tư hữu về tư liệu sảnxuất, giai cấp thống trị đã sử dụng pháp luật để duy trì, củng cố chế độ tư hữutài sản và quyền thống trị của giai cấp mình, trong đó có công cụ là pháp luật
về thừa kế Ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ, nô lệ đã trở thành công cụ, là hànghóa được trao đi đổi lại, là tài sản có giá trị đặc trưng cho thời kỳ này Vì thế,giai cấp chủ nô bằng pháp luật về thừa kế đã thực hiện việc chuyển dịch nô lệ
từ chủ này sang chủ khác trong cùng giai cấp để duy trì quyền sở hữu, sự bóclột đối với nô lệ Đến Nhà nước phong kiến, tài sản có giá trị nhất và tạo rađược nhiều của cải nhất chính là đất đai Đất đai hầu hết đều thuộc sở hữu củađịa chủ, người nông dân chỉ được thuê và nộp địa tô Khi địa chủ ông cha chết,đất đai được thừa kế cho địa chủ con cháu tiếp tục duy trì sở hữu và bóc lột sứclao động của nông dân Nhà nước tư sản, giai cấp tư sản cũng củng cố
Trang 12sự thống trị của mình bằng việc dịch chuyển sở hữu các tư liệu sản xuất chủyếu cho cho thế hệ sau thông qua các quy định về thừa kế Sự khác biệt đượcthể hiện trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa khi nền kinh tế dựa trên chế độ cônghữu về tư liệu sản xuất, những tư liệu sản xuất chủ yếu (như đất đai, tàinguyên, vùng biển, vùng trời…) thuộc sở hữu toàn dân, không thuộc sở hữu tưnhân nên không được để lại thừa kế Tuy nhiên, mọi người đều được khai thác,
sử dụng hợp lý và được bảo vệ thành quả lao động của mình Pháp luật và cácchính sách của Nhà nước được đặt ra dựa trên quyền lợi chính đáng của mọi cánhân, của người lao động Do đó thừa kế của nhà nước xã hội chủ nghĩa cũngđược xây dựng và thực hiện trên cơ sở đó
Trong mỗi chế độ xã hội, thừa kế cũng không là bất biến, nó sẽ thay đổiphù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ Ngay trong cùngchế độ phong kiến, chế độ tư bản hay chế độ xã hội chủ nghĩa, ở mỗi triều đại,mỗi mốc thời điểm chính sách nền kinh tế thay đổi thì để phù hợp với nó, phápluật về thừa kế cũng phải biến đổi theo
Tóm lại, xét một cách tổng quát thì thừa kế là sự phản ánh chế độ xãhội và sự phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ, nó vừa mang tính kháchquan vừa mang tính chủ quan với nội dung là sự dịch chuyển tài sản của ngườichết cho người còn sống theo những quy định do con người đặt ra Khi xã hội
có nhà nước, thừa kế là một phạm trù pháp luật, phản ánh nền kinh tế chính trị
xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ phát triển, thể hiện việc dịch chuyển tàisản và quyền sở hữu từ người chết cho người còn sống theo trình tự, thủ tụccủa pháp luật
Nếu như thừa kế xuất hiện ngay từ thời kỳ đầu thì khái niệm quyềnthừa kế chỉ được ra đời khi xã hội có Nhà nước Bằng quyền lực của mình Nhànước áp đặt ý chí lên các chủ thể để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội, trong
đó có quan hệ về thừa kế Theo đó, mỗi chủ thể sẽ có những quyền và nghĩa vụmang tính nhà nước, có quyền để lại và quyền hưởng tài sản thừa kế
Trang 13Dó đó quyền thừa kế cũng bị ảnh hưởng, chi phối bởi sự phát triển kinh tế xãhội qua từng thời kỳ do chế độ sở hữu quyết định.
Dù quyền thừa kế thể hiện ý chí nhà nước, nhưng pháp luật của nhà nướccũng phải phù hợp với điều kiện phát triển khách quan của kinh tế - xã hội củatừng nhà nước, do đó dưới góc độ pháp lý quyền thừa kế cũng mang tính kháchquan Vì vậy, có thể hiểu trên phương diện khách quan, quyền thừa kế là tổng hợpcác quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội về chuyển dịch tài sản từngười chết sang người còn sống theo thủ tục, trình tự luật định Còn trên phươngdiện chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự của công dân được để lạithừa kế cho người còn sống và quyền nhận di sản từ người chết
1.1.2 Khái niệm thừa kế quyền sử dụng đất
Căn cứ vào những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, căn cứ vàonhững chính sách quản lý đất đai của nước ta hiện nay thì quyền sử dụng đất làmột loại tài sản được để lại thừa kế tương tự như các loại tài sản khác Tại Điều
163 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản", và quyền sử dụng đất chính là một loại quyền tài
sản, được chuyển dịch theo thừa kế Đất đai thuộc sở hữu toàn dân theo quyđịnh tại Điều 17 Hiến pháp năm 1992 nhưng luật dân sự cho phép cá nhân sửdụng đất được quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất kể từ khi Bộ luật Dân sựthứ nhất năm 1995 được ban hành và Bộ luật Dân sự đang có hiệu lực thi hànhnăm 2005 đều có những quy định về điều kiện, trình tự thừa kế quyền sử dụngđất Do quyền sử dụng đất là tài sản đặc biệt, loại tài sản mà không những liênquan đến những quy định của Bộ luật Dân sự mà còn liên quan đến nhữngchính sách đất đai của Nhà nước nên thừa kế quyền sử dụng đất có những nétriêng biệt đặc thù khác thừa kế các loại tài sản khác ngoài đất đai
Điều 733 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Thừa kế quyền sử dụngđất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kếtheo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai" [25]
Trang 14Như vậy có thể hiểu thừa kế quyền sử dụng đất là một quyền dân sựcủa người sử dụng đất, phản ánh các chính sách đất đai của Nhà nước và thểhiện sự phát triển của pháp luật về thừa kế, với nội dung là dịch chuyển quyền
sử dụng đất từ người chết sang người còn sống theo quy định của pháp luật
1.2 ĐẶC ĐIỂM THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Thừa kế là một quyền dân sự, nhưng quyền sử dụng đất lại là một tàisản đặc biệt (do tính chất đặc biệt của đất đai), do đó thừa kế quyền sử dụngđất chịu sự điều chỉnh của cả luật dân sự và luật đất đai Điều đó tạo nên điểmđặc thù của thừa kế quyền sử dụng đất
Thứ nhất, thừa kế quyền sử dụng đất vừa tuân theo quy định của pháp
luật dân sự vừa tuân theo luật đất đai
Pháp luật dân sự không điều chỉnh hết các nội dung quyền thừa kế củangười sử dụng đất, nên nếu chỉ căn cứ vào pháp luật dân sự thì không đầy đủ,
dễ dẫn đến sai lệch Do đó, thừa kế quyền sử dụng đất khác với thừa kế nhữngtài sản khác là phải phụ thuộc vào các chính sách đất đai của Nhà nước
Thứ hai, di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thường có giá trị lớn và rất
khó trong việc xác định nguồn gốc
Đất đai là tài nguyên nên con người không thể tạo ra và có ý nghĩa rấtlớn trong cuộc sống của bất kỳ ai, do đó quyền sử dụng đất thường có giá trịlớn không dễ để bỏ qua quyền dành được tài sản này Trải qua từng thời kỳ,chính sách của Nhà nước về đất đai lại có những thay đổi nhất định, cùng với
đó là hàng loạt những văn bản luật được ban hành gây khó khăn trong việctheo dõi, áp dụng Việc xác định nguồn gốc đất đai cũng trở nên khó khăn doquản lý chưa thực sự phù hợp, ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết vềthừa kế quyền sử dụng đất
Thứ ba, đất đai được phân thành loại được sử dụng ổn định, lâu dài và
loại sử dụng có thời hạn
Trang 15Người thừa kế quyền sử dụng đất không phải lúc nào cũng được sửdụng ổn định lâu dài mà trong trường hợp đất sử dụng có thời hạn thì ngườithừa kế có thể chỉ được sử dụng trong thời hạn còn lại.
Thứ tư, có sự hạn chế nhất định đối với trường hợp người thừa kế là
người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Hạn chế này cũng là một chính sách đất đai của Nhà nước do đất đaicần được sử dụng hợp lý, phát huy được tối đa giá trị của nó mà bản thânngười nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài lại bị hạn chế vềđiều kiện sử dụng đất so với người Việt Nam ở trong nước Tuy nhiên, hạn chếcũng có lúc thay đổi, do quan điểm của Nhà nước thay đổi, nhưng nhìn chungthì đối với các đối tượng này ít nhiều cũng có những khác biệt nhất định trongviệc áp dụng quy định về thừa kế quyền sử dụng đất
Thứ năm, đăng ký thừa kế là thủ tục bắt buộc.
Thủ tục đăng ký thừa kế được quy định tại Luật Đất đai Di sản thừa kế
là quyền sử dụng đất thì cần đăng ký thừa kế để thực hiện việc quản lý đất đaicủa Nhà nước
Thứ sáu, về thủ tục giải quyết tranh chấp:
Trong giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, thủ tục hòagiải tại Ủy ban nhân dân cấp xã là bắt buộc Tranh chấp thừa kế quyền sử dụngđất là tranh chấp đất đai, mà tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải ở cơ sởtrước khi nộp đơn xin giải quyết ở cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khác vớithừa kế tài sản khác, khi có tranh chấp, các chủ thể có thể hòa giải trước, cũng
có thể nộp đơn khởi kiện ngay
Ngoài ra, tranh chấp này có khi được giải quyết bằng con đường hànhchính qua Ủy ban nhân dân thay vì bằng thủ tục tòa án Do quy định của phápluật đất đai, trong một số trường hợp nhất định (thường là do giấy tờ chứngminh nguồn gốc đất đai chưa rõ), tranh chấp phải được giải quyết tại Ủy bannhân dân
Trang 16Tóm lại, đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất là do điểm đặc thù của di sản là quyền sử dụng đất chi phối.
1.3 DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT LÀ DI SẢN THỪA KẾ)
1.3.1 Xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
Trải qua các thời kỳ khác nhau thì quan niệm về di sản thừa kế cũng cónhững thay đổi Theo Sắc lệnh 97-SL ngày 22/5/1950 thì di sản thừa kế baogồm tài sản và quyền tài sản Đến Thông tư 594-NCPL năm 1968 và Thông tư
81 năm 1981 thì di sản thừa kế bao gồm toàn bộ tài sản, quyền tài sản và nghĩa
vụ về tài sản Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 quy định di sản thừa kế bao gồm tàisản, quyền tài sản mà không gồm nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Điều
637 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định "Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác" và
"Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế" Bộ luật Dân sự năm 2005 cũngquy định di sản tương tự như quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995 nhưng bỏquy định về quyền sử dụng đất bởi vì tài sản đã bao gồm quyền tài sản (quyền
sử dụng đất) nên không cần quy định thêm
Nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại chỉ là trách nhiệm cần phảithực hiện trong phạm vi di sản mà không được coi là di sản thừa kế Do đó, disản thừa kế chính là toàn bộ tài sản của người chết để lại sau khi đã thanh toánnghĩa vụ về tài sản và các chi phí khác
Tài sản bao gồm "vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản", nên
quyền sử dụng đất chính là một loại tài sản (quyền tài sản) cũng thuộc di sảnthừa kế Trước đây theo quy định của Hiến pháp năm 1980, đất đai thuộc sởhữu toàn dân nên không là đối tượng của thừa kế Từ khi có Hiến pháp năm
1992, dù đất đai vẫn được quy định thuộc sở hữu toàn dân song người sử dụngđất vẫn được thực hiện các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho,
Trang 17thừa kế quyền sử dụng đất Quyền sử dụng đất là quyền phái sinh từ quyền sởhữu đất, trở thành tài sản của cá nhân và được để lại thừa kế.
Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Di sản bao gồm tài sảnriêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung vớingười khác" [25]
Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất là tài sản riêng của người chết
Tài sản riêng là tài sản không bị ràng buộc với các chủ thể khác, thuộc
sở hữu tư nhân gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinhhoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác Tàisản của cá nhân và di sản thừa kế đã được mở rộng hơn từ khi có chủ trươngđổi mới nền kinh tế của Nhà nước ta, công nhận nhiều thành phần kinh tế,nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển bình đẳng
Thông thường để xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của mỗingười thì căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Nếu giấy chứng nhậnchỉ ghi người đó có quyền sử dụng đất, thì nó thuộc riêng người ghi trong giấychứng nhận Nếu giấy chứng nhận dù ghi tên một người nhưng lại là ngườiđược ủy quyền hay đại diện thì quyền sử dụng đất không là tài sản riêng củahọ
Trong quá trình giải quyết những vụ việc liên quan đến thừa kế quyền
sử dụng đất, vấn đề xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất là tài sảnriêng hay tài sản chung của vợ chồng là một trong những việc khó khăn, dễ gâynhầm lẫn
Theo Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì tài sản riêngcủa vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản đượcthừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chiariêng cho vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ khốitài sản riêng này; đồ dùng, tư trang cá nhân Tài sản riêng không đương
Trang 18nhiên được nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng mà phải có sự thỏa thuậncủa hai bên.
Do đó, để xác định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng vềnguyên tắc cần xác định nguồn tạo lập quyền sử dụng đất phải thuộc Điều 32Luật Hôn nhân và gia đình Tức quyền sử dụng đất là tài sản riêng bao gồm:quyền sử dụng đất có trước khi kết hôn; quyền sử dụng đất được thừa kế riêng,được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; quyền sử dụng đất được chia riêngcho vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trường hợp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có thể căn cứvào nó để xác định tài sản riêng Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình vàĐiều 5 Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân vàGia đình (Nghị định 70) thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sảnchung của vợ chồng phải ghi tên cả vợ và chồng Nên nếu giấy chứng nhận chỉghi tên vợ hoặc chồng sau ngày 18/10/2001 (ngày Nghị định 70 có hiệu lựcpháp luật) và có nguồn tạo lập từ Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình thì suy raquyền sử dụng đất là tài sản riêng của vợ, chồng
Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất là phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác cũngthuộc di sản thừa kế Đây là phần tài sản thuộc hình thức sở hữu chung, gồm sởhữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất do được thừa kế chung, tặngcho chung hay cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh
Giống với việc xác định là tài sản riêng của mỗi người, khi xác địnhphần tài sản quyền sử dụng đất của người chết trong tài sản chung với ngườikhác có thể căn cứ vào giấy chứng nhận để xác định hình thức là sở hữu chunghay riêng, diện tích đất, thời hạn sử dụng đất
Đối với tài sản chung của vợ chồng thì Điều 27 Luật Hôn nhân và Giađình quy định:
Trang 191 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp phápkhác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chunghoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sảnchung
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn làtài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng
có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chungkhi vợ chồng có thỏa thuận
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất
2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợchồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhậnquyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng
3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản
mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sảnchung [21]
Như vậy, có thể xác định tài sản chung của vợ chồng là tài sản đượchình thành từ ít nhất một trong các nguồn:
1- Tài sản do vợ, chồng tạo ra: Dùng tiền lương, tiền thưởng trongthời kỳ hôn nhân để mua;
2- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh: tích lũy laođộng hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân;
3- Những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hônnhân: tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng thưởng xổ số mà vợ, chồng có đượchoặc tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu (theo thời hiệu )… trongthời kỳ hôn nhân;
4- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung;
Trang 205- Những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung: Phải có
sự xác định của công chứng;
6- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sảnchung của vợ chồng: được Nhà nước cấp, giao, cho thuê sau khi kết hôn dù chỉghi tên một người nhưng vẫn là tài sản chung…
Cần lưu ý là "quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn"không có nghĩa là bất cứ quyền sử dụng đất nào được xác lập cho vợ, chồngsau khi kết hôn cũng là tài sản chung Ví dụ, vợ hoặc chồng sử dụng tiền dođược tặng cho riêng "mua đất" trong thời kỳ hôn nhân thì "đất" đó vẫn là tàisản riêng
Quyền sử dụng đất chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất cóthể phân chia, về nguyên tắc khi một bên chết trước tài sản này được chia đôi,mỗi người một nửa
Khi căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đối với giấychứng nhận ghi tên của cả hai vợ chồng, có nguồn tạo lập từ ít nhất một trongsáu nguồn trên thì đó là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Tuy nhiên nếugiấy chứng nhận vẫn ghi tên cả vợ và chồng nhưng nguồn tạo lập lại khôngthuộc một trong sáu nguồn trên thì đó có thể là tài sản chung theo phần của vợchồng, thuộc sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự Ví dụ, vợ có 30 triệu đồng (tiền
có được trước khi kết hôn), chồng có 50 triệu đồng (được thừa kế riêng), haingười cùng góp tiền "mua đất" giá 80 triệu đồng, khi đó quyền sử dụng đất này
là tài sản chung theo phần của vợ chồng (trừ khi hai bên cùng thỏa thuận nhậpvào khối tài sản chung, thì nó lại thuộc tài sản chung hợp nhất)
Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên vợ hoặcchồng thì vẫn có thể là tài sản chung của vợ chồng như: đất được Nhà nướccấp, giao, cho thuê sau khi kết hôn; đất có chứng cứ chứng minh nguồn thuộcmột trong sáu nguồn nêu trên; đất được đăng ký trước ngày 18/10/2001 (ngày
Trang 21Nghị định 70 có hiệu lực pháp luật) và không có bên nào có chứng cứ chứng minh được đó là tài sản riêng.
* Dù quyền sử dụng đất là tài sản riêng hay tài sản chung với ngườikhác thì nó đều phải là tài sản hợp pháp của người chết Muốn vậy, quyền sử dụng đấtcần phải được xác lập dựa trên những căn cứ hợp pháp Theo Điều 688 Bộ luật Dân sựnăm 2005 thì quyền sử dụng đất được xác lập dựa trên những căn cứ: do Nhà nước giaođất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; được người khác chuyển quyền sửdụng đất phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai Nhà nướcgiao đất bằng quyết định hành chính và cho thuê đất thông qua hợp đồng dựa trên cơ sởquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựngđiểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; Nhu cầu sửdụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sửdụng đất Có hai hình thức giao đất là giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất cóthu tiền sử dụng đất Cho thuê đất thì có thu tiền thuê đất hàng năm và thu tiền thuê đấtmột lần cho cả thời gian thuê
Ngoài ra còn một số căn cứ khác cũng xác lập quyền sử dụng đất chocác chủ thể như bản án, quyết định giải quyết tranh chấp của Tòa án; quyếtđịnh thi hành án; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan có thẩmquyền khác… (dựa vào Điều 50 Luật Đất đai năm 2003)
Mặc dù vậy, do chính sách đất đai có nhiều thay đổi, việc quản lý chưathật sự hợp lý, hàng loạt các văn bản luật về đất đai được ban hành, sửa đổi, cókhi còn mâu thuẫn, chồng chéo, tất cả điều đó làm cho việc xác định quyền sửdụng đất là di sản thừa kế trở nên hết sức khó khăn, phức tạp, như:
Do cải cách ruộng đất, một hoặc một số người đứng ra kê khai, đứngtên trong sổ địa chính nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất thì đó có được coi là quyền sử dụng đất hợp pháp của người đó và được đểlại thừa kế hay không
Trang 22Hay như vào thời điểm sau khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, mặc dù chủthể sử dụng đất là hợp pháp, nhưng quyền sử dụng đất đó không được coi là tàisản được để lại thừa kế.
Tiếp đó đến Bộ luật Dân sự năm 1995 và Luật Đất đai năm 1993 thìquyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồngthủy sản của cá nhân muốn được để lại thừa kế thì những người thừa kế phảiđảm bảo một số điều kiện nhất định (có nhu cầu, có điều kiện trực tiếp sử dụngđất đúng mục đích, chưa có đất…); nếu đất đó giao cho hộ gia đình, khi thànhviên trong hộ chết cũng không được để lại thừa kế Tức là có trường hợp dùquyền sử dụng đất là tài sản hợp pháp của cá nhân nhưng lại không thể trởthành di sản thừa kế
Việc xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất đã có sự thay đổi, mởrộng, thông thoáng hơn khi Luật Đất đai năm 2003 và Bộ luật Dân sự năm 2005được ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định việc thừa kế chung cho cácloại đất: cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sửdụng đất thì có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất; hộ gia đình được nhà nướcgiao đất khi trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó
sẽ được để lại cho những người thừa kế Điều 113 Luật Đất đai 2003 quy định vềquyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê,trong đó khoản 5 quy định: "Cá nhân có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất củamình theo di chúc hoặc theo pháp luật Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếutrong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa
kế theo di chúc hoặc theo pháp luật" [24]
Đối với quyền sử dụng đất thuê theo Luật Đất đai năm 2003 chỉ có thểđược để lại thừa kế nếu đất đó được Nhà nước cho thuê trước ngày 1/7/2004 và
đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trước tiền thuê đất cho nhiềunăm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 05 năm
* Để thực hiện được việc thừa kế quyền sử dụng đất hay nói cách khácmuốn quyền sử dụng đất được để lại thừa kế thì còn cần phải đảm bảo các
Trang 23điều kiện theo Điều 106 Luật Đất đai 2003: Có Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên đểđảm bảo thi hành án; Trong thời hạn sử dụng đất Đối với điều kiện phải cóGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Điều 146 Luật Đất đai hướng dẫn trongthời hạn hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chính phủquy định thì người đang sử dụng đất có một trong các giấy tờ quy định tạikhoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai cũng được thực hiện quyền thừa kế,tức là đến thời điểm này không nhất thiết là phải có Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất.
Khi giải quyết những vụ việc về thừa kế, các Tòa án đã gặp phải rấtnhiều khó khăn khi xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất Do đó, đểthống nhất trong quá trình giải quyết các tranh chấp trong đó có tranh chấp vềthừa kế, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết
số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 (Nghị quyết 02) xác định di sản thừa kế
là quyền sử dụng đất như sau:
- Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sảnhay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứngnhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đấtđai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản
- Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó cómột trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm
2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vàothời điểm mở thừa kế [33]
1.3.2 Thời hạn sử dụng đấtKhác với những tài sản khác, người có đất không được sử dụng đất baolâu tùy ý của mình mà phụ thuộc vào thời hạn sử dụng đất do luật quy định,dựa trên căn cứ loại đất và mục đích sử dụng đất Xét một cách tổng thể,
Trang 24đối với đất được sử dụng ổn định, lâu dài thì khi được thừa kế, người thừa kế
sẽ tiếp tục được sử dụng ổn định, lâu dài; đất sử dụng có thời hạn thì ngườithừa kế chỉ được sử dụng thời hạn còn lại sau khi người để lại di sản chết
Đối với nhóm đất nông nghiệp:
Thời hạn trong trường hợp giao đất, cho thuê đất:
- Người sử dụng đất được sử dụng đất ổn định lâu dài đối với cáctrường hợp: Đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; Đất nông nghiệp do cộng đồng dân
cư sử dụng
- Thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làmmuối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là hai mươi năm; đối với đất trồng cây lâu năm, đấtrừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là năm mươi năm
- Thời hạn cho thuê đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản,đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là không quá hai mươi năm; thời hạn chothuê đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là khôngquá năm mươi năm
- Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, đối với ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại khoản 3 Điều 67 LuậtĐất đai thì không quá năm mươi năm; đối với một số dự án đặc biệt có thể thời hạn dàihơn nhưng không quá bảy mươi năm
Khi hết thời hạn, người sử dụng đất có thể được Nhà nước xem xét tiếptục giao đất, cho thuê đất, gia hạn sử dụng đất nếu thấy phù hợp
Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức do được giao trướcngày 01 tháng 01 năm 1999 bằng một phần hai thời hạn quy định tại khoản 1Điều 67 Luật Đất đai năm 2003, sau đó phải chuyển sang thuê đất
- Đối với loại đất nông nghiệp khác: Thời hạn giao đất đối với hộ giađình, cá nhân là năm mươi năm; thời hạn cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá
Trang 25nhân là không quá năm mươi năm; thời hạn giao đất hoặc cho thuê đất đối với
tổ chức kinh tế là không quá năm mươi năm và trường hợp đặc biệt là khôngquá bảy mươi năm
- Trường hợp cho thuê đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 thì thời hạn được xác định theo hợp đồng thuê đất
Thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất và nhận chuyển quyền sử dụng đất:
Thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất thường đượcxác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng
Thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với loại đất
có quy định thời hạn là thời gian sử dụng đất còn lại của thời hạn sử dụng đấttrước khi chuyển quyền sử dụng đất; đối với đất được sử dụng ổn định lâu dài thìngười nhận chuyển quyền sử dụng đất cũng được sử dụng đất ổn định lâu dài
Đối với nhóm đất phi nông nghiệp Thời hạn trong trường hợp giao đất, cho thuê đất:
Hầu hết các loại đất thuộc nhóm đất này đều được sử dụng ổn định lâudài Một số các trường hợp sử dụng có thời hạn như:
Giao đất, cho thuê đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinhdoanh; thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 67 Luật Đất đainăm 2003 thì thời hạn không quá năm mươi năm, trường hợp đặc biệt có thểlên đến bảy mươi năm và có thể gia hạn nếu cần thiết
Thời hạn cho thuê đất để xây dựng trụ sở làm việc của tổ chức nướcngoài có chức năng ngoại giao là không quá chín mươi chín năm, có thể đượcgia hạn thêm
Thời hạn cho thuê đất thuộc quy đất nông nghiệp sử dụng vào mụcđích công ích của xã, phường, thị trấn là không quá năm năm
Trang 26Trường hợp cho thuê đất trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 thì thời hạnđược xác định theo hợp đồng thuê đất.
Thời hạn khi chuyển mục đích sử dụng đất và khi nhận chuyển quyền
sử dụng đất:
Thời hạn này được quy định tương tự như nhóm đất nông nghiệp
1.4 TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.4.1 Giai đoạn trước năm 1993
Giai đoạn trước năm 1945 Thời kỳ phong kiến
Bộ Quốc triều hình luật thời nhà Lê thể hiện được tư tưởng khá bình đẳngtrong quan hệ nam - nữ, vợ - chồng, trong đó có sở hữu và thừa kế Ngoài tài sản
sở hữu chung thì vợ, chồng đều được quyền có tài sản riêng Nếu cha mẹ để lạichúc thư thì chia thừa kế theo chúc thư, nếu không có chúc thư thì chia theo quyđịnh của luật Con trai và con gái đều được thừa kế của cha mẹ và hưởng phần disản bằng nhau Trường hợp vợ chồng đã có con thì khi cha mẹ chết, các con đượchưởng thừa kế điền sản Chồng chết trước thì vợ góa được kế quyền gia trưởngcủa chồng nuôi dạy các con, thờ cúng tổ tiên nhà chồng
Trường hợp vợ chồng không có con, khi chồng hoặc vợ chết trước thìngười còn sống đều được dành một phần để nuôi dưỡng một đời:
+ Đối với điền sản do cha mẹ để lại nếu người chồng chết trước thì tàisản của chồng được chia thành hai phần bằng nhau, một phần dành cho thừa tự (nếu cha
mẹ còn sống thì thuộc về cha mẹ cả), phần còn lại dành cho vợ để phụng dưỡng một đờinhưng không được làm của riêng và nếu vợ chết hoặc cải giá thì tài sản đó được trả lạicho thừa tự Khi vợ chết trước chồng, tài sản của vợ cũng được chia thành hai phần nhưvậy, nhưng phần dành cho chồng
Trang 27thì "không bắt buộc hễ lấy vợ khác thì mất phần ấy" (tức là người chồng không
cần phải trả lại tài sản nếu đi lấy vợ khác)
+ Điền sản của vợ chồng tạo ra thì nếu chồng chết trước thì được chiathành hai phần bằng nhau: Một phần chia cho vợ làm của riêng; phần còn lại được chia
ba phần, một phần dành cho việc tế tự và phần mộ (phần về tế tự và phần mộ nếu cha
mẹ còn sống thì cha mẹ giữ, nếu cha mẹ không còn thì người thừa tự giữ), hai phần cònlại để cho vợ phụng dưỡng một đời, không được làm của riêng Nếu vợ chết hoặc cải giáthì phần để phụng dưỡng này sẽ phải trả lại để việc tế tự và phần mộ Khi vợ chết trướcchồng thì tài sản cũng được chia như vậy, nhưng phần để phụng dưỡng một đời thì
"không cần câu nệ khi lấy vợ khác" (không phải trả lại khi đi lấy vợ khác).
Con của vợ lẽ, nàng hầu được phần thừa kế kém hơn con của vợ cả.Con nuôi mà có văn tự là con nuôi và ghi trong giấy là sau sẽ chia điềnsản cho thì được phân chia điền sản thừa kế của cha mẹ nuôi nếu cha mẹkhông để lại chúc thư, nhưng phần của con nuôi kém hơn phần của con đẻ; khi
đã làm con nuôi họ khác rồi thì không được về nhà tranh đất với anh em ruột
Thời nhà Lê, việc lập di chúc đã được coi trọng:"Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già, mà lập sẵn chúc thư" Hương hỏa được quy định một cách cụ
thể: Cha mẹ để lại chúc thư hay không để lại chúc thư, thì đều lấy một phần haimươi số ruộng đất làm phần hương hỏa Người giữ hương hỏa phải coi trọngdòng đích, ngành trưởng Ruộng đất hương hỏa của cụ cao tổ năm đời cũngkhông được đem chia để tránh tranh giành; không được bán ruộng đất hươnghỏa dù nghèo khó
Bộ Quốc triều hình luật coi trọng truyền thống gia đình, tôn ti, trật tựtrên dưới, đề cao thuyết "tam tòng" nên chưa có sự bình đẳng hoàn toàn giữa
vợ và chồng, giữa con trai và con gái, giữa con đẻ và con nuôi, giữa con của vợ
cả với con của vợ lẽ, nàng hầu, chưa hoàn toàn ghi nhận quyền thừa kế di
Trang 28sản giữa vợ và chồng, nhưng ở vào thời kỳ đó, quy định như vậy đã là một sựtiến bộ đáng ghi nhận.
Sau đó, Nhà Nguyễn đã soạn ra Bộ "Hoàng Triều luật lệ" hay HoàngViệt luật lệ Dưới sự trị vì của vua Gia Long, với Hoàng Việt luật lệ, dù ra đờisau nhưng Bộ luật này đã bác bỏ nhiều sự tiến bộ đã có trong Quốc triều hìnhluật Hoàng Việt luật lệ rất ít chú ý đến những vấn đề như tài sản của vợ chồng,khế ước, thừa kế… mà chủ yếu quy định về thuế, định phu, bán trộm ruộng,chia gia tài, hôn nhân nam nữ Những quy định thể hiện sự cần thiết phải duytrì sản nghiệp của thế hệ "Tứ đại đồng đường" như con cháu không được táchkhẩu, chia tài sản, không được có của riêng, trừ khi được ông bà, cha mẹ đồng
ý hoặc có chúc thư thì chia theo chúc thư, nhưng những vấn đề về di chúc lạikhông được quy định trong Hoàng Việt luật lệ
Sự bất bình đẳng giữa nam nữ, vợ chồng được xác lập, trong thừa kếthì ưu tiên quyền hưởng di sản của con trai trưởng, vợ không được hưởng thừa
kế của chồng
Hương hỏa trong Hoàng Việt luật lệ được gọi là tự sản, người giữhương hỏa là người ăn thừa tự Giới hạn về tự sản không được quy định.Người ăn thừa tự có một số điểm khác với Quốc triều hình luật
Như vậy, thời kỳ phong kiến, các quy định về thừa kế chưa đầy đủ, cònthiếu sự hợp lý, bình đẳng Các quy định còn nằm tản mạn ở các điều, các phầnkhông tập trung và không theo trình tự nên khó theo dõi Tuy nhiên, ở đó cũng
đã có những quy định là tiền đề để xây dựng pháp luật về thừa kế sau này như:ghi nhận việc chia thừa kế có chúc thư và không có chúc thư (sau này chính làhai hình thức thừa kế); các con được thừa kế của cha mẹ; những quy định kháđầy đủ về hương hỏa
Thời kỳ pháp thuộc
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhân dân ta đãphải gánh chịu ách đô hộ dã man của thực dân Pháp Cả đất nước sống trong
Trang 29cảnh tối tăm thuộc địa nửa phong kiến Chúng không đem những gì tiến bộ củađất nước phương tây để cai trị, mà dựa vào những hủ tục của xã hội phong kiếnnước ta để đàn áp dân ta Do đó, luật được sử dụng trong thời kỳ này chủ yếu
là Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 Sự bấtbình đẳng trong quan hệ vợ chồng, tư tưởng trọng nam khinh nữ được duy trì
và bảo vệ Vợ bị hạn chế quyền thừa kế, không được lập di chúc để lại tài sảnriêng của mình nếu không được chồng đồng ý Nếu vợ chết trước, chồng đượcthừa kế tài sản riêng của vợ, nhưng nếu chồng chết trước thì vợ chỉ có quyềnhưởng dụng tài sản riêng của mình Vị trí của con trai trưởng, cháu đích tônvẫn được coi trọng, được quản lý hương hỏa để thờ cúng tổ tiên, con gái thìkhông có quyền này
Trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ có quy định về hình thức của chúc thư, điềukiện của người lập chúc thư Không có chúc thư, thừa kế được chia theo hàngdựa trên quan hệ huyết thống Theo đó hàng thứ nhất là các con đẻ, thừa kế thế
vị được áp dụng Đây là những điểm quan trọng của thừa kế theo di chúc vàtheo pháp luật
Di sản thừa kế được xác định bao gồm cả động sản và bất động sản,trong đó có nhà cửa, đất đai Di sản dùng để thờ cúng không được chia thừa kế
và không được vượt quá 1/5 tổng tài sản để thừa kế Người giữ hương hỏa làtrưởng nam hay đích tôn
Tóm lại, giai đoạn trước năm 1945, thừa kế của nước ta chủ yếu cònmang tư tưởng bất bình đẳng giữa vợ chồng, nam nữ, nội dung chưa được đầy
đủ, hoàn thiện Nhưng xét về chừng mực nào đó thì chế độ thừa kế vẫn ngàyđược quy định rõ nét hơn về di sản thừa kế, thừa kế theo di chúc, thừa kế theopháp luật Đặc biệt rất nhiều quy định về thừa kế đã được sử dụng, nghiên cứu,chỉnh sửa để áp dụng xây dựng nên các quy định về thừa kế sau này Phầnhương hỏa, di sản thờ cúng thời kỳ này được chú trọng, và có giá trị rất lớn đốivới quy định phần di sản thờ cúng hiện nay Nói đến di sản thừa kế thì đất đai
là tài sản chủ yếu
Trang 30Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1993
Giai đoạn trước khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
Trước sự non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không thể đủđiều kiện để xây dựng luật, nên ngày 10/10/1945 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh90/SL cho phép áp dụng luật lệ cũ nếu không trái với nguyên tắc "độc lập củanước Việt Nam và chính thể cộng hòa" Do đó Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931,
Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 vẫn tiếp tục được áp dụng những quy địnhkhông trái với nguyên tắc trên
Giai đoạn từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đến trước năm 1980
Hiến pháp đầu tiên ra đời năm 1946 đã trở thành nền tảng, định hướng
để xây dựng hệ thống pháp luật ở nước ta Tư tưởng lạc hậu, gia trưởng, trọngnam khinh nữ của chế độ phong kiến bị loại bỏ và thay vào đó là sự bình đẳnggiữa vợ và chồng, giữa con trai và con gái…
Hiến pháp năm 1946 đã quy định rõ: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông
về mọi phương diện" (Điều 19); "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Namđược bảo đảm" (Điều 12) Theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946, đất đaithuộc tư hữu của công dân và đương nhiên đất đai được để lại thừa kế khi cánhân chết
Với sự phát triển của xã hội, Sắc lệnh 90/SL không còn phù hợp, dovậy ngày 22/5/1950, Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh 97/SL nhằm sửa đổi một sốquy định trong Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Bộ Dân luật Trung Kỳ; quy định một sốnguyên tắc mới cho phù hợp, trong đó có việc cụ thể hóa quyền bình đẳng củacông dân trong quan hệ tài sản, quan hệ thừa kế như ghi nhận quyền bình đẳngcủa vợ chồng trong gia đình, vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau; contrai, con gái đều có quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ; người chồng góa,các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của ngườichết, sau khi đã thanh toán tài sản chung; quyền nhận hay
Trang 31không nhận di sản thừa kế của những người là con cháu hoặc vợ hay chồngcủa người chết được bảo hộ; các chủ nợ của người chết cũng không có quyềnđòi nợ quá số di sản để lại.
Theo đó, Thông tư 1742-BNC ngày 18/9/1956 của Bộ Tư pháp quy định
rõ hơn: vợ hoặc chồng của người chết có quyền thừa kế ngang với các con; vợ lẽ
và con nuôi có quyền thừa kế như vợ cả và con đẻ; vợ góa cũng được hưởng thừa
kế với phần di sản ngang với những người thừa kế cùng hàng
Hiến pháp thứ hai của nước ta ra đời năm 1959 đã thay thế Hiến phápnăm 1946 Hiến pháp 1959 được ban hành trong thời điểm cả nước cùng chungtay xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh giải phóng Miền Namthống nhất đất nước Các hình thức sở hữu được ghi nhận phong phú hơn, cụthể hơn: Hình thức sở hữu nhà nước, hình thức sở hữu của hợp tác xã, hìnhthức sở hữu của người lao động riêng lẻ, hình thức sở hữu của tư sản dân tộc.Cùng với đó, Hiến pháp năm 1959 cũng quy định Nhà nước chiểu theo phápluật để bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và tư liệu sản xuất; bảo hộ quyềnthừa kế tài sản tư hữu của công dân Do đó, tài sản được để lại thừa kế baogồm ruộng đất và các tài sản khác
Sự bình đẳng nam nữ, vợ chồng trong gia đình và trong quan hệ thừa
kế tiếp tục củng cố trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 tạo cơ sở choviệc xây dựng chế độ thừa kế
Tiếp đến là ngày 27/8/1968, Tòa án nhân dân tối cao đã ra Thông tư594-NCPL hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế Thông tư này quyđịnh: Quyền bình đẳng nam nữ trong việc hưởng di sản; các con của ngườichết không phân biệt giới tính, trẻ già, có năng lực hành vi dân sự hay khôngđều được hưởng phần di sản ngang nhau; vợ hoặc chồng của người để lại disản được thừa kế ở hàng thứ nhất cùng với các con của người đó
Ở Miền Bắc, sau khi giành độc lập, quan hệ bình đẳng giữa vợ chồng,nam nữ, được đề cao, tư tưởng tiến bộ đã lấn át hoàn toàn những hủ tục, lạc
Trang 32hậu của thời kỳ trước, làm nền tảng cho sự phát triển chế độ thừa kế Công dân
có quyền có tài sản riêng, có quyền sở hữu đất đai, tư liệu sản xuất, có quyềnthừa kế, di sản thừa kế trở nên phong phú hơn Nhiều nội dung của thừa kế lầnđầu được đề cập, kỹ thuật lập pháp được nâng cao
Tuy nhiên ở miền Nam dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn, các quan hệdân sự vẫn được điều chỉnh bởi Bộ Dân luật giản yếu Nam kỳ 1883, Bộ Dânluật Trung Kỳ 1936, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 Những văn bản này đều thểhiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ Mặc dù vậy nhưng vềthừa kế, theo Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 thì chế độ ngụy quyền vẫn thừa nhận
ba hàng thừa kế, thừa kế thế vị, vợ chồng không thuộc hàng thừa kế của nhaunhưng vẫn có những điều riêng quy định được thừa kế
Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1993
Năm 1975, công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đấtnước đã hoàn thành Đất nước ta có sự biến đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, xãhội Giai đoạn này nhiệm vụ được đặt ra là phải xóa bỏ dần chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất, xây dựng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sởhữu chính là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Với nhiệm vụ đó Hiến phápnăm 1980 được ban hành Theo đó, Điều 19, Điều 27 quy định:
Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiêntrong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa cùng các tài sản khác màpháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân
Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhậphợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụsản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân [15]
Các quyền về sở hữu, thừa kế của công dân tiếp tục được thừa nhận,tuy nhiên có sự khác biệt rõ rệt so với những Hiến pháp trước đó: Khối tài sảnthuộc sở hữu của công dân không bao gồm tư liệu sản xuất; đất đai không còn
Trang 33thuộc sở hữu của cá nhân mà thuộc sở hữu toàn dân, công dân không có quyềnthừa kế đất đai.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 thay thế cho Luật năm 1959 Tàisản để lại thừa kế của vợ chồng quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đìnhnăm 1986 đã có sự thay đổi so với Luật năm 1959, đó là: Được phân định tàisản chung riêng, khi một bên chết trước thì di sản thừa kế được xác định là tàisản riêng của người đó và một nửa khối tài sản chung (Luật Hôn nhân và giađình năm 1959 quy định: tất cả tài sản được chia đôi mà không bên nào đượcviện cớ là có tài sản riêng để tách ra)
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hànhThông tư 81-TANDTC ngày 24/7/1981 (sau đây gọi tắt là Thông tư 81) hướngdẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản So với những văn bảnluật trước đó, các quy định trong Thông tư 81 về thừa kế tương đối hoàn chỉnhnhư: Xác định di sản thừa kế; quy định về diện thừa kế, hàng thừa kế; trình tự thừa
kế theo di chúc, theo pháp luật; thừa kế thế vị; thừa kế của người chết cùng thờiđiểm; chia di sản thừa kế Ra đời trong bối cảnh nước ta với nền kinh tế tập trung,bao cấp, trình độ lập pháp còn thấp nên Thông tư 81 không tránh khỏi những hạnchế Song, nó đã đánh dấu bước trưởng thành trong lịch sử pháp luật về thừa kếbởi thời kỳ này nhiều văn bản luật chủ yếu mang tính nguyên tắc, định hướng do
đó Thông tư 81 trở thành cơ sở pháp lý quan trọng cho các Tòa án địa phương ápdụng giải quyết từng tranh chấp, từng vụ việc cụ thể
Do đòi hỏi của tiến trình phát triển, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 đượcban hành ngày 30/8/1990, là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất, hoàn chỉnhnhất về lĩnh vực thừa kế của nước ta kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Di sản thừa kế của vợ chồng khi một bên chết trước được xác định theo tinhthần của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 Di sản thờ cúng được coi như
di sản chưa chia và không giới hạn, đây lại là điểm không tiến bộ bởi sẽkhuyến khích cho việc dùng toàn bộ tài sản để thờ cúng Diện thừa kế được
Trang 34mở rộng, hàng thừa kế được tăng lên là ba hàng (thay vì hai hàng như Thông tư81) nhằm bảo vệ quyền thừa kế của những người có huyết thống trực hệ, bàng
hệ Con nuôi được thừa kế theo pháp luật của cha mẹ đẻ, anh chị em ruột(Thông tư 81 quy định con nuôi không được thừa kế di sản của cha mẹ đẻ vàanh chị em ruột)
Năm 1992, Hiến pháp thứ ba của nước ta ra đời Đây là bước ngoặtquan trọng trong lịch sử lập Hiến cũng như trong lịch sử phát triển kinh tế xãhội Hiến pháp năm 1992 là cơ sở ghi nhận sự thay đổi từ nền kinh tế kế hoạch,tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vớinhiều thành phần kinh tế Chủ trương cho các thành phần kinh tế thuộc sở hữu
tư nhân phát triển Quyền tự do kinh doanh của công dân được thừa nhận.Công dân có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất
Điều 18 Hiến pháp năm 1992 quy định:
Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch
và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả
Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổnđịnh lâu dài
Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai tháchợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất đượcNhà nước giao theo quy định của pháp luật [18]
Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này, trước khi có Hiến pháp năm 1992
đó là đất đai thuộc sở hữu toàn dân, không thuộc sở hữu của cá nhân, khôngđược để lại thừa kế Nhưng thời kỳ này, có thể nói chế định thừa kế được xâydựng hoàn chỉnh nhất cho đến thời điểm này, về cả nội dung và hình thức
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003
Luật Đất đai năm 1993 được ban hành trên cơ sở Hiến pháp năm 1992.Điều 3, Điều 76 Luật Đất đai năm 1993 quy định: Nhà nước bảo hộ quyền và
Trang 35lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nướcgiao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấpquyền sử dụng đất; Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng câyhàng năm, nuôi trồng thủy sản, sau khi chết thì quyền sử dụng đất của họ được
để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế; Hộ giađình được Nhà nước giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủysản, nếu trong hộ có thành viên chết thì các thành viên khác trong hộ đượcquyền tiếp tục sử dụng diện tích đất mà Nhà nước đã giao cho hộ, nếu trong hộkhông còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất; Cá nhân, thành viên của hộgia đình được giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồngrừng, đất ở, sau khi chết, quyền sử dụng đất của họ được để lại cho nhữngngười thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế
Cá nhân là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được mua nhà
ở gắn liền với quyền sử dụng đất, không được để lại thừa kế quyền sử dụngđất
Như vậy, mặc dù không có việc chuyển quyền sở hữu về đất đai nhưngchuyển quyền sử dụng đất được thừa nhận và do đó công dân có quyền để lạithừa kế quyền sử dụng đất Việc dịch chuyển quyền sử dụng đất phải tuân thủnhững điều kiện nhất định
Năm 1995, Bộ luật Dân sự được ban hành Bộ luật Dân sự năm 1995 làĐạo luật quan trọng nhất điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó có quan hệthừa kế Bộ luật dành Phần thứ 4 để quy định về thừa kế, ngoài ra trong phầnchuyển quyền sử dụng đất cũng dành một chương quy định về thừa kế quyền
sử dụng đất Tài sản thuộc sở hữu tư nhân phong phú, đa dạng, không bị hạnchế về số lượng và được để lại thừa kế "Quyền sử dụng đất cũng thuộc di sảnthừa kế " [20, khoản 2 Điều 637] Thừa kế quyền sử dụng đất được quy địnhchặt chẽ hơn nhiều so với thừa kế những tài sản khác Vấn đề di tặng lần đầutiên được quy định rõ
Trang 36Pháp luật thừa kế đã thể hiện được sự phát triển vượt bậc của mình,không chỉ là những văn bản mang tính định hướng và hầu hết là văn bản dướiluật như trước mà đã ra đời những văn bản có giá trị pháp lý cao, khái quát,đầy đủ hơn nhưng cụ thể hơn Quyền sử dụng đất Nhà nước giao được để lạithừa kế, nhưng có sự phân biệt thừa kế các loại đất khác nhau.
Liên quan đến đất đai là một lĩnh vực hết sức phức tạp, nhằm tạo thuận lợicho việc chuyển quyền sử dụng đất cũng như thừa kế quyền sử dụng đất, Chínhphủ đã ban hành Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 (sau đây gọi tắt làNghị định 17/1999/NĐ-CP) về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, chothuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sửdụng đất Trong đó, quyền sử dụng đất thuê cũng được để lại thừa kế
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã góp phần xác định về phần disản thừa kế như: Xác định rõ những tài sản nào là tài sản riêng, những tài sảnnào là tài sản chung của vợ chồng Theo Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình:
"Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn,được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận" [21], quyđịnh này giúp khẳng định thêm tài sản cá nhân bao gồm cả quyền sử dụng đất
Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: "Các tài sảnthuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của
cả vợ và chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật Hôn nhân và Giađình bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất " [8, Điều 5]
Việc nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sảnkhác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồngvào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 32của Luật Hôn nhân và Gia đình phải được lập thành văn bản, có chữ
ký của cả vợ và chồng [8, Điều 13]
Trang 37Vậy, sau khi Luật Đất đai năm 1993 ra đời, sau đó là Bộ luật Dân sựnăm 1995 thì vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất được phát triển ở tầm cao mới.Tuy đất đai không thuộc sở hữu của công dân nhưng các giao dịch về quyền sửdụng đất được ghi nhận Tuy nhiên việc thừa kế các loại đất có sự khác nhau,sau khi có Nghị định 17/1999/NĐ-CP thì quyền sử dụng đất thuê cũng được đểlại thừa kế Việc phân chia thừa kế được quy định cụ thể, đặc biệt việc phânchia tài sản chung riêng của vợ chồng Luật Đất đai 1993 và Bộ luật Dân sựnăm 1995 là những văn bản được phát triển để thành Luật Đất đai 2003 và Bộluật Dân sự năm 2005 hiện nay.
1.4.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Luật Đất đai 2003 và Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời đã khắc phục nhiềuđiểm còn hạn chế tại Luật Đất đai năm 1993 và Bộ luật Dân sự năm 1995
Việc quy định thừa kế quyền sử dụng đất đã quy định chung cho cácloại đất không phân biệt đất ở, đất trồng cây hàng năm, đất rừng Nhưng đấtthuê chỉ được để lại thừa kế đối với việc thuê trước ngày 01/7/2004 và kèmtheo một số điều kiện khác
Cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền để lại thừa
kế quyền sử dụng đất nếu thuộc diện quy định tại Điều 121 Luật Đất đai 2003(sửa đổi năm 2009)
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung, sửa đổi nhiều quy định so với Bộluật Dân sự năm 1995: thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại; thừa kế củanhững người chết cùng thời điểm; quyền từ chối nhận di sản; thời hiệu khởikiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản; người lập di chúc; dichúc miệng, di chúc hợp pháp; hiệu lực di chúc chung của vợ chồng; bổ sunghàng thừa kế thứ hai, thứ ba, thừa kế thế vị; hạn chế phân chia di sản
Tóm lại, mặc dù giai đoạn này có nhiều điểm tiến bộ hơn, phù hợp hơn
về lĩnh vực thừa kế nói chung và quyền sử dụng đất nói riêng nhưng vẫn cònrất nhiều vướng mắc cần phải nghiên cứu để tiếp tục sửa đổi, có những quyđịnh có lẽ cần quay lại như thời kỳ trước
Trang 38Chương 2
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Có hai hình thức để lại thừa kế di sản nói chung và di sản là quyền sửdụng đất nói riêng là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
2.1 THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO DI CHÚC
Thừa kế theo di chúc là việc chuyển tài sản của người đã chết cho ngườithừa kế theo ý chí tự nguyện của người để lại di sản thể hiện trong di chúc
Theo Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì di chúc phải được lậpthành văn bản, trừ trường hợp không thể lập được di chúc bằng văn bản thì cóthể di chúc miệng Di chúc bằng văn bản bao gồm: di chúc bằng văn bảnkhông có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúcbằng văn bản có công chứng; di chúc bằng văn bản có chứng thực Bộ luật Dân
sự năm 2005 cũng như Luật Đất đai năm 2003 không quy định di chúc để lạithừa kế quyền sử dụng đất phải là hình thức nào, tức là hình thức của di chúc
để lại tài sản quyền sử dụng đất cũng giống như di chúc để lại các loại tài sảnkhác Tuy nhiên Điều 119 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 (sauđây gọi tắt là Nghị định 181/2004/NĐ-CP) thì lại có quy định hợp đồng hoặcgiấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện quyền thừa kế phải có công chứnghoặc chứng thực, gây ra cách hiểu là di chúc để lại di sản quyền sử dụng đấtphải có công chứng hoặc chứng thực Điều này mâu thuẫn với Luật Đất đai và
Bộ luật Dân sự, do đó Nghị định 181/2004/NĐ-CP cần được chỉnh sửa cho phùhợp
Khi lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập
di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc Khi có ít nhất hai người làmchứng, người lập di chúc có thể nhờ người khác viết di chúc nhưng vẫn phải tựmình ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng,
Trang 39sau đó những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ và họ sẽ cùng kývào bản di chúc Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của ngườikhông biết chữ phải được lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứngthực Ngoài ra người lập di chúc cũng có thể yêu cầu công chứng hoặc chứngthực bản di chúc Di chúc được lập thuộc những trường hợp quy định tại Điều
660 Bộ luật Dân sự năm tuy không được công chứng, chứng thực nhưng lại cógiá trị như di chúc được công chứng, chứng thực
Di chúc miệng chỉ được chấp nhận trong trường hợp tính mạng mộtngười bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác (như bị tai nạnrất nặng phải nằm bất động ) mà không thể lập di chúc bằng văn bản Người
di chúc miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làmchứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặcđiểm chỉ, trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ýchí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực Đây là điểmmới so với Bộ luật Dân sự năm 1995, vì Bộ luật Dân sự năm 1995 chỉ quy định
"ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ"
mà không có thời hạn đi công chứng, chứng thực Do đó, rất khó để xác định
"ngay sau đó" là khoảng thời gian bao nhiêu có thể chấp nhận được Sau batháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn,sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ, suy ra là nếu sau ba thángngười lập di chúc đã chết hoặc mặc dù còn sống nhưng không còn minh mẫn,sáng suốt thì di chúc miệng vẫn có hiệu lực Người làm chứng trong di chúcmiệng cũng cần tuân theo Điều 654 Bộ luật Dân sự
Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm ngườilập di chúc chết) Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thìchỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật Trường hợp bản di chúc saucùng bị vô hiệu vì lý do nào đó (chẳng hạn do vi phạm điều kiện có hiệu lựccủa di chúc) thì di sản thừa kế trong di chúc sẽ được chia theo pháp luật, màkhông được chia theo bản di chúc được lập trước
Trang 40Di chúc có hiệu lực pháp luật khi thỏa mãn đồng thời những điều kiện:Người lập di chúc phải đảm bảo đủ điều kiện được lập di chúc (là cá nhân, cónăng lực chủ thể trong việc lập di chúc); Người lập di chúc minh mẫn, sángsuốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; Nội dung dichúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; Hình thức di chúc không trái quyđịnh của pháp luật Ngoài ra, đối với di chúc của người từ đủ mười lăm tuổiđến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹhoặc người giám hộ đồng ý; Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc củangười không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có côngchứng hoặc chứng thực; Đối với di chúc miệng cần phải đảm bảo đủ điều kiện
về trường hợp được lập di chúc miệng và thủ tục lập di chúc miệng
2.1.1 Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp
Theo Điều 13 Luật Đất đai năm 2003, nhóm đất nông nghiệp bao gồmđất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng, đất nuôi trồng thủysản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Hầu hết đất nông nghiệp đều làloại đất sử dụng có thời hạn nên người thừa kế sẽ được sử dụng trong thời hạncòn lại của nó
2.1.1.1 Người lập di chúc
Người để lại thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp là cá nhân ViệtNam có quyền sử dụng đất nông nghiệp, có thể là cá nhân đơn lẻ hay cá nhântrong hộ gia đình được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sửdụng đất Khoản 5 Điều 113 Luật Đất đai năm 2003 quy định: cá nhân, thànhviên hộ gia đình được để thừa kế quyền sử dụng đất không phải là đất thuê theo
di chúc hoặc theo pháp luật Điều 734, Điều 735 Bộ luật Dân sự năm 2005cũng có quy định chung là cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhậnchuyển quyền sử dụng đất và thành viên hộ gia đình được Nhà nước giao đấtđược để lại thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật