1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp tại địa bàn thành phố đà nẵng

146 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 151,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, doanh 109 nghiệp; liên kết, phối hợp trong hệ thống chính trị để tập trung cao nhất vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư

Trang 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP 10

LUẬT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát chung về phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao 10

động trong các loại hình doanh nghiệp

1.3 Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động 18

1.3.3 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật 231.4 Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật là người lao động trong 24

các doanh nghiệp

1.5 Nội dung và nhận thức quyền con người trong phổ biến, giáo dục 30

pháp luật cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp

1.5.2 Nhận thức quyền con người trong phổ biến, giáo dục pháp luật 35

cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp

1.8 Các yếu tố tác động đến phổ biến, giáo dục pháp luật, ý thức pháp 44

luật của người lao động trong các loại hình doanh nghiệp

1.9 Đặc điểm cơ bản của phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao 55

Trang 2

động trong các loại hình doanh nghiệp

1.9.2 Nét đặc thù của phổ biến, giáo dục pháp luật khác tương đối với 60

các dạng giáo dục khác ở chỗ

Chương 2: THỰC TRẠNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 62

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1 Đặc điểm tình hình người lao động của thành phố Đà Nẵng 622.2 Tình hình về hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật 64

thành phố và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật

2.2.1 Về hoạt động của Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật 642.2.2 Tình hình đội ngũ báo cáo viên và Hội đồng hòa giải cơ sở 662.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho người 69

lao động trong các doanh nghiệp

2.5 Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, phổ biến, giáo 72

dục pháp luật cho người lao động nói riêng

2.5.1 Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố 72

nói chung

2.5.2 Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong 78

các loại hình doanh nghiệp

2.5.3 Kết quả việc thụ hưởng qua phổ biến, giáo dục pháp luật cho 96

người lao động trong các loại hình doanh nghiệp

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO 100

HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1 Các quan điểm của đảng, các cơ sở pháp lý về phổ biến, giáo dục 100

pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp

3.2 Nhu cầu tìm hiểu pháp luật của người lao động trong tình hình 102

Trang 3

3.3 Phương hướng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người 106

lao động trong tình hình hiện nay

3.4 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục 109

pháp luật cho người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.4.1 Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, doanh 109

nghiệp; liên kết, phối hợp trong hệ thống chính trị để tập trung

cao nhất vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao

động trong các doanh nghiệp ở thành phố Đà Nẵng

3.4.2 Xây dựng một đội ngũ cán bộ và báo cáo viên, tuyên truyền viên 111

pháp luật giỏi về nghiệp vụ; huy động các lực lượng cộng tác viên

khác vào phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong

các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố

3.4.3 Đổi mới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động 1143.4.4 Đổi mới các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật 116

cho người lao động trong các doanh nghiệp ở thành phố Đà Nẵng

3.4.5 Phát huy vai trò của công đoàn và cơ chế phối hợp công đoàn và chủ 124

doanh nghiệp trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động

3.4.6 Nâng cao trình độ học vấn cho người lao động tại các doanh 126

nghiệp trên địa bàn thành phố

3.4.7 Tăng cường đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cho công tác phổ biến, 127

giáo dục pháp luật

3.4.8 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật 127

tại các doanh nghiệp

3.4.9 Nâng cao trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong phổ biến, giáo 128

dục pháp luật và hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ sở

Trang 4

3.4.10 Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật 130

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

bảng

2.1 Trình độ đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật 68

thuộc Liên đoàn Lao động thành phố

2.2 Số lượng doanh nghiệp và người lao động phân bổ theo khu 72

vực và thành phần kinh tế tại Đà Nẵng đến cuối năm 2011

2.3 Số lượng tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật được phát hành 83

những năm qua

3.1 Nhận thức chung của người lao động và cán bộ công đoàn 104

3.3 Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được người lao 105

động, cán bộ Công đoàn lựa chọn

3.4 Nhu cầu cung cấp tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật 105

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm qua, giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tolớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởnglương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuấtkinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp Quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, giai cấp công nhân đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về

số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đôngđảo bộ phận công nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cáchmạng thông qua đội tiền phong là Ðảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong

sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng để phát huy vaitrò là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàđội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng

Với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền theo tinh thần Nghị quyết Đạihội XI của Đảng là:

Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân,

do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năngquản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhànước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thịtrường Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo phápluật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật, kỷ cương Nhànước chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng củamọi người dân Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vậnhành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc vềnhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phâncông, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý

Trang 7

kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơchế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt cáccam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc [20, tr 246].

Vì vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một nguyên tắc hiến địnhthể hiện trong Hiến pháp của nước ta, nhằm thiết lập một nền pháp chế thống nhất

và vững chắc trên phạm vi cả nước, để thiết lập trật tự xã hội, kỷ cương phép nướcđược nghiêm minh, dân chủ và công bằng, bằng nhiều giải pháp, nhiều con đườngkhác nhau, nhưng giải pháp không kém phần quan trọng để đảm bảo việc thực hiệnpháp luật trở thành lối sống, thói quen trong đời sống xã hội đó là đẩy mạnh côngtác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho Nhà nước và nhândân nói chung, người lao động trong các thành phần kinh tế nói riêng

Nhằm thể chế hóa quan điểm của Đảng, nhiều văn bản pháp luật về côngtác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân nói chung, phổ biến pháp luật chongười lao động nói riêng được Nhà nước ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban bíthư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục phápluật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân" Ngày 12/3/2008Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt chươngtrình hành động quốc gia về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008đến 2012 Ngày 24/2/2009 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số31/2009/QĐ-TTg về việc phê duyệt "Đề án Tuyên truyền phổ biến, giáo dục phápluật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệpgiai đoạn 2009-2012" Đặc biệt, đã có Luật phổ biến, giáo dục pháp luật được Quốchội thông qua

Trên cơ sở đó, thời gian qua cùng với sự phát triển chung của nền kinh tếđất nước, kinh tế Đà Nẵng cũng có sự phát triển đáng kể, đặc biệt từ khi Đà Nẵngđược công nhận là đô thị loại 1 cấp quốc gia và Bộ Chính trị đã có Nghị quyết 33 vềphát triển Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa vào năm 2003.Song song với sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố thì giai cấp công nhânkhông ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu phát triển

Trang 8

kinh tế của thành phố, những năm qua cả hệ thống chính trị của thành phố đã vào cuộc,tập trung các nguồn lực để nâng cao kiến thức pháp luật cho người lao động, với nhiềuhình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đa dạng, phong phú, dễ tiếp thu.Tuy nhiên, qua khảo sát đa phần công nhân xuất thân từ nông thôn có sức lao động,nhưng trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống, giác ngộ giaicấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều, đặc biệt là sự hiểu biết về cácchủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn nhiều hạn chế, không tựbảo vệ được bản thân của mình trong các quan hệ lao động, trong các quan hệ xã hội,chất lượng, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật và số lượng người lao động hiểubiết pháp luật còn là vấn đề bức xúc Vì vậy, nâng cao kiến thức pháp luật cho ngườilao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố là yêu cầu cấp thiết cần có sựvào cuộc của cả hệ thống chính trị thành phố Đà Nẵng.

Câu hỏi đặt ra là: thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chongười lao động như thế nào? Phương hướng, giải pháp nào để nâng cao trình độhiểu biết, sử dụng pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bànthành phố Đà Nẵng? Đây là những câu hỏi mà bản thân đặt ra để nghiên cứu trong

đề tài luận văn tốt nghiệp chuyên ngành lý luận Nhà nước và pháp luật

Qua hai năm học tập, nghiên cứu tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

và Đại học Huế, kết hợp giữa lý luận đã học và thực tiễn tại thành phố Đà Nẵngcũng như thực tiễn thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công nhânviên chức lao động tại Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng, tôi chọn đề tài:

"Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" để làm đề tài luận văn tốt nghiệp Tôi hy vọng sẽ góp

phần nhỏ bé vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và phổ biến, giáodục pháp luật cho người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá đúng thực trạng và xác định được phương hướng, giải pháp nhằm

bổ sung, hoàn thiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các loạihình doanh nghiệp của hệ thống chính trị thành phố Đà Nẵng

Trang 9

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu tổng quát của vấn đề nghiên cứu, thìmục tiêu cụ thể cần hướng đến 3 vấn đề sau:

Thứ nhất: Đề tài sẽ phân tích làm rõ cơ sở lý luận chung về phổ biến, giáo

dục pháp luật nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở cácloại hình doanh nghiệp nói riêng;

Thứ hai: Sẽ phân tích, đánh giá đúng thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật

cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

Thứ ba: Từ phân tích, đánh giá đúng thực trạng đó, đề ra các phương

hướng, giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả phổ biến, giáodục pháp luật cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp ở thành phố ĐàNẵng trong giai đoạn hiện nay

3 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Đây là đề tài chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống những vấn đềthuộc về lý luận và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong cácdoanh nghiệp ở một thành phố có tốc độ phát triển nhanh, lực lượng công nhân lao độngđông như thành phố Đà Nẵng

- Phân tích, đánh giá một cách cụ thể về thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Nghiên cứu, đề xuất các phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm tăng cường

và nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở các loại hìnhdoanh nghiệp ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn góp phần vào việc nhận thức một cách khách quan, đúng đắn, tínhđặc thù và thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanhnghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, từ đó chỉ ra được tầm quan trọng, cũng như tráchnhiệm của hệ thống chính trị thành phố trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chongười lao động trong các thành phần kinh tế ở thành phố Đà Nẵng;

- Các phương hướng, giải pháp đề ra trong luận văn có thể áp dụng trongviệc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật; trong việc xây dựng các

Trang 10

chương trình, kế hoạch, các đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và phổbiến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp nói riêng tạithành phố Đà Nẵng.

- Luận văn sẽ nghiên cứu lồng ghép vấn đề nhân quyền (quyền con người) trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, tập huấn cho cácHội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, cho cán bộ công đoàn, người sử dụnglao động trong các thành phần kinh tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở cácthành phần kinh tế trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay Tậptrung vào nghiên cứu thực trạng và phương hướng, giải pháp tăng cường và nângcao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở các doanh nghiệpngoài nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Nhà nước,các chi nhánh, các nghiệp đoàn, hợp tác xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Phạm vi nghiên cứu của luận văn từ năm 2003 đến nay, từ khi Bộ Chính trị

có Nghị quyết 33 về phát triển Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và có Quyết định phê duyệt đề án tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2003- 2007

5 Tổng quan tài liệu

Phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung là một phạm trù pháp lý, là mộtdạng hoạt động của nhà nước trong tổ chức và thực hiện pháp luật, là biện pháp tăngcường pháp chế, do đó vấn đề này là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp

lý quan tâm Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đất nước, hoàn thiện và xây dựng nhànước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, thì công tác này còn được quan tâm hơnvới nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố

- Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước như:

+ "Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa", Luận án Tiến sĩ của Trần Ngọc Đường.

Trang 11

+ "Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật cho nhân dân lao động ở Việt Nam", Luận án Tiến sĩ luật của Nguyễn Đình Lộc.

- Ở trong nước việc nghiên cứu về phổ biến, giáo dục pháp luật được nhiều tác giả

đề cập đến với những khía cạnh, đối tượng nghiên cứu khác nhau thể hiện thông qua các côngtrình nghiên cứu, các đề tài luận án, luận văn luật, các bài báo, tạp chí như:

+ "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà

Nội, 1995;

+ "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1995;

+ "Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", Đề

tài khoa học cấp Nhà nước, do Viện Nhà nước-Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xãhội và nhân văn chủ trì;

+ "Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam", Luận án Phó Tiến

sĩ của Dương Thị Thanh Mai;

+ "Một số vấn đề về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay",

Luận văn thạc sĩ của Đặng Ngọc Hoàng

+ " Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đăk Thực trạng và giải pháp", luận văn thạc sĩ của Phạm Hàn Lâm, năm 2001;

Lăk-+ "Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người", đề tài khoa học cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý -

Bộ tư pháp, 1995

+ "Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các Trường chính trị ở nước

ta hiện nay", đề tài cấp Bộ của khoa Nhà nước và Pháp luật Học viện chính trị Quốc gia

Trang 12

+ "Nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật trong đào tạo sĩ quan hậu cần hiện nay", luận văn thạc sĩ luật học của Lê Hồng Sơn, 2004.

+ "Giáo dục pháp luật cho đồng bào người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Hoa, năm 2005.

+ "Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức của Đài truyền hình Việt Nam hiện nay", luận văn thạc sĩ luật học của Lại Tự Hùng, 2007.

+ "Giáo dục pháp luật trong các trường chính trị tỉnh ở Miền Tây Nam Bộ hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thái Vinh, năm 2008.

+ "Giáo dục pháp luật cho phụ nữ nông thôn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên",

luận văn thạc sĩ luật học của Đinh Thị Hương, 2008

+ "Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên", luận văn thạc sĩ luật học của Hoàng Thị Ngọc Anh, 2009.

+ "Giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ thuộc bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An", luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Duy Lĩnh, 2010.

- Một số bài viết trên các báo, tạp chí thời gian gần đây

+ "Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật", đăng ngày 26/4/2011 của báo Nhân dân online.

+ "Xã hội hóa công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong tình hình mới"

của Hồ Viết Hiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 9/2000

+ "Phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên, quan trọng nhất đưa pháp luật vào cuộc sống", ngày 16/2/2011 trên trang thông tin Viện Nhà nước - Pháp luật.

+ "Vai trò của các cấp Công đoàn trong công tác tư vấn pháp luật cho người lao động tại các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay", của Trần Thị Thanh Hà, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2009

+ "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của Công đoàn trong giai đoạn hiện nay", Lê Thị Châu, Tạp chí Nhà nước và pháp

luật, số 7/2009

Trang 13

+ "Nâng cao hiệu quả lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư vấn pháp luật", của Hà Phương, Tạp chí Dân chủ và pháp luật.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu khoa học của các tập thể, cá nhân,cũng như các bài viết của các tác giả từ trước đến nay về công tác giáo dục phápluật nói chung, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng đã đóng góp rấtnhiều vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở nhiều góc độ, nhiều đối tượng, địaphương, lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, có thể nói rằng cho đến nay chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, cụ thể và có hệ thống về phổ biến, giáodục pháp luật cho người lao động ở các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố ĐàNẵng Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về công tác phổ biến,giáo dục pháp luật cho người lao động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

6 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

6.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu phân tích làm rõ cơ sở lý luận chung về phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp;

- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng;

- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường, nâng cao hiệuquả phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp ởthành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng về xây dựng Nhànước pháp quyền ở Việt Nam; các quan điểm của Đảng, các văn bản pháp luật quy định

về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và đối tượng là người lao động trongcác thành phần kinh tế nói riêng

- Để hoàn thành luận văn này, phương pháp nghiên cứu được bản thân sửdụng đó là phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và các phương pháp khác

Trang 14

như: phương pháp lịch sử- cụ thể, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp phântích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điều tra xã hội học,…

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và fanh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp.

Chương 2: Thực trạng phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở

các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến,

giáo dục pháp luật cho người lao động ở doanh nghiệp trên địa bàn thành phố ĐàNẵng trong giai đoạn hiện nay

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật,

đó là việc phân biệt các khái niệm: phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật

Theo Từ điển Tiếng Việt, "phổ biến" là hoạt động làm cho đông đảo ngườibiết đến bằng cách truyền đạt trực tiếp hoặc thông qua hình thức nào đó Đối tượngcủa phổ biến pháp luật rộng rãi, tính rộng rãi về đối tượng tác động của phổ biếnpháp luật có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luậtđược ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được nhà nước dùng

để trị dân Phổ biến pháp luật mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luậtcho đối tượng xác định, làm cho đối tượng hiểu thấu đáo các quy định của pháp luật

để thực hiện pháp luật trên thực tế Về khái niệm phổ biến pháp luật là hoạt độngcung cấp nội dung, tinh thần các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luậtmột cách rộng rãi, thường xuyên để các chủ thể pháp luật nắm bắt, hiểu rõ các quyđịnh của pháp luật

Còn "giáo dục" là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sựphát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần cóđược những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra (Đại Từ điển Tiếng Việt

1998, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin - Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa ViệtNam) Giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm nhưng phương thứctiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích rõ ràng hơn phổ biến phápluật Xét ở một góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụthể Về khái niệm giáo dục pháp luật là hoạt động tác động có tổ chức của ngườidạy đến người học nhằm cung cấp, trang bị những kiến thức pháp lý, hình thành ởngười học hệ thống tri thức hiểu biết về pháp luật, tình cảm pháp luật và định hướnghành vi xử sự phù hợp với quy định của pháp luật

Trang 16

Trên thực tế chúng ta không phân tách hai khái niệm này riêng ra mà phổbiến, giáo dục pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau, trong phổ biến có giáodục, trong giáo dục có phổ biến Giáo dục pháp luật bao trùm phổ biến pháp luật,phổ biến pháp luật tốt thì cũng là trực tiếp đạt được mục đích của giáo dục phápluật Tính bao trùm của giáo dục pháp luật thể hiện ở chỗ giáo dục pháp luật vừa cótính định hướng rõ ràng, vừa có tính hệ thống để đảm bảo đối tượng giáo dục đượcnâng cao cả về kiến thức pháp luật, kỹ năng áp dụng pháp luật, thái độ tôn trọngpháp luật, giáo dục pháp luật phải nâng cao cả về tri thức, hiểu biết pháp luật và vềtâm lý pháp lý của đối tượng giáo dục Giáo dục pháp luật phải nhằm đạt tới sự hìnhthành ý thức tự giác trên cơ sở hiểu biết đầy đủ về pháp luật và các vấn đề liên quan.

Qua các tài liệu nghiên cứu như báo cáo, đề tài, sách nghiệp vụ về công tác này

từ trước đến nay thì phổ biến, giáo dục pháp luật - một khâu của hoạt động tổ chức thựchiện pháp luật - được hiểu theo nghĩa chung nhất là hoạt động định hướng có tổ chức,

có chủ định nhằm mục đích hình thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp lý, tìnhcảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành

Về khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật, theo "Sổ tay hướng dẫn nghiệp

vụ phổ biến, giáo dục pháp luật" (Kỷ yếu Dự án VIE/98/001 về Tăng cường nănglực pháp luật tại Việt Nam - giai đoạn II", Hà Nội, 2002), phổ biến, giáo dục phápluật là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật

Về khái niệm hoạt động phổ biến pháp luật có hai nghĩa:

Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của nó.Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả nước

Về khái niệm giáo dục pháp luật được hiểu là một khái niệm rộng, bao gồm cảquá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (thuyết phục, nêugương, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao

ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

Cả cụm từ phổ biến, giáo dục pháp luật có hai nghĩa:

Nghĩa hẹp: Là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao trithức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọngpháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng

Trang 17

Nghĩa rộng: Là công tác, lĩnh vực, ngạch (theo nghĩa thông thường màkhông phải nghĩa trong pháp luật về cán bộ, công chức) phổ biến, giáo dục phápluật bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho công tác phổ biến, giáo dục phápluật: Định hướng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; lập chương trình, kế hoạchphổ biến, giáo dục pháp luật; Áp dụng các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật;Triển khai chương trình kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; Kiểm tra, đôn đốc,

sơ kết, tổng kết công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, rút kinh nghiệm, nghiên cứukhoa học, nâng cao trình độ lý luận…về phổ biến, giáo dục pháp luật

Xét trên mối quan hệ thực tiễn cũng như yêu cầu, mục đích chung của côngtác này, có thể thấy hai khái niệm phổ biến pháp luật và giáo dục pháp luật có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau Xét về bản chất của từng hoạt động, thì mục đích củahoạt động phổ biến là để giáo dục pháp luật Như vậy, có thể coi đây là các mức độ,công đoạn tiếp nối nhau, gắn liền với nhau trong quá trình truyền đạt nội dung phápluật đến các đối tượng cụ thể nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật cho họ.Khi phân tách hai khái niệm này, việc xác định các chủ thể thực hiện, cách thứcthực hiện các hoạt động sẽ khó tách bạch mà có sự trùng lắp, vì hoạt động giáo dụcpháp luật không giới hạn chỉ là việc giáo dục pháp luật trong nhà trường với các chủthể và đối tượng cụ thể là nhà giáo và người học

Từ những phân tích đó, khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật được hiểu như

sau: Phổ biến giáo dục pháp luật là hoạt động do tổ chức, cá nhân thực hiện thông qua

các hình thức nhất định nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật cho tổ chức, cá nhân được phổ biến giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Qua khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật chung đó có thể hiểu: Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp là hoạt động

do các tổ chức, cá nhân thực hiện thông qua các hình thức nhất định nhằm trang bị, nâng cao hiểu biết pháp luật, nhận thức về quyền, nghĩa vụ, ý thức pháp luật, hình thành văn hóa pháp luật đối với người lao động trong các loại hình doanh nghiệp.

Với khái niệm phổ biến, giáo dục pháp luật như đã nêu trên, trong điều kiệnhiện nay ở nước ta, việc trang bị tri thức pháp luật, hiểu biết pháp luật về quyền và

Trang 18

nghĩa vụ, xây dựng tình cảm, thói quen pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật chongười lao động trong các loại hình doanh nghiệp là trách nhiệm của cơ quan nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội Trong đó trước hết thuộc về hệthống các cơ quan có chức năng giáo dục đào tạo, tuyên truyền vận động nói chung

và các cơ quan có chức năng giáo dục pháp luật của Nhà nước nói riêng

Phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những mắt xích quan trọng trongviệc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Bởi vì, phổ biến, giáo dục pháp luật lànhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, hình thành ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luậtcho người lao động, nhằm giúp người lao động tự bảo vệ mình trong các quan hệlao động và quan hệ xã hội phát sinh, góp phần phát huy vai trò và hiệu lực củapháp luật và đảm bảo quyền con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chúng ta đang từng bước phấn đấu nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý xã hộibằng pháp luật Trong phương hướng đó, phổ biến, giáo dục pháp luật giữ một vaitrò đặc biệt quan trọng, vì đó là khâu đầu tiên để tạo ra tiền đề ý thức cho phươnghướng có khả năng trở thành hiện thực trong đời sống xã hội

Thực tế trong thời gian qua cho thấy, sự coi nhẹ và thiếu năng động trongcông tác phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của cán bộ công chức và nhân dân cònthấp, "pháp luật và kỷ cương của Nhà nước bị vi phạm ngày càng phổ biến" Điều

đó đặt ra cho chúng ta sự cần thiết phải nhận thức ý nghĩa mang tầm chiến lược củacông tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong suốt cả quá trình xây dựng nhà nướcpháp quyền của dân, do dân, vì dân Nó là một bộ phận đặc biệt quan trọng trongchiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Trang 19

Phổ biến pháp luật luôn nhằm những mục đích nhất định là đưa pháp luậtvào cuộc sống, xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật Phổ biến pháp luật chongười lao động cũng có nghĩa là việc giải thích rộng rãi các thông tin pháp luật chongười lao động ở các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đểthuyết phục họ ủng hộ và thực hiện theo pháp luật, để họ thấy rõ quyền và nghĩa vụcủa mình trong thực hiện pháp luật Phổ biến pháp luật ở đây là làm cho người laođộng biết các văn bản pháp luật mà Nhà nước ban hành bằng cách truyền đạt trựctiếp (như mở lớp tập huấn pháp luật) hay thông qua các hình thức khác (như thôngqua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua loa truyền thanh xã, phường,thông qua các tài liệu tờ rơi, ).

Phổ biến, giáo dục pháp luật là quá trình hoàn thiện nhân tố xã hội - pháp lýcủa con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con người trước đời sống thực tiễn.Đây là một quá trình không những phụ thuộc vào năng lực các loại chủ thể, nộidung, hình thức phổ biến, giáo dục, mà còn chịu chi phối đa chiều của nhiều yếu tốnhư: mặt bằng kinh tế, xã hội, dân trí và dân trí pháp lý, phong tục, tập quán Mụcđích của phổ biến, giáo dục pháp luật được xem xét trên nhiều góc độ tùy thuộc vàođối tượng phổ biến, giáo dục, cấp độ phổ biến, giáo dục cũng như hình thức phổbiến, giáo dục Nhìn chung, mục đích phổ biến, giáo dục có thể mang tính lâu dàihoặc trước mắt nhưng đều hướng tới ba vấn đề cơ bản:

Một là, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả năng nhận thức

pháp lý, sự hiểu biết pháp luật, hình thành một tri thức pháp luật cần thiết, nâng caonhận thức quyền con người cho các chủ thể (với tính cách là đối tượng nhận thứchay là đối tượng của phổ biến, giáo dục)

Hai là, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và

thái độ đúng đắn đối với pháp luật

Ba là, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm hình thành thói quen xử sự theo

pháp luật với động cơ tích cực

Khi tiến hành công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần lưu ý một số vấn đề

có tính nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 20

Phổ biến, giáo dục pháp luật cần được đặt trên cơ sở, nền tảng của quá trìnhgiáo dục toàn diện đối với con người, đặc biệt coi trọng sự kết hợp với giáo dục đạođức, giáo dục pháp luật quốc gia liên hệ với pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc

tế nhằm phục vụ cho tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước Phổ biến, giáodục pháp luật gắng với giáo dục quyền con người, quyền công dân và nghĩa vụ củacông dân

Cần xác lập một chiến lược phổ biến, giáo dục pháp luật quốc gia mang tínhtổng thể, cụ thể và khả thi Tránh tình trạng phổ biến, giáo dục mang tính hình thức,phong trào không đem lại hiệu quả thực tế

Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ đơn thuần là cung cấp những kiếnthức lý luận, nội dung pháp luật cần nhận thức cho đối tượng, mà về mặt thực tiễncần coi trọng việc mở rộng dân chủ, nhân quyền, minh bạch hóa các hoạt động nhànước, đề cao trách nhiệm cá nhân trước các hoạt động pháp lý Đồng thời, tăngcường đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, xử lý kịp thời, nghiêm minh vàcông bằng đối với mọi vi phạm

Phát triển hệ thống khoa học pháp lý; mở rộng, đi sâu nghiên cứu đầy đủhơn về khoa học phổ biến, giáo dục pháp luật

Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động cơ bản, có tầm quan trọngđặc biệt đối với quá trình nâng cao ý thức pháp luật Nếu học tập, hiểu biết pháp luậtđược xác định là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi công dân thì phổ biến,giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật là những nhiệm vụ không thể thiếu củamọi nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và giám sát lại hoạt động củanhà nước Trên thực tế, xử sự hợp pháp của mọi chủ thể, sự hiểu biết pháp luật và ýthức sống theo pháp luật của mọi công dân chính là thước đo chất lượng, hiệu quảcủa hoạt động giáo dục pháp luật

Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm truyền tải tri thức, nộidung, quy định của pháp luật đến với các chủ thể pháp luật nhằm nâng cao nhậnthức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật, tạo lập và hình thành thói quen, lốisống làm việc theo Hiến pháp, pháp luật của các chủ thể pháp luật

Trang 21

Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạonên cấu trúc bên trong của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Việc xác địnhđúng đắn các mục đích xã hội cần phải đạt được trong quá trình phổ biến, giáo dụcpháp luật, có vai trò quan trọng trong lý luận và thực tiễn công tác phổ biến, giáodục pháp luật Bởi vì, các phạm trù, nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến,giáo dục pháp luật phần lớn phụ thuộc vào việc xác định những mục đích xã hội nàođược đặt ra trước quá trình phổ biến, giáo dục Mục đích của phổ biến, giáo dụcpháp luật phải đáp ứng được các yêu cầu cụ thể của xã hội đối với phổ biến, giáodục pháp luật ở từng giai đoạn, trong các điều kiện lịch sử cụ thể Theo quan điểmchung của nhiều nhà khoa học, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động baogồm các mục đích cơ bản sau đây:

Mục đích thứ nhất, hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống

tri thức pháp luật của người lao động (mục đích nhận thức) Đây là mục đích hàngđầu, bởi vì, chính sự am hiểu pháp luật, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội vàvai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là điều kiện cần thiết để hình thành tình cảm vàlòng tin vào pháp luật của người lao động Hơn nữa, tri thức pháp luật còn giúp chongười lao động tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá kiểmtra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật Mục đích này đặc biệt quantrọng trong điều kiện như nước ta hiện nay, khi mà hiểu biết pháp luật của người laođộng còn thấp, còn chịu ảnh hưởng tư tưởng và nếp sống của người sản xuất nhỏ, tưtưởng của người làm nông nghiệp, nhận thức về quyền và nghĩa vụ của mình chưađầy đủ Mặt khác, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được coi trọng dẫnđến tình trạng pháp chế bị buông lỏng, làm giảm hiệu lực của pháp luật; dẫn đếngiảm lòng tin của người lao động đối với Đảng và Nhà nước Do đó, từ Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tácphổ biến, giáo dục pháp luật, tuyên truyền, giải thích pháp luật, Cán bộ quản lýcác cấp từ Trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính vàhiểu biết về pháp luật Cần sử dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nângcao ý thức pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân, thường xuyên giáo dụcpháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc theo pháp luật, phát huy dân chủ, đi đôi

Trang 22

với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng phápluật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.

Mục đích thứ hai, hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục đích

cảm xúc) Mục đích này rất quan trọng, vì nếu có tri thức pháp luật mà không có tìnhcảm tôn trọng và lòng tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật thìngười lao động rất dễ hành động chệch khỏi các chuẩn mực pháp luật vì lợi ích riêng

tư Nội hàm của mục đích cảm xúc đạt được thông qua việc: giáo dục tình cảm côngbằng, biết xác định các tiêu chuẩn đánh giá tính công bằng của pháp luật, biết đối xửvới người khác và với chính mình bằng các tiêu chuẩn công bằng, các tiêu chuẩn vềquyền và nghĩa vụ thể hiện qua các qui phạm pháp luật; giáo dục tình cảm trách nhiệm,

ý thức tuân thủ pháp luật ở mọi nơi mọi lúc Phê phán, lên án những biểu hiện coithường pháp luật, các hành vi phạm pháp Đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo

vệ sự nghiêm minh của pháp luật Có được tình cảm trên, người lao động sẽ có đượclòng tin vững chắc vào sự cần thiết tuân theo những qui phạm pháp luật Khi đã có lòngtin vào pháp luật, người lao động sẽ có những hành vi hợp pháp

Mục đích thứ ba, hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp

luật (mục đích hành vi) Động cơ và hành vi hợp pháp là kết quả cuối cùng của cảquá trình nhận thức pháp luật, đấu tranh nội tâm dưới tác động của những yếu tốtâm lý, tình cảm, lòng tin Thói quen xử sự hợp pháp được hiểu là thói quen tuânthủ các quy phạm hướng dẫn của pháp luật, thói quen thực hiện đúng đắn, tận tâmcác quyền và nghĩa vụ pháp lý, thói quen sử dụng và áp dụng các tri thức pháp luật

và các quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp củamình, của người khác, của Nhà nước và của xã hội

Việc phân chia các mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật cho người laođộng trên đây chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan hệ đan xem qua lạitrong mối liên hệ hữu cơ thống nhất Từ tri thức pháp luật đến tính tự giác; từ tính

tự giác đến tính tích cực; từ tính tích cực đến thói quen xử sự theo pháp luật Ngượclại, khi có thói quen xử sự theo pháp luật thì lòng tin, tình cảm pháp luật lại đượccủng cố Do đó, khi tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật đều phải hướng hoạtđộng vào cả ba mục đích của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Trang 23

Việc xác định mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật trong quá trìnhphổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trong lý luận lẫn thựctiễn phổ biến, giáo dục pháp luật Việc xác định đúng hay không đúng mục đích củaphổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dẫn đến chất lượng tốt hay không tốt tới phổ biến,giáo dục pháp luật.

1.3 CHỦ THỂ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Theo lý luận giáo dục học thì chủ thể giáo dục là thầy cô giáo và tất cảnhững người làm công tác giáo dục khác Vận dụng vào phổ biến, giáo dục phápluật, có thể hiểu: chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật là tất cả những người mà theochức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện cácmục đích phổ biến, giáo dục pháp luật

Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động được hiểu là tất cảnhững người mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội đã tham gia gópphần thực hiện mục tiêu phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động Cácnghiên cứu lý luận và thực tiễn đã xác định và thừa nhận có hai loại chủ thể phổbiến, giáo dục pháp luật: chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệpvới vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu trình độ và kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật khácnhau Từ đó, có các hình thức, phương thức và phương pháp tiến hành hoạt độngphổ biến, giáo dục pháp luật khác nhau

Chủ thể chuyên nghiệp là những người mà nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp là thựchiện các mục tiêu phổ biến, giáo dục pháp luật Đây là các chủ thể nòng cốt của hoạtđộng phổ biến, giáo dục pháp luật Chủ thể chuyên nghiệp gồm có: Các báo cáo viên,tuyên truyền viên về pháp luật ở các hệ thống Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chínhtrị-xã hội ở các cấp; các phóng viên, biên tập viên của các báo, đài phát thanh, truyềnhình phụ trách các nội dung liên quan đến pháp luật hoặc các chuyên mục pháp luật;giáo viên dạy pháp luật trong các trường từ phổ thông đến đại học, trung học chuyênnghiệp và dạy nghề, các trường Đảng, hành chính, đoàn thể; các cán bộ chuyên gia làmcông tác nghiên cứu và chỉ đạo phổ biến, giáo dục pháp luật tại các cơ quan nhà nước,các tổ chức nghề nghiệp pháp luật, các tổ chức chính trị-xã hội

Trang 24

Chủ thể không chuyên nghiệp là những người phải làm nhiều việc vớinhững mục tiêu khác nhau, nhưng trong đó có nhiệm vụ là thực hiện mục tiêu phổbiến, giáo dục pháp luật Chủ thể không chuyên nghiệp gồm có: Đại biểu Quốc hội:

có nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, động viên nhân dân chấp hành pháp luật

và tham gia quản lý nhà nước (Điều 38 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992) và đạibiểu Hội đồng nhân dân phải "gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách và thamgia vào việc quản lý nhà nước"; cán bộ thuộc các cơ quan hành pháp, tư pháp cómột phần nhiệm vụ là phổ biến, giáo dục pháp luật; các cán bộ thành viên của các tổchức chính trị, xã hội như Đảng Cộng sản, đoàn thể thanh niên, Công đoàn, phụnữ ; các Luật gia đang hành nghề luật sư bào chữa, dịch vụ tư vấn pháp luật; cáccán bộ, nhân viên ở các ngành kinh tế, quản lý nhà nước về một lĩnh vực kinh tế nào

đó (thuế, đất đai, rừng, thủy lợi ) trong khi thực hiện nhiệm vụ chuyên môn củamình, có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật chuyên ngành cho các đốitượng bị quản lý nhân dân nói chung

Chủ thể phổ biến, giáo dục pháp luật còn chính là các công dân - cá nhânbằng sự gương mẫu trong ý thức và trách nhiệm thi hành pháp luật trong đời sống

đã có tác dụng ảnh hưởng giáo dục tích cực đến hiểu biết, nhận thức của các côngdân khác (bố mẹ, ông bà trong gia đình đối với con cái, thầy cô giáo chủ nhiệm và

bộ môn trong nhà trường, tổ trưởng dân phố, hòa giải viên, tuyên truyền viên )

Từ những phân tích đó, thì chủ thể cụ thể của phổ biến, giáo dục pháp luậtcho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp theo Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 03 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trìnhphổ biến giáo dục pháp luật năm 2008-2012 thì Bộ Lao động - Thương binh và Xãhội là đơn vị "Chủ trì xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả đề án: tuyêntruyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong cácloại hình doanh nghiệp" [11] Trên cơ sở quyết định này, Chính phủ đã ban hànhquyết định số 31/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 2 năm 2009 về phê duyệt Đề ántuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao độngtrong các loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2009 - 2012, theo đề án thì chủ thể chínhtrong phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động đó là:

Trang 25

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trì Đề án,

tổ chức phối hợp, kiểm tra, đánh giá, tổng kết và báo cáo việc thực hiệncác hoạt động của Đề án trên phạm vi cả nước; chủ trì thực hiện Tiểu Đề

án 1 của Đề án gồm các hoạt động: khảo sát; biên soạn tài liệu nguồn; tậphuấn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biếnpháp luật cho các doanh nghiệp; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luậtcho người lao động và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệpnhà nước; hoạt động truyền thông chung của Đề án; hoạt động chỉ đạođiểm và nhân điển hình; giám sát, đánh giá Đề án

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chủ trì thực hiện Tiểu Đề án

3 về tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động, pháp luật công đoàn vàmột số nội dung pháp luật liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp chongười lao động trong các doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài; tham gia các hoạt động chung của Đề án [12]

Do vậy, trong quyết định 03/2008/QĐ-UBND ngày 9 tháng 01 năm 2008 của

Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng phê duyệt Đề án "Tăng cường công tác tuyêntruyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2008 -2012", thì việc phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động được phân công cho SởLao động-Thương binh và Xã hội với đối tượng là công nhân lao động tại các doanhnghiệp nhà nước; Liên đoàn Lao động thành phố phụ trách phổ biến, giáo dục pháp luậtcho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp còn lại: công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài,…

Vì vậy, chủ thể của phổ biến giáo dục pháp luật cho người lao động trongcác loại hình doanh nghiệp có hai chủ thể cụ thể là Sở Lao động-Thương binh và Xãhội và Liên đoàn Lao động thành phố

1.3.1 Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố

Nghị định số 186/2007/NĐ-CP ngày 25/12/2007 của Chính phủ quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ và quyền hạntrong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo khoản 4 Điều 2 Nghị định

Trang 26

186/2007/NĐ-CP đó là "Chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ

biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ"

Từ quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hộithì chức năng nhiệm vụ của Sở Lao động- Thương binh và Xã hội thành phố ĐàNẵng có chức năng, nhiệm vụ như sau:

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy bannhân dân thành phố, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thành phố thựchiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: việc làm; dạy nghề; lao động; tiềnlương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tựnguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo

vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội (gọi chung làlĩnh vực lao động, người có công và xã hội); về các dịch vụ công thuộc phạm viquản lý của Sở và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân cấp, ủyquyền của Ủy ban nhân dân thành phố và theo quy định của pháp luật

Nhiệm vụ xây dựng phương hướng, mục tiêu, các giải pháp lớn trong kếhoạch dài hạn, hàng năm của thành phố về lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xãhội, tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiệnphương hướng, nhiệm vụ đó

Chủ trì phối hợp với các cơ quan quản lý, ngành có liên quan tổ chức thựchiện các quy định pháp luật về Lao động, phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngườilao động và người sử dụng lao động

1.3.2 Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng

Theo quy định tại Điều 1 Luật Công đoàn năm 1990 thì Công đoàn là tổchức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động ViệtNam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; làtrường học chủ nghĩa xã hội của người lao động

Những người lao động Việt Nam là những người làm việc trong các đơn vịsản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có vốn đầu tư nước

Trang 27

ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội (gọi chung là cơ quan,đơn vị, tổ chức).

Tại khoản 2 Điều 4 Luật Công đoàn quy định Công đoàn có trách nhiệmtuyên truyền phổ biến Hiến pháp và pháp luật, giáo dục người lao động ý thức chấphành và tham gia đấu tranh bảo vệ pháp luật, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội vàbảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, lao động có kỷ luật, có năng suất,chất lượng và hiệu quả

Từ những quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Công đoànnói chung, đối với Liên đoàn Lao động thành phố Đà Nẵng thì đối tượng tập hợpcủa liên đoàn lao động tỉnh, thành phố gồm đoàn viên, công nhân viên chức laođộng trên địa bàn Chỉ đạo trực tiếp các Liên đoàn Lao động huyện, công đoànngành địa phương, công đoàn tổng công ty, công đoàn các khu công nghiệp và cáccông đoàn cơ sở, nghiệp đoàn trực thuộc (kể cả công đoàn cơ sở các đơn vị củatrung ương không có công đoàn ngành trung ương hoặc công đoàn tổng công ty)

Nhiệm vụ, quyền hạn của liên đoàn lao động thành phố: tuyên truyền, phổbiến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm

vụ của tổ chức Công đoàn Đại diện, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chínhđáng của đoàn viên, công nhân viên chức lao động trên địa bàn Triển khai thực hiệncác chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam và nghị quyết đại hội công đoàn thành phố; các chỉ thị, nghị quyếtcủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Tham gia với cấp ủy đảng, cơ quannhà nước tỉnh, thành phố về các chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vàcác vấn đề có liên quan đến đời sống, việc làm và điều kiện làm việc của công nhânviên chức lao động trên địa bàn Tổ chức phong trào thi đua yêu nước, các hoạtđộng xã hội của công nhân viên chức lao động trên địa bàn Phối hợp với các cơquan chức năng của nhà nước, công đoàn ngành trung ương tổ chức thanh tra, kiểmtra việc thực hiện pháp luật và các chính sách có liên quan trực tiếp đến công nhânviên chức lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; tham gia hội đồngtrọng tài lao động ở địa phương, hướng dẫn và chỉ đạo việc giải quyết tranh chấp laođộng, tham gia điều tra tai nạn lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,

Trang 28

chính đáng người lao động trong các doanh nghiệp đóng trên địa bàn Chỉ đạo cáccông đoàn ngành địa phương, Liên đoàn Lao động huyện, công đoàn các khu côngnghiệp, công đoàn tổng công ty (thuộc thành phố) và cấp tương đương Hướng dẫn,chỉ đạo các công đoàn cơ sở của công đoàn tổng công ty thuộc trung ương và cáccông đoàn cơ sở trực thuộc công đoàn ngành trung ương đóng trên địa bàn thànhphố những nội dung sau đây: phối hợp với các cơ quan chức năng của nhà nước ởđịa phương kiểm tra, thanh tra lao động; điều tra các vụ tai nạn lao động; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, tranh chấp lao động; đại diện bảo vệ người lao động trước người

sử dụng lao động, cơ quan nhà nước và trong quá trình tham gia tố tụng; kiểm tra,giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người lao động Tổ chức giáo dụcnâng cao trình độ văn hóa và nghề nghiệp cho công nhân, viên chức lao động; tổchức các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, quản lý nhà văn hóa công nhân, côngđoàn; tổ chức các trung tâm giới thiệu việc làm, cơ sở tư vấn pháp luật theo quyđịnh của Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, hệ thống công đoàn từ thành phố đến

cơ sở đều có đội ngũ cán bộ, phụ trách làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,được bồi dưỡng cập nhật thông tin thường xuyên về các quy định mới của pháp luật,cũng như tiếp thu các vướng mắc, những điều chưa phù hợp trong áp dụng pháp luậttại cơ sở, những kẻ hở pháp luật ảnh hưởng đến việc thực thi và đưa pháp luật vàocuộc sống

1.3.3 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là tổ chức phối hợpchỉ đạo của Liên đoàn Lao động và Sở Lao động Thương binh-Xã hội, có chức năngtham mưu, tư vấn cho Liên đoàn Lao động và Sở Lao động Thương binh-Xã hội về tổchức triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho từng đối tượngthuộc mình quản lý, chỉ đạo hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể và quyết định vấn đề theo nguyên tắc

đa số, trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của mỗi thành viên và bảo đảm sựphối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các thành viên, cơ quan thường trực, Tổ thư

ký với cơ quan, tổ chức có đại diện là thành viên Hội đồng

Trang 29

Các thành viên Hội đồng vừa tham gia công tác của Hội đồng, vừa là đạidiện của cơ quan, tổ chức, công đoàn các cấp, doanh nghiệp đã cử mình tham giaHội đồng, có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức, triển khai công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật ở ngành, cơ quan, tổ chức, công đoàn mình theo kế hoạch của Liên đoànLao động thành phố và Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố và chỉ đạo,hướng dẫn của Hội đồng.

Hội đồng hoạt động theo chương trình, kế hoạch về những nội dung phổbiến, giáo dục pháp luật cụ thể do Liên đoàn Lao động thành phố và Sở Lao độngThương binh-Xã hội thành phố chỉ đạo và hướng dẫn của Hội đồng Phối hợp phổbiến, giáo dục pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố Hoạt động của Hội đồngđược triển khai theo phương thức vừa bao quát, toàn diện các hoạt động phối hợpphổ biến, giáo dục pháp luật vừa phân công phụ trách từng mảng công việc theo đốitượng, lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật

1.4 ĐỐI TƯỢNG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT LÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

Đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung rất phong phú, đa dạng và

có thể phân loại thành các nhóm dựa trên các yếu tố phản ánh trạng thái, địa vị pháp

lý của từng loại đối tượng Trên cơ sở phân loại đó, các chủ thể phổ biến, giáo dụcpháp luật sẽ lựa chọn các nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục phápluật phù hợp nhằm trang bị cho từng loại đối tượng những tri thức cần thiết để họthực hiện quyền và nghĩa vụ tương xứng với địa vị pháp lý công dân của họ trongcác quan hệ pháp luật

Quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật thực chất là quan hệ xã hội giữa mộtbên là người phổ biến, giáo dục (chủ thể) và một bên là người được phổ biến, giáodục (khách thể hay đối tượng) Mối quan hệ này có sự tác động qua lại lẫn nhaugiữa các bên tham gia trong mối quan hệ Song chiều tác động chủ yếu vẫn là sự tácđộng, chi phối của người phổ biến, giáo dục (chủ thể) Sự tác động của phổ biến,giáo dục là những hoạt động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch, nhằm đạt tớinhững mục tiêu, mục đích nhất định (bao gồm mục đích nhận thức, mục đích cảm

Trang 30

xúc, mục đích hành vi, thói quen xử sự theo pháp luật) Nói cách khác, chủ thể phổbiến, giáo dục pháp luật tác động lên khách thể (đối tượng) phổ biến, giáo dục vớinhững mong muốn cụ thể là xây dựng được ý thức và những hành vi hợp pháp chokhách thể (đối tượng) phổ biến, giáo dục pháp luật.

Như vậy, đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật ở đây không chỉ là cá nhân,những nhóm cộng đồng xã hội mà còn bao hàm cả những yếu tố bên trong của họ như:nhận thức, tình cảm, cảm xúc, hành vi cụ thể của họ phù hợp với pháp luật

Từ phân tích trên cho thấy, đối tượng (khách thể) của phổ biến, giáo dụcpháp luật cũng giống như đối tượng của giáo dục nói chung, nó mang tính đồngnhất với đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật Vậy đối tượng của phổ biến, giáodục pháp luật được hiểu là những cá nhân, nhóm cộng đồng xã hội cùng với ý thức

và hành vi pháp luật của họ

Việc xác định chủ thể, khách thể (đối tượng) phổ biến, giáo dục pháp luật

có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn của hoạt động phổ biến giáo dụcpháp luật trên cơ sở mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chủ thể và kháchthể trong quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật Trong đó, chủ yếu là sự tác động có

ý thức, có mục đích, có kế hoạch của người phổ biến, giáo dục pháp luật lên ngườiđược phổ biến, giáo dục pháp luật Điều đó tạo cho chủ thể xác định các nội dung,hình thức, phương tiện, biện pháp phù hợp để tiếp cận với đối tượng phổ biến, giáodục pháp luật một cách có hiệu quả nhất

Cụ thể trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở cácloại hình doanh nghiệp, thì chủ thể của phổ biến, giáo dục pháp luật đã được xácđịnh, còn đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật trong trường hợp này đó là cánhân người lao động, nhóm người lao động trong các loại hình doanh nghiệp

Theo Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 03 năm 2008 của Thủtướng Chính phủ ban hành chương trình Phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008đến năm 2012 Mục tiêu được xác định

Tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; đổi mới phương thức tổ chức

Trang 31

thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng nguồnnhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tuyên truyền kịpthời, thường xuyên nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địabàn; tổ chức có hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên toànquốc, góp phần thực hiện nếp sống và làm việc theo Hiến pháp và phápluật, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ViệtNam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân [11].

Từ mục tiêu chung đó chỉ tiêu cụ thể được đề ra đó là: "Đến hết năm 2012

có 70% người lao động được tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền, nghĩa vụcủa công dân và người lao động" [11] Người nước ngoài tại Việt Nam là "từ 95% -100% văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến người Việt Nam ở nước ngoài vàngười nước ngoài ở Việt Nam được tuyên truyền bằng các hình thức phù hợp" [11].Đối tượng tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có sáu nhóm đốitượng: cán bộ, công chức, viên chức; người dân thành phố, người dân nông thôn,đồng bào dân tộc thiểu số; cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang; thanh thiếuniên; người sử dụng lao động, người lao động trong các doanh nghiệp; người nướcngoài ở Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài Trong sáu đối tượng đó, đốitượng tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động trong các loại hìnhdoanh nghiệp thuộc đề án thứ tư Cơ quan chủ trì: Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội phối hợp cùng Bộ Tư pháp, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, PhòngThương mại và Công nghiệp Việt Nam để triển khai thực hiện

Trên cơ sở quyết định 37 đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định31/2009/QĐ-TTg ngày 24/02/2009 phê duyệt Đề án Tuyên truyền, phổ biến phápluật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệpgiai đoạn 2009-2012 Quyết định quy định Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam:chủ trì thực hiện Tiểu Đề án 3 về tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động, phápluật công đoàn và một số nội dung pháp luật liên quan tới hoạt động của doanhnghiệp cho người lao động trong các doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ trìthực hiện "tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động trong các

Trang 32

doanh nghiệp nhà nước" Đối tượng thụ hưởng được xác định đó là "Các tổ chứccông đoàn các cấp; cán bộ công đoàn làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật;người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp dân doanh vàdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài" [12].

Đặc điểm tiêu biểu và không thể tách rời của lao động dưới chủ nghĩa xãhội là tính phổ biến của nó, là sự cần thiết và nghĩa vụ của mỗi thành viên có khảnăng lao động trong xã hội phải tham gia lao động có ích cho xã hội Trong Hiếnpháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: "Lao động là quyền

và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việclàm cho người lao động" [46]; Điều 56:

Công dân có quyền nhận một công việc có bảo đảm với khoản thùlao lao động phù hợp với chất lượng và số lượng lao động Quyền đó đượcbảo đảm bởi hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, bởi sự phát triển khôngngừng của lực lượng sản xuất, bởi sự đào tạo về nghề nghiệp, việc nâng caotrình độ nghề nghiệp và việc đào tạo những ngành chuyên môn mới Nhànước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, bảohiểm xã hội, nghỉ ngơi, nghỉ hưu đối với công chức nhà nước; ra sức cảithiện điều kiện lao động cho người lao động nói chung và nhất là đối vớiloại lao động nặng nhọc bằng cách cơ khí hóa và từng bước tự động hóa sảnxuất, cải tiến tổ chức và quản lí lao động một cách khoa học [46]

Tìm hiểu về khái niệm người lao động là những người trong độ tuổi lao độngtheo quy định của pháp luật Họ có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, thường

là nhận yêu cầu công việc, nhận lương, các chế độ theo quy định của pháp luật và chịu

sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết Kết quả lao động của họ

là sản phẩm dành cho người khác sử dụng và được trao đổi trên thị trường hàng hóa,sản phẩm chân tay thì giá trị trao đổi thấp, sản phẩm trí óc thì giá trị trao đổi cao

Theo nghĩa rộng, người lao động là người làm công ăn lương Công việccủa người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê laođộng Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cungcấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động Ở nghĩa hẹp

Trang 33

hơn, người lao động còn là người làm các việc mang tính thể chất, thường trongnông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (cách hiểu này ảnh hưởng từ quan niệm cũ: phânbiệt người lao động với người trí thức).

Theo Bộ luật Lao động nước ta, người lao động là người đến tuổi lao động,

có khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sửdụng lao động Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa

vụ của người lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lýtranh chấp hợp đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắtbuộc Người lao động được chia ra người lao động là công nhân và người lao độngtrí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duyđộc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức (còn gọi là trí thức)

Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấpsức lao động, một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ,hàng hóa cơ bản của nền kinh tế Những người đang lao động là những người cócam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác Như vậy, để hiểu

rõ về người lao động chúng ta phải xem xét các yếu tố gắn với lao động của ngườilao động như: sự chuẩn bị năng lực lao động, cam kết và thực thi cam kết lao động,bao gồm tiếp nhận yêu cầu lao động, phương pháp và phương tiện lao động, giáthành lao động, đãi ngộ lao động, thái độ lao động, động lực lao động, kết quả vàchất lượng lao động, sự hài lòng và không hài lòng của các bên tham gia hợp đồnglao động Trong nền kinh tế thị trường, tính chất lao động của người lao động cónhiều thay đổi như: quan hệ giữa chủ lao động và người lao động, lao động ngàymột chuyên môn hóa; kiến thức, kỹ năng, sử dụng công nghệ cao ngày một nhiều;phải có thái độ lao động nghiêm túc, kỷ luật, đãi ngộ lao động ngày một tốt…Những người lao động ngại thay đổi, chậm tiến bộ đều bị tụt hậu, thất thế trongcạnh tranh và nhanh chóng bị đào thải khỏi thị trường lao động

Về sự thay đổi quan hệ lao động: trước đây, quan hệ lao động trực tiếp từ chủ

sở hữu đến người lao động Ngày nay, trong đội ngũ người lao động bao gồm cả giámđốc điều hành và hệ thống các cấp quản lý trung gian (ví dụ giám đốc nhân sự, giámđốc bộ phận, trưởng phòng…) Giám đốc điều hành vừa là người lao động vừa là người

Trang 34

đại diện thay mặt các chủ sở hữu đứng ra thuê, ký kết hợp đồng lao động và giámsát, đánh giá người lao động Mặt khác, nếu trước kia người lao động hoàn toànkhông liên quan đến quyền sở hữu doanh nghiệp thì ngày nay, một số người laođộng, nhà quản lý tuy làm thuê nhưng có thể được ưu đãi cho mua với giá rẻ hoặctặng có điều kiện cổ phần của doanh nghiệp; nghĩa là có thể tham gia vào nhómnhững người có quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp cũng như hàng nămnhận được cổ tức Đó là những điểm ưu việt hơn trong quan hệ lao động thời nay.

Về phân công lao động: Trong xã hội ngày một gia tăng các ngành nghềchuyên biệt nhau với chuyên môn riêng biệt Các nhà quản lý cũng phân hóa, táchcông đoạn để điều hành, quản lý công việc hiệu quả tốt nhất Vì vậy, người lao độngcũng đòi hỏi phải có chuyên môn, kỹ năng kiến thức giỏi ứng với một hay một vàichuyên ngành nào đó và phù hợp về quy mô tổ chức, quy trình riêng biệt của từngngành Nói là chuyên gia của một ngành, người lao động vẫn buộc phải am hiểu cáclĩnh vực có liên quan để lao động hiệu quả, ít sai sót Có nghĩa là mặt bằng tri thức,

kỹ năng của người lao động đòi hỏi ngày một cao cả về bề sâu lẫn bề rộng

Về áp lực trong lao động: ngày nay, việc người lao động giao tiếp với nhiềungười, làm cùng một lúc nhiều việc, nhiều loại yêu cầu, thông tin phải tiếp nhận xử

lý trong một thời gian eo hẹp với hiệu quả chất lượng đòi hỏi ngày một cao… làchuyện bình thường Vì vậy, người lao động buộc phải có sức khỏe tốt, trong mộtđơn vị thời gian đảm bảo sản lượng và chất lượng lao động tốt, có độ tập trung cao,chuyên môn giỏi, khai thác thế mạnh các công cụ mới Các dạng lao động thô sơ,đơn giản dần dần được máy móc và công nghệ đảm nhiệm Tỷ trọng lao động trí óc,sáng tạo ngày một cao để đáp ứng được tốc độ phát triển Vì thế, những phươngpháp và công cụ lao động không ngừng được cải tiến, có tính thiết yếu trong hiệuquả công việc của người lao động

Người lao động ngoài việc có chuyên môn giỏi cần phải có kiến thức phápluật về lao động, công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các luật có liên quan

để tự bảo vệ mình trong các quan hệ xã hội, đặc biệt là trong các quan hệ lao động.Đồng thời có ý thức trong chấp hành các quy định của pháp luật trong quá trình laođộng, sản xuất và cư trú

Trang 35

1.5 NỘI DUNG VÀ NHẬN THỨC QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

1.5.1 Nội dung

Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật được xác định trên cơ sở ba mụcđích của phổ biến, giáo dục pháp luật nói trên, là sự hình thành ở đối tượng phổbiến, giáo dục hệ thống tri thức pháp luật Tình cảm, lòng tin và thói quen hànhđộng phù hợp với yêu cầu của pháp luật Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật làmột thành tố quan trọng của quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật để đưa pháp luật

đi vào đời sống xã hội, nó được xác định trên cơ sở mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ vàđồng thời xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng phổ biến, giáo dục phápluật Xác định đúng nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ bảo đảm cho chấtlượng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả cụ thể, thiết thực

Trong lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật cần làm rõ một số vấn đề liênquan tới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật như: phạm vi, đặc điểm, những yếu

tố chủ yếu tác động đến nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật, nội dung chủ yếucần phổ biến, giáo dục pháp luật

Phạm vi của nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo quan điểm chunghiện nay bao gồm:

- Những thông tin về pháp luật, gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định

- Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật

và tội phạm, về việc điều tra xử lý các vi phạm pháp luật

- Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về thực hiện ápdụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối tượng, các tầng lớp dân

cư Đồng thời phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý kiến, đề xuất của nhân dân, củacác chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật

- Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (như cácquyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ các quyền hợp pháp)

Trang 36

- Thông tin những tình huống cụ thể diễn ra trong thực tế và tình huốngmẫu trong thi hành pháp luật để rút kinh nghiệm, tránh hành vi vi phạm tương tự, cũngnhư nêu gương những tấm gương điển hình, những cá nhân, tổ chức thực thi tốt các quyđịnh của pháp luật.

Từ phạm vi nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật nêu trên, trong thực tiễnpháp luật ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội dung phổbiến, giáo dục pháp luật Đó là trạng thái động của các thông tin trong nội dung phổbiến, giáo dục pháp luật Những đặc điểm này cần được nhận thức đầy đủ đối vớinhững người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Trên cơ sở đó họ lựa chọnphương pháp tiếp cận tới nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật của từng đối tượngmột cách phù hợp, giúp cho đối tượng phổ biến, giáo dục có cách nhìn nhận đúngđắn, biện chứng về quá trình hoàn thiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống,cũng như những điểm mâu thuẫn và thống nhất của tiến trình đổi mới, phát triểnkhoa học pháp lý và pháp luật thực định

Những nội dung chủ yếu của phổ biến, giáo dục pháp luật, trên cơ sở lýluận và thực tiễn, được xác định theo những mức độ, cấp độ khác nhau tùy theotừng loại đối tượng phù hợp với những nhu cầu, đặc điểm của đối tượng phổ biến,giáo dục pháp luật Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của đối tượng phổ biến, giáodục pháp luật, người ta phân định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật thành bamức, cấp độ khác nhau sau đây:

Một là, mức độ tối thiểu về phổ biến, giáo dục pháp luật phổ cập cho mọi

người lao động, để xã hội được quản lý bằng pháp luật thì mọi công dân, cũng nhưmỗi người lao động phải có những hiểu biết tối thiểu về pháp luật và có những kỹnăng tối thiểu để sử dụng pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợppháp và thực hiện nghĩa vụ của mình

Hai là, mức độ phổ biến, giáo dục pháp luật theo nhu cầu ngành nghề của

người lao động hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, các loại hình doanh nghiệp,các lĩnh vực đặc thù Họ cần những hiểu biết và kỹ năng sử dụng pháp luật ở mức

độ cao hơn, mang tính định hướng rõ hơn thì ngoài những khái niệm pháp lý cơ bảnthường gặp trong thực tiễn, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật theo ngành nghề

Trang 37

còn bao gồm một số luật thực định, liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động củađối tượng Các quyền và nghĩa vụ công dân nói chung và người lao động nói riêngtrong lĩnh vực hoạt động và các trình tự giải quyết các tranh chấp phổ biến liên quantrong lĩnh vực nghề nghiệp đó.

Ba là, mức độ phổ biến, giáo dục chuyên luật, đây là mức độ cao nhất của

nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật, nhằm mục đích đào tạo các luật gia cho bộmáy nhà nước, các lực lượng báo cáo viên pháp luật và các tổ chức mang tính nghềnghiệp về pháp luật Sự hiểu biết của đối tượng này bao gồm cả những quan điểm,những học thuyết về nhà nước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại Những hiểubiết tương đối toàn diện về hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế trong lĩnh vựcchuyên sâu của từng người (về hình sự, về lao động, công đoàn, về dân sự, về kinh

tế, về hôn nhân gia đình, về luật quốc tế, ) Kỹ năng của họ không chỉ dừng lại ởviệc tuân thủ pháp luật mà chủ yếu là sử dụng, vận dụng chính xác, linh hoạt cácquan hệ pháp luật vào việc xử lý, giải quyết, tư vấn các vấn đề liên quan đến phápluật (hoặc tư vấn cho việc giải quyết các vấn đề về pháp luật, như các tranh chấp,các vi phạm pháp luật ) Kỹ năng quan trọng và đặc thù của đối tượng là sáng tạopháp luật, là khả năng tham gia vào việc hoàn thiện pháp luật

Việc xác định nội dung cơ bản của phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngườilao động trong các loại hình doanh nghiệp trước hết căn cứ vào đối tượng, mục tiêuphổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểmcủa đối tượng Nội dung đó có thể phân thành các mức độ theo các yêu cầu sau đây:

Một là, yêu cầu tối thiểu về nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật cho

người lao động trong các loại hình doanh nghiệp (có thể gọi là pháp luật thôngdụng) Nội dung này bao gồm:

- Một số hiểu biết, thông tin cơ bản về tổ chức bộ máy Nhà nước thực thi pháp luật, đặc biệt là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động;

- Các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân nói chung và người lao động nói riêng do Hiến pháp và một số đạo luật quy định;

- Một số thủ tục, trình tự pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện các nghĩa vụ của công dân nói chung và người lao động nói riêng

Trang 38

- Các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và gián tiếp của người lao độngtrong quá trình tham gia hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh tại các loại hình doanhnghiệp,

Hai là, yêu cầu riêng về phổ biến, giáo dục pháp luật cho mỗi loại đối tượng.

Mỗi người lao động trong từng địa vị, điều kiện, hoàn cảnh và ở mỗi địa bàn, doanhnghiệp khác nhau lại có những nhu cầu hiểu biết pháp luật khác nhau Nội dung phổbiến, giáo dục pháp luật ở đây cũng phải cụ thể, phù hợp với từng loại đối tượng

Từ việc xác định phạm vi, đặc điểm và các mức độ yêu cầu về nội dung phổbiến, giáo dục pháp luật có thể thấy rằng: Không thể có một hình thức hay một chủthể phổ biến, giáo dục pháp luật riêng biệt có thể đáp ứng được tất cả các yêu cầu,nội dung để đạt tới mục tiêu phổ biến, giáo dục pháp luật đặt ra cho mọi đối tượng

Do đó cần phải có sự phối hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêuphổ biến, giáo dục pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhaunhằm đạt được mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật mà nội dung phổ biến,giáo dục pháp luật đề ra

Nội dung chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm tínhthống nhất, phổ thông, cơ bản, thiết thực, có hệ thống; phù hợp với nhận thức củangười lao động, mục tiêu, ngành nghề sản xuất Nội dung chú trọng đến những vấn

đề như: Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, chế độ tiềnlương, lao động, việc làm, an toàn vệ sinh lao động, bảo hộ lao động, luật côngđoàn, các vấn đề liên quan đến quan hệ lao động, bên cạnh đó cần quan tâm tuyêntruyền luật giao thông đường bộ, luật cư trú, luật khiếu nại, luật tố cáo,…

Những nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa thiết thực đối vớingười lao động cần tập trung đó là:

- Đối với Bộ luật Lao động tập trung vào chương IV Hợp đồng lao động vàcác văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 5/9/2003 củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động vềhợp đồng lao động; Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thihành một số điều của Nghị định 44/2003/NĐ-CP; Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH26/5/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư

Trang 39

21/2003/TT-BLĐTBXH Chương VII về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và cácvăn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờlàm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Nghị định 109/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 sửa đổi, bổsung một số điều của Nghị định 195 và một số thông tư có liên quan Chương VI vềTiền lương và các Nghị định hướng dẫn thi hành như: Nghị định 114/2002/NĐ-CPngày 31/12/2002 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Laođộng về tiền lương và các thông tư hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xãhội Chương V về thỏa ước lao động tập thể và các Nghị định hướng dẫn thi hành như:Nghị định 196/CP ngày 31/12/1994 về hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Laođộng về thỏa ước lao động tập thể; Nghị định 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định 196/CP Chương VIII kỷ luật lao động và tráchnhiệm vật chất và Nghị định 41/CP 06/7/1995 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộluật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; Nghị định 33/2003/NĐ-CPngày 02/4/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 41/CP và Thông

tư hướng dẫn 93/2002/TT-BLĐTBXH Chương IX an toàn lao động, vệ sinh lao động

và Nghị định 06/CP ngày 20/01/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của

Bộ luật Lao động về an toàn lao động và vệ sinh lao động; Nghị định số

110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 06/110/2002/NĐ-CP.Chương XIV về giải quyết tranh chấp và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghịđịnh 133/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thihành một số điều của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động và có haithông tư hướng dẫn đó là Thông tư 22/2007/TT-BLĐTBXH và thông tư 23/2007/TT-BLĐTBXH ngày 23/10/2007 Bên cạnh những nội dung chi tiết đó thì tập trung phổbiến, giáo dục về quy chế dân chủ trong doanh nghiệp theo Nghị định 87/2007/NĐ-CPngày 28/5/2007 và Thông tư liên tịch số 32/2007/TTLT-BLĐTBXH-TLĐLĐVN vàmột số hành vi bị xử phạt khi vi phạm pháp luật lao động tại Nghị định 47/2010/NĐ-

CP ngày 6/5/2010

- Về các nội dung của Luật bảo hiểm về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế,Bảo hiểm thất nghiệp và Nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 hướng dẫn một sốđiều của Luật bảo hiểm xã hội và các thông tư 03/2007/TT-BLĐTBXH,

Trang 40

thông tư 19/2008/TT-BLĐTBXH, thông tư số 41/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn

về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày12/12/2008 hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về Bảo hiểm thất nghiệp và Thông tư

- Luật khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luậtkhiếu nại, tố cáo và Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo Những nội dung tập trung như quyền khiếunại, tố cáo; hình thức đơn khiếu nại, tố cáo; quyền và nghĩa vụ người khiếu nại và quytrình khiếu nại, tố cáo, thẩm quyền giải quyết

- Và một số luật liên quan khác như: luật phòng chống ma túy, luật giao thông đường bộ, luật cư trú,

1.5.2 Nhận thức quyền con người trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động ở các loại hình doanh nghiệp

Tư tưởng về quyền con người và việc bảo vệ quyền này đã xuất hiện từ rấtsớm trong lịch sử nhân loại Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước xã hội chủnghĩa đã đi đầu trong việc nêu bật các quyền dân tộc cơ bản như bộ phận thiết yếucủa các quyền tập thể, đưa ra cách đề cập toàn diện và biện chứng hơn về nhânquyền Còn ở Châu Âu, kể từ thời Phục Hưng trở đi, tư tưởng về quyền tự nhiênngày càng trở nên phổ biến Có thể kể đến một số đại biểu xuất sắc là Lôccơ (Anh),Rútxô (Pháp), Xpinôda (Hà Lan), I.Can tơ, Pruphenđóocphơ (Đức), Jepphécxơn(Mỹ) Mặc dù, khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ Châu

Âu nhưng ngày nay cần khẳng định rằng những khái niệm cơ bản của quyền conngười về tự do và công bằng xã hội có tính chất phổ biến trên toàn thế giới Các nộidung đầu tiên của quyền con người quốc tế thực sự có thể được tìm thấy trong cácHiệp định về Quyền tự do tôn giáo, Công ước Westphalia năm 1648 và việc cấm

Ngày đăng: 04/11/2020, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w