1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000

115 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 95,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tài sản giữa cácthành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, góp phần hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam tr

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ THU HÀ

QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ THỊ THU HÀ

QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

Chuyên ngành : Luật dân sự

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC 7

THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm và đặc điểm chung của quan hệ tài sản giữa các thành viên 7

thành viên trong gia đình

1.2.1 Quá trình điều chỉnh pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên 15

trong gia đình trong pháp luật các nước

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ QUAN 32

HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân 32

Trang 4

và gia đình năm 2000

2.1.1.1 Quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng 32 2.1.1.2 Quan hệ sở hữu giữa cha mẹ và con 55 2.1.1.3 Quan hệ sở hữu giữa anh chị em, ông bà và các cháu, giữa các thành 62

viên khác trong gia đình

2.1.2.1 Quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng 63 2.1.2.2 Quan hệ cấp dưỡng giữa bố mẹ và con 65 2.1.2.3 Quan hệ cấp dưỡng giữa anh chị em, ông bà và các cháu, giữa các 67

thành viên khác trong gia đình

2.1.3.1 Quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng 69 2.1.3.2 Quan hệ thừa kế giữa bố mẹ và con 74 2.1.3.3 Quan hệ thừa kế giữa ông bà và các cháu, giữa anh chị em, giữa các 75

thành viên khác trong gia đình

2.2 Thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của toà 76

án đối với các vụ việc liên quan đến tài sản giữa các thành viên trong

gia đình

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH VỀ QUAN HỆ 82

TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

3.1 Một số định hướng của việc hoàn thiện chế định về quan hệ tài sản 82

giữa các thành viên trong gia đình

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chế định về quan hệ tài sản giữa các 84

thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

3.2.1 Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ sở hữu giữa các thành 84

viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

3.2.1.1 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại 84

Trang 5

3.2.1.2 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước 86

hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

3.2.1.3 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 87 3.2.1.4 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi có lý do chính đáng 88

khác

3.2.1.5 Trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 89

không có văn bản thỏa thuận

3.2.1.6 Trường hợp chia tài sản chung khi vợ chồng đã ly hôn 90 3.2.1.7 Trường hợp phân chia tài sản chung khi vợ chồng không thỏa thuận 91

được việc chia tài sản

3.2.1.8 Trường hợp toàn bộ tài sản chung của vợ chồng đã được phân chia, 91

phát sinh các khoản mục chi tiêu chung khác

3.2.1.9 Trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị tòa án tuyên bố là đã chết nay 93

quay trở về

3.2.2 Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ cấp dưỡng giữa các 94

thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

3.2.3 Sửa đổi, bổ sung một số chế định về quan hệ thừa kế giữa các thành 97

viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

3.2.3.2 Thừa kế giữa ông bà và cháu trường hợp cháu chết trước ông, bà 98

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Đời sống con người bao gồm hai khía cạnh đời sống vật chất và đờisống tinh thần Đời sống vật chất và tinh thần luôn có mối quan hệ chặt chẽ vàphản ánh lẫn nhau Cùng với lịch sử phát triển các chế độ xã hội, vị trí của vậtchất và sự phân chia, sở hữu vật chất giữa các thành viên trong cộng đồng xãhội cũng có những biến đổi ảnh hưởng không nhỏ tới tinh thần của các thànhviên trong xã hội Xã hội ngày càng phát triển, những tranh chấp phát sinh từquan hệ tài sản càng trở nên phức tạp Để giải quyết những tranh chấp này tấtyếu đòi hỏi cộng đồng xã hội thiết lập những quy tắc, quy định trong cộngđồng Nhà nước nào cũng thông qua pháp luật để điều chỉnh các quan hệ tàisản Tuy nhiên, tùy thuộc vào các chế độ xã hội và mức độ phát triển kinh tế -

xã hội trong từng thời kỳ của một chế độ xã hội nhất định, hệ thống pháp luậtliên quan đến vấn đề này có những nét đặc thù riêng

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một quan hệ dân

sự, nó mang những nét chung của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong xãhội nói chung Mặt khác, nó mang những đặc thù riêng, bởi giữa các chủ thểtrong quan hệ này có mối quan hệ hôn nhân - gia đình Quan hệ tài sản tronggia đình là một vấn đề rất nhạy cảm, rất dễ làm cho các thành viên trong giađình mâu thuẫn, tranh chấp Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong giađình nếu được giải quyết tốt sẽ là cơ sở cho sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡlẫn nhau, nếu không được giải quyết tốt sẽ dẫn đến những tổn thương của cácthành viên trong gia đình và ảnh hưởng to lớn đến hạnh phúc gia đình Dovậy, việc điều chỉnh quan hệ về tài sản giữa các thành viên trong gia đình làrất quan trọng và cần thiết, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội,đặc biệt là trong mỗi gia đình - tế bào của xã hội - và hạn chế được nhiều mâuthuẫn tiềm tàng

Trang 7

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, Đảng và Nhà nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quyđịnh liên quan đến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình như:Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Dân sự, LuậtHôn nhân và Gia đình Với việc ban hành Bộ luật Dân sự năm 2005 và cácđạo luật khác về dân sự, các quan hệ tài sản trong lĩnh vực hôn nhân gia đìnhđược xác định là một bộ phận thuộc đối tượng điều chỉnh của luật dân sự.Những quy định của pháp luật hiện hành đã phần nào đáp ứng được yêu cầu,đòi hỏi của xã hội trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn còn tản mạn, chưađồng bộ Quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về việc chia tài sản chungcủa vợ chồng đã tạo ra sự biệt lập về tài sản vợ và chồng nhưng lại chưa cóquy định về cơ sở tài sản chung cho gia đình khi thực hiện mục tiêu chung.Bên cạnh đó, đặc thù chế độ sở hữu tài sản trong gia đình thuộc các nhóm dân

cư khác nhau ở thành phố và nông thôn chưa được ghi nhận Một số nội dungđang nổi cộm hiện nay nhưng chưa được quy định cụ thể như: quan hệ tài sảngiữa các thành viên trong gia đình có yếu tố nước ngoài; đối tượng sở hữu tàisản là sở hữu trí tuệ, là cổ phiếu, cổ phần trong doanh nghiệp, lợi nhuận kinhdoanh, quyền sử dụng đất Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam đang trongnền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhậpnền kinh tế quốc tế thì các quy định của pháp luật nói chung và các quy địnhcủa pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình còn nhiềunội dung chồng chéo, thiếu cụ thể, không rõ ràng gây khó khăn trong quátrình thực hiện

Xuất phát từ lý luận và yêu cầu thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứuquan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và Giađình năm 2000 là một việc làm vô cùng cấp thiết và mới mẻ Trên cơ sở phântích những quy định hiện hành trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000,luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quan hệ

Trang 8

tài sản giữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một hệ thốngluật pháp hoàn chỉnh phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Đề tài luận văn được biểu đạt với tiêu đề "Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo luật Hôn nhân và gia đình năm 2000".

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một vấn đề đượcnhiều tác giả nghiên cứu Mỗi tác giả đề cập vấn đề dưới các khía cạnh khácnhau như: tài sản chung, tài sản riêng của các thành viên, quyền và nghĩa vụ tàisản giữa các thành viên, chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình,quan hệ thừa kế Tác giả Nguyễn Văn Cừ nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ

và chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (luận án tiến sĩ của NguyễnVăn Cừ, Hà Nội, 2005); tác giả Ngô Thị Hường đã tập trung vào nội dung chếđịnh cấp dưỡng của các thành viên trong gia đình (luận án tiến sĩ của Ngô ThịHường, Hà Nội, 2006); tác giả Tạ Thị Phúc nghiên cứu chế độ tài sản của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân…; các nội dung về quan hệ tài sản giữa vợ vàchồng trong thời kỳ hôn nhâ (luận văn thạc sĩ của Tạ Thị Phúc, Hà Nội, 2007)

Ngoài ra, có nhiều giáo trình, tài liệu tham khảo và các bài đăng trêncác tạp chí chuyên ngành luật viết về vấn đề này Như Nguyễn Ngọc Điện -

tác giả của giáo trình Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và Gia đình Việt

Nam (tập 2 - Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nxb Trẻ, Hà Nội, 2005); Hà

Thị Mai Hiên tác giả của Tập bài giảng tài sản và quyền sở hữu (Đại học Huế, 1999); Tác giả Nguyễn Phương Lan viết bài "Vấn đề cấp dưỡng trong

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" đăng trên tạp chí Luật học, số 11 năm

2001

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tổngquát quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, được thể hiện trên bakhía cạnh: quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế Cũng nhưthể hiện cả ba nhóm sở hữu, cấp dưỡng, thừa kế đó trên mối qua hệ giữa vợ

Trang 9

và chồng, giữa bố mẹ và con, giữa ông bà và cháu, anh chị em và các thànhviên trong gia đình Các nghiên cứu cũng mới dừng lại ở việc phân tích cácquy định pháp luật hiện hành tại luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình quacác thời kỳ Chính vì vậy các giải pháp góp phần hoàn thiện các chế địnhquan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật hôn nhân và giađình chưa được đề cập theo một hệ thống toàn diện.

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được đề cập trongnhiều văn bản pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định trongLuật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Quan hệ tài sản (quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừakế) giữa các thành viên trong gia đình được thể hiện ở: mối quan hệ giữa vợ

và chồng, mối quan hệ giữa bố mẹ và con, mối quan hệ giữa ông bà và cháu,anh chị em, những người thân trong gia đình

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

4.1 Mục đích

Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tài sản giữa cácthành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình, góp phần hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, vì một mục tiêu

xã hội vững mạnh của mọi người dân

4.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

- Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về quan

hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 và những văn bản pháp luật liên quan

Trang 10

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án.

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định về các quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Pháp luật là một bộ phận củakiến trúc thượng tầng, được hình thành từ cơ sở hạ tầng phù hợp Các quyđịnh của pháp luật phải phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế xãhội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật Vìvậy, tính lịch sử cụ thể của phương pháp luận duy vật biện chứng đòi hỏi phảiđặt ra và giải quyết các vấn đề này trong bối cảnh đất nước Việt Nam đangtrong thời kỳ hội nhập và phát triển, phù hợp với truyền thống văn hoá củadân tộc Việt Nam

Phương pháp tiếp cận hệ thống cấu trúc cũng cần được đặt ra trongnghiên cứu quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình Quan hệ tài sảngiữa các cá nhân trước hết là quan hệ dân sự Nếu giữa họ có quan hệ gia đìnhthì các quan hệ tài sản sản này sẽ có những đặc điểm riêng trên nền chung củaquan hệ tài sản dân sự Mặt khác, mối quan hệ giữa các thành viên trong giađình chịu sự tác động của yếu tố hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng Vàgiữa các quan hệ này chịu sự tác động ảnh hưởng hệ thống với nhau

5.2 Phương pháp nghiên cứu

* Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thốnghóa, khái quát hóa, lịch sử Các phương pháp được sử dụng để tổng hợp vàphân tích hệ thống các quan điểm, các nghiên cứu về quan hệ tài sản giữa cácthành viên trong gia đình trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên

Trang 11

thế giới và Việt Nam cũng như quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình qua các thời kỳ phát triển xã hội.

* Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra, quan sát, thống kê được sử dụng trong quá trình

mô tả thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành trong hoạt động xét xử quan hệtài sản giữa các thành viên trong gia đình của ngành Tòa án

6 Những đóng góp mới của luận văn

6.1 Về lý luận

- Hệ thống hóa lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong giađình

- Phân tích, hệ thống hóa các quy định của pháp luật hiện hành về quan

hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình tại một số nước trên thế giới

6.2 Về thực tiễn

- Nhận diện thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành tại ViệtNam về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình, thực tiễn áp dụng tronghoạt động xét xử của ngành Tòa án

- Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định về quan hệ tàisản giữa các thành viên trong gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong

gia đình

Chương 2: Thực trạng pháp luật hiện hành về quan hệ tài sản giữa các

thành viên trong gia đình và thực tiễn áp dụng

Trang 12

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về

quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trong luật Hôn nhân và Giađình năm 2000

Trang 13

Từ xa xưa, con người đã có ý thức thu lượm thức ăn để sống Họ cũng

ý thức rằng muốn có nhiều thức ăn hơn phải có những công cụ thích hợp Củacải lúc này không chỉ là những sản phẩm tự nhiên mà nhờ có công cụ lao động nó

đã trở thành những thứ có giá trị hơn, trở thành tài sản Tài sản là một khái niệmrộng, được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và đã được thay đổi theo từng giaiđoạn lịch sử phát triển chế độ chính trị - kinh tế - xã hội của mỗi đất nước TheoĐiều 163 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì "tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản" [28]

Quan hệ tài sản

Dưới bất kỳ một xã hội nào, con người muốn tồn tại thì họ phải thamgia vào các quan hệ xã hội, nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thầntrong cuộc sống Dưới góc độ pháp lý, các quan hệ mà con người tham gianhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần cho mình được gọi là quan hệ nhân thân, cácquan hệ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất gọi là quan hệ tài sản

Tài sản là một khái niệm thay đổi với thời gian vì vậy quan hệ tài sảngiữa các thành viên trong xã hội cũng không phải bất biến mà luôn thay đổivới sự phát triển của kinh tế - xã hội Quan hệ tài sản trước hết là quan hệ xãhội giữa người với người về tài sản Nhưng khi xã hội phát triển, của cải vậtchất bắt đầu dư thừa, xuất hiện tư tưởng chiếm giữ làm của riêng - đó cũng là

Trang 14

giai đoạn sơ khai của chế độ tư hữu tài sản thì cũng nẩy sinh nhu cầu đượcghi nhận những tài sản của mình bằng một chế định pháp luật Khi được phápluật điều chỉnh thì quan hệ tài sản trở thành quan hệ pháp luật.

Các thành viên trong gia đình

Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 định nghĩa: "Gia đình làtập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc

do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ vớinhau" [25] Như vậy, có thể hiểu thành viên trong gia đình là những người cóquan hệ do hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng

Gia đình có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của một xã hội vàtừng thành viên trong gia đình Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình có tốtthì xã hội mới tốt Gia đình là môi trường gìn giữ và phát huy văn hóa truyềnthống, là nơi giáo dục nề nếp, giúp hình thành nhân cách con người Gia đình

là môi trường đầu tiên mà mỗi con người hoàn thiện thể chất và tinh thần,chuẩn bị hành trang hòa nhập với cộng đồng, với đời sống xã hội Hôn nhân

và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển của xã hộiloài người Hiện tượng này cũng chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế,

xã hội như các hiện tượng khác Khi xuất hiện Nhà nước, sự liên kết của các

cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh,thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luật Quan hệhôn nhân và gia đình không chỉ mang ý chí cá nhân mà còn thể hiện cả ý chícủa Nhà nước Quan hệ hôn nhân và gia đình khi được pháp luật điều chỉnhtrở thành các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Đó là những quan hệ vềnhân thân và quan hệ về tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ vàcon Thông thường quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ giới hạn giữacác thành viên trong gia đình, trừ một số trường hợp chủ thể của quan hệ phápluật hôn nhân và gia đình không phải là thành viên của gia đình Các chủ thểtrong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình thường gắn kết với nhau bởiquan hệ tình cảm hoặc huyết thống hoặc cả hai yếu tố

Trang 15

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng là mối quan

hệ giữa người với người liên quan tới tài sản nhưng không phải là sở hữu củatừng thành viên trong gia đình mà là mối quan hệ ràng buộc, gắn kết bởi quan

hệ hôn nhân và gia đình Trong đời sống hàng ngày, các thành viên trong giađình tham gia các quan hệ xã hội, sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứngnhu cầu cuộc sống hàng ngày của bản thân cũng như tạo lập nền tảng kinh tế,vật chất, tinh thần để xây dựng cuộc sống gia đình Như vậy, mỗi thành viêntrong gia đình khi tham gia các quan hệ xã hội đều có thể là những chủ thểđộc lập của quyền sở hữu cá nhân, nhưng trong quan hệ gia đình mỗi thànhviên đều có trách nhiệm đóng góp công sức của mình để tạo lập cuộc sốngchung của cả gia đình Mối quan hệ ràng buộc này xuất phát từ quan hệ huyếtthống, nhu cầu tình cảm, quan hệ nuôi dưỡng và nó chỉ tồn tại khi có quan hệhôn nhân và gia đình

Trong gia đình, ngoài yếu tố tình cảm, huyết thống, nuôi dưỡng thìcũng cần phải có tài sản để đảm bảo cho cuộc sống của cả gia đình Vì vậy,mỗi thành viên trong gia đình cần nỗ lực đóng góp công sức để phục vụnhững nhu cầu chung trong gia đình và khi họ tách ra thì có nghĩa họ đã tạolập một gia đình mới với những thành viên mới nhưng đồng thời vẫn có nghĩa

vụ với những thành viên trong gia đình vốn có bởi sự ràng buộc nói trên, thêmvào đó là sự ràng buộc với những thành viên trong gia đình mới Trong cuộcsống, mỗi thành viên trong gia đình đều có những quan hệ xã hội khác, ngoàiquan hệ hôn nhân và gia đình Họ tham gia vào các quan hệ như giao dịch,trao đổi, mua bán với nhiều người như mua đồ dùng cho gia đình, bản thân họ

có được thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh với người khác, được chotặng riêng một tài sản nào đó Tất cả những quan hệ này diễn ra hàng ngàytrong cuộc sống gia đình do đó đòi hỏi cần có quy định nào đó về cách xử sựchung cho phù hợp để các quan hệ này không gây ảnh hưởng đến lợi ích củacác thành viên trong gia đình cũng như của người thứ ba Cụ thể,

Trang 16

Nhà nước cần ban hành các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của cácthành viên trong gia đình, đó là quy tắc xử sự chung và được tổng hợp thànhchế định về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình.

Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là chếđịnh thể hiện mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình về sở hữu tài sản

và phương thức thực hiện quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong giađình Ở đây, quan hệ tài sản không chỉ thể hiện tài sản thuộc về ai, do aichiếm hữu, sử dụng mà còn bao gồm cả việc dịch chuyển tài sản từ chủ thểnày sang chủ thể khác Mỗi quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

có những phương thức thực hiện quyền sở hữu riêng Phương thức này có thể

là ước định (do các bên tự thỏa thuận) hay pháp định (do pháp luật quy định).Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, các thành viên trong gia đình có thể thỏathuận mức đóng góp về tiền, tài sản, công sức… để đảm bảo cuộc sống chungcủa cả gia đình, họ có thể phân công lao động cho phù hợp với từng vị trí, vaitrò của mỗi thành viên trong gia đình nhằm mục đích duy trì gia đình nóichung và sự tồn tại, phát triển của mỗi thành viên trong gia đình nói riêng Cóthể nói, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được xây dựng dựatrên sự thỏa thuận của các bên không trái với pháp luật và đạo đức xã hội.Theo đó họ có thể lựa chọn một chế độ tài sản phù hợp để duy trì cuộc sốngcủa cả gia đình đó là chế độ cộng đồng (sở hữu chung của tất cả thành viên)

và phân sản (sở hữu riêng của từng người) Tuy nhiên, ở chế độ cộng đồng thìcần có sự thỏa thuận rõ về những tài sản chung, quyền và nghĩa vụ của mỗithành viên đối với khối tài sản chung đó, cách thức phân chia tài sản chung Còn đối với chế độ phân sản thì cần dựa trên năng lực thực tế của mỗi thànhviên đóng góp nhằm đảm bảo cuộc sống chung của gia đình

Chế độ tài sản pháp định đó là việc quy định về căn cứ, nguồn gốc,thành phần các loại tài sản, quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên trong giađình đối với tài sản đó, các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sảnchung… Thực ra, chế độ tài sản cộng đồng và chế độ tài sản pháp định được

Trang 17

thể hiện rõ nét hơn cả ở quan hệ vợ chồng và được pháp luật ghi nhận mộtcách đầy đủ hơn cả Tuy nhiên, trong quan hệ hôn nhân và gia đình, ngoàiquan hệ vợ chồng còn có các mối quan hệ khác như quan hệ giữa cha mẹ vàcon, quan hệ giữa ông bà nội ngoại và cháu, giữa anh chị em và các thànhviên khác trong gia đình Có thể thấy đây là mối quan hệ rất rộng, bao trùmđến ba thế hệ, nó không chỉ nằm ở một gia đình nhỏ mà là đại gia đình Do

đó, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng vô cùng phức tạp.Quan hệ này không chỉ xuất phát từ vấn đề huyết thống (liên quan đến cấpdưỡng, thừa kế) mà còn xuất phát từ tình thương, trách nhiệm giữa người nọvới người kia (nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục…)

1.1.2 Phân loại và đặc điểm của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

1.1.2.1 Phân loại quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình bao gồm ba khía

cạnh:

- Quan hệ sở hữu: Quan hệ sở hữu chỉ là một nội dung của quan hệ tàisản nhưng là nội dung quan trọng, quyết định những nội dung sau của quan hệ tàisản Quan hệ sở hữu giữa các thành viên trong gia đình bao gồm hai nhóm: quan

hệ sở hữu đối với tài sản chung và quan hệ sở hữu đối với tài sản riêng Tùy thuộcvào chế độ xã hội khác nhau mà hai hình thức sở hữu này có thể cùng được thừanhận

- Quan hệ thừa kế: Vợ chồng được thừa kế tài sản của nhau, con đượcthừa kế tài sản của cha mẹ và ngược lại, anh chị em được thừa kế tài sản của nhaukhi không còn hàng thừa kế 1, cháu được thừa kế tài sản của ông bà và ngược lạikhi không có 2 hàng thừa kế trên

- Quan hệ cấp dưỡng: Cấp dưỡng là một thuật ngữ pháp lý được sửdụng trong pháp luật hôn nhân và gia đình để thể hiện mối quan tâm ràng

Trang 18

buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người không sống chung với nhaunhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong việc bảo đảm cuộc sống chonhững người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng trong tình trạng mấthoặc bị giảm sút khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sảnhoặc tuy có nhưng không đủ để bảo đảm cuộc sống của mình Cấp dưỡng còn

là biện pháp chế tài đối với người có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụnuôi dưỡng

Khái niệm này không chỉ nêu rõ mối quan hệ giữa các chủ thể củaquan hệ cấp dưỡng, thể hiện bản chất của quan hệ cấp dưỡng mà còn đặt cơ sở

lý luận cho việc quy định nội dung của chế định cấp dưỡng và hoàn thiện luật

về cấp dưỡng

1.1.2.2 Đặc điểm của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Các thành viên trong gia đình cũng là thành viên của xã hội Vì vậy,quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình trước hết là quan hệ xã hội,quan hệ dân sự Khi quan hệ này được pháp luật điều chỉnh thì đó là quan hệpháp luật Như vậy, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũngmang những đặc điểm của quan hệ xã hội, quan hệ dân sự và quan hệ phápluật

Tuy nhiên, do tác động của các yếu tố hôn nhân, huyết thống và nuôidưỡng mà quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình có những điểmkhác biệt những quan hệ tài sản khác

- Thông thường là sự đóng góp của cải, vật chất của thành viên nhằmduy trì cuộc sống chung của gia đình Tuy nhiên, có những trường hợp tạo nênkhối tài sản chung của các thành viên như được thừa kế, tặng cho chung hoặc muachung… Trong trường hợp gia đình là một tổ sản xuất cùng tham gia sản xuấtmang về lợi nhuận thì lợi nhuận đó thuộc sở hữu chung của các thành viên tronggia đình Sở hữu chung của các thành viên trong gia đình là có thể phân chia được.Bên cạnh những tài sản thuộc sở hữu chung thì mỗi

Trang 19

thành viên đều có thể là chủ thể của sở hữu cá nhân Bởi vì, mỗi người cónhững quan hệ xã hội khác, nghề nghiệp, công việc khác nhau, thu nhập khácnhau.

- Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình thực chất là cácquy định pháp luật có liên quan đến việc xác lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tàisản của các thành viên trong gia đình Quan hệ tài sản này đảm bảo quyền bìnhđẳng của các thành viên trong gia đình, quyền độc lập của mỗi người, quyền tự do

cá nhân vì hạnh phúc chung của cả gia đình, vì sự ổn định, hòa thuận giữa cácthành viên trong gia đình Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan hệhôn nhân - gia đình được xác lập, đó là tính cộng đồng của quan hệ này, mặt khácmỗi thành viên trong gia đình vừa là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đìnhnhưng đồng thời cũng là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự khác khi thamgia các quan hệ này

- Về mặt chủ thể: các bên phải có quan hệ hôn nhân và gia đình, cónghĩa là ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu là chủ thể của quan hệ pháp luật dân

sự nói chung như đủ năng lực hành vi dân sự còn phải đáp ứng các điều kiện cụthể của quan hệ hôn nhân và gia đình (độ tuổi, không phạm phải điều cấm, ý chí tựnguyện của các bên ) Đây là đặc điểm riêng có ở quan hệ hôn nhân và gia đình

và mối quan hệ ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình là mối quan hệ chỉduy nhất tồn tại ở quan hệ này

- Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát triểncủa xã hội, cho nên các nhà làm luật khi quy định về quan hệ tài sản giữa các thànhviên trong gia đình đều bắt đầu từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảmlợi ích chung của gia đình, trong đó có lợi ích của từng thành viên trong gia đình

Sở hữu đối với tài sản chung là sở hữu theo phần Sở hữu chung theo phần làquyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể thuộc các đồng sở hữu chủ theo từng phần,nghĩa là một sở hữu chủ có một phần quyền nhất

Trang 20

đình đối với tài sản tương ứng với tỷ lệ phần quyền đối với toàn bộ tài sản.Việc mỗi người trực tiếp sử dụng phần tài sản thực tế không làm thay đổi bảnchất quan hệ sở hữu chung theo phần Việc mỗi cá nhân chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt tài sản chung như thế nào được giải quyết theo nguyên tắc thỏathuận giữa các bên và theo quy định của pháp luật Phần quyền đối với tài sảnthuộc sở hữu chung là khách thể quyền sở hữu, có thể là đối tượng của cácloại giao dịch như: mua bán, trao đổi, tặng cho, thừa kế và có thể là đốitượng, khách thể quyền yêu cầu của các chủ nợ Mỗi đồng sở hữu chủ có thể

tự mình định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung nhưng vìviệc định đoạt này luôn ảnh hưởng đến lợi ích của các đồng sở hữu khác nên

sự định đoạt đó phải do pháp luật quy định Việc tách phần quyền tài sản chomột trong các thành viên được tiến hành khi điều đó không làm ảnh hưởngđến giá trị kinh tế của tài sản đó Nếu không khắc phục được thì người muốntách phần quyền tài sản chỉ có thể nhận đền bù tương xứng với phần quyềncủa người đó trong khối tài sản chung

- Căn cứ xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ tài sản giữa các thànhviên trong gia đình phụ thuộc vào sự kiện phát sinh và chấm dứt của quan hệ hônnhân gia đình Tức là chỉ khi nào có quan hệ hôn nhân gia đình thì mới làm phátsinh quan hệ hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

- Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình mang những đặcthù riêng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể Đối với tài sản chungcủa các thành viên trong gia đình thì bắt buộc mỗi thành viên khi tham gia các giaodịch dân sự, kinh tế phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình Khi các thànhviên trong gia đình sử dụng tài sản chung để phục vụ mục đích thiết yếu của giađình thì pháp luật coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của các thành viên trong giađình, trừ những tài sản chung có giá trị lớn Ví dụ: đối với tài sản chung là bấtđộng sản mà các thành viên trong gia đình là đồng sở hữu thì việc sử dụng và địnhđoạt khối tài sản này phải có sự thỏa thuận

Trang 21

của các đồng sở hữu Trường hợp một thành viên trong gia đình - là một đồng

sở hữu - muốn tách riêng phần tài sản của mình trong khối bất động sản trêntrước hết cần có sự đồng ý của các đồng sở hữu khác và phải đáp ứng đượcnhững yêu cầu của pháp luật về việc chia tách thì mới có thể thực hiện được

1.2 ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VÀ PHÂN LOẠI CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH

1.2.1 Quá trình điều chỉnh pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Việc điều chỉnh pháp luật về quan hệ tài sản giữa các thành viên tronggia đình xuất phát từ sự thay đổi về quan điểm, về bản chất các mối quan hệgiữa các thành viên trong gia đình qua các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hộikhác nhau

Có thể nói, từ xa xưa, gia đình truyền thống của Việt Nam là mẫu giađình gồm nhiều thế hệ chung sống dưới một mái nhà, gia đình này không chỉ

có những người cùng huyết thống như vợ - chồng, cha mẹ và con cái mà cònbao gồm nhiều thành phần khác cùng sống chung như dâu, rể, con chung, conriêng, con nuôi, ông bà nội ngoại… Với kiểu gia đình nhiều thế hệ như vậy rất

dễ xảy ra xung đột, mâu thuẫn do sự chênh lệch về tuổi tác, cách sống, cáchsuy nghĩ… dẫn đến nhiều việc đáng tiếc xảy ra như đùn đẩy trách nhiệmchăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ già, không ai chăm lo cho cuộc sống chungcủa cả gia đình, ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên bị sao nhãng… Trướcthực tế này cần xác định trách nhiệm pháp lý cho các thành viên cùng chungsống trong gia đình để điều chỉnh một cách toàn diện và đầy đủ hơn mối quan

hệ giữa các thành viên trong gia đình Bởi, trong gia đình, ngoài mối quan hệtình cảm thì giữa các thành viên trong gia đình còn có những mối quan hệkhác rất quan trọng, liên quan đến các quyền và nghĩa vụ pháp lý về mặt nhânthân và tài sản Các thành viên trong gia đình cần quan tâm, chăm sóc, giúp

đỡ lẫn nhau, sự chia sẻ trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình sẽ làm

Trang 22

cho quan hệ gia đình ngày càng gắn bó, tạo nên một gia đình hòa thuận, tiếnbộ.

Bên cạnh tình cảm, sự quan tâm dành cho nhau, mỗi thành viên trong giađình cũng cần có trách nhiệm đóng góp công sức, tiền và tài sản khác để duy trìcuộc sống chung của cả gia đình trên cơ sở phù hợp với thu nhập, khả năng thực

tế của mỗi người Ở đây, sự bình đẳng của các thành viên được đề cập rõ thôngqua trách nhiệm đối với việc duy trì cuộc sống chung của gia đình Mỗi thànhviên trong gia đình cần ý thức được trách nhiệm vật chất của mình đối với cuộcsống chung của gia đình thì mới có thể duy trì được gia đình đó, đảm bảo hạnhphúc gia đình Đi đôi với trách nhiệm là quyền của mỗi thành viên trong giađình, họ cũng có quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ của thành viên khác.Quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ Đây là quyền lợi chính đáng của họ và được ghi nhậntrong Bộ luật Dân sự Quy định như vậy thể hiện quan điểm của Đảng và Nhànước ta trong việc giữ vững và phát huy truyền thống gia đình tốt đẹp của ngườidân Việt Nam, khuyến khích các thành viên trong gia đình quan tâm, chăm sóc,giúp đỡ lẫn nhau, chung sức xây dựng và duy trì một gia đình hòa thuận, hạnhphúc, là nơi nuôi dưỡng nhân tài, nơi che chở cho người già, trẻ nhỏ và to lớnhơn nữa là tế bào của xã hội

Như trên đã phân tích, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong giađình là một dạng của quan hệ dân sự về tài sản Vì vậy nó thuộc đối tượngđiều chỉnh của luật dân sự Tuy nhiên, thực tế quan hệ tài sản giữa các thànhviên trong gia đình cơ những điểm khác biệt cơ bản so với quan hệ tài sảnthông thường mà luật dân sự điều chỉnh là căn cứ phát sinh quan hệ này làquan hệ nhân thân mà nó được đánh dấu bằng sự kiện kết hôn Còn quan hệtài sản của luật dân sự xuất hiện hoàn toàn dựa trên yếu tố ý chí của các bên.Đây chính là căn cứ để các nhà làm luật tách và đưa luật hôn nhân gia đình trởthành một luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước ta Tuy nhiên, còn

Trang 23

rất nhiều nội dung về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình đượcxác định trong luật dân sự Ngay trong các văn bản luật hôn nhân và gia đình,các nội dung về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng luônđược điều chỉnh qua các thời kỳ phát triển của đất nước Thời kỳ trước Cáchmạng Tháng Tám, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng đãđược quy định trong bộ Quốc triều Hình luật thời Lê, bộ Hoàng Việt luật lệnhà Nguyễn, Dân luật Bắc kỳ, Hoàng việt Trung Kỳ hộ luật… Từ năm 1945đến nay, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã từngbước xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hôn nhân vàgia đình nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã ban hành 3 đạo luật hôn nhân vàgia đình tương ứng với từng giai đoạn lịch sử là năm 1959, 1986 và 2000.Phát huy tinh thần kế thừa và phát triển, nội dung quan hệ tài sản giữa cácthành viên trong gia đình đã có những thay đổi lớn trong từng văn bản luật.Các văn bản sau đã kế thừa hầu hết những quy định tiến bộ của văn bản trước

và có những sửa đổi, bổ sung nhất định và cần thiết đáp ứng nhu cầu pháttriển của xã hội về lĩnh vực này Cụ thể ở một số nét cơ bản sau:

- Do những nguyên nhân khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể nênLuật Hôn nhân và gia đình trước đây (năm 1959) mới chỉ chú trọng đến vấn đề kếthôn, ly hôn, quan hệ giữa cha, mẹ và con cái; còn nhiều vấn đề trong lĩnh vực hônnhân và gia đình chưa được Luật điều chỉnh Kế thừa và phát huy nguyên tắc dânchủ, tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986 đã ra đời trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới đã đề cập đến nhiềuvấn đề khác như quan hệ giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em trong gia đình

- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa và quá trình chủ động hội nhập kinh tế, quốc tế và khu vực, trong lĩnhvực hôn nhân và gia đình nhiều nhân tố mới đã xuất hiện ở Việt Nam Quan hệgiữa ông bà, cha mẹ và con cái không còn mang tính áp đặt như trước Nam nữbình đẳng hơn trong quan hệ gia đình, đặc biệt phụ nữ ngày

Trang 24

càng có nhiều cơ hội tham gia các công tác xã hội Trẻ em được quan tâm hơn

và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã đạt được thìcũng còn nhiều vấn đề nổi cộm thể hiện mặt trái của cơ chế thị trường Conngười sống ích kỷ hơn, cá nhân hơn, xu hướng phủ nhận giá trị lịch sử, chaytheo lợi ích kinh tế, thương mại mà ít coi trọng những truyền thống gia đìnhthể hiện quan quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình ngày càng rời rạc, thiếugắn kết đặc biệt thiếu sự quan tâm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, anhchị em với nhau

- Thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 1986 cho thấy một

số quy định của Luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thành viên tronggia đình còn mang tính nguyên tắc chung, thiếu cụ thể nên đã gây nên nhiều khókhăn khi vận dụng, thiếu thống nhất khi thi hành Trên cơ sở kế thừa và phát huynhững điểm tiến bộ của các luật hôn nhân và gia đình trước, Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 đã có những quy định mới về quan hệ giữa các thành viên trong giađình nhằm củng cố quan hệ gia đình vững chắc Mối quan hệ giữa các thành viêntrong gia đình được quy định rõ hơn với mục đích khẳng định lại các quan hệ vốnthuộc phạm trù đạo đức, văn hóa truyền thống trong pháp luật nhằm thể hiện ý chícủa Nhà nước và xã hội trong việc đề cao, tôn trọng và bảo vệ các truyền thống tốtđẹp vốn có của gia đình Việt

Nam

- Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình phát sinh trên cơ sở quan

hệ hôn nhân và gia đình, thể hiện năng lực pháp luật và năng lực hành vi của cácchủ thể tham gia quan hệ này Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bao gồmquan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Quan hệ nhân thân là yếu tố tinh thần, tìnhcảm không mang nội dung kinh tế Còn quan hệ tài sản luôn gắn liền với nhân thâncủa mỗi chủ thể nhất định Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình đó làcác vấn đề liên quan tới tài sản giữa vợ và

Trang 25

chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau.

- Chế độ sở hữu của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình vềnguyên tắc là chế độ sở hữu chung hợp nhất pháp định Tuy nhiên, sự thỏa thuậncủa vợ chồng trong những trường hợp nhất định cũng có thể được thừa nhận khixác định một tài sản cụ thể thuộc sở hữu chung hay riêng của một người nào đó,hoặc trong trường hợp chia tài sản để xác định nghĩa vụ của một trong hai ngườiđối với người thứ ba Chỉ áp dụng chế độ sở hữu chung hợp nhất đối với tài sảncủa vợ chồng

- Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có sự thừa nhận tính độc lập vàphân định tài sản giữa cha mẹ và các con Do đó, giữa cha mẹ và các con nếu cóquan hệ sở hữu chung thì đó là sở hữu chung theo phần Các con còn ở chung vớicha mẹ có quyền có tài sản riêng Vì vậy, khi cha mẹ mở tài khoản cho các conhoặc gửi tiền ngân hàng mang tên con mặc dù đó là thu nhập của hai người trongthời kỳ hôn nhân thì nó vẫn được coi là tài sản thuộc sở hữu riêng của người con

đó mà không tính vào tài sản của cha mẹ Khi ly hôn, tài sản đó không bị tính vàotài sản chung của vợ chồng để chia

- Chế độ sở hữu trong hộ gia đình, nhất là hộ nông dân có những đặcđiểm riêng của nó Bộ luật Dân sự đã quy định về tài sản chung của hộ và tráchnhiệm dân sự của hộ gia đình khẳng định chế độ sở hữu chung hợp nhất của hộ giađình (Điều 108, 109) Tài sản chung của hộ gia đình bao gồm:

Tài sản do các thành viên tạo lập nên

Tài sản được tặng cho chung

Quyền sử dụng đất hợp pháp

Các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ

Trang 26

Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền,nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình.Quyền và nghĩa vụ đó thực hiện bằng tài sản chung của hộ Tuy nhiên, Điều

110 còn quy định nếu tài sản chung của hộ không đủ để thực hiện nghĩa vụchung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sảnriêng của mình Điều đó nói lên trách nhiệm vô hạn của hộ gia đình với tưcách là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự - kinh tế Mặt khác, xác nhậntrong hộ gia đình ngoài tài sản chung của hộ còn có loại tài sản thuộc sở hữuriêng từng cá nhân và tài sản thuộc sở hữu chung của các cặp vợ chồng

- Các cá nhân là thành viên của hộ gia đình chỉ có quyền sở hữu đốivới tài sản được tặng cho riêng và thường là tiền tiết kiệm gửi ngân hàng Các loạiđộng sản, bất động sản chủ yếu thuộc về tài sản chung của cả hộ Nếu tài sản riêngcủa người nào đó nhưng trong quá trình chung sống đã có thời gian duy trì, bảoquản chung của cả hộ với thời gian tương đối dài thì cũng được xem là tài sảnchung Việc tách một phần tài sản cho thành viên hộ gia đình dựa vào mức độtham gia đóng góp vào phát triển, duy trì và củng cố tài sản chung của hộ Nếu sựđóng góp là không đáng kể thì không áp dụng nguyên tắc ngang bằng giữa các chủthể; hoặc nếu người đó trong khoảng thời gian dài (3 năm trở lên) mà không đónggóp công sức vào việc duy trì, phát triển tài sản chung của hộ mà không có lý dochính đáng thì người đó không có quyền đối với tài sản chung của hộ

- Do đặc điểm của chế độ tài sản của hộ gia đình và thực tiễn đời sốngkinh tế xã hội Việt Nam, nhiều trường hợp thành viên của hộ gia đình cùng sinhsống, nhưng không làm việc cùng với hộ thì vẫn được coi là thành viên của hộ vàchủ thể quan hệ sở hữu chung của hộ Việc xác lập chế độ pháp lý về sở hữu chunghợp nhất của hộ nông dân có ý nghĩa rất quan trọng trong thực tiễn, nhất là làm cơ

sở cho việc giải quyết tranh chấp về đất đai, nhà cửa, các bất động sản khác nhằmbảo vệ quyền lợi chính đáng của các thành viên

Trang 27

trong hộ và đảm bảo sự ổn định đời sống sản xuất, sinh hoạt ở nông thôn nước

ta hiện nay

- Mặt khác, với những hộ gia đình kinh doanh, sản xuất khác, chế độpháp lý về tài sản chung phải áp dụng quy chế sở hữu chung theo phần, nếu có thểxác định được tỷ lệ phần quyền về sự đóng góp và sức lao động của mỗi chủ thểkhi tham gia vào quan hệ sở hữu chung của hộ

1.2.2 Phân loại chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình

Với mỗi tiêu chí phân loại, chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được phân theo các hệ thống khác nhau

1.2.2.1 Dựa trên chủ thể của từng loại quan hệ tài sản

Chế độ pháp lý của quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được phân loại như sau:

- Chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng:

Chế độ pháp lý này xuất phát từ quan hệ hôn nhân hợp pháp giữangười nam và nữ Tức là hai bên phải đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật

về mặt chủ thể như đủ năng lực hành vi dân sự, đủ độ tuổi kết hôn, tự nguyện,không phạm điều cấm Chế độ tài sản giữa vợ và chồng được quy định rất rõràng, đầy đủ nhằm đào bảo quyền lợi của gia đình và lợi ích của mỗi bên vợchồng Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chunghợp nhất Những tài sản do vợ chồng tạo ra, những thu nhập hợp pháp của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân đều được coi là tài sản chung của vợ chồng (trừtrường hợp tài sản đó có nguồn gốc là tài sản riêng của vợ hoặc chồng hay vợchồng có thỏa thuận khác) Như vậy, tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trongthời kỳ hôn nhân chứa đựng cả công sức của vợ lẫn chồng Ở hình thức sởhữu chung hợp nhất không có việc xác định tỷ lệ phần tài sản của mỗi người

Trang 28

Các bên trong quan hệ sở hữu chung hợp nhất đều có quyền ngang nhau đốivới tài sản chung (không phải là phần tài sản cụ thể) Sở hữu chung không có

sự phân chia và chỉ được phân chia khi chấm dứt quan hệ sở hữu chung.Trong sở hữu chung hợp nhất không có sự thay thế vị trí của một đồng sở hữubằng một chủ thể khác mà chỉ có thể chuyển cho đồng sở hữu kia Sở dĩ nhưvậy là vì quan hệ sở hữu chung hợp nhất chỉ phát sinh giữa các chủ thể gắn bóvới nhau bởi tình cảm gia đình Đặc điểm của sở hữu chung vợ chồng đó là sựbình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung dù đó là tài sản gì, và phápluật cũng dự liệu cả những tài sản mà vợ chồng không chứng minh được đó làtài sản riêng của mình Trên thực tế, đối với hôn nhân hợp pháp việc chia táchtài sản của một trong hai người đồng nghĩa với việc chia tách tài sản chung vìtrong quan hệ này chỉ có hai chủ thể tham gia với tư cách là đồng sở hữu chủ.Đối với hôn nhân thực tế (được pháp luật thừa nhận) thì tài sản chung cũngthuộc sở hữu chung hợp nhất Đối với hôn nhân không được công nhận là hônnhân thực tế thì việc chia tách tài sản chung được giải quyết theo hình thức sởhữu chung theo phần Tuy nhiên, sở hữu chung vợ chồng chỉ tồn tại khi cóquan hệ hôn nhân tức là chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân và chấm dứt khikhông còn quan hệ hôn nhân nữa hoặc một bên chết Việc định đoạt tài sảnchung của vợ chồng phải có sự đồng ý của người kia, trừ những trường hợp

sử dụng tài sản chung để phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình

- Chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa cha mẹ và con:

Thực chất, quan hệ cha mẹ và con cái không nhất thiết phải xuất phát từquan hệ hôn nhân (ví dụ: con ngoài giá thú) Đây là mối quan hệ ràng buộc haibên dù có hôn nhân hay không, dù đang trong thời kỳ hôn nhân hay đã chấm dứthôn nhân Việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con cái là nghĩa vụ và cũng làquyền lợi của cha mẹ đã được pháp luật quy định Bên cạnh đó, con cái cũng cónghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Điều này được quy định dựa trên cơ sởhuyết thống, tình cảm và đạo đức giữa cha mẹ và con cái Khi con

Trang 29

cái chưa trưởng thành thì cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc concái và điều này được quy định cho cả trường hợp con thành niên nhưng mấtnăng lực hành vi dân sự Theo đó, cha mẹ là chỗ dựa cho con, là người đạidiện hợp pháp của con cái khi tham gia các quan hệ pháp luật dân sự Điềunày thể hiện ở chỗ nếu con cái gây ra thiết hại cho người thứ ba thì không aikhác, cha mẹ là người đứng ra nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuynhiên, pháp luật cũng quy định trách nhiệm của con cái chăm sóc, nuôi dưỡngcha mẹ Bên cạnh đó pháp luật cũng quy định trách nhiệm vật chất đối với giađình của con đã đủ 15 tuổi có thu nhập hợp pháp cần tham gia đóng góp chăm

lo đời sống chung của gia đình Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là mối quan

hệ gần nhất, ruột thịt nhất Ở đây, cha mẹ và con cái có trách nhiệm trực tiếpđối với nhau, trách nhiệm ràng buộc và sẽ không mất đi kể cả khi không cònquan hệ hôn nhân giữa cha và mẹ Điều đặc biệt là khi quan hệ cha mẹ và con

là quan hệ giữa những người không cùng huyết thống (cha dượng và conriêng của vợ hay mẹ kế và con riêng của chồng) nhưng cùng sống chung dướimột mái nhà thì giữa họ vẫn có trách nhiệm đối với nhau như đối với trườnghợp có quan hệ huyết thống Có thể nói, việc pháp luật quy định như vậy luônthể hiện sự coi trọng hạnh phúc gia đình, phát huy truyền thống tương thântương ái, gia đình luôn là chỗ dựa vững chắc cho mỗi con người, luôn thể hiệntình thương trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình quan tâm, chămsóc, đùm bọc lẫn nhau

- Chế độ pháp lý về quan hệ tài sản giữa các thành viên khác trong gia đình (ông bà và cháu, anh chị em với nhau)

+ Ông bà và cháu là những thành viên trong gia đình và pháp luậtcũng quy định trách nhiệm quan tâm, chăm sóc nhau giữa những thành viên này.Trên thực tế, gia đình Việt Nam thường sống chung ba thế hệ (ông bà, cha mẹ, concái), đây là kiểu gia đình truyền thống, trong đó thể hiện rõ trật tự trong gia đìnhkính trên nhường dưới, mọi người quan tâm, chăm sóc, thương

Trang 30

yêu, đùm bọc lẫn nhau Có nhiều gia đình ông bà là trụ cột về tinh thần và vềkinh tế, chăm lo cho cả gia đình, con cháu đều trong vòng tay che chở của ông

bà Có những gia đình, cha mẹ là lao động chính của gia đình, làm ra của cảivật chất nuôi sống cả gia đình và cũng có trường hợp con cái mới là ngườichèo chống cho gia đình… Tuy nhiên, ở trong trường hợp nào thì mỗi thànhviên đều vì lợi ích chung của cả gia đình, đóng góp công sức, tiền của để duytrì gia đình mình Có thể nói, trách nhiệm chung đối với gia đình không chỉxuất phát từ những quy định của pháp luật mà chủ yếu là từ quan hệ tình cảm,huyết thống của những người trong gia đình Thế hệ này nâng đỡ, dìu dắt thế

hệ kia tạo nên một gia đình hòa thuận, đầm ấm, mỗi người đều ý thức đượctrách nhiệm của mình đối với người kia

+ Trong gia đình, anh chị em là mối quan hệ ruột thịt rất gần gũi, họđều do cha mẹ sinh ra, cùng huyết thống với nhau Do vậy, trách nhiệm quan tâm,chăm sóc lẫn nhau là điều hiển nhiên không chỉ pháp luật ghi nhận mà thực tếkhông thể phủ nhận Trong gia đình, anh chị lớn thương yêu, quan tâm, chăm sóc,nhường nhịn em nhỏ - đó là truyền thống của mỗi gia đình dù pháp luật có quyđịnh hay không bởi giữa họ là những điều hết sức thân thuộc "Chị ngã em nâng"thể hiện tinh thần luôn đùm bọc, thương yêu nhau của anh chị em trong gia đình.Pháp luật không quy định một cách cụ thể về chế độ tài sản giữa các thành viêntrong gia đình, nhưng tựu chung mỗi người đều có trách nhiệm đóng góp sức lực,tài sản, tiền bạc theo khả năng của mình để đảm bảo cuộc sống chung của gia đình

và trong khả năng của mình, mỗi thành viên có trách nhiệm giúp và được quyềngiúp đỡ từ những thành viên khác Anh chị em trong gia đình là người trong mộtnhà, cùng một đấng sinh thành, vì vậy phải biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau -

"một giọt máu đào hơn ao nước lã" Pháp luật cũng quy định anh chị em có bổnphận thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền và nghĩa vụ đùm bọc, nuôidưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiệnchăm sóc, nuôi dưỡng con cái Có thể thấy, ở đây anh chị em ở vị trí của cha mẹ

Trang 31

mình chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo ban nhau Mặc dù vậy, giữa họ không thểphát sinh chế độ pháp lý như đối với quan hệ cha mẹ và con và trong quan hệthừa kế thì anh chị em chỉ thuộc hàng thừa kế thứ hai, tức là chỉ được thừa kếtài sản của nhau khi không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất nữa Như vậy, quan

hệ tài sản của những người trong nhóm này cũng không phải là trực tiếp, vàtrách nhiệm vật chất giữa họ chỉ phát sinh khi pháp luật quy định

1.2.2.2 Dựa trên đối tượng của từng loại quan hệ tài sản

Chế độ pháp lý về tài sản giữa các thành viên trong gia đình có thểđược phân loại theo đối tượng của quan hệ tài sản, bao gồm:

1.3 KHÁI QUÁT MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ TÀI SẢN GIỮA CÁC THÀNH VIÊN TRONG GIA ĐÌNH TRONG PHÁP LUẬT CÁC NƯỚC

Gia đình là nền tảng của xã hội Sự giàu có của các gia đình, cá nhânmới có một quốc gia vững mạnh Lịch sử cho thấy, ở bất cứ thời điểm nào,trong bất cứ hình thái kinh tế nào, xã hội luôn là tập hợp của các gia đình Với

tư cách là một cộng đồng tổ chức đời sống xã hội, gia đình được hình thành từrất sớm và đã trải qua quá trình phát triển lâu dài Xuất phát từ nhu cầu bảotồn, duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải nương tựa vào nhau để sinh tồn, cáchình thức quần tụ giữa nam giới và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ

Trang 32

chức đời sống gia đình đã xuất hiện Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xãhội, các kiểu, dạng tổ chức cộng đồng mang tính tự nhiên ngay từ đầu đã chịu

sự quy định của những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế - xã hội.Trước những yêu cầu của sản xuất và sinh hoạt, những đòi hỏi của đời sống,các quan hệ ấy dần trở nên chặt chẽ, giữa các thành viên trong cộng đồng ấyxuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp và thích ứng với nhữngđiều kiện sản xuất, sinh hoạt của mỗi một nền sản xuất Gia đình dần trở thànhmột thiết chế xã hội, một hình ảnh của xã hội thu nhỏ Tính chất, bản sắc củagia đình được duy trì, bảo tồn, được sáng tạo và phát triển nhằm thỏa mãnnhững nhu cầu của mỗi thành viên trong gia đình trong sự tương tác, gắn bóvới văn hóa cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp và tầng lớp của mỗi giaiđoạn lịch sử, mỗi quốc gia, dân tộc xác định Như vậy, gia đình là một trongnhững hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, mộtthiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên

cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáodục giữa các thành viên

Thực tiễn ban hành và áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình của cácnước trên thế giới cho thấy các nhà làm luật luôn hướng tới và thông qua luậtpháp để duy trì quan hệ hôn nhân và gia đình như một thiết chế vững chắclàm nền tảng cho một xã hội ổn định Do đó, các quan hệ hôn nhân và giađình ngày càng được điều chỉnh với các chế định pháp luật chặt chẽ hơn, cụthể hơn

Ở một số nước phương Tây, một trong những đặc thù của pháp luậthôn nhân và gia đình là đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tựđịnh đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt trong quan

hệ vợ chồng, họ quan niệm hôn nhân như một loại hợp đồng dân sự chỉ khác vềthủ tục ký kết hợp đồng (đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo nghi thức đặcbiệt) và chấm dứt (khi có một bên chết hay quyết

Trang 33

định ly hôn của Tòa án theo thủ tục hành chính hoặc tố tụng) Ở đây, quyền tự

do cá nhân được đề cao Quyền tự do lập hôn ước được lựa chọn khi quy địnhchế độ tài sản của vợ chồng, theo đó vợ chồng có quyền tự lựa chọn, thỏathuận (pháp luật chỉ can thiệp khi hai bên không có thỏa thuận hoặc khôngthỏa thuận được) Quan điểm này thể hiện rõ trong một số điều luật của phápluật dân sự một số nước như: Điều 755, 756 Bộ luật Dân sự Nhật Bản; Điều

1465 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan; Điều 1387 Bộ luật Dân sựCộng hòa Pháp…

- Theo Bộ luật Dân sự Nhật Bản, khi kết hôn họ chung của vợ chồng

có thể là họ của người chồng hoặc vợ nhưng việc chồng lấy họ của vợ rất hiếm Vợchồng phải chung sống với nhau, giúp đỡ lẫn nhau và phải cùng quan tâm tới thunhập và tài sản của mỗi người và những thứ khác, có sự phân chia, gánh chịunhững phí tổn đám cưới Ở đây có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản có trước khikết hôn với tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân Trong quan hệ giữa cha mẹ vàcon cái: khi cha mẹ ly hôn thì con dưới 20 tuổi được giao cho một người nuôidưỡng Ở Nhật Bản không có tập quán mà cha mẹ ly hôn thì cùng hợp tác nuôi dạycon, thường thì đứa trẻ còn nhỏ sẽ được giao cho người mẹ Việc thi hành nghĩa vụnuôi dưỡng của người cha đối với những đứa con riêng không được thực hiện mộtcách triệt để Con rể có thể nhận làm con nuôi của bố mẹ vợ, theo đó anh ta cótrách nhiệm nuôi dưỡng bố mẹ của vợ, khi bố mẹ vợ chết thì anh ta cùng với người

vợ trở thành người thừa kế Và nếu số người thừa kế tăng thì thuế thừa kế sẽ giảm.Ngày nay tại Nhật Bản, nghĩa vụ của con cái nuôi dưỡng bố mẹ bị coi nhẹ hơnnghĩa vụ nuôi dưỡng vợ và con…

- Ở Thái Lan, chế độ tài sản của vợ chồng được Bộ luật Dân sự vàThương mại điều chỉnh khi giữa họ không có sự thỏa thuận đặc biệt về tài sảntrước khi kết hôn Tài sản của vợ chồng, trừ số tài sản được để riêng dạng "SinSuan Tua", thì đều là "Sin Somros" (Điều 1470) "Sin Suan Tua"

Trang 34

bao gồm: Tài sản thuộc về vợ hay chồng trước khi kết hôn; Tài sản dung cho

cá nhân, quần áo hoặc đồ trang sức phù hớp điều kiện sống, hoặc những dụng

cụ cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của vợ hoặc chồng; Tài sản mà vợchồng nhận được trong thời gian hôn nhân thông qua một di chúc hoặc quàtặng; "Khongman" (Điều 1471) - hoa lợi, lợi tức từ "Sin suan Tua" đều thuộc

"Sin Suan Tua"

"Sin Somros" bao gồm: Tài sản có được trong thời gian hôn nhân; tàisản mà người vợ hoặc chồng có được trong thời gian hôn nhân thông qua một

di chúc hoặc được trao tặng được làm bằng văn bản nếu trong di chúc hay vănbản trao tặng có tuyên bố đó là "Sin Somros" Trong việc quản lý "SinSomros" vợ chồng là người quản lý chung, hoặc người này phải được sự đồng

ý của người kia khi sử dụng…

Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái: Bố mẹ có trách nhiệ m nuôidưỡng con cái và chu cấp việc học hành cho con cái khi chúng chưa trưởngthành Khi chúng đã đủ tuổi thành niên tự lập thì bố mẹ chỉ có trách nhiệmnuôi dưỡng khi chúng bị tàn tật và không thể tự kiếm sống cho mình được.(Điều 1564) Trường hợp đứa trẻ có thu nhập thì thu nhập đó phải được dungtrước hết vào việc nuôi dưỡng và học hành của đứa trẻ, số tiền dư phải đượcgiữ lại cho đứa trẻ Người thực thi quyền bố mẹ không được tham gia vào bất

cứ hành vi pháp lý nào đối với tài sản của vị thành niên, trừ trường hợp đượcTòa án cho phép như: Bán, trao đổi, tặng cho tài sản của vị thành niên

Bộ luật Dân sự Pháp quy định cha mẹ được quản lý và hưởng dụngcác tài sản của con khi thực thi quyền của cha mẹ và trong các trường hợpkhác, sẽ do cha hoặc mẹ thực hiện dưới sự giám sát của Thẩm phán Việchưởng dụng theo luật định gắn với việc quản lý theo luật định, việc hưởngdụng thuộc về cả cha và mẹ hoặc người cha hay mẹ có trách nhiệm quản lý Việc hưởng dụng theo luật định không bao gồm những tài sản mà đứa con có

Trang 35

được do lao động của mình, những tài sản được tặng cho hay di tặng kèm theođiều kiện rõ ràng là cha mẹ không được hưởng dụng (Điều 382, 383, 387).

Điều 1387 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: vợ chồng có thể

tự do lập hôn ước, miễn là những thỏa thuận trong hôn ước không trái vớithuần phong mỹ tục hoặc không trái với các quy định của pháp luật về điềukiện thừa nhận tính hợp pháp của hôn ước Nghĩa là, tài sản của vợ chồngkhông nhất thiết do pháp luật quy định mà do chính bản thân vợ chồng tự thỏathuận tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng Vợ chồng có thểthỏa thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được quy định trongpháp luật hoặc họ có thể lựa chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độclập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật

Có thể nói, chế định tài sản pháp định trong pháp luật hôn nhân và giađình của các nước tư bản được quy định bằng nhiều hình thức khác nhau,nhưng phổ biến nhất là chế độ tài sản cộng đồng Chế độ tài sản cộng đồngcũng có nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xãhội ở mỗi quốc gia, song có một đặc điểm đặc thù là trong chế độ tài sản cộngđồng luôn tồn tại khối tài sản chung của vợ chồng, từ đó phát sinh các quyền

và nghĩa vụ cụ thể đối với loại tài sản này, và được đảm bảo bằng tài sảnchung của vợ chồng Việc thừa nhận chế độ tài sản cộng đồng là xuất phát từquan điểm lợi ích của vợ chồng phải chịu sự chi phối bởi tính chất cộng đồngcủa hôn nhân và lợi ích chung của gia đình

Trong điều kiện kinh tế - xã hội của xã hội truyền thống, một hìnhthức chế độ tài sản cộng đồng được quy định trong pháp luật hôn nhân và giađình của một số nước là chế độ cộng đồng toàn sản Chế độ này không thừanhận quyền sở hữu riêng của vợ chồng mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu chung.Theo đó, toàn bộ tài sản của vợ, chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đềuthuộc khối tài sản chung Điều đó có nghĩa là quyền có tài sản riêng của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân không được thừa nhận Điều này xuất phát từ

Trang 36

quan niệm nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài sản của vợchồng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ là vì mục đích đó, do đó tài sảnriêng không được thừa nhận vì mâu thuẫn với lợi ích của gia đình Với nhữngđặc điểm trên thì chế độ tài sản cộng đồng toàn sản phù hợp với quan hệ hônnhân và gia đình trong xã hội truyền thống Tuy nhiên, chế độ tài sản nàykhông được các nước lựa chọn vì có những hạn chế như: dễ bị lợi dụng chonhững cuộc hôn nhân thực dụng, không khuyến khích cho các quan hệ phápluật khác phát triển khi vợ hoặc chồng tham gia quan hệ đó vì không có tàisản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, quyền tự định đoạt đối với tài sản của mìnhkhông được đảm bảo.

Ngoài ra, còn có chế độ cộng đồng tạo sản, chế độ này được nhiềunước ghi nhận trong pháp luật hôn nhân và gia đình của mình như: Luật Giađình Cộng hòa Cu Ba, Luật Gia đình Bungari, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp,

Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan bởi vì nóphù hợp với tình hình thực tế ở mỗi nước, khắc phục được những hạn chế củachế độ cộng đồng toàn sản trên (chỉ những tài sản có trong thời kỳ hôn nhânmới thuộc tài sản chung của vợ chồng)

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

1 Hôn nhân và gia đình là hiện tượng xã hội sinh ra và tồn tại gắn liềnvới các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người Hôn nhân là cơ sở đầutiên và quan trọng nhất để hình thành gia đình - tế bào của xã hội Lịch sử pháttriển của nhân loại cho thấy chế độ hôn nhân và gia đình ở mỗi thời kỳ khác nhauthì cũng có những biểu hiện khác nhau thể hiện tính chất, kết cấu của xã hội thời

kỳ đó Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ nhất, cơ bản nhất Trong xã hội

có giai cấp, các quan hệ pháp luật nói chung, các quan hệ pháp luật hôn nhân vàgia đình nói riêng luôn thể hiện tính giai cấp và đấu

Trang 37

tranh giai cấp sâu sắc, luôn chịu sự quy định của những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế - xã hội.

2 Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình được hiểu là tổnghợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề tài sản của các thành viên tronggia đình, bao gồm: quan hệ sở hữu, quan hệ cấp dưỡng và quan hệ thừa kế giữa vợ

và chồng, giữa bố mẹ và con, giữa ông bà và cháu, anh chị em và những ngườithân trong gia đình Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là quan hệ

xã hội, quan hệ dân sự, quan hệ pháp luật nhưng có những nét đặc trưng khác biệtxuất phát từ quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng

3 Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình là một chế địnhquan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và gia đình củacác quốc gia trên thế giới đã có những quy định cụ thể về vấn đề này Quan hệ tàisản giữa các thành viên trong gia đình được thể hiện qua hai phương thức: sự thỏathuận bằng văn bản giữa các thành viên (chế độ tài sản ước định) và theo các quyđịnh của pháp luật (chế độ tài sản pháp định) Một trong những đặc thù của phápluật hôn nhân và gia đình phương Tây là đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏathuận và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình,đặc biệt trong quan hệ vợ chồng, họ quan niệm hôn nhân như một loại hợp đồngdân sự chỉ khác về thủ tục ký kết hợp đồng (đăng ký tại cơ quan có thẩm quyềntheo nghi thức đặc biệt) và chấm dứt (khi có một bên chết hay quyết định ly hôncủa Tòa án theo thủ tục hành chính hoặc tố tụng)

4 Ở Việt Nam, quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đìnhđược quy định tại nhiều văn bản pháp luật Nổi bật nhất là luật dân sự và luật hônnhân gia đình Ngay trong luật hôn nhân và gia đình thì những quy định liên quanđến quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng được bổ sung, sửa đổiqua các thời kỳ để phù hợp với sự phát triển chế độ chính trị - kinh tế - xã hội củaViệt Nam Kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật

Trang 38

trước, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 là văn bản pháp lý quy định cụthể, rõ ràng và phù hợp nhất trong giai đoạn hiện này về quan hệ tài sản giữacác thành viên trong gia đình.

Trang 39

2.1.1.1 Quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng

Quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ và chồng trước hết phải căn cứ vào cácquy định của pháp luật về xác lập quyền sở hữu tài sản, đồng thời phải đặttrong mối quan hệ đặc biệt của các đồng sở hữu tài sản được điều chỉnh bởipháp luật về hôn nhân và gia đình Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ sởhữu nói chung và quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng nói riêng rất đa dạng,trước tiên cần kể đến Bộ luật Dân sự, pháp luật về hôn nhân và gia đình và rấtnhiều văn bản pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác Quan hệ sở hữu tài sản giữa

vợ và chồng được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định trong 7 điều(từ Điều 27 đến Điều 33 tại chương III)

Trong mỗi điều đều quy định cụ thể các vấn đề có liên quan đến tàisản chung của vợ, chồng và tài sản riêng, vấn đề thừa kế, cũng như vấn đềchiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Quyền bình đẳng giữa vợ vàchồng trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như trong các luậtkhác là sự kế thừa, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng thể hiện ngàymột toàn diện và sâu sắc nguyên tắc bình đẳng giới trên cơ sở phù hợp điềukiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước ta Trên cơ sở những quyđịnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 về quyền có tài sản chung, tàisản riêng, quyền thừa kế, quyền chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại

Trang 40

giữa vợ và chồng thì luật năm 2000 đã quy định cụ thể hơn các loại tài sảnđược coi là tài sản chung, quy định rõ quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạtcủa vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp chia tài sảnchung khi hôn nhân đang tồn tại, đồng thời dự liệu các trường hợp vợ chồng

sẽ gặp phải khó khăn trong vấn đề thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết

và đưa ra giải pháp khắc phục Quy định về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng

đã cụ thể hóa một số quy định về sở hữu của Bộ luật Dân sự, đồng thời bổsung một số quy định nhằm đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta,đặc biệt là các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất của vợ chồng, chế

độ pháp lý đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung, tài sản riêng,giúp Tòa án có thêm căn cứ pháp lý khi xét xử các tranh chấp liên quan đếntài sản của vợ chồng

Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng

Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng có sự tham gia của cả vợ vàchồng, tài sản thuộc tất cả cùng đồng thời và toàn bộ, nhưng không xác định

tỷ lệ phần tài sản Phần tài sản được xác định chỉ khi chia tài sản chung thànhnhững phần tài sản thực tế, nghĩa là chấm dứt quan hệ sở hữu chung hợp nhất,các đồng sở hữu chủ có quyền ngang nhau đối với tài sản chung của họ

Sở hữu chung hợp nhất là một loại quan hệ phức tạp và phải đượcpháp luật quy định Một số người cùng đồng thời có quyền ngang nhau đốivới một tài sản nhất định Điều đó khẳng định tính không thay đổi về chủ thểcủa sở hữu chung hợp nhất Trong quan hệ sở hữu chung hợp nhất không chophép sở hữu chủ bán phần quyền của mình Tài sản của đồng sở hữu chủ hoặcgiao cho chính người đó hoặc để lại cho những sở hữu chủ khác, mà khôngthể chuyển cho người thứ ba, bởi vì người này không thể thay thế vị trí củamột trong các đồng sở hữu chủ Vấn đề là ở chỗ quan hệ sở hữu chung hợpnhất chỉ phát sinh giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi tình cảm gia đình

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w