1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về hoạt động thu bảo hiểm xã hội của tổ chức bảo hiểm xã hội việt nam 07

92 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 89,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi ngườilao động hoặc người sử dụng lao động gặp tai nạn rủi ro sẽ làm quá trình sản xuấtkinh doanh bị gián đoạn, năng suất lao động giảm xuống cung hàng hoá nhỏ hơncầu làm tăng giá cả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ THỊ HẰNG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU

BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ

HỘI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ THỊ HẰNG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU

BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM XÃ

HỘI VIỆT NAM

Chuyên ngành

Mã số

: Luật Kinh tế:60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Thương Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

- Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân tôi;

- Số liệu trong luận văn được điều tra trung thực;

HỌC VIÊN

Đỗ Thị Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 2

2.1 Đối tượng nghiên cứu 2

2.2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

4 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn 3

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn 4

6 Những đóng góp của Luận văn 4

7 Kết cấu của Luận văn 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 6

1.1 Lý luận chung về thu bảo hiểm xã hội 6

1.1.1 Khái niệm thu bảo hiểm xã hội……… 6

1.1.2 Nguyên tắc thu bảo hiểm xã hội 8

1.1.3 Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội 9

1.1.4 Vai trò của thu bảo hiểm xã hội. .10

1.2 Pháp luật về thu bảo hiểm xã hội .13

1.2.1 Khái niệm pháp luật thu bảo hiểm xã hội 13

1.2.2 Nội dung pháp luật về thu bảo hiểm xã hội 13

1.2.3 Ý nghĩa pháp luật thu bảo hiểm xã hội 15

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 20

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về thu bảo hiểm xã hội 20

2.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 20

2.1.2 Tiền lương làm căn cứ thu bảo hiểm xã hội 23

2.1.3 Quy định về tỷ lệ thu bảo hiểm xã hội 26

2.1.4 Phương thức thu bảo hiểm xã hội 27

2.1.5 Quỹ bảo hiểm xã hội và đầu tư, tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội 28

2.1.6 Trách nhiệm tổ chức thu bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội 32

2.1.7 Quy trình thu bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội Việt Nam 34

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về thu bảo hiểm xã hội của tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam 36

2.2.1 Những kết quả đạt được 36

2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại 43

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 55

3.1 Những yêu cầu đặt ra 55

3.2 Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thu bảo hiểm xã hội 57 KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

bảng

1 Bảng 1.1 Tỷ lệ đóng BHXH ở một số địa phương của Trung Quốc

2 Bảng 2.1 Bảng số liệu về số người tham gia BHXH giai đoạn

1995-2013

3 Bảng 2.2 Kết quả thu BHXH và tỷ lệ so với số chi các chế độ BHXH

giai đoạn 1995-2013

4 Bảng 2.3 Tình hình hoạt động đầu tư quỹ BHXH giai đoạn 1997-2009

5 Bảng 2.4 Danh mục và vốn đầu tư quỹ BHXH năm 2011

6 Bảng 2.5 Bảng số liệu về số vốn cho các ngân hàng thương mại nhà

nước vay từ quỹ BHXH năm 2011

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

BHXH, BHYT là trụ cột quan trọng trong hệ thống ASXH của mỗi quốc gia,góp phần thực hiện công bằng, ổn định xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đốivới nước ta, ngay từ khi thành lập Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâmđến việc thực hiện các chế độ, chính sách ASXH đối với cán bộ, công chức, quânnhân và người lao động thuộc các thành phần kinh tế Trong công cuộc đổi mới đấtnước, kinh tế không ngừng phát triển đời sống nhân được cải thiện và nâng cao, tuynhiên một bộ phận người lao động còn bấp bênh không đảm bảo do gặp phải nhữngrủi ro như thiếu việc làm, ốm đau, tuổi già… Để bù đắp một phần thiếu hụt đó, Đảng

và Nhà nước ta đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách về chế

độ BHXH, BHYT Điều này đã được thể hiện ở trong các văn kiện Đại hội, Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng và được cụ thể hóathành các quy định pháp luật

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự cố gắngvượt bậc của ngành BHXH nên các chế độ BHXH được thực hiện ngày càng tốt hơn;công tác thu, chi, quản lý quỹ và giải quyết chế độ chính sách BHXH cho các đốitượng theo luật định đi vào nền nếp, tạo điều kiện thuận lợi và niềm tin cho nhữngngười tham gia và hưởng các chế độ BHXH Để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hộinước ta và nhu cầu của người lao động, ngày 09/01/2003 Chính phủ đã ban hànhNghị định số 01/2003/NĐ-CP, Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/6/2006, đối tượng tham gia BHXH không còn tậptrung vào các đơn vị hành chính sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước nữa mà được

mở rộng tới các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như doanh nghiệp tư nhân, công tytrách nhiệm hưu hạn, hợp tác xã, hộ kinh doanh các thể, số người tham gia ngày càngtăng, số thu năm sau luôn cao hơn năm trước Song song với thu BHXH thì việc chitrả cho đối tượng hưởng chế độ BHXH ngày càng nhiều, do đó BHXH cần có mộtlượng tiền đủ lớn để đảm bảo cho công tác chi trả các chế

Trang 9

độ BHXH Để đạt được mục tiêu đó thì việc tham gia BHXH đóng góp vào quỹBHXH là một nhiệm vụ rất quan trọng, có thể coi quỹ BHXH là sự sống còn của hệthống BHXH, đảm bảo cho hệ thống hoạt động theo đúng chức năng nhiệm vụ.Trong đó nhiệm vụ thu BHXH là nhiệm vụ quan trọng có thể coi đó là đầu vào củangành BHXH.

Có thể thấy, để chính sách BHXH phát triển bền vững, việc nghiên cứu hoànthiện cơ chế tài chính, bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH đã và đang trở nên hết sứccần thiết và cấp bách Trong đó vấn đề trọng tâm là việc đánh giá thực trạng pháp luật

về thu BHXH và tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thu BHXH của tổ chứcBHXH Với mong muốn góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu pháp luật về thuBHXH và tìm ra phương hướng hoàn thiện, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Phápluật về hoạt động thu bảo hiểm xã hội của tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam” choLuận văn Cao học Luật Việc nghiên cứu đề tài này có một ý nghĩa rất quan trọng,cần thiết đối với việc nâng cao hiệu quả thu BHXH nói riêng và đối với sự phát triểnbền vững của chính sách ASXH nói chung

2 1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật vềthu BHXH Từ đó Luận văn tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật về thu BHXH của

tổ chức BHXH Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện mảng pháp luậtnày

2.2 Phạm vi nghiên cứuTrong khuôn khổ Luận văn Thạc sĩ Luật học, tác giả không tham vọng nghiêncứu sâu và tìm hiểu chi tiết toàn bộ các vấn đề liên quan đến việc hình thành và pháttriển của pháp luật về thu BHXH, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cơquan, ở từng thời kỳ mà sẽ tập trung nghiên cứu nội dung các quy định pháp luật vềthu BHXH và thực trạng pháp luật về thu BHXH kể từ khi tổ chức BHXH Việt Namđược thành lập năm 1995 đến nay

2

Trang 10

3 Tình hình nghiên cứu đề tàiNội dung pháp luật về BHXH nói chung là một đề tài phổ biến nhưng nhữngnghiên cứu chuyên sâu về pháp luật thu BHXH lại chưa có nhiều Một số công trìnhkhoa học nghiên cứu về thu BHXH có thể kể đến như:

- Thực trạng quản lý thu BHXH hiện nay và các biện pháp nâng cao hiệu quảcông tác thu (Chủ nhiệm đề tài: Tiến sĩ Nguyễn Văn Châu, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam,năm 1996, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ);

- Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH (Chủ nhiệm đề tài:Tiến sỹ Dương Xuân Triệu, Giám đốc Trung tâm Thông tin Khoa học BHXH Việt Nam, năm

1999, Đề tài khoa học);

- Thực trạng thu nộp quỹ BHXH và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảthu nộp quỹ BHXH Việt Nam hiện nay (Nông Hữu Tùng, Đại học Kinh tế Quốc dân, 2000,Khóa luận tốt nghiệp);

- Hoàn thiện quản lý thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh

ở Việt Nam (Trần Quốc Túy, BHXH Việt Nam, năm 2000, Luận văn thạc sỹ);

- Hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH khu vực kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Gia Lai (Trần Ngọc Tuấn, Đại học Đà Nẵng, 2002, Luận văn thạc sỹ);

- Công tác quản lý thu BHXH giai đoạn hiện nay - Thực trạng và giải pháp (Lại Hữu Hiệp, Đại học Công đoàn, 2003, Chuyên đề tốt nghiệp);

- Hoàn thiện công tác kiểm soát thu tại BHXH tỉnh Bình Định (Võ Năm, Đại học Đà Nẵng, 2013, Luận văn thạc sỹ)

Nội dung chủ yếu của các công trình nghiên cứu khoa học kể trên hầu hết đềcập đến vấn đề thu BHXH trên phương diện kinh tế học Tuy nhiên, để phục vụ chomục đích nghiên cứu hoạt động thu BHXH trên phương diện kinh tế, các công trình

kể trên đều có đề cập phần nào và đưa ra một số đánh giá, nhận định về ưu, nhượcđiểm của các quy định của pháp luật trong lĩnh vực thu BHXH

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lýluận cũng như một số nội dung cơ bản của các quy định pháp luật về thu BHXH,

Trang 11

thực trạng áp dụng pháp luật về thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nam, trên cơ sở

đó có những đánh giá và kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện mảng pháp luật này

Để thực hiện mục đích trên Luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu, tìm hiểu khái niệm về BHXH và thu BHXH; vai trò, ý nghĩa củathu BHXH; sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nambằng pháp luật

- Nghiên cứu nội dung các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật

về thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nam

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thu BHXH và nâng cao hiệu quả về thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận vănLuận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản củaĐảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi tiềm năng cho sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Luận văn cũng vận dụng cơ sở lý luận của triếthọc Mác-Lê Nin, thế giới quan duy vật biện chứng và các nguyên tắc, phương phápcủa lý luận Nhà nước và pháp luật trong điều kiện mới Theo đó, tác giả đặc biệt chú

ý vận dụng phương pháp biện chứng và nhiều phương pháp nghiên cứu như liệt kê,phân tích, so sánh, tổng hợp trong quá trình giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

6 Những đóng góp của Luận văn

- Nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định pháp luật về thu BHXH; phân tích ưu, nhược điểm của một số quy định cụ thể

- Phân tích, đánh giá mặt tích cực và hạn chế trong thực trạng áp dụng pháp luật

về thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nam

- Đưa ra đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thu BHXH và nâng cao hiệu quả thu BHXH của tổ chức BHXH Việt Nam

- Từ những nghiên cứu chung về BHXH trong nước, luận văn sẽ đưa ra một số vấn đề lý luận về pháp luật thu BHXH nói riêng và pháp luật về BHXH nói chung

4

Trang 12

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thu bảo hiểm xã hội và pháp luật về thubảo hiểm xã hội

Chương 2: Thực trạng pháp luật về thu bảo hiểm xã hội và thực tiễn áp dụng.Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thu bảo hiểm xã hội

ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Lý luận chung về thu bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm thu bảo hiểm xã hội

Thu BHXH không ra đời cùng với khái niệm BHXH bởi hình thức sơ khai nhất của BHXH là những quỹ được hình thành do sự tự nguyện đóng góp của một cộng đồng người nhất định Tuy nhiên trong quá trình phát triển, BHXH ngày càng hướng tới nhiều đối tượng và các chế độ trợ cấp khác nhau Bởi vậy, nguồn quỹ BHXH cũng đặt ra yêu cầu cần được bảo vệ và tăng trưởng tương xứng với mức độ chi Dần dần quỹ BHXH được hình thành không phải từ sự tự nguyện của một nhómnhỏ lẻ mà trở thành quy định bắt buộc đối với cộng đồng, sau đó là mỗi quốc gia và hiện nay nó được công nhận trên toàn thế giới Cũng từ đó, thuật ngữ “thu BHXH” được xuất hiện và sử dụng rộng rãi Có thể nói, thu BHXH ra đời cũng là một tất yếukhách quan xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của BHXH như sau:

Thứ nhất, BHXH phải thực hiện trên nguyên tắc có đóng, có hưởng, cộng đồng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH; đồng thời có thêm trách nhiệm đóng góp của chủ sử dụng lao động và sự bảo hộ của Nhà nước

Thứ hai, mức hưởng BHXH phải căn cứ trên mức đóng góp, thời gian đónggóp, không được cao hơn mức lương tham gia BHXH và thấp nhất phải đảm bảo mứcsống tối thiểu cho người lao động Việc quy định mức hưởng phải thấp hơn tiềnlương là nguyên tắc bắt buộc của tất cả các nước, song thấp hơn bao nhiêu còn tùythuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi nước ở các thời kỳ khác nhau.Nước ta quy định không được thấp hơn mức lương tối thiểu ở từng thời kỳ

Thứ ba, quỹ BHXH phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọngtrong chính sách BHXH của các nước bởi vì nếu không thực hiện nguyên tắc này,quỹ BHXH sẽ chỉ tồn tại trên danh nghĩa

6

Trang 14

Thứ tư, BHXH phải kết hợp hài hòa giữa các lợi ích, các mục tiêu và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi một quốc gia.

Về mặt ngôn ngữ, “thu BHXH” là động từ chỉ hành động thu thập tiền về cho

quỹ BHXH

Về mặt kinh tế học, thu BHXH là một hoạt động hay một nghiệp vụ tài chính nhằm tạo nguồn cho quỹ BHXH Hoạt động thu BHXH bao gồm nhiều hoạt động nhỏ, tuy nhiên có thể tóm gọn trong hai hoạt động chính sau:

Một là, hoạt động về tổ chức và triển khai thực hiện nhiệm vụ thu tiền BHXH

từ các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia BHXH bắt buộc và từ các đối tượng

tự nguyện tham gia để tạo lập một quỹ BHXH tập trung, thống nhất và độc lập

Hai là, hoạt động quản lý và tăng trưởng quỹ BHXH để quỹ BHXH được bảotoàn và phát triển, vừa đủ khả năng chi trả các chế độ BHXH vừa có khả năng kết dưtrong tương lai

Về mặt pháp lý, thu BHXH được hiểu là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một

số đối tượng được tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phùhợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằmmục đích bảo đảm cho các hoạt động của sự nghiệp BHXH

Từ những khái niệm kể trên có thể rút ra:

Về chủ thể của thu BHXH: Trong xã hội có giai cấp và nhà nước thì Nhà nước chính

là chủ thể của thu BHXH mà cụ thể là các cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao phó,thay mặt Nhà nước để thực hiện thu, chi BHXH

Về đối tượng của thu BHXH: Có nhiều quan điểm cho rằng đối tượng của BHXH là người lao động hay chính là đối tượng tham gia BHXH Thực tế thì không phải như vậy, với quan điểm BHXH chính là sự bù đắp hoặc thay thế một phần hoặc toàn bộ thu nhập của người lao động thì đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động BHXH không để “bảo hiểm” cho bản thân người lao động mà chính là “bảohiểm” cho thu nhập của họ Người lao động trong mối quan hệ này

Trang 15

không phải là đối tượng được “bảo hiểm” mà chính là đối tượng được tác động hay nói cách khác là đối tượng được thụ hưởng BHXH Đối tượng của thu BHXH cũng không phải là đối tượng tham gia BHXH mà đối tượng tham gia BHXH là những đơn

vị, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH Phần lớn các quốc gia đều quy định đối tượng đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm ba bên: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước

1.1.2 Nguyên tắc thu bảo hiểm xã hội

Thu BHXH là mắt xích quan trọng trong quá trình thực hiện chế độ, chính sách vềBHXH vì vậy thu BHXH cần được tuân thủ theo một số nguyên tắc nhất định

Thứ nhất, thu BHXH là quy trình bắt buộc nhằm hình thành quỹ BHXH Nếunhư thời kỳ sơ khai của BHXH, nguồn hình thành quỹ BHXH chủ yếu từ sự tựnguyện đóng góp hoặc chủ yếu từ sự viện trợ của ngân sách nhà nước thì đến giaiđoạn hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thu BHXH đều đã trở thành mộtchế định pháp luật xuất phát từ nhu cầu hình thành quỹ BHXH độc lập, lớn mạnh, đủkhả năng chi trả khi phát sinh các chế độ BHXH

Thứ hai, thu BHXH phải có sự bình đẳng, công bằng trong nghĩa vụ đóng gópcủa những người cùng tham gia BHXH Bởi vì nguyên tắc của BHXH là có sự chia

sẻ giữa những người cùng tham gia, có sự phân phối lại thu nhập giữa những ngườicùng tham gia Để đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong thu BHXH đối vớinhững người cùng tham gia và cùng có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH thì cầnphải xây dựng hệ thống pháp luật thu BHXH chặt chẽ, cụ thể Tính bình đẳng phảithể hiện, tất cả cá nhân, tổ chức đều có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH như nhau,không phân biệt tầng lớp, thu nhập, loại hình …

Thứ ba, phải có sự tính toán chặt chẽ các nguồn thu BHXH và tiến trình thu,chi từ quỹ BHXH để đảm bảo sự ổn định của quỹ BHXH Ở các quốc gia trên thếgiới, có hai cơ chế tài chính được áp dụng cho BHXH, đó là cơ chế tọa chi từ ngânsách nhà nước và cơ chế quỹ tài chính độc lập Ở cả hai cơ chế, các nhà chức tráchđều phải có sự tính toán cẩn thận nhu cầu thu, chi cũng như khả năng thu, chi từ quỹBHXH, hai cơ chế khác nhau chủ yếu ở khoảng thời gian áp dụng sự tính toán đó

8

Trang 16

Thứ tư, cơ sở để thực hiện thu BHXH là quỹ tiền lương đối với người sử dụnglao động và tiền lương đối với người lao động Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới,việc tính toán số tiền đóng góp vào quỹ BHXH từ phía người lao động và người sửdụng lao động đều dựa trên cơ sở đó Với cách thức đó, mục tiêu chia sẻ thu nhập sẽđược đảm bảo vì tiền lương làm căn cứ tham gia BHXH đã thể hiện được tầng lớpcủa nhóm người tham gia.

Thứ năm, thu BHXH phải được tổ chức thực hiện thuận lợi, dễ dàng để đảmbảo kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH Thu BHXH là hoạt độngliên quan trực tiếp đến người tham gia và thụ hưởng BHXH chính vì vậy việc tổ chứcthực hiện thuận lợi, dễ dàng là một nguyên tắc cần thiết phải tuân thủ Chính sáchBHXH là trụ cột chính trong nền ASXH của mỗi quốc gia, thu BHXH nếu thuận lợi

sẽ là nền tảng vững chắc để chế độ BHXH được thực hiện đầy đủ và hiệu quả

1.1.3 Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội

Nguồn hình thành quỹ BHXH là các nguồn đóng góp để tạo dựng nên quỹBHXH Quỹ BHXH phần lớn được hình thành từ sự đóng góp của các bên là chủ sửdụng lao động, người lao động, nhà nước và một số nguồn khác

Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồnnêu trên, sở dĩ như vậy bởi các lý do:

trực tiếp rủi ro của chính mình mặt khác nó có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi của họmột cách chặt chẽ

một mặt sẽ tránh được những thiệt hại to lớn như đình trệ sản xuất, đào tạo lại lao động khi có rủi

ro xảy ra đối với người lao động mặt khác nó giảm bớt đi sự căng thẳng trong mối quan hệ vốnchứa đựng đầy những mâu thuẫn, tranh chấp giữa chủ và thợ

Trang 17

- Nhà nước tham gia đóng góp một phần vào quỹ BHXH trên cương vị củangười quản lý xã hội về mọi mặt với mục đích phát triển kinh tế ổn định xã hội Do mối quan hệgiữa chủ - thợ có chứa nhiều mâu thuẫn mà hai bên không thể tự giải quyết được Nhà nước buộcphải tham gia nhằm điều hoà mọi mâu thuẫn của hai bên thông qua hệ thống các chính sách,pháp luật Không chỉ có như vậy nhà nước còn hỗ trợ thêm vào quỹ BHXH giúp cho hoạt độngBHXH được ổn định.

Phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao độnghiện nay vẫn còn tồn tại hai quan điểm Quan điểm thứ nhất là phải căn cứ vào mứclương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp Quan điểm thứ hai là phảicăn cứ vào thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nềnkinh tế để xác định mức đóng góp BHXH Mức đóng góp BHXH, một số nước quyđịnh người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động.Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại do cả người lao động

và người sử dụng lao động đóng góp mỗi bên một phần như nhau Một số nước kháclại quy định, chính phủ bù thiếu, cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lýBHXH

1.1.4 Vai trò của thu bảo hiểm xã hộiVới các nước đã có nền kinh tế phát triển thì chính sách ASXH nói chung vàchính sách về quản lý thu, chi BHXH nói riêng ra đời và luôn gắn liền với nền kinh tếthị trường Thu BHXH là bắt buộc và nó phù hợp với quy luật của nền kinh tế thịtrường Vì vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản mà mỗi quốc gia luôn phải tuânthủ là mọi người lao động có thu nhập đều bắt buộc phải tham gia BHXH; mứchưởng BHXH được tính toán dựa trên cơ sở của mức đóng BHXH sao cho quỹBHXH phải đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH cho người lao động;đồng thời còn có phần quỹ "nhàn rỗi" để đầu tư tăng trưởng quỹ Hoạt động thu lànguồn tạo quỹ BHXH và nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi nhà nước, thểhiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, thu BHXH là một trong những nguồn quan trọng giúp cho ngânsách Nhà nước giảm chi đến mức tối thiểu nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về

10

Trang 18

đời sống cho người lao động và gia đình họ được phát triển an toàn hơn Khi ngườilao động hoặc người sử dụng lao động gặp tai nạn rủi ro sẽ làm quá trình sản xuấtkinh doanh bị gián đoạn, năng suất lao động giảm xuống (cung hàng hoá nhỏ hơncầu) làm tăng giá cả thị trường và rất có thể dẫn đến tình trạng lạm phát, khi đó buộcChính phủ phải can thiệp điều tiết giá cả để ổn định đời sống của người dân.

Thứ hai, thu tạo quỹ BHXH góp phần giữ vững an ninh, chính trị trong nước

ổn định trật tự an toàn cho xã hội; điều hoà, hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ vàgiới thợ đồng thời tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, ổn định cho người lao động.Bởi khi mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động chưa được giảiquyết sẽ có thể dẫn đến những cuộc đình công, thậm chí là gây ra những cuộc bãicông lan rộng trên cả nước của những người công nhân (người lao động) đến lúc đósản phẩm lao động sẽ không được sản xuất ra, mà nhu cầu tiêu dùng của xã hội vẫn

cứ tiếp tục tăng lên khi đó buộc Chính phủ phải nhập khẩu hàng hoá Như vậy, Chínhphủ sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề như: giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảmbảo nhu cầu tối thiểu của người dân…

Thứ ba, thu BHXH có vai trò quan trong trọng việc tăng thu, giảm chi chongân sách Nhà nước:

Một là, nguồn thu BHXH làm tăng thu cho ngân sách Nhà nước: BHXH đãlàm giảm bớt mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ đồng thời gắn kết giữa người sửdụng lao động và người lao động, góp phần kích thích người lao động hăng hái laođộng sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân nói riêng đồng thời góp phần làmtăng năng xuất lao động xã hội nói chung, từ đó sản phẩm xã hội tạo ra ngày một tănglên có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Dovậy, ngân sách Nhà nước tăng lên do có một khoản thu được thông qua việc thu thuế

từ các doanh nghiệp sản xuất nói trên

Hai là, khi người lao động tham gia BHXH mà không may gặp rủi ro bất ngờhoặc khi thiên tai hạn hán, lũ lụt xảy ra… làm giảm hoặc mất khả năng lao động dẫnđến giảm hoặc mất thu nhập thì sẽ được bù đắp một phần thu nhập từ quỹ BHXH.Lúc này, nếu không có sự bù đắp của quỹ BHXH thì buộc Nhà nước cũng phải

Trang 19

đứng ra để cứu trợ hoặc giúp đỡ cho người lao động để người lao động và gia đình họvượt qua được khó khăn đó Từ đó góp phần làm giảm chi cho ngân sách Nhà nước,đồng thời giảm bớt được các tệ nạn xã hội phát sinh, giữ vững ổn định chính trị xãhội.

Ba là, nguồn thu BHXH giúp cho Nhà nước thực hiện được các công trình xâydựng trọng điểm của quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế, xã hội quốc giabởi BHXH tập trung được nguồn quỹ lớn Nguồn quỹ này thường dùng để chi trả chocác sự kiện BHXH xảy ra về sau Chính vì vậy mà quỹ này có một thời gian nhàn rỗinhất định đặc biệt là quỹ dành cho chế độ dài hạn Trong khoảng thời gian nhàn rỗi

ấy quỹ BHXH tạo thành một nguồn vốn lớn đầu tư cho các chương trình phát triểnkinh tế xã hội của quốc gia Việc sử dụng nguồn quỹ BHXH nhàn rỗi vào hoạt độngđầu tư vốn đã góp phần làm cho thị trường tài chính quốc gia thêm đa dạng và phongphú

Riêng đối với nước ta, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyểnsang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc đổi mới cơ chế chínhsách BHXH theo nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng BHXH lại càng trở lêncấp thiết đã làm nổi bật vai trò quan trọng của thu BHXH trong nền kinh tế thịtrường Chúng ta có thể thấy được điều này qua thực tiễn: Thời kỳ nền kinh tế nước

ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, quỹ BHXH chỉ tồn tại trêndanh nghĩa, còn thực chất thì không, mọi khoản kinh phí chi trả BHXH đều do ngânsách Nhà nước bao cấp, do vậy hiện tượng chậm lương hưu của đối tượng từ 2-3tháng, thậm chí là lâu hơn vẫn thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến đời sống củađối tượng đã khó khăn này càng khó khăn hơn

Từ năm 1995, cơ chế, chính sách BHXH có sự thay đổi cơ bản, mà một trongnhững thay đổi ấy là người lao động chỉ được hưởng BHXH khi bản thân họ và đơn

vị sử dụng họ phải đóng BHXH theo tỷ lệ do pháp luật quy định (người lao độngđóng bằng 5% tiền lương tháng còn người sử dụng lao động đóng bằng 15% quỹ tiềnlương) với quy định này từ năm 1995 đến năm 2003 quỹ BHXH đã có số thu trên42.000 tỷ đồng để đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời cho đối tượng do quỹ

12

Trang 20

BHXH đảm bảo Đến hết năm 2003 quỹ BHXH vẫn còn số dư trên 34.000 tỷ đồng đểđầu tư bảo toàn, tăng trưởng quỹ [24] Việc hình thành quỹ BHXH trên thực tế và với

số thu ngày càng tăng, đã góp phần giảm đáng kể "gánh nặng" cho ngân sách nhànước trong việc bao cấp chi trả các chế độ BHXH, để có điều kiện đầu tư vào các lĩnhvực kinh tế - xã hội cần thiết khác Ngoài ra, hiện nay Chính phủ đang đẩy mạnh quátrình đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo hướng cổ phần hóa, giaokhoán, bán, cho thuê doanh nghiệp… thì hiện tượng người lao động dôi dư, bị mấtviệc làm là điều không tránh khỏi, thậm chí còn là một số lượng lớn Trong điều kiệnnhư vậy, nếu không có BHXH thì người lao động sẽ bị đẩy ra khỏi nơi làm việc màkhông được đảm bảo về quyền lợi Chỉ qua hai ví dụ trên chúng ta cũng đã làm rõ vaitrò quan trọng của thu BHXH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa của nước ta hiện nay

1.2 Pháp luật về thu bảo hiểm xã hội

1.2.1 Khái niệm pháp luật thu bảo hiểm xã hội

Là một bộ phận cấu thành của pháp luật BHXH, pháp luật thu BHXH được

hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thu, nộp tiền BHXH và quản lý quỹ BHXH.

Pháp luật thu BHXH quy định về đối tượng có trách nhiệm tham gia BHXHbắt buộc hoặc được quyền tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện (tùy theo pháp luậtcủa từng quốc gia), quy định tỷ lệ đóng góp, căn cứ đóng góp BHXH, phương thứcđóng BHXH, trách nhiệm tổ chức thực hiện thu BHXH cũng như quản lý quỹ BHXH

1.2.2 Nội dung pháp luật về thu bảo hiểm xã hội

Các quốc gia khác nhau thì việc quy định nội dung pháp luật thu BHXH cũng

có sự khác nhau đáng kể, song nhìn chung thường quy định các nội dung cơ bản sau:

Đối tượng tham gia BHXH: Đối tượng tham gia BHXH là đơn vị, tổ chức

hoặc cá nhân có trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH để hưởng các chế độ BHXH

Trang 21

Đối tượng tham gia BHXH cũng có thể không phải đóng góp vào quỹ BHXH nhữngvẫn được hưởng BHXH do được tổ chức khác đóng BHXH hoàn toàn cho.

Mức đóng BHXH: Mức đóng BHXH là tỷ lệ đóng góp vào quỹ BHXH của các

đối tượng tham gia BHXH Phần lớn các quốc gia quy định mức đóng BHXH đềudựa trên mức thu nhập hàng tháng của người lao động Ở Việt Nam, mức đóngBHXH được tính trên cơ sở là tiền lương, tiền công hàng tháng và một số đối tượngthì căn cứ trên mức lương tối thiểu chung tại từng thời điểm

Phương thức đóng BHXH: Phương thức đóng BHXH là những quy định về

việc đóng BHXH bằng tiền mặt hay chuyển khoản; đóng hàng tháng hay hàng quý;quy định về việc tạm dừng đóng BHXH …

Tổ chức BHXH: Tổ chức BHXH là cơ quan có trách nhiệm tổ chức, quản lý

việc thu BHXH Ở các quốc gia khác nhau, tổ chức BHXH có tên gọi và vị trí pháp lýkhác nhau, có quốc gia đặt tổ chức BHXH là một bộ phận của Bộ Lao động, có quốcgia gọi tên là Văn phòng An sinh xã hội Ở Việt Nam, tổ chức BHXH được gọi tênđầy đủ là BHXH Việt Nam với vị trí pháp lý là cơ quan thuộc Chính phủ

Quỹ BHXH: Quỹ BHXH là quỹ tiền tệ được hình thành chủ yếu từ sự đóng

góp của đối tượng tham gia BHXH và chủ yếu được dùng để chi trả các chế độBHXH Ở phần lớn các quốc gia trên thế giới, quỹ BHXH thường độc lập với ngânsách Nhà nước nhưng đều được ngân sách Nhà nước bảo hộ, cũng có một số nhỏquốc gia đặt quỹ BHXH là một mục trong ngân sách Nhà nước và hạch toán khôngđộc lập với ngân sách Nhà nước

Đầu tư và tăng tưởng quỹ BHXH: Việc sử dụng nguồn tài chính nhàn rỗi của

quỹ BHXH vào việc đầu tư bằng nhiều hình thức để phát triển quỹ thêm lớn mạnhcũng là một nội dung quy định về pháp luật thu BHXH Pháp luật quy định cụ thểnguyên tắc, cách thức đầu tư, quy trình thủ tục của các biện pháp đầu tư để đảm bảotính an toàn và hiệu quả

Xử lý vi phạm về thu BHXH: Pháp luật quy định về các biện pháp xử lý đối

với những hành vi vi phạm pháp luật về thu BHXH, các hình thức chủ yếu được ápdụng đó là phạt tiền, cũng có một số quốc gia áp dụng hình phạt tù (Thái Lan) Ở

14

Trang 22

nước ta hiện nay mới chỉ quy định vi phạm về BHXH là vi phạm hành chính, chưaquy định về tội hình sự.

1.2.3 Ý nghĩa pháp luật thu bảo hiểm xã hội

BHXH hay bất kỳ một ngành nghề, một lĩnh vực nào cũng cần có pháp luậtđiều chỉnh, cần được vận hành theo một khuôn mẫu, một chuẩn mực nhất định đểđảm bảo tính công bằng và bền vững, để hạn chế những tác động tiêu cực hay những

vi phạm có thể gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người thụ hưởng Hơn thế nữa,BHXH với vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống chính sách ASXH thì sự liênquan, ảnh hưởng và gắn bó với quyền lợi của nhân dân, ảnh hưởng đến chính sáchcủa Đảng và Nhà nước càng mạnh mẽ và vì thế nó tiềm ẩn nhiều khả năng bị lạmdụng, tiêu cực và vi phạm Chính vì vậy, BHXH nói chung cần được thể chế hóa vàđiều chỉnh bằng hệ thống quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản hướng dẫn để cóthể thực hiện nghiêm túc và đạt được mục tiêu của chính sách ASXH mà Đảng vàNhà nước đã giao phó

Thu BHXH là một mắt xích quan trọng trong toàn bộ quy trình thực hiện chế

độ, chính sách về BHXH, đặc biệt quan trọng hơn nó còn là đầu vào trong hệ thốngdây chuyền đó Chính vì vậy thu BHXH không thể là hoạt động tự do của một nhóm

cá nhân hay tổ chức nào đó mà nó cần thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật.BHXH là chính sách được áp dụng rộng rãi trong toàn xã hội, bởi vậy phải có sựthống nhất về mức thu, mức hưởng và các chế độ trợ cấp Không ai có thể tự ý đặt rahoặc thay đổi mức thu hay mức hưởng ấy Và để thống nhất nó phải được hệ thốngthành pháp luật Việc điều chỉnh hoạt động thu BHXH bằng pháp luật sẽ tạo một cơ

sở pháp lý cho toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ tổ chức thu BHXH cũng như tổchức quản lý quỹ BHXH, tạo cơ sở cho việc kiểm soát, đánh giá và xử lý khi có viphạm xảy ra Đây đồng thời cũng là cơ sở cho việc đảm bảo hoạt động thu BHXHđược thực hiện nghiêm chỉnh, nghiêm minh và đúng mục đích

1.3 Pháp luật thu bảo hiểm xã hội của một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Pháp luật thu bảo hiểm xã hội của Trung Quốc

Luật Lao động của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa có hiệu lực

từ 01/01/1995 có một chương quy định về BHXH và phúc lợi xã hội Theo đó, trách

Trang 23

nhiệm nộp tiền vào quỹ BHXH thuộc về hai bên, đó là người lao động và người sử

dụng lao động Ngân sách Nhà nước chỉ hỗ trợ cho các quỹ BHXH khi có sự mất cân

đối thu chi do các nguyên nhân bất khả kháng Luật BHXH năm 2011 của Trung

Quốc chỉ quy định những nguyên tắc chung, còn nội dung cụ thể thì giao cho chính

quyền các tỉnh Tỷ lệ đóng góp vào quỹ BHXH không được quy định thống nhất

trong cả nước mà có sự khác nhau giữa các địa phương Ví dụ, ở thủ đô Bắc Kinh và

thành phố Thượng Hải, tỷ lệ đóng BHXH quy định như sau:

Bảng 1.1: Tỷ lệ đóng BHXH ở một số địa phương của Trung Quốc

lao động lao động dụng lao động lao động

Sự nghiệp BHXH của Trung Quốc do Bộ Nhân lực và ASXH quản lý và bao

gồm năm loại bảo hiểm thành phần, đó là: Bảo hiểm tiền cấp dưỡng (hay còn gọi là

bảo hiểm hưu trí), Bảo hiểm thương tật lao động, Bảo hiểm thai sản, Bảo hiểm y tế và

Bảo hiểm thất nghiệp [45]

1.3.2 Pháp luật thu bảo hiểm xã hội của Thái Lan

Luật ASXH của Thái Lan ra đời năm 1990 và được sửa đổi, bổ sung năm

1999 đã quy định thống nhất các nội dung liên quan đến ASXH trên cả nước

Khái niệm lương làm căn cứ đóng vào các quỹ bảo hiểm theo quy định tại

Phần 5 của Luật ASXH Thái Lan là tất cả các loại tiền mà người sử dụng lao động

trả cho người lao động trong ngày, giờ làm việc bình thường, cho dù đó là tính toán

Trang 25

theo thời gian hay khi có sản lượng sản xuất của người lao động, bao gồm cả tiền mà người sử dụng lao động trả cho ngày nghỉ lễ và ngày nghỉ việc của người lao động.

Đối tượng tham gia BHXH là người lao động có độ tuổi từ mười lăm đến sáumươi lăm tuổi, là người làm việc cho người sử dụng lao động và được hưởng tiềnlương

Bên cạnh người lao động, chủ sử dụng lao động và Chính phủ cũng cùng đónggóp vào các quỹ bảo hiểm, tỷ lệ đóng góp tối đa của ba bên được quy định bằngnhau, cụ thể như sau: 4,5 % tiền lương đóng vào quỹ Bảo hiểm y tế, Bảo hiểmthương tật, Bảo hiểm khi chết, Bảo hiểm sinh con, mỗi bên đóng 1,5% Quỹ chi trảcho các lợi ích phụ cấp và lợi ích tuổi già, mỗi bên đóng tối đa bằng 3% tiền lương;quỹ bảo hiểm thất nghiệp mỗi bên đóng tối đa 5% [49]

1.3.3 Pháp luật thu bảo hiểm xã hội của Đức

Hệ thống Luật ASXH của Cộng hòa Liên bang Đức được coi là hệ thống phápluật đặt nền móng đầu tiên cho nền ASXH thế giới Luật ASXH của Đức rất phongphú, được chia ra thành nhiều nhiều đạo luật như: Luật Bảo hiểm hưu trí năm 2002,Luật Thai sản năm 1924, Luật Ốm đau năm 1988, Luật Chăm sóc sức khỏe năm

1994, Luật Bảo hiểm tai nạn năm 1996, Luật khuyến khích lao động năm 1997 vàLuật Trợ cấp thất nghiệp cơ bản năm 2010

Phần lớn các đạo luật đều được áp dụng cho đại đa số người dân, được liệt kêbao gồm người lao động đang làm việc, người lao động học nghề và nhóm lao động

tự do Người sử dụng lao động và các ông chủ đầu tư cũng có trách nhiệm tham giađóng góp các loại hình bảo hiểm cho người làm công của mình Bên cạnh đó Chínhphủ cũng đứng ra tài trợ đối với một số trợ cấp không được đóng góp hoặc đóng gópít

Mức đóng góp vào các loại quỹ bảo hiểm được quy định riêng rẽ theo từngđạo luật và có sự quy định chi tiết đối với từng nhóm đối tượng

17

Trang 26

Bảo hiểm hưu trí:

Người lao động đóng vào quỹ Bảo hiểm hưu trí với tỷ lệ bằng 9,8% thu nhậpcủa mình nếu thu nhập cao hơn 800 €, mức đóng góp thấp hơn nếu thu nhập đạt từ

401 đến 800 €, còn nếu thu nhập đạt bằng hoặc dưới 400 € thì không phải đóng

Người lao động tự do đóng bằng 19,6 % thu nhập hàng tháng Mức đóng góptối thiểu một tháng là 78,40 € và mức tối đa là 1.097 €

Người sử dụng lao động đóng bằng 9,8% tiền lương tháng của người lao động,nếu người lao động thuộc nhóm đối tượng lương thấp (ít hơn hoặc bằng 400 €) thìngười sử dụng lao động đóng bằng 15% thu nhập của người lao động

Chính phủ sẽ chi các khoản tiền tài trợ cho một số trợ cấp nhất định mà khôngnhận được sự đóng góp từ phía người lao động cũng như người sử dụng lao động

Bảo hiểm ốm đau, thai sản, chăm sóc sức khỏe:

Mức đóng góp của người lao động cũng được quy định dựa trên căn cứ mứcthu nhập thực tế Người lao động đóng bằng 8,2% thu nhập vào quỹ ốm đau thai sản

và 0,975% vào quỹ chăm sóc sức khỏe nếu thu nhập cao hơn 800 €, mức đóng giảmdần với thu nhập trong khoảng từ 401 đến 800 €

Người đang hưởng lương hưu cũng phải đóng tiền vào quỹ bảo hiểm ốm đau,thai sản và chăm sóc sức khỏe với tỷ lệ đóng góp là 8,2% và 1,95 % lương hưu

Quỹ bảo hiểm ốm đau, thai sản cũng có sự đóng góp của nhóm học sinh, sinhviên với số tiền đóng góp một tháng bằng 65 € Lao động tự do trong trường hợp nàyđược tự chọn mức đóng căn cứ trên nhu cầu và thu nhập thực tế

Các ông chủ đầu tư đóng mức trung bình bằng 7,3% thu nhập của người laođộng được bảo hiểm và đóng bằng 13% nếu người lao động có thu nhập thấp hơn 400

€ Đối với quỹ chăm sóc sức khỏe, mức đóng góp của người sử dụng lao động là0,975% thu nhập Tương ứng với người sử dụng lao động, quỹ hưu trí cũng phảiđóng góp vào quỹ bảo hiểm ốm đau, thai sản với tỷ lệ bằng 7,3% lương hưu

Chính phủ trong trường hợp này chịu trách nhiệm về các khoản trợ cấp về thaisản, chăm sóc sức khỏe cho nhóm đối tượng là nông dân nghỉ hưu, Chính phủ

Trang 27

cũng có trách nhiệm đóng góp vào quỹ chăm sóc sức khỏe cho người thất nghiệp vàhọc sinh, sinh viên.

Bảo hiểm thương tật:

Trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm thương tật chủ yếu thuộc về nhàtuyển dụng, tỷ lệ đóng góp trung bình bằng 1,32 % tiền lương của người lao động,các khoản đóng góp khác nhau tùy theo mức độ được đánh giá rủi ro Người lao động

tự do đóng với mức độ khác nhau cũng dựa trên mức độ rủi ro của ngành nghề làmviệc

Chính phủ tài trợ khoản đóng góp cho sinh viên, trẻ em trong các cơ sở chămsóc sức khỏe và những người tham gia vào các hoạt động tình nguyện

Bảo hiểm thất nghiệp:

Người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng 1,45% thu nhập đượcbảo hiểm của mình Lao động làm các ngành nghề tự do đóng bằng mức 3% của mộtnửa giá trị thu nhập tham khảo một tháng, sau hai năm tự làm việc phải đóng bảohiểm thất nghiệp tính trên thu nhập đầy đủ

Người sử dụng lao động cũng đóng bằng mức 1,45 % thu nhập của người laođộng Chính phủ tài trợ quỹ bảo hiểm thất nghiệp bằng cách cho vay hoặc viện trợkhi bộ chi quỹ [50]

19

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về thu bảo hiểm xã hội

2.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội

Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình hình thành và pháttriển hệ thống pháp luật về BHXH của nước ta Ngày 23/6/1994 Bộ luật Lao động đãđược Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1995 và có 01 chương quyđịnh về BHXH Việc đưa những quy định về BHXH vào trong một văn bản có giá trịpháp lý cao như Bộ luật là một bước tiến vượt bậc so với giai đoạn trước chỉ dừng lại

ở Nghị định, Thông tư Điều đó thể hiện vị trí, vai trò ngày càng lớn của BHXH trongđời sống kinh tế xã hội và cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước

ta trong thực hiện chính sách BHXH đối với nhân dân và người lao động

Chương XII Bộ luật Lao động năm 1994 nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệmtham gia BHXH của các bên, đó là “người sử dụng lao động, người lao động phảiđóng BHXH theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật này và người lao động đượchưởng các chế độ trợ cấp BHXH ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thaisản, hưu trí và tử tuất” Từ quy định này, tính chất bắt buộc tham gia BHXH đối vớingười lao động và người sử dụng lao động được làm rõ và nhấn mạnh hơn, làm cơ sởcho việc thực hiện nghiêm chỉnh quy định pháp luật về BHXH sau này Các điều luậttrong chương XII Bộ luật Lao động 1994 đã quy định cụ thể về các chế độ BHXH,các hình thức tham gia BHXH … Điều 149 quy định về nguồn hình thành quỹBHXH như sau: Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương;người lao động đóng bằng 5% tiền lương; Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảmthực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động và các nguồn khác Quỹ BHXHđược quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập vàđược Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị

và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ

Trang 29

Thể chế hóa những quy định trong chương XII của Bộ luật Lao động 1994,ngày 26/01/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP về việc ban hành Điều lệBHXH với hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1995.

Nghị định 12/CP đã quy định cụ thể đối tượng có trách nhiệm tham gia

BHXH bắt buộc như sau:

“Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước;

Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên;

Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp; trong các cơ quan, tổ chức nước ngoàihoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;

Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quanhành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể;

Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ thuộclực lượng vũ trang;

Người giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý nhànước, Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến cấp huyện;

Công chức, viên chức Nhà nước làm việc trong các cơ quan hành chính sựnghiệp; người làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến cấphuyện;

Các đối tượng trên đi học, thực tập, công tác điều dưỡng trong và ngoài nước

mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tượng thực hiện bảo hiểm

xã hội bắt buộc”

Trên cơ sở kế thừa Nghị định 12/CP và tiếp tục hoàn thiện hơn nữa quy định

về đối tượng có trách nhiệm tham gia BHXH bắt buộc, Luật BHXH năm 2006 quyđịnh trách nhiệm tham gia BHXH thuộc về 5 nhóm đối tượng sau:

“a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợpđồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;

21

Trang 30

b) Cán bộ, công chức, viên chức;

d) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếuhưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;

đ) Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;

e) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.”

Luật BHXH năm 2006 quy định đối tượng có trách nhiệm tham gia BHXH bắtbuộc không chỉ dừng lại ở người lao động mà quy định cụ thể người sử dụng lao độngcũng có trách nhiệm phải tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm: Cơ quan Nhà nước,đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xãhội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ ViệtNam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cánhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động

Việc quy trách nhiệm cho cả hai bên, người lao động và người sử dụng laođộng đều phải tham gia BHXH là điểm mới so với Nghị định 12/CP Lối quy địnhđối tượng tham gia BHXH có tính chất mở của Luật BHXH năm 2006 cũng khắcphục được hạn chế của biện pháp liệt kê là thiếu sót đã tồn tại ở nhiều văn bản trướcđây

Bên cạnh đó, Luật BHXH năm 2006 cũng quy định thêm nhóm đối tượngtham gia BHXH tự nguyện Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được quy định làcông dân Việt Nam trong độ tuổi lao động và không thuộc đối tượng tham gia BHXHbắt buộc

Nhóm đối tượng này sau này được quy định theo hình thức liệt kê ở văn bảnhướng dẫn thực hiện là Nghị định số 190/2007/NĐ-CP Theo đó, đối tượng tham giaBHXH tự nguyện bao gồm: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có

Trang 31

thời hạn dưới 3 tháng, cán bộ không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố, ngườitham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xã viên không hưởng tiềnlương, tiền công làm việc trong các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, người tự tạo việclàm, người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham giaBHXH bắt buộc hoặc đã hưởng BHXH một lần và những lao động khác.

Luật BHXH năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2016 quy định bổ sung một số đốitượng tham gia BHXH bắt buộc so với Luật BHXH năm 2006, đó là:

- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới

03 tháng

- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương

- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn

- Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấyphép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyềncủa Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ

2.1.2 Tiền lương làm căn cứ thu bảo hiểm xã hội

Tiền lương làm căn cứ thu BHXH là khoản thu nhập được quy định làm căn

cứ xác định số tiền BHXH phải đóng góp dựa trên tỷ lệ đóng góp theo quy định củapháp luật ở từng thời kỳ

Quy định về tiền lương làm căn cứ thu BHXH từ trước đến nay vẫn là quỹ tiềnlương, bao gồm: tiền lương và các khoản phụ cấp lương như: Phụ cấp khu vực, phụcấp chênh lệch giá sinh hoạt theo vùng, phụ cấp thâm niên đặc biệt, phụ cấp thâmniên vượt khung, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp độc hại, khó khăn, nguy hiểm

Nghị định 12/CP cũng quy định căn cứ tham gia BHXH theo hướng đó tuynhiên có rút gọn một số phụ cấp lương vì các phụ cấp lương đó không có tính chất

phổ biến Theo đó, tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH gồm lương theo ngạch

23

Trang 32

bậc, chức vụ, hợp đồng và các khoản phụ cấp khu vực đắt đỏ, chức vụ, thâm niên, hệ

số chênh lệch bảo lưu (nếu có).

Quy định về tiền lương làm căn cứ thu BHXH trong Nghị định 12/CP xét mộtcách toàn diện đã đầy đủ Nhóm lao động làm việc trong khu vực Nhà nước, hưởnglương theo ngạch, bậc thì đóng BHXH theo ngạch, bậc tương ứng Nhóm lao độnglàm việc trong khu vực ngoài quốc doanh, hưởng lương theo hợp đồng lao động thìđóng BHXH theo mức lương trong hợp đồng lao động Đối tượng nào có phụ cấp thìcăn cứ đóng BHXH tính thêm khoản phụ cấp đó

Giai đoạn này, chưa có quy định cụ thể về chế độ tiền lương, Chính phủ chưađưa ra quy định về mức lương tối thiểu vùng và khoản phụ cấp thống nhất trong cảnước nên quy định về tiền lương và các khoản phụ cấp làm căn cứ tham gia BHXH

kể trên chưa có tính khả thi, việc áp dụng vì thế không được triệt để

Vẫn cùng chung quan điểm về tiền lương làm căn cứ tham gia BHXH bắtbuộc như trên, nhưng quy định của Luật BHXH năm 2006 có sự khác biệt LuậtBHXH năm 2006 quy định quỹ tiền lương làm căn cứ thu BHXH chi tiết, cụ thể và

có sự phân tách giữa các nhóm đối tượng như sau:

“1 Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nướcquy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậcquân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấpthâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểuchung

dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là mức tiền lương, tiềncông ghi trong hợp đồng lao động

3 Trường hợp mức tiền lương, tiền công quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điềunày cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu chung thì mức tiền lương, tiền công tháng đóngBHXH bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung.”

Trang 33

Riêng đối với đối tượng tham gia BHXH là hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhândân và hạ sỹ quan, chiến sỹ công an nhân dân phục vụ có thời hạn thì tiền lương làmcăn cứ tham gia BHXH là lương tối thiểu chung theo từng thời điểm.

Đối với loại hình BHXH tự nguyện, căn cứ tham gia là mức thu nhập do ngườitham gia lựa chọn sao cho không thấp hơn lương tối thiểu chung và cao nhất bằng haimươi tháng lương tối thiểu chung

Nội dung quy định kể trên nhìn chung khá hợp lý Số tiền BHXH cần phảiđóng phải được xác định trên căn cứ là thu nhập ổn định hàng tháng của người thamgia Đối với nhóm lao động ngoài quốc doanh, thu nhập ổn định hàng tháng chính làmức tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, còn đối với nhóm lao động trong khuvực nhà nước, thu nhập ổn định chính là mức lương theo ngạch, bậc, cấp quân hàm

và một số phụ cấp

Bản chất của BHXH chính là sự chia sẻ giữa những người cùng tham gia cũngđồng thời là sự phân phối lại thu nhập Vì vậy, Luật BHXH năm 2006 đã quy địnhkhống chế mức tối thiểu và mức tối đa làm căn cứ tham gia BHXH dựa trên cơ sở làmức lương tối thiểu chung

Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế, nội dung quy định trên đã tạo ra một khe

hở pháp lý để các đối tượng có thể vận dụng trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH Vớicách thức quy định cứng: tiền lương làm căn cứ tham gia BHXH đối với lao độngđóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định là mứctiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động, người lao động và người sử dụnglao động có thể đóng BHXH ở mức thấp hơn so với thu nhập thực tế bằng cách chianhỏ thu nhập thành các khoản phụ cấp ngoài lương, ký hợp đồng lao động với mứclương thấp hơn mức lương thực trả

Đối với nhóm lao động làm việc trong khu vực nhà nước, cách quy định kểtrên chưa được coi là toàn diện Có rất nhiều lao động làm việc trong các ngành nghềđặc biệt như: Thuế, hải quan, kho bạc, y có mức thu nhập ổn định cao hơn mứclương theo ngạch, bậc nhưng không được tính làm căn cứ tham gia BHXH

25

Trang 34

Luật BHXH năm 2014 quy định bổ sung khoản thu nhập phải đóng BHXH đốivới nhóm lao động hưởng lương do đơn vị sử dụng lao động quyết định là các khoảnphụ cấp lương và các khoản bổ sung theo pháp luật về lao động.

2.1.3 Quy định về tỷ lệ thu bảo hiểm xã hội

Mức đóng BHXH là tỷ lệ đóng góp vào quỹ BHXH của người tham giaBHXH tính trên cơ sở tiền lương làm căn cứ tham gia BHXH

Mức đóng BHXH có sự quy định khác nhau giữa hai nhóm đối tượng, một làngười lao động, hai là người sử dụng lao động Sự khác nhau đó thể hiện như sau:

Theo quy định tại Điều 36 Nghị định 12/CP: Người lao động đóng BHXHbằng 5% tiền lương hàng tháng còn người sử dụng lao động đóng BHXH bằng 15%tính trên tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị Số tiềnđóng vào quỹ BHXH của người lao động và người sử dụng lao động được phân bổvào các quỹ thành phần của quỹ BHXH (5 % đóng vào quỹ ốm đau, thai sản, tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động đóng toàn bộ, 15% còn lạiphân bổ vào quỹ hưu trí và tử tuất)

Mức đóng BHXH kể trên được đúc kết trên cơ sở có sự cân đối giữa tổng sốthu BHXH và tổng số chi BHXH hàng năm đồng thời có tính đến khả năng đóng gópcủa người lao động và người sử dụng lao động Vì vậy, trong một thời gian dài, mứcđóng góp như vậy đã đảm bảo khả năng chi trả các chế độ BHXH và có phần kết dư

để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Tuy nhiên, đây vẫn là lối quy định cứng một vấn đềdẫn đến hạn chế Mức đóng góp theo quy định của Nghị định 12/CP chỉ phù hợptrong một giai đoạn nhất định, vẫn cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tìnhhình thực tế cũng như phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội

Mức đóng BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong Luật BHXH năm 2006không quy định cứng nhắc mà mang tính lộ trình, có sự quy định cụ thể mức đónggóp vào các quỹ thành phần, cụ thể như sau:

Đối với nhóm đối tượng quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 điều 2 LuậtBHXH, người lao động đóng BHXH vào quỹ hưu trí và tử tuất ở mức 5%, từ năm

2010 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 8%;

Trang 35

người sử dụng lao động đóng BHXH ở mức 15%, trong đó 3% đóng vào quỹ ốm đau,thai sản, 1% đóng vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, 11 % đóng vào quỹhưu trí và tử tuất, từ năm 2010 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm vào quỹ hưu trí

và tử tuất 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%

Đối với nhóm đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 điều 2 Luật BHXH(người lao động là hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và hạ sỹ quan, chiến sỹcông an nhân dân phục vụ có thời hạn), mức đóng BHXH là 17%, trong đó 1% đóngvào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, 16% đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, từnăm 2010 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm vào quỹ hưu trí và tử tuất 2% cho đếnkhi đạt mức đóng là 23% Trách nhiệm đóng BHXH của nhóm đối tượng này chỉthuộc về người sử dụng lao động

Mức đóng BHXH tự nguyện là 16% mức thu nhập do người lao động lựachọn, từ năm 2010 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mứcđóng là 22%

Quy định về mức đóng BHXH theo lộ trình tăng dần cho thấy một tầm nhìndài hạn, hạn chế được sự tụt hậu so với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Khidiện bao phủ của BHXH thêm rộng, người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXHtăng lên thì nhu cầu của sự chi trả các chế độ BHXH cũng tăng lên theo đó Điều đóđòi hỏi phải có sự lớn mạnh, sự kết dư an toàn và sự tăng trưởng hiệu quả của quỹBHXH Việc tăng mức đóng chính là biện pháp hữu hiệu để tăng nguồn quỹ BHXH.Hơn nữa, khi kinh tế phát triển, thu nhập bình quân được cải thiện thì việc tăng mứcđóng BHXH cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến chất lượng cuộc sống của ngườilao động

2.1.4 Phương thức thu bảo hiểm xã hội

Nghị định 12/CP quy định người lao động và người sử dụng lao động có tráchnhiệm đóng vào quỹ BHXH bằng phương thức đóng hàng tháng, đóng cùng với kỳtrả lương cho người lao động Trong quá trình trả lương thì trích số tiền BHXH củangười lao động cùng với trích phần đóng góp của người sử dụng lao động để đồngthời nộp vào quỹ BHXH

27

Trang 36

Sau này, khi có nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp, diêm nghiệp, kỳ trả lương cho người lao động phụ thuộc vào mùa vụ hoặcvào kỳ thu hoạch thì việc quy định phương thức đóng BHXH hàng tháng đã gâynhiều khó khăn Khắc phục được điều đó, Luật BHXH năm 2006 đã quy định bổsung phương thức đóng BHXH theo quý hoặc sáu tháng một lần cho loại hình doanhnghiệp này.

Với quy định đóng BHXH hàng quý hoặc sáu tháng một lần, doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp đã được tạo điều kiện vềnguồn kinh phí đóng BHXH So với trước đây, nếu không đủ kinh phí đóng BHXHhàng tháng thì số nợ BHXH chưa đóng sẽ bị tính lãi chậm nộp

2.1.5 Quỹ bảo hiểm xã hội và đầu tư, tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ

BHXH là quỹ tiền tệ tập trung sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân có

trách nhiệm tham gia BHXH và chủ yếu được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH.Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, hạch toán độc lập với ngân sách Nhànước và được Nhà nước bảo hộ

Quỹ BHXH theo quy định của Nghị định 12/CP và Luật BHXH năm 2006 đềuđược hình thành từ các nguồn đóng góp khác nhau Đó là: Nguồn đóng góp từ phíangười lao động và người sử dụng lao động, nguồn đóng góp và hỗ trợ từ phía Nhànước, nguồn từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ và các nguồn thu hợp phápkhác

Trong các nguồn hình thành quỹ BHXH kể trên, phần thu từ người lao động,người sử dụng lao động và tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư quỹ được xác định lànguồn hình thành chủ yếu Nguồn hỗ trợ từ phía Nhà nước giai đoạn còn hiệu lực củaNghị định 12/CP được dùng để chi cho người đang hưởng chế độ BHXH trước năm

1995 và đóng BHYT cho người đang hưởng chế độ BHXH, sau này nguồn đóng từngân sách Nhà nước được sử dụng để hỗ trợ cho đối tượng là người nghèo, đối tượngchính sách Nguồn hỗ trợ của ngân sách Nhà nước cũng phát sinh khi quỹ BHXH mấtcân bằng thu - chi hoặc quỹ BHXH mất khả năng chi trả các chế độ BHXH

Trang 37

Các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH được xác định là nguồn tài trợ,viện trợ quốc tế và trong nước, giá trị tài sản của BHXH được đánh giá lại

Nghị định 12/CP khi quy định về mức đóng BHXH có quy định cụ thể tỷ lệphân bổ mức đóng góp vào các quỹ thành phần nhưng chưa có điều khoản quy địnhcác loại quỹ thành phần của quỹ BHXH Điều 89 Luật BHXH năm 2006 đã quy định

cụ thể ba loại quỹ thành phần phân chia từ quỹ BHXH, bao gồm: Quỹ ốm đau và thaisản, quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, quỹ hưu trí và tử tuất Các quỹ thànhphần đều được hạch toán tài chính độc lập

Luật BHXH năm 2006 cũng quy định về việc sử dụng quỹ BHXH, bao gồm:Trả các chế độ BHXH theo quy định cho người lao động; Đóng BHYT cho ngườiđang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp hằng tháng; chi phí quản lý; chi khen thưởng theo quy định; đầu tư để bảotoàn và tăng trưởng quỹ

Việc quản lý quỹ BHXH phải tuân theo nguyên tắc công khai, minh bạch, antoàn, hiệu quả Quỹ BHXH là quỹ tài chính tập trung sự đóng góp từ những người cótrách nhiệm cùng tham gia BHXH và cũng là nguồn để chi trả các chế độ BHXH chongười tham gia BHXH Chính vì vậy việc quản lý, sử dụng quỹ phải đảm bảo tínhcông khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả Hàng năm phải thực hiện báo cáo tìnhhình tài chính công khai để người tham gia BHXH được biết Các hoạt động cho vayhay đầu tư từ quỹ BHXH phải đảm bảo tính an toàn và hiệu quả, tránh trường hợp sửdụng quỹ sai mục đích, đầu tư quỹ không hiệu quả dẫn đến thất thoát hay “vỡ” quỹBHXH

Đối với nước ta, khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơchế thị trường thì Quỹ BHXH phải tuân theo một nguyên tắc nữa là tự chủ về tàichính Nguyên tắc này là hết sức cần thiết, vì chỉ có như vậy mới thực sự hình thànhđược quỹ BHXH, giảm "gánh nặng" cho ngân sách Nhà nước, đồng thời đảm bảo sựcông bằng giữa những người lao động tham gia và hưởng BHXH Do đó hoạt độngđầu tư từ quỹ BHXH được nhận định là một yêu cầu khách quan Người tham giaBHXH đóng BHXH trong một thời gian dài sau đó mới hưởng các chế độ

29

Trang 38

BHXH nên quỹ BHXH tại một thời điểm nhất định có số tiền kết dư lớn Mặt khác,quỹ BHXH phải đối mặt với nhiều nguy cơ rủi ro như lạm phát, khủng hoảng kinh tế,bội chi quỹ, đồng tiền trượt giá … Đầu tư từ quỹ BHXH là một biện pháp hữu hiệutrong việc bảo toàn và tăng trưởng giá trị quỹ BHXH.

Văn bản đầu tiên đề cập và quy định về đầu tư, tăng trưởng quỹ BHXH làNghị định 19/CP Theo đó, BHXH Việt Nam có nhiệm vụ xây dựng và tổ chức thựchiện các dự án và biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH Khi đó,Chính phủ đã tính đến biện pháp để phát triển quỹ BHXH bằng việc sử dụng nguồntiền nhàn rỗi đầu tư vào các chương trình, dự án… Nguồn hình thành quỹ BHXH từ

đó được tính thêm khoản tiền sinh lời từ việc thực hiện các hoạt động đầu tư

BHXH Việt Nam là tổ chức chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiệnnhiệm vụ đầu tư và tăng trưởng quỹ BHXH Nhiệm vụ cụ thể bao gồm:

- Tập trung các khoản khu, cân đối thu, chi các quỹ bảo hiểm và xác định số tiềntạm thời nhàn rỗi để thực hiện các hoạt động đầu tư

- Xây dựng phương án đầu tư trình Hội đồng quản lý phê duyệt Phương án đầu

tư phải có sự đánh giá tổng kết tình hình thực hiện đầu tư năm trước, ước thực hiện năm sau, dựkiến nội dung đầu tư

- Tổ chức thực hiện các hình thức đầu tư theo phương án đã được Hội đồng quản lý phê duyệt

Quỹ BHXH được đầu tư tăng trưởng dưới nhiều hình thức nhằm hướng tới tựchủ tài chính Tuy nhiên nguyên tắc này cũng chỉ mang tính tương đối và khi áp dụngthì bị giới hạn trong hai quy tắc chủ yếu:

Một là: Các nguồn quỹ BHXH chỉ được sử dụng vào những mục đích do luật

định như: Chi các loại trợ cấp do luật định, phòng ngừa rủi ro và những chi phí quản

lý cần thiết khác, nghĩa là tránh bị phân tán, sử dụng vào những mục đích khác, dùcác mục đích đó có chính đáng hoặc cấp bách đến đâu Quy tắc này có tính mệnhlệnh, không có gì phải bàn cãi

Hai là: Các nguồn dự trữ của quỹ phải được đưa vào đầu tư để bảo toàn giá trị

và tăng trưởng quỹ Việc đầu tư của quỹ phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 39

An toàn: Mục đích của quỹ BHXH là đảm bảo chi trả lương hưu và trợ cấp

BHXH cho người lao động Vì vậy, quỹ BHXH dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũngphải đảm bảo an toàn cho khoản đầu tư đó Đảm bảo an toàn không phải chỉ là bảotoàn được vốn đầu tư về danh nghĩa, mà còn là bảo toàn được cả giá trị thực tế củađầu tư, điều này càng đặc biệt quan trọng trong các thời điểm có lạm phát, giá sinhhoạt tăng lên khiến sức mua của đồng tiền bị giảm sút và phải điều chỉnh lại lươnghưu Nói cách khác, để đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH thì phải lựa chọn lĩnh vựcđầu tư để giảm thiểu rủi ro

Hiệu quả: Hiệu quả của đầu tư (lãi đầu tư) là sự tăng lên toàn bộ giá trị đầu tư

được tính trong một giai đoạn nhất định, thường là một năm Lãi đầu tư làm tăng thucho quỹ BHXH, đồng thời cho phép hạ tỷ lệ đóng góp hoặc ít nhất cũng không làmtăng tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động

Khả năng thanh toán hay tính lưu chuyển của vốn: Yêu cầu này trực tiếp liên

quan đến dự kiến lưu chuyển tiền mặt trong thu, chi của mỗi loại chế độ BHXH Bất

kỳ một vốn đầu tư nào từ nguồn dự trữ của quỹ BHXH, đều phải sẵn sàng đổi thànhtiền mặt và có thể rút được tiền một cách nhanh chóng, tránh cho những khoản đầu tưvướng vào những vấn đề tồn khoản

Có ích cho kinh tế và xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách xã

hội, do đó trong quá trình đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho dân cư,phải ra sức cải thiện chất lượng chung cho cuộc sống của đất nước

Các hình thức đầu tư theo quy định tại Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý tài chính đối với BHXHViệt Nam bao gồm:

- Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng thương mại Nhà nước;

- Cho ngân sách Nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội vay;

- Đầu tư vào các chương trình kinh tế trọng điểm quốc gia, một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định

31

Trang 40

- Các hình thức đầu tư khác do Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định.

Trong số các hình thức đầu tư kể trên, hình thức mua trái phiếu, tín phiếu,công trái của Nhà nước và cho vay đối với ngân sách Nhà nước là các hình thức được

ưu tiên áp dụng trước Trường hợp đầu tư bằng hình thức cho Ngân sách hoặc cácNgân hàng vay được quản lý khá chặt chẽ Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thểtừng nội dung liên quan như: Mức cho vay, thời hạn cho vay tối đa, mức lãi suất tiềnvay, thời hạn thu hồi nợ, gia hạn nợ, hợp đồng cho vay… Bộ Tài Chính hướng dẫn cụthể quy trình, thủ tục cho vay…

Quy định về các hình thức đầu tư từ quỹ BHXH là lối quy định theo hình thức

mở Chính phủ có tạo điều kiện cho Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam quyết địnhmột số loại hình đầu tư khác sao cho vẫn đảm bảo nguyên tắc an toàn, hiệu quả và cókhả năng thu hồi được khi cần thiết

2.1.6 Trách nhiệm tổ chức thu bảo hiểm xã hội và quản lý quỹ bảo hiểm

xã hội

Theo quy định của Nghị định 12/CP và Luật BHXH năm 2006, trách nhiệm tổchức thu BHXH và quản lý quỹ BHXH thuộc về tổ chức BHXH Việt Nam Khoản 1điều 106 Luật BHXH năm 2006 có ghi “Tổ chức BHXH là tổ chức sự nghiệp, cóchức năng thực hiện chế độ, chính sách BHXH, quản lý và sử dụng các quỹ BHXHtheo quy định của Luật này”

Giai đoạn trước năm 1995, trách nhiệm tổ chức thu và quản lý quỹ BHXHthuộc nhiều cơ quan, đó là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Nội vụ, Bộ Laođộng - Thương binh & Xã hội Sự phân tán trong thực hiện và quản lý dẫn đến chồngchéo trong nhiệm vụ và quyền hạn, thiếu thống nhất trong triển khai thực hiện và vìthế mà hiệu quả của sự nghiệp BHXH không cao Chính vì vậy, việc quy tụ các tổchức BHXH thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & Xã hội và Tổng Liên đoànLao động Việt Nam để thống nhất thành lập tổ chức BHXH độc lập là quy định đúngđắn và phù hợp nhất, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao mà sự nghiệp BHXH đặtra

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w