1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền con người và giáo dục quyền con người ở việt nam hiện nay luận văn ths luật 60 38 01 01

116 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 237,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai tròcủa pháp luật với quyền con người thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau: +Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội của các quyền tự nhiên: Mặc dù đư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

THẾ NGỌC MAI

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ

GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Thị Kim Quế

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Thế Ngọc Mai

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 5

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 5

1.1.1 Khái niệm quyền con người 5

1.1.2 Tính chất của quyền con người 9

1.1.3 Đặc điểm của quyền con người 11

1.1.4 Khái niệm giáo dục quyền con người 15

1.1.5 Mục đích giáo dục quyền con người 18

1.2 CHỦ THỂ, KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI; HÌNH THỨC, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 20

1.2.1 Chủ thể giáo dục quyền con người 20

1.2.2 Khách thể, đối tượng giáo dục quyền con người 22

1.2.3 Hình thức giáo dục quyền con người 25

1.2.4 Nội dung giáo dục quyền con người 27

1.2.5 Phương pháp giáo dục quyền con người 30

1.3 GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI – ĐIỀU KIỆN QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 36

1.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 41

1.4.1 Ý thức pháp luật của mỗi người dân 41

1.4.2 Hệ thống thể chế cầm quyền 43

1.4.3.Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 44

1.5 CÁC TIỀN ĐỀ ĐẢM BẢO GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI 44

1.5.1 Tiền đề, điều kiện chính trị 44

Trang 4

1.5.2 Tiền đề, điều kiện về kinh tế 46

1.5.3 Tiền đề, điều kiện về xã hội và nhận thức xã hội 46

1.5.4 Tiền đề, điều kiện pháp lý 47

1.5.5 Tiền đề, điều kiện về nguồn nhân lực và vật lực 50

1.6 KINH NGHIỆM GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LIÊN HỢP QUỐC VÀ CHÂU ÂU 53

1.6.1 Giáo dục quyền con người của Liên Hợp Quốc 53

1.6.2 Giáo dục quyền con người ở châu Âu 56

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 65

2.1 HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY65 2.1.1 Hoạt động giáo dục quyền con người trong trường học 66

2.1.2 Hoạt động giáo dục quyền con người bên ngoài trường học 79

2.2 NHỮNG THÀNH TỰU, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN RÚT RA TỪ THỰC TIỄN GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 81

2.2.1 Những thành tựu 81

2.2.2 Những tồn tại 85

2.2.3 Nguyên nhân rút ra từ thực tiễn giáo dục quyền con người ở Việt Nam trong thời gian qua 90

2.3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 91

2.3.1 Phương hướng chung 91

2.3.2 Các giải pháp tăng cường giáo dục quyền con người ở nước ta hiện nay 95 KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người, hay nhân quyền, là một giá trị cơ bản, quan trọng của nhân

loại Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là một đặc trưng của xã hội văn minh.Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất cảmọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa vụ phảitôn trọng các quyền và tự do của mọi người

Được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứhai, quyền con người đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế cótính chất bắt buộc với mọi quốc gia, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con người

đã trở thành thước đo về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên thếgiới Ở Việt Nam, kể từ khi giành độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn chútrọng đến quyền con người Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộnghòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 được coi là một văn kiện có tínhlịch sử trên phương diện quốc tế về quyền con người Trên cơ sở đó, quyền conngười đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946,Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và gần đây nhất làHiến pháp 1992 sửa đổi ngày 28 tháng 11 năm 2013 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hộiKhóa XIII

Mặc dù quyền con người có ứng dụng và ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đếnmọi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội nhưng do một số nguyên nhân, hoạtđộng giáo dục về quyền con người ở nước ta còn nhiều hạn chế Điều này dẫn tớimột số hệ quả tiêu cực đó là do thiếu kiến thức về quyền, người dân không biết tựbảo vệ các quyền của mình, đồng thời thiếu ý thức trách nhiệm trong việc thực hiệncác nghĩa vụ công dân, dẫn đến sự vi phạm các quyền hợp pháp của người kháchoặc của cộng đồng

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, việc giáo dục nhânquyền có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết vì nó thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt

Trang 6

Xuất phát từ những nhu cầu lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên cứu làm rõ cơ

sở lý luận, đánh giá những thành tựu đã đạt được và những khuyết điểm còn tồn tạicủa giáo dục nhân quyền; đồng thời xác định phương hướng hoàn thiện hóa giáodục nhân quyền là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề giáo dục pháp luật nói chung đã nhận được sự quan tâm của nhiều cơquan, tổ chức và các nhà khoa học Từ năm 1995 tới nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu, có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau:

+ Công trình đã viết thành sách:

Bàn về giáo dục pháp luật của hai tác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai,

NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995; Sống và làm việc theo pháp luật - Một số

vấn đề giáo dục pháp luật cho thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội, 1997; Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS.TS Võ Khánh Vinh

chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 2011

+ Các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp bộ:

Tìm kiếm mô hình giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người, Đề

tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, 1995;

Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay,

Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000; Cơ sở

lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình quốc gia về phổ biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp, 2004

+ Các luận án, luận văn:

Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Luật học

của tác giả Dương Thanh Mai, 1996; Giáo dục pháp luật trong các trường đại học,

trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay, Luận

án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Đinh Xuân Thảo, 1996; Giáo dục quyền con

người, quyền công dân ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Luận văn

Trang 7

thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Hữu Trí,, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ ChíMinh, Hà Nội 2001 và một số luận văn thạc sĩ luật học, luận văn cử nhân của Họcviện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, TrườngĐại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở khác.Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và thực tiễntrong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ Tuy nhiên, có thể nói rằng,hiện nay vẫn có rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục quyền conngười Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu có hệ thống trên cơ sở kế thừa có chọn lọckết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu khoa học trên và các tài liệu khác cóliên quan về giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng của vấn đề quyền conngười, giáo dục quyền con người để xác định được phương hướng, đề xuất các giảipháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người trong điều kiện xây dựngNhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:

- Tìm hiểu những khái niệm, tính chất và đặc điểm của quyền con người;

- Hệ thống hóa lý luận chung về giáo dục quyền con người;

- Đánh giá thực trạng của công tác giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay;

- Từ thực trạng đó, đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giáo dục quyền con người

Trang 8

4 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn

Luận văn phân tích khái niệm, tính chất, đặc điểm của quyền con người, trên cơ

sở đó làm nền tảng để nghiên cứu vấn đề giáo dục quyền con người qua những kết

quả khảo sát thực tiễn vấn đề này ở nước ta thời gian qua Do vấn đề giáo dục quyền

con người còn khá mới ở nước ta, nên tác giả xác định tập trung nghiên cứu nhữngvấn đề lý luận cơ bản, thực trạng và giải pháp về giáo dục quyền con người

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác

– Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền vớiquyền con người, với giáo dục quyền con người ở nước ta

- Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích, tổnghợp để đánh giá thực trạng giáo dục quyền con người ở nước ta hiện naynhằm phân tích, luận chứng một cách khoa học phương hướng, giải pháptăng cường giáo dục quyền con người ở nước ta

6 Điểm mới của Luận văn

Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối có hệ thống về giáo dụcquyền con người ở nước ta hiện nay, trên cơ sở tính đặc thù của quyền con người vàhoạt động giáo dục quyền con người, Luận văn đánh giá thực trạng và phân tíchnguyên nhân làm hạn chế hiệu quả giáo dục quyền con người ở nước ta trong thờigian qua; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáodục quyền con người ở Việt Nam

7 Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người và giáo dục quyền con người Chương 2: Thực trạng và quan điểm, giải pháp giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON

NGƯỜI

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người, theo định nghĩa trong “Đại từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngônngữ học, cũng chính là “nhân quyền” [34] Cho đến nay, chúng ta phải thừa nhậnrằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền conngười Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ [John Locke (1632–1704)],

Rútxô [Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778)]… và sau này Mác [Karl HeinrichMarx (1818 – 1883)], Engen [Friedrich Engels (1820 - 1895)], Lênin [VladimirIlyich Lenin (1870 – 1924)] cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệmnày giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác Nhìn lạiquá khứ và hiện tại, quyền con người thường được nhìn nhận theo các khuynhhướng khác nhau, trong đó chủ yếu theo bốn khuynh hướng là: tự nhiên, thực định,kinh tế và quan niệm [38]

Khuynh hướng “quyền tự nhiên”:

Những tư tưởng coi quyền con người là quyền “tự nhiên”, “trời phú” đã xuấthiện ngay từ thời cổ đại Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đãcho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là “ý trời” Theo đó, mỗi ngườiđều có quyền tham gia công việc Nhà nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của họ, chứkhông phải do dòng dõi quyết định Cũng như vậy, mỗi người đều có các quyềngiống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết họccũng có những tư tưởng tương tự

Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi quyền con người như một

vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến, và để tập hợp lựclượng trong xã hội; do đó ngay từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã được giai cấp

Trang 10

tư sản đề cập, tiêu biểu như trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.

Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ dựa trên Mười tu chính án do James Madison (1751– 1836) đưa ra Các tu chính án này hạn chế quyền lực của chính quyền liên bang, bảo

vệ quyền của tất cả công dân, những người sinh sống trên lãnh thổ Hoa Kỳ Trong cácquyền được liệt kê mà các tu chính án này đảm bảo có: tự do ngôn luận, tự do báo chí,

tự do tôn giáo; quyền được mang vũ khí của người dân; quyền tự do hội họp; quyền tự

do kiến nghị; quyền không bị lục soát và tịch thu vô lý; quyền không bị hình phạt tànbạo và bất bình thường; quyền không bị tự buộc tội do bị ép buộc Đạo luật Nhânquyền cũng hạn chế quyền của Quốc hội bằng cách cấm Quốc hội ban hành luật vềthành lập tôn giáo và cấm chính quyền liên bang tước quyền sống, quyền tự do hay tàisản của bất kỳ người nào mà không thông qua tố tụng pháp luật

Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, quyền con người lànhững quyền được bảo hộ “Quốc hội thừa nhận và tuyên bố, với sự chứng kiến và

sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con người là của con người vàcủa công dân” [19, tr.21]

Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được tiếp tục thể hiệntrong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, với tư tưởng chủ đạo là “Hoạt động

tự do của con người là một quyền tự nhiên, vì vậy, không cần phải liệt kê lại nhữngquyền gì là được phép: tất cả những gì luật pháp không nghiêm cấm đều được phéplàm; ngược lại, cần phải xác định rõ những điều cần nghiêm cấm, dĩ nhiên là có xétđến những quy định trong Hiến pháp”[15, tr.370]

Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng Nó là tư tưởngcủa các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng Vì thế,không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định.Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là sảnphẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên Nhưng nhược điểm của nó

Trang 11

là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.

Khuynh hướng “thực định”:

Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên – khuynh hướng không đề ý đến mặtpháp luật và Nhà nước của quyền con người, khuynh hướng thực định lại coi quyềncon người là tất cả những gì mà Nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cánhân Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không làm thì mới là quyềncon người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của

cá nhân là hợp pháp

Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với phápluật, với ý chí mà Nhà nước (mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyền conngười tất nhiên phải tồn tại dưới hình thức pháp luật)

Nhưng, nó cũng có nhược điểm ở chỗ, chỉ coi ý chí Nhà nước là nguồn gốc củaquyền con người, coi trọng tính hợp pháp của quyền, song lại không để ý đến tínhhợp lý của nó – cái mà nhờ đó, ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu hợp lý chocuộc sống (nhưng chưa được pháp luật ghi nhận) cũng phải được coi là quyền conngười Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm, được hưởngtheo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng (những cái chưađược pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định)

Khuynh hướng “kinh tế”:

Khuynh hướng kinh tế coi quyền con người là những quyền nảy sinh từ nhu cầucủa sản xuất, kinh doanh Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc củaquyền con người là kinh tế Không phải “trời phú” tự nhiên, cũng không phải doNhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người cácquyền Giáo sư Viện khoa học xã hội Trung Quốc - Từ Sùng Ôn trong bài báo “Về

phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền” trích Tạp chí “Nghiên cứu triết

học”, số 12/1992 đã viết: “nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện kinh tế

- xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định”

Trang 12

Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của quyềncon người là bản thân đời sống xã hội của con người Nó tước bỏ cái vỏ “thầnthánh”, “tự nhiên”, không giải thích được của quyền con người, trả quyền con người

về với đời sống thực tại của con người Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quanđiểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người Nó cũng cho thấy tính giai cấptrong những đòi hỏi về quyền con người

Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế Quyềncon người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh thần,tình cảm của con người…, nghĩa là những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế

Khuynh hướng “quan niệm”:

Khuynh hướng quan niệm cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà conngười cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người, tức là quyền lợi,nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người.Quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối lập,mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tựnhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp Nócũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại, v.v…Qua phân tích trên đây có thể rút ra kết luận: Quyền con người là những quyềnkhông bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào; đó là: quyền sống, quyền tự

do, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền được bảo vệ và bình đẳng trước phápluật, quyền an ninh thân thể, quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường…

Đó cũng là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu cuộc sống cơ bảncần được đáp ứng của con người, không bị phá hủy khi xã hội dân sự được thiết lập

và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc chuyển nhượng cácquyền này Nói cách khác, quyền con người đóng vai trò “là cơ sở để xác định tínhđiều chỉnh tự định đoạt của con người, khả năng độc lập của con người trong việcgiải quyết các nhu cầu cá nhân” [15,tr.21]

Trang 13

1.1.2 Tính chất của quyền con người

Quyền con người có các tính chất cơ bản sau đây:

Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyềncon người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bìnhđẳng về tư cách chủ thể của quyền con người

Tính đặc thù

Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụhưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàncảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống Ở mỗi vùng,mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưngriêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó Ví dụ: ở cácnước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế

độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác Ngược lại, ở một số nước châu Á, do kinh tế cònchậm phát triển nên mức độ thụ hưởng an sinh xã hội thấp hơn

Trang 14

Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống.

Tính không thể phân chia

Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng cácquyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không cóquyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất

kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự pháttriển của con người

Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền conngười đều cần phải được chú ý quan tâm với mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàncảnh Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhấtđịnh, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc đảm bảo các quyền đóchứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị cá quyền đó Ví dụ, trong bối cảnhdịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện làquyền được chăm sóc y tế; còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải làquyền về lương thực, thực phẩm Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần

ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôntrọng quyền của các nhóm khác Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được ưutiên thực hiện có giá trị cao hơn các quyền khác, mà là bởi các quyền đó trong thực

tế đang bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc đảm bảocác quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc vàtác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởngtiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảmmột quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyềnkhác

Trang 15

Thực tế cho thấy, để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền chính trị cơbản), cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liênquan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền có mức sống thíchđáng… vì nếu không, các quyền bầu cử, ứng cử có rất ít ý nghĩa với những ngườiđói khổ, bệnh tật hay mù chữ Tương tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội,văn hóa đều gắn liền với sự phát triển của quyền dân sự, chính trị, bởi kết quả củaviệc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh và hiệu quảtrong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội – yếu tố nền tảng để thúc đẩy các điều kiệnsống về kinh tế, xã hội, văn hóa của mọi người dân [7]

1.1.3 Đặc điểm của quyền con người

Nhận thức chung cho rằng, quyền con người là một phạm trù đa diện, có thểnhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau như đạo đức, tôn giáo, chính trị, xã hội, phápluật… cụ thể như sau:

Quyền con người từ góc độ đạo đức – tôn giáo

Những ý niệm đầu tiên về quyền con người có lẽ được nảy sinh từ quan niệm vềcác chuẩn mực đạo đức – cách thức đối xử giữa người với người trong xã hội – màvốn có và hiện còn trong văn hóa truyền thống của hầu hết dân tộc trên trái đất Cụthể, ở khắp nơi trên thế giới, người ta đều lưu truyền những quy tắc ứng xử, coi đó

là những quy luật vàng, kiểu như: nếu muốn người khác đối xử với mình như thếnào thì hãy đối xử với người khác như thế, ác giả ác báo hoặc gieo gì gặt nấy… Rõràng, ẩn chứa trong nội hàm các quy luật vàng này là yêu cầu tôn trọng các quyền,

tự do chính đáng và tự nhiên của người khác

Những quy tắc đạo đức hàm chứa những ý tưởng về quyền con người như vậysau đó được đúc kết, khái quát, bổ sung và phát triển trong giáo lý của các tôn giáo.Sức mạnh đức tin của các tôn giáo đó biến các ý tưởng về quyền con người trởthành những quy phạm đạo đức – tôn giáo được tuân thủ rộng rãi ở nhiều xã hội,trong đó đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do

Trang 16

Nhìn tổng thể, trong suốt quá trình phát triển của quyền con người, kể cả khi cácquyền con người đã được pháp điển hóa trong pháp luật quốc gia và quốc tế, nó vẫn

bị các phạm trù đạo đức và tôn giáo chi phối Sự chi phối đó không bộc lộ, lặng lẽ,

ẩn tàng nhưng rất sâu sắc Nói cách khác, trong suốt tiến trình phát triển của nó,quyền con người luôn phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạođức, tôn giáo

Quyền con người từ góc độ lịch sử - xã hội

Xét tổng thể, lịch sử loài người thực chất là một quá trình phấn đấu không ngừng

để tồn tại và nâng cao các tiêu chuẩn sống, trong đó bao gồm việc phấn đấu để xáclập và bảo vệ những giá trị tự do, bình đẳng, công bằng và nhân phẩm cho tất cả các

cá nhân thành viên của cộng đồng nhân loại Theo dòng lịch sử, ảnh hưởng và tácđộng của quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc,quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.Trong suốt quá trình phát triển này, quyền con người luôn mang những dấu ấn vềchính trị, kinh tế, văn hóa của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loàingười

Quyền con người từ góc độ triết học

Trên phương diện triết học, sự hình thành, phát triển của quyền con người phảnánh quy luật của xã hội loài người từ thấp đến cao Cụ thể, nó phản ánh quá trìnhphát triển mang tính quy luật trong nhận thức của loài người từ những khái niệm sơkhai nhất về công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm cho đến những tư tưởng,học thuyết và những quy phạm pháp lý về quyền con người

Trong triết học, quyền con người từ lâu đã trở thành một đối tượng nghiên cứuvới những tư tưởng, học thuyết được phát triển bởi nhiều nhà triết học nổi tiếng.Những tư tưởng triết học về quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự nhiên vàcác quyền pháp lý là nền tảng lý luận cho việc pháp điển hóa các quyền con ngườivào pháp luật quốc gia và quốc tế, cũng như trong việc bảo đảm thực hiện cácquyền này trên thực tế

Trang 17

Quyền con người từ góc độ chính trị

Ngay từ khi còn ở dưới dạng quan điểm, tư tưởng, quyền con người đã là mộtvấn đề ảnh hưởng, chi phối quan hệ chính trị, cả ở phạm vi quyết định giúp giai cấp

tư sản lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến

Sau đó, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm củacuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩatrong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh Ngay từ khi quyền con người bắt đầu đượcpháp điển hóa trong luật quốc tế (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai), vấn đềquyền con người đã bị “chính trị hóa” một cách sâu sắc và hệ thống Từ khi cuộcChiến tranh Lạnh kết thức cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù mức độ “chính trịhóa” quyền con người đã ít nhiều giảm đi, tuy nhiên, đây vẫn là hiện thực không thểtránh khỏi và sẽ cùng tồn tại lâu dài trong các hoạt động quốc tế về quyền conngười

Xét ở phạm vi quốc tế, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đềchi phối (trực tiếp hoặc gián tiếp) mạnh mẽ và toàn diện các quan hệ chính trị quốc

tế ở mọi cấp độ, từ toàn cầu, khu vực đến song phương Xét ở phạm vi quốc gia, từlâu, các đảng phái chính trị trên thế giới đã nhanh chóng nhận thấy và nắm lấyquyền con người như một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giành và giữquyền lực Nhà nước Quyền con người trở thành các tiêu chí được dùng để đánh giátính tiến bộ, phù hợp trong cương lĩnh tranh cử; trở thành cơ sở để các đảng pháiphê phán, chỉ trích lẫn nhau; thậm chí trở thành một yếu tố quyết định sự tồn vongcủa một chính thể, một người đứng đầu Nhà nước hoặc một chế độ xã hội Tại nhiềunước trên thế giới hiện nay, quyền con người đã trở thành một trong các chủ đềtrung tâm không chỉ trong cuộc đấu tranh quyền lực giữa các chính đảng, mà còntrong các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia

Quyền con người từ góc độ pháp lý

Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả

Trang 18

có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thìviệc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật Hầu hết những nhu cầu vốn có, tựnhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ nếukhông được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thựcthi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thànhnhững quy tắc ứng xử chugn, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả mọi chủthể trong xã hội Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật

và là một phạm trù pháp lý

Thực tế cho thấy, với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người – cùng vớiquyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó – luôn là đốitượng phản ánh của các hệ thống pháp luật Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bìnhđẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cánhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và

tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt,không thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người Vai tròcủa pháp luật với quyền con người thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:

+Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội của các quyền

tự nhiên: Mặc dù được thừa nhận song thông thường các quyền tự nhiên không mặcđịnh được áp dụng trực tiếp trong xã hội Về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giớichỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý – tức là có nhu cầu, lợi ích tự nhiên,vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Như vậy, chỉ khimang tính pháp lý, các quyền tự nhiên mới chuyển thành những quyền con người cóđầy đủ giá trị hiện thực Pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trìnhchuyển hóa đó Nó có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ pháp lý (hay các quytắc cư xử chung do Nhà nước cưỡng chế thực hiện), từ đó xã hội hóa giá trị cácquyền tự nhiên của con người

+Pháp luật là phương tiện đảm bảo giá trị thực tế của các quyền con người: như đã

đề cập, chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền

Trang 19

con người mới mang tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội Ở đây, pháp luậtđóng vai trò là công cụ giúp Nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền conngười của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của các cánhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận dụngcác quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế có liên quan.

Thực tế cho thấy, tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữuhiệu để bảo đảm các quyền con người đã được khẳng định từ rất sớm Từ nhiều thế

kỷ trước Công nguyên, một vị vua vĩ đại của xứ Babylon là Hammurabi (1810 –

1750 TCN) đã tuyên bố rằng, mục đích của ông trong việc ban hành đạo luật cổ nổitiếng (mang tên ông) là để “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức người yếu” Vàothế kỷ thứ VI trước Công nguyên, một nhiếp chính quan La Mã là Arokhont Salon

đã tuyên bố ý định giải phóng cho tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật,bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật Trong giai đoạn sau này, tư tưởng đề caopháp luật với việc bảo đảm quyền con người cũng được phát triển nhiều bởi nhà tưtưởng nổi tiếng của nhân loại, và được chứng minh bằng sự ra đời của ngày càngnhiều các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền và tự do của con người, từĐại Hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251), Bộ luật về các quyền (theBill of Rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và củacông dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của nướcPháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration of Independence, 1776) và Bộ luật vềcác quyền (the Bill of Rights, 1789/1791) của Mỹ cho tới Tuyên ngôn toàn thế giới

về quyền con người năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế vềquyền con người do Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầuthế kỷ XX đến nay Tất cả đã cho thấy vai trò không thể thay thế của pháp luật trongviệc bảo đảm các quyền con người

1.1.4 Khái niệm giáo dục quyền con người

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đập tan năm

1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà nước xã hội chủ

Trang 20

nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thì vấn đề cơ bản,đầu tiên nêu ra của tổ chức này là vấn đề nhân quyền Liên Hợp Quốc đã ban hànhhàng loạt các văn kiện khẳng định các quyền và tự do của tất cả mọi người, đặc biệtkhi Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

1948 ra đời thì vấn đề nhân quyền đã chuyển sang một bước ngoặt mới trong lịch sửnhân loại, trở thành một quan hệ cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế.Trong thời gian qua, thuật ngữ “giáo dục quyền con người” cũng liên tục xuất hiệntrong các văn kiện của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực như Liên minh châu

Âu (EU), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Tổ chức các nước châu Mỹ(OAS), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… Đồng thời, thuật ngữ

“quyền con người” cũng xuất hiện trong văn bản của các bộ giáo dục và của các tổchức phi chính phủ Tôn trọng và thúc đẩy việc bảo đảm quyền con người đã trởthành xu thế tất yếu mang tính toàn cầu, vấn đề giáo dục quyền con người, cũng vì

đó, trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

Hiện nay, có nhiều định nghĩa về giáo dục quyền con người:

“Giáo dục quyền con người được định nghĩa là các nỗ lực về đào tạo, phổ biến

và thông tin nhằm tạo lập nền văn hóa toàn cầu về quyền con người thông quatruyền đạt kiến thức, các kỹ năng, hình thành các thái độ và hướng tới: Tăng cườngtôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản; Phát triển đầy đủ nhân cách conngười và ý thức về nhân phẩm; Tăng cường hiểu biết, khoan dung, bình đẳng giới

và tính hữu nghị giữa các dân tộc, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia,đạo đức, tôn giáo và ngôn ngữ ” [36, tr.33]

“Giáo dục quyền con người là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có mụcđích của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ trithức về quyền con người để biết tự mình bảo vệ quyền của mình và tôn trọng quyềncủa người khác phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của các chuẩn mực trong pháp luậtquốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người” [2]

“Giáo dục quyền con người là tất cả quá trình học hỏi để phát triển kiến thức,

kỹ năng và các giá trị của quyền con người, nhằm thúc đẩy sự công bằng, khoan

Trang 21

dung, nhân phẩm, cũng như tôn trọng các quyền và nhân phẩm của người khác”[36].

Trong cuốn sách Hướng dẫn giáo dục nhân quyền xuất bản tại Đại học

Minnesota của Mỹ năm 2000, bà Nancy Flowers – một nhà giáo, nhà hoạt động

nhân quyền của Mỹ đã định nghĩa giáo dục nhân quyền là “tất cả những hiểu biết

nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng và các giá trị của nhân quyền.” Theo bà, giáo

dục nhân quyền liên quan đến sự kết hợp xem xét giữa các yếu tố bên trong và bênngoài Sự hiểu biết về nhân quyền tất yếu gắn với việc áp dụng hệ thống giá trị nhânquyền trong mối quan hệ giữa con người với con người, trong gia đình và với cácthành viên trong cộng đồng Trong đó, bà nói đến kỹ năng “phát triển con người”,

đó là những kỹ năng công nhận thiên hướng của bản thân mỗi người, chấp nhậnnhững khác biệt và chịu trách nhiệm bảo vệ quyền của những người khác Tuynhiên, trong công việc của mình, những người lập chương trình giáo dục nhânquyền phải tính đến bối cảnh xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và khả năng tác độngcủa việc giáo dục đó đối với chuyển biến của xã hội

Còn theo bà Felisa Tibbitts – giám đốc Hiệp hội nhân quyền của Mỹ thì “về cơ

bản, giáo dục nhân quyền là hoạt động xây dựng các nền văn hóa nhân quyền trong các cộng đồng của chúng ta.”

Theo một định nghĩa khác của ông Shulamith Koening – người sáng lập “Thập

kỷ giáo dục nhân quyền toàn dân” (PDHRE) thì giáo dục nhân quyền là “để mọi

người biết về nhân quyền và đưa ra đòi hỏi về nhân quyền” [36, tr.30].

Như vậy, nói một cách đơn giản, giáo dục quyền con người là một quá trìnhnhằm truyền đạt các kiến thức, các kỹ năng để người học có những hiểu biết vềquyền con người, những giá trị phẩm giá, bình đẳng, tin cậy lẫn nhau, sự tôn trọng

và hiểu biết về quyền của người khác, tôn trọng pháp luật để từ đó thúc đẩy mọingười tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội và cùng nhau xây dựng một “nềnvăn hóa nhân quyền” chung [14] Đó cũng là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân cótrách nhiệm thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến cho mỗi cá nhân trong cộng đồng

Trang 22

hiểu rõ những quyền cơ bản của họ, đồng thời giúp họ hiểu được cách thức bảo vệcác quyền đó cũng như đạt được các kỹ năng để có thể sử dụng các quyền này trongcuộc sống.

1.1.5 Mục đích giáo dục quyền con người

Mục đích là cái nhằm đạt được sự mong muốn, hoài bão, ý chí của một conngười hay tổ chức thông qua suy nghĩ và các hoạt động cụ thể trong cuộc sống Mụcđích giáo dục quyền con người là một vấn đề vô cùng quan trọng trong giáo dụcquyền con người, vì không những nó chi phối, ảnh hưởng một cách toàn diện và sâusắc đến những yếu tố quan trọng khác của xã hội, mà còn chi phối, ảnh hưởng mộtcách toàn diện và sâu sắc về mọi mặt trong đời sống của con người – động lực vàmục tiêu phát triển của xã hội Giáo dục quyền con người có nhiều mục đích khácnhau, nhưng ta có thể dựa vào “bộ ba mục đích” của phổ biến giáo dục pháp luật nóichung để xác định mục đích của việc giáo dục quyền con người Mục đích giáo dụcpháp luật bao gồm ba tiêu chí:

Tiêu chí 1: đạt được mục đích nhận thức pháp luật

Tiêu chí 2: đạt được mục đích thái độ, tình cảm, niềm tin pháp luật

Tiêu chí 3: đạt được mục đích hành vi, phù hợp pháp luật [24, tr.3-8]

Giáo dục ý thức quyền con người, theo ba tiêu chí đó, cũng nhằm những mụcđích chính như sau:

Mục đích nhận thức: Giáo dục quyền con người nhằm hình thành và mở rộng tri

thức về quyền con người Mục đích cảm xúc: giáo dục quyền con người nhằm hình

thành tình cảm và lòng tin đối với việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con

người Mục đích hành vi: giáo dục quyền con người nhằm hình thành động cơ, hành

vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực để bảo đảm, bảo vệ và thực hiện quyền conngười

Mục đích giáo dục quyền con người là nhằm khơi gợi biến đổi nhận thức, nănglực, tình cảm và thái độ của đối tượng theo hướng tích cực, góp phần hoàn thiệnnhân cách đối tượng bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các nhucầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lực con

Trang 23

người – động lực của sự phát triển bền vững Bên cạnh đó, mục đích giáo dục quyềncon người còn tạo ra những con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sứckhỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội: hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của côngdân, đáp ứng yêu cầu của việc bảo vệ quyền con người và sự nghiệp xây dựng, bảo

vệ Tổ quốc

Giáo dục quyền con người cũng đồng thời cung cấp một cơ sở cho việc giảiquyết xung đột và thúc đẩy các trật tự xã hội Quyền của con người thường xuyênxung đột, ví dụ khi một người vi phạm vào trật tự an toàn xã hội, họ đã xung đột vớiquyền tự do của người khác Vì vậy, hiểu biết về quyền con người cũng tạo ra mộtkhuôn khổ để phân tích và giải quyết các xung đột Giáo dục quyền con người đồngthời cũng là việc dạy các kỹ năng về đàm phán, thương lượng và đồng thuận Mụcđích của giáo dục nhân quyền, theo Liên Hợp Quốc, cũng là “Xây dựng một nềnvăn hóa nhân quyền toàn cầu và cho tất cả mọi người – xây dựng mối quan hệ hợptác trên toàn cầu vì nhân quyền – thúc đẩy sự khoan dung trong tư tưởng nhânquyền rộng khắp thế giới” (theo Thông điệp các đại diện cao ủy Liên Hợp Quốc vềnhân quyền nhân ngày nhân quyền năm 1997)

Người ta vẫn thường kêu gọi thực hiện các phong trào giải phóng con người,song có thể nói, chỉ có thể giải phóng con người dựa trên hiểu biết về quyền conngười Giáo dục quyền con người thông qua chuyển giao kiến thức, xây dựng kỹnăng và hình thành quan điểm được coi là nền tảng để thực hiện công tác phòngngừa các vi phạm và trao cho con người quyền năng để tự giải phóng mình

Thúc đẩy quyền con người trước hết là làm cho con người nhận thức được quyềncon người để họ biết được các quyền của mình, hướng dẫn mọi người cách sử dụngcác quyền đó một cách tốt nhất Để đạt được mục đích này cần có sự tham gia củanhiều bên, trong đó có cả ngành giáo dục và các tổ chức phi chính phủ (NGO)

Tổ chức Ân xá quốc tế tin rằng, học về quyền con người là bước đầu tiên hướngtới sự tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người Các chương trình giáo

Trang 24

dục về quyền con người được xây dựng nhằm mục đích thúc đẩy việc giảng dạy vềquyền con người Các chương trình này phải được thiết kế để giúp các giáo viên củacác trường từ mẫu giáo cho đến các trường đại học cũng như các nhà giáo dục làmviệc trong các tổ chức phi chính thức như là các tổ chức cộng đồng, các diễn đàn xãhội, giáo dục nhân quyền… đều có thể sử dụng được nhằm để thúc đẩy các nguyêntắc về quyền con người và hệ thống các giá trị được thiết lập bởi Tuyên ngôn thếgiới về quyền con người.

Giáo dục quyền con người giúp cho người dân cảm nhận được sự quan trọng củaquyền con người, tiếp thu các giá trị về quyền con người và hòa nhập vào nó theocách mà họ sống Những giá trị và thái độ về quyền con người bao gồm:

- Củng cố sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản (Điều 30.2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người);

- Giáo dục việc tôn trọng người khác và tôn trọng chính mình;

- Hiểu về bản chất của phẩm giá con người và tôn trọng phẩm giá của người khác;

- Cảm thông với những người bị vi phạm quyền và đoàn kết với họ;

- Công nhận rằng việc mọi công dân đều có quyền con người là một điều kiện tiên quyết để có một xã hội công bằng và nhân đạo;

- Quan niệm rằng khía cạnh quyền con người về dân sự, xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa là vấn đề gây xung đột ở khắp nơi trên thế giới;

- Tin tưởng rằng hợp tác thì tốt hơn là xung đột

Tóm lại, mục đích của việc giáo dục quyền con người là để hướng con ngườivào việc phát triển có đủ đức, đủ tài, nói cách khác là nhằm trang bị và hoàn thiệncho con người, làm cho cá nhân con người trở nên hữu ích hơn với gia đình và cộngđồng xã hội…

1.2 CHỦ THỂ, KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI; HÌNH THỨC, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

1.2.1 Chủ thể giáo dục quyền con người

Trang 25

Theo từ điển tiếng Việt, có thể hiểu chủ thể “là đối tượng gây ra hành độngmang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng chi phối của hoạt động tácđộng, gọi là khách thể.” Lý luận giáo dục cho rằng, chủ thể giáo dục là những thày,

cô giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục khác

Vận dụng quan niệm trên vào giáo dục quyền con người có thể thấy rằng, tuyđây là một dạng của giáo dục, nhưng nó có những đối tượng, phương pháp, hìnhthức giáo dục khác với giáo dục trong các nhà trường Người thực hiện hành độnggiáo dục quyền con người không phải chỉ có những người thày, cô giáo, những cánhân làm công tác giáo dục, mà còn cả các tổ chức, cơ quan được giao nhiệm vụhoặc tự nhận nhiệm vụ giáo dục quyền con người trước cộng đồng, xã hội; hoặc các

tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tham gia thực hiện qua các phương tiệnthông tin đại chúng, qua sách báo và ở mọi nơi, mọi lúc, vì thế nếu coi chủ thể củagiáo dục quyền con người chỉ là cá nhân những người làm công tác giáo dục thì sẽ

không đầy đủ Ở đây, chủ thể của giáo dục quyền con người là những cá nhân,

những cơ quan, tổ chức làm công tác giáo dục trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao hoặc mang tính tự nguyện, mang tính trách nhiệm xã hội đã tham gia góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu giáo dục quyền con người [31].

Việc xác định chủ thể của giáo dục quyền con người có ý nghĩa rất quan trọngtrong lý luận và thực tiễn hoạt động giáo dục quyền con người Trên cơ sở mối quan

hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể, đối tượng giáo dục trong hoạtđộng giáo dục quyền con người – chủ yếu là các hoạt động có ý thức, có mục đích,

có kế hoạch của người giáo dục lên đối tượng giáo dục – cho phép xác định đúngmức những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động lên hoạt động giáodục quyền con người; cũng như cho phép xác định chính xác yêu cầu khách quancủa chủ thể giáo dục quyền con người trong việc xác định nội dung, hình thức,phương tiện, biện pháp thích hợp để tiếp cận với đối tượng giáo dục quyền conngười một cách có hiệu quả nhất

Trang 26

1.2.2 Khách thể, đối tượng giáo dục quyền con người

Khách thể giáo dục quyền con người

Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khách thể Tùy theo tính chất,phương pháp, đối tượng nghiên cứu khác nhau mà các ngành khoa học khác nhau cónhững quan niệm về các loại khách thể và đối tượng nghiên cứu của mình Cụ thể:Theo khoa học pháp luật: “Khách thể quan hệ pháp luật là những gì mà các bênmong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, là cái mà quan hệ phápluật hướng tới, tác động tới, đó là những lợi ích vật chất, chính trị, tinh thần [25]

Một số nhà nghiên cứu đồng nhất khách thể với đối tượng giáo dục pháp luậtdựa trên khái niệm về khách thể của Từ điển Tiếng Việt và quan niệm đồng nhấtgiáo dục của khoa học sư phạm Những người này cho rằng: “Khách thể (đối tượng)giáo dục pháp luật ở đây không phải chỉ là những cá nhân, những nhóm ngườichung chung mà còn bao hàm cả những yếu tố bên trong của họ như nhận thức tìnhcảm, cảm xúc, hành vi, hành động cụ thể của họ phù hợp với pháp luật” [14, tr.16].Theo tôi, khách thể của giáo dục quyền con người là ý thức/nhận thức, nhữngthói quen, nếp sống, hành vi ứng xử của công dân, của các nhóm cộng đồng và toàn

xã hội, thể hiện trình độ nhất định của nền văn hóa pháp lý Còn đối tượng giáo dụcquyền con người là những cá nhân công dân, hay những nhóm cộng đồng xã hội cụthể, tiếp nhận tác động của các loại hoạt động giáo dục quyền con người mà ý thức

và hành vi của họ là khách thể của giáo dục quyền con người Nghĩa là khách thể vàđối tượng của giáo dục quyền con người là hai phạm trù mang ý nghĩa khác nhau.Nếu đồng nhất hai phạm trù này, trước hết thể hiện sự xem nhẹ kết quả mongmuốn đạt được của hoạt động giáo dục quyền con người và không thấy hết sự khácbiệt về tính chất, vai trò, quan hệ tác động qua lại giữa khách thể và đối tượng củagiáo dục này Trong quan hệ giữa đối tượng và khách thể thì đối tượng giáo dụcquyền con người có vai trò tiếp nhận sự tác động của hoạt động giáo dục và là cơ sởcủa sự tồn tại của khách thể khi kết thúc hoạt động giáo dục quyền con người, và làphương tiện để khách thể thông qua đó mà biểu đạt ra ngoài Hơn nữa, nếu đồng

Trang 27

nhất khách thể với đối tượng giáo dục quyền con người sẽ không cho phép chúng taxây dựng nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp vì mỗi đối tượng giáo dục khácnhau luôn chứa đựng những yếu tố đặc thù đòi hỏi phải có nội dung, phương phápgiáo dục thích hợp với yếu tố đặc thù đó, hoặc không thấy hết được vai trò tác độngtrở lại của khách thể đối với đối tượng giáo dục khi nó đã hình thành và phát huyhiệu quả.

Đối tượng của giáo dục quyền con người

Đối tượng của giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề cơ bản của

lý luận giáo dục Cũng như các dạng giáo dục khác, việc xác định nội dung, phươngpháp, hình thức giáo dục thích hợp nhằm thu được hiệu quả giáo dục cao phụ thuộcrất nhiều vào việc nghiên cứu, đánh giá đúng đắn, toàn diện về đối tượng giáo dụcnói chung và giáo dục quyền con người nói riêng

Đối tượng giáo dục quyền con người trước hết là toàn bộ cá nhân đang tồn tạitrong cộng đồng nhân loại bao gồm tất cả các dân tộc trong mối quan hệ quốc tế.Trong mỗi dân tộc cụ thể, đối tượng của giáo dục quyền con người là những cá nhâncông dân, những nhóm, cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận những tác động của hoạtđộng giáo dục quyền con người, vừa mang tính quốc tế, vừa mang tính quốc gia mà

ý thức và hành vi của họ là khách thể của giáo dục quyền con người

Đối tượng giáo dục quyền con người ở Việt Nam vừa mang những đặc điểmchung của cộng đồng nhân loại, vừa có những đặc điểm riêng biệt Đối tượng giáodục quyền con người ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng và có thể phân loại thànhcác nhóm dựa trên các cơ sở, yếu tố, phản ánh trạng thái, địa vị pháp lý, điều kiệnkinh tế, môi trường sống, việc làm, truyền thống văn hóa, đạo đức, tôn giáo của đốitượng giáo dục này Các chủ thể giáo dục sẽ lựa chọn các nội dung, hình thức, giáodục phù hợp nhằm làm cho từng đối tượng giáo dục tiếp thu được những tri thứccần thiết về quyền con người để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thíchứng với vai trò, địa vị của họ trong quan hệ với cộng đồng, với công dân khác

Trang 28

Con người sống trong một xã hội, ai cũng cần có hiểu biết về quyền con người

vì đó là quyền của họ Vì vậy, bất kỳ ai cũng đều có thể trở thành đối tượng của giáodục quyền con người và ai cũng cần đến giáo dục quyền con người Tuy nhiên, vàinhóm người cũng cần có những hiểu biết đặc biệt về giáo dục quyền con người vì

họ đang sống trong hoàn cảnh đặc biệt, một vài người thường xuyên bị lạm dụng và

bị vi phạm nhân quyền, những người khác thì lại giữ trọng trách trong các cơ quanNhà nước và có trách nhiệm phải ủng hộ quyền con người, những người có khảnăng và có ảnh hưởng đến giáo dục quyền con người

Như vậy, có thể chia đối tượng của giáo dục quyền con người thành các nhómchủ yếu như sau:

Những người làm công tác hành pháp và tư pháp

- Những người thi hành pháp luật bao gồm cảnh sát, người làm công tác an ninh;

- Những người làm công tác giam giữ tù nhân;

- Luật sư, thẩm phán và các kiểm sát viên;

- Những người làm công tác xã hội;

- Những người làm công tác công đoàn;

- Những người làm công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng;

- Nhà báo và những đại diện của các cơ quan thông tin đại chúng

Các tổ chức, các hiệp hội và các nhóm

- Các tổ chức của phụ nữ;

Trang 29

- Các nhà hoạt động xã hội tại cộng đồng và những người lãnh đạo các khu vực dân cư;

- Người lao động nhập cư

Có thể nói, giáo dục quyền con người cần phải đến được với mọi đối tượngtrong xã hội Tuy nhiên, để giảm thiểu các vi phạm và nâng cao chất lượng cuộcsống cho các đối tượng dễ bị tổn thương, các nhóm đối tượng này cần phải đượcchú trọng nhiều hơn trong công tác giáo dục quyền con người và phải đảm bảo cho

họ biết rõ về quyền, nghĩa vụ của mình cũng như các kỹ năng hành động liên quanđến quyền con người

Ngoài ra, ngày nay người ta cũng nhắc đến việc phải tăng cường giáo dục nhânquyền cho giới lãnh đạo Điều này là hoàn toàn hợp lý để tạo ra các chuyển biếntrong xã hội Sẽ chẳng có gì thay đổi nếu như các nhà lãnh đạo không ý thức được

về nhân quyền và ý thức về việc họ có một trách nhiệm to lớn trong việc bảo vệnhân quyền Việc các nhà lãnh đạo có ý thức về quyền và biến nó thành các chiếnlược hành động hiệu quả sẽ là phần thưởng lớn nhất cho những người làm công tácgiáo dục nhân quyền

1.2.3 Hình thức giáo dục quyền con người

Theo giáo dục học, hình thức giáo dục được hiểu là cách thức tổ chức hoạt độngphối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh nội dunggiáo dục và đạt mục đích giáo dục Ở khía cạnh này, giáo dục quyền con người cũnggiống như các dạng giáo dục khác, do đó, cũng là những phương thức chuyển

Trang 30

tải và tiếp nhận kiến thức (thông tin) nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ giáo dụcquyền con người.

Hình thức giáo dục quyền con người là các dạng hoạt động cụ thể, có tổ chức,phối hợp giữa các chủ thể giáo dục quyền con người và đối tượng giáo dục quyềncon người Hình thức giáo dục quyền con người rất đa dạng và phong phú

Giáo dục quyền con người có thể dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp;qua tranh ảnh, lời nói; qua phương pháp nêu gương, lên lớp, thảo luận, thamgia các hoạt động thực hành, thực tế, tự học và tham gia các hoạt đông khác

do người dạy quy định…

Giáo dục quyền con người cũng có thể được thực hiện một cách chính thứchoặc không chính thức Giáo dục chính thức được kéo dài từ giáo dục trẻ thơ,qua bậc tiểu học và trung học đến giáo dục đại học Nó là chương trình giảngdạy cơ sở và nó bao gồm giáo dục học thuật chung, đào tạo kỹ thuật và nghềnghiệp Giáo dục không chính thức bao gồm những hoạt động giáo dục được

tổ chức và thường là bên ngoài hệ thống giáo dục chính thức Nó được thiết

kế cho những nhóm học cụ thể với những mục tiêu học cụ thể Giáo dụckhông chính thức bao gồm giáo dục và đào tạo nghề cơ bản, giáo dục thanhniên và cộng đồng

Ngoài ra, có thể chia hình thức giáo dục quyền con người thành hai loại sau:

Các hình thức giáo dục quyền con người mang tính phổ biến, truyền thốngnhư phổ biến, nói chuyện về quyền con người tại các Hội nghị, cuộc họp, hộithảo, câu lạc bộ về quyền con người; các lớp giảng chuyên đề cho các đốitượng chuyên biệt, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến qua sinh hoạt vănhóa cộng đồng ở các cụm dân cư, làng xã, buôn làng, qua đoàn thể quầnchúng; các nơi thờ tự, sinh hoạt tôn giáo, tuyên truyền phổ biến giáo dục quacác phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, sáng tácvăn học nghệ thuật về đề tài quyền con người, thông tin cổ động, dạy và học

về quyền con người

Trang 31

Các hình thức giáo dục quyền con người đặc thù Đây là các hoạt động địnhhướng giáo dục quyền con người thông qua các hoạt động hoạch định đườnglối, chính sách, hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhànước, như Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhândân, Công an.

1.2.4 Nội dung giáo dục quyền con người

Việc xác định nội dung giáo dục quyền con người là yếu tố quan trọng hàng đầucủa quá trình giáo dục quyền con người Nội dung giáo dục quyền con người dựatrên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, và xuất phát từđặc điểm, nhiệm vụ, mục đích của dạng giáo dục này Phạm vi của dạng giáo dụcnày là rất rộng, có những đặc điểm đặc thù riêng không đồng nhất, không lẫn vớicác nội dung giáo dục khác, nhưng nó có thể lồng ghép, đan xen với nội dung giáodục khác như giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật

Theo bà Nancy Flowers, giáo dục về quyền con người phải cung cấp cho mọingười thông tin về quyền con người, bao gồm kiến thức về:

- Những giá trị cố hữu thuộc về tất cả mọi người và quyền của con người được đối xử trong sự tôn trọng;

- Các nguyên tắc về quyền con người chẳng hạn như tính toàn thể, tính không thể tách rời, tính phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người;

- Làm thế nào mà quyền con người thúc đẩy việc tham gia vào quá trình ra quyết định và giải quyết hòa bình các tranh chấp;

- Về lịch sử và sự tiếp tục phát triển của quyền con người;

- Về pháp luật quốc tế, như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người hay về các công ước quốc tế;

- Về pháp luật của khu vực, quốc gia, địa phương mà nó củng cố cho pháp luật quốc tế về quyền con người;

- Về việc sử dụng luật về quyền con người để bảo vệ quyền con người và kêu gọi những đối tượng vi phạm giải thích về hành vi của mình;

Trang 32

- Về sự vi phạm quyền con người như là tra tấn, diệt chủng hoặc bạo lực đối với phụ nữ và các quyền lực mang tính xã hội, kinh tế, chính trị, dân tộc;

- Về con người và tổ chức phải có trách nhiệm để thúc đẩy, bảo vệ và tôn trọng quyền con người

Tuy nhiên, không phải bất kỳ đối tượng giáo dục nào cũng đòi hỏi được sự cungcấp đầy đủ tất cả các thông tin về quyền con người nêu trên Và cũng không thểthực hiện giáo dục một cách máy móc, thuần túy chỉ là cung cấp thông tin, mà cầnphải lưu ý tới một thực tiễn, sự tồn tại mâu thuẫn của các thông tin, sự phủ định lẫnnhau của các thông tin và những đặc điểm đặc thù của nội dung giáo dục quyền conngười để có nhận thức đầy đủ, khách quan, chính xác của chủ thể và đối tượng giáodục Cần phải có sự phân tích, đánh giá một cách khoa học, khách quan về cácthông tin để tạo ra nhận thức một cách đúng đắn về quyền con người, tránh tìnhtrạng áp đặt chủ quan, định kiến duy ý chí, dẫn đến sự nhận thức sai lệch hoặckhông đạt hiệu quả cao của giáo dục quyền con người Vì thế, khi thực hiện giáodục quyền con người, cần phải xác định mục đích giáo dục cần đạt được của từngđối tượng giáo dục, trên cơ sở đó xác định mức độ, từng cấp giáo dục khác nhau chotừng đối tượng cụ thể

Theo tác giả Nguyễn Hữu Trí [31], nội dung giáo dục quyền con người đượcchia thành ba cấp độ khau nhau sau:

- Yêu cầu tối thiểu về nội dung giáo dục quyền con người Cấp độ này baogồm những nội dung tối thiểu nhất, phổ thông nhất về quyền con người, phùhợp với đối tượng là quảng đại quần chúng nhân dân, nhằm giúp họ hìnhthành những tri thức tối thiểu, hình thành tình cảm, thói quen đơn giản trongviệc thực hiện quyền con người

- Yêu cầu riêng về giáo dục quyền con người theo nhu cầu về ngành, nghề,địa vị xã hội, giới, nhóm xã hội Nội dung giáo dục quyền con người ở cấp

độ này thường có tính tổng hợp, hệ thống, nền tảng, bao gồm: hệ thống cáckhái niệm, phạm trù cơ bản của quyền con người; những tri thức về quyềncon người được ghi nhận trong pháp luật quốc gia, quốc tế, những tri thức cơbản

Trang 33

về xây dựng và đảm bảo quyền con người; việc xử lý vi phạm quyền con người.

- Yêu cầu giáo dục có tính chuyên ngành về quyền con người Đây là cấp độcao nhất của giáo dục quyền con người, bao gồm những tri thức mang tínhchuyên sâu về quyền con người, những vấn đề mang tính chất kỹ năng, kỹxảo, thao tác nghề nghiệp về quyền con người Nội dung giáo dục ở cấp độnày chủ yếu dành cho các đối tượng trở thành chuyên gia nghiên cứu, giảngdạy, các chuyên gia hoạt động trong các tổ chức quốc gia, quốc tế về quyềncon người

Giáo dục về quyền con người đồng thời cũng đem đến cho con người cảm giác

về trách nhiệm để tôn trọng và bảo vệ quyền con người và trao cho họ các kỹ năng

để hành động phù hợp Các kỹ năng hành động đó bao gồm:

- Nhận biết rằng quyền con người có thể được thúc đẩy và bảo vệ ở nhiều cấp, thông qua từng cá nhân cụ thể, tập thể hay cấp độ thể chế;

- Phát triển các hiểu biết mang tính phê bình về hoàn cảnh sống;

- Phân tích các hoàn cảnh thông qua quan điểm đạo đức;

- Nhận thức rằng các hoàn cảnh không công bằng có thể được cải thiện;

- Nhận thức rằng mọi cá nhân và các thành phần xã hội đều có thể đóng góp vào việc bảo vệ quyền con người;

- Phân tích các yếu tố tạo ra sự vi phạm nhân quyền;

- Nhận biết và có khả năng sử dụng các công cụ về quyền con người mangtính toàn cầu, khu vực, quốc gia, địa phương và các cơ chế khác để bảo vệquyền con người;

- Có kế hoạch hành động phù hợp để đáp lại việc thiếu công bằng;

- Hành động để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người

Ở Việt Nam hiện nay, nội dung giáo dục quyền con người ngoài những nội dungtrên còn cần phải nhấn mạnh vào giáo dục Hiến pháp như một phần quan trọng củagiáo dục quyền con người, vì một mặt, Hiến pháp là đạo luật cao nhất, là hệ quychiếu cho tất cả những quy định pháp luật khác; mặt khác, Hiến pháp thể hiện đầy

Trang 34

đủ nội dung giáo dục quyền con người mà Nhà nước đảm bảo cam kết thực hiện Ýthức về Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảođảm các quyền, tự do của con người Tư tưởng, nhận thức về hiệu lực trực tiếp củahiến pháp liên quan đến các quyền con người cũng sẽ định hướng, dẫn dắt và kiểmsoát, kìm chế những sự lạm dụng pháp luật gây phương hại, làm sai lệch bản chấtcủa các quyền.

Việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Hiến pháp, nâng caonhận thức và niềm tin về Hiến pháp để hình thành ý thức tự giác, tôn trọng và chấphành Hiến pháp; bảo đảm cho Hiến pháp được tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp hànhtrong mọi tầng lớp nhân dân sẽ góp phần cải thiện thực trạng về quyền con người

ở Việt Nam Nhằm giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ mục đích, ýnghĩa và kết quả của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, những nét mới của Hiếnpháp (sửa đổi); tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội vềviệc triển khai và thực thi Hiến pháp, pháp luật, ngày 17/1/2014, Ban Tuyên giáoTrung ương cũng đã ban hành công văn số 102-HD/BTGTW về việc Hướng dẫntuyên truyền Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nội dungchính như:

Một là, tuyên truyền khẳng định Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được thông

qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân,toàn quân ta; thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam thời kỳ đổi mới

toàn diện đất nước Hai là, tuyên truyền về những nội dung cơ bản, nêu lên những điểm mới của bản Hiến pháp, đặc biệt là những nội dung về quyền con người Ba

là, phổ biến, tuyên truyền về một số vấn đề cần lưu ý trong đấu tranh làm thất bại

những luận điệu kích động, xuyên tạc của các thế lực thù địch

1.2.5 Phương pháp giáo dục quyền con người

Các căn cứ lựa chọn phương pháp giáo dục quyền con người

Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “me todos”, có nghĩa là conđường, cách thức tự vận động bên trong nội dung, nó gắn với hoạt động của conngười, giúp con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu đã đề

ra [30] Phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình giáo dục quyền con người,

Trang 35

vì vậy, việc lựa chọn phương pháp luôn được đặt lên hàng đầu trong khi thiết kế,xây dựng ý đồ triển khai một bài giảng cụ thể Phương pháp bao giờ cũng xuất phát

từ một mục đích nhất định, nội dung giáo dục nhất định Mục đích, nội dung giáodục quyền con người quy định phương pháp nhưng bản thân phương pháp có tácdụng trở lại mục đích, nội dung, làm cho nội dung ngày càng hoàn thiện, làm chomục đích đạt được ngày càng cao Phương pháp giáo dục quyền con người có mốiquan hệ qua lại mật thiết với các nhân tố khác của quá trình giáo dục mà trước hết làhình thức giáo dục Phương pháp giáo dục và hình thức giáo dục quyền con người làhai khái niệm độc lập, không đồng nhất, nhưng lại có mối quan hệ mất thiết vớinhau Mỗi hình thức giáo dục nhất định luôn luôn gắn với những phương pháp giáodục nhất định, đặc thù của hình thức đó Ngược lại, phương pháp giáo dục tác độngtrở lại làm cho hình thức giáo dục phát triển ngày càng hướng đích, ngày càng hoànthiện hơn

Do không có một phương pháp giáo dục quyền con người nào là tối ưu, mỗiphương pháp đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm riêng nên người dạy phảibiết lựa chọn để phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của từngphương pháp Một phương pháp giáo dục quyền con người được coi là hợp lý vàhiệu quả khi đáp ứng được 3 yêu cầu sau:

Một là, phương pháp này phải có mục tiêu giáo dục quyền con người rõ ràng; tạo ra

khả năng cao nhất để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục quyền con người; phát

triển nhận thức, kỹ năng, thái độ của người học; Hai là, phương pháp này phải phù

hợp với nội dung giáo dục quyền con người cụ thể, đặc thù của từng môn học, bàihọc và phù hợp với từng vấn đề cụ thể, từng giai đoạn cụ thể trong tiến trình giờ

học Ba là, phương pháp này phải phù hợp với năng lực, trình độ, sở thích, hứng

thú, kinh nghiệm của người dạy, người học và các điều kiện giáo dục quyền conngười…

Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc lựa chọn phương pháp giáo dục quyền conngười phải căn cứ vào: mục tiêu và nội dung giáo dục quyền con người (môn học,

Trang 36

học…); nguyên tắc giáo dục quyền con người; đặc điểm tâm sinh lý, khả năng, trình

độ, hứng thú của người học và trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của ngườidạy…

Để phát huy hết ưu điểm của các phương pháp giáo dục

dạy cần kết hợp, xen kẽ nhiều phương pháp nhằm lấy ưu

này, khắc phục nhược điểm của phương pháp kia, tạo ra sự

một giờ học

quyền con người, ngườiđiểm của phương pháplinh hoạt, đa dạng trong

Các yêu cầu của phương pháp giáo dục quyền con người

Phương pháp giáo dục quyền con người phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khảnăng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên Phương pháp giáo dụcquyền con người phải giúp và buộc đối tượng sử dụng tốt công cụ thông tin trênmạng để bổ sung kiến thức còn thiếu Mục tiêu và phương pháp giáo dục cũng phảithay đổi Chúng ta xem quá trình dạy và học thông qua ba tầng tiếp thu của đốitượng như sau: Nếu chỉ dừng ở tầng 1 – tiếp nhận thông tin, thày giảng, trò nghe vàghi nhớ Trò cần học thuộc với hi vọng sử dụng kiến thức đó để kiếm sống Điềunày thực sự nguy hiểm khi những kiến thức của người thày không được bổ sung,cập nhật kịp thời trong điều kiện của một xã hội thay đổi từng ngày Tầng 2 diễn rakhi đã có sự trao đổi thông tin và tạo thông tin mới, tức là thày và trò có sự trao đổitrong quá trình dạy và học nhằm bám sát thực trạng xã hội, giúp trò sau này dễ dàngvận dụng được những điều đã học vào những môi trường thực tế hết sức đa dạng.Tầng 3 là rèn luyện cách tiếp cận, hình thành phương pháp tư duy sáng tạo Trongquá trình giáo dục, với những bài học khác nhau, người thày phải chọn những nộidung để kết cấu thành hệ thống bài giảng nhằm từng bước hình thành một phươngpháp tư duy, tạo nên kỹ năng sáng tạo cho trò Kết quả là trò sẽ có phương pháp tiếpcận thực tế độc đáo và hiệu quả, có kỹ năng giải quyết vấn đề ở tầm tư duy ngangbằng thời đại Như vậy, điều hết sức quan trọng mà thày cần rèn cho trò tại trường làphương pháp tiếp cận thông tin, quan sát và nhận dạng vấn đề, hình thành nhận

Trang 37

thức mới đúng đắn và ngang bằng với trình độ chung của học sinh cùng bậc, ít nhất

là của các nước tiên tiến trong khu vực

Các phương pháp giáo dục quyền con người

Giáo dục quyền con người có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau,

có thể kể đến các phương pháp tiêu biểu như:

Phương pháp nêu vấn đề - tình huống: giúp người học vận dụng được các kỹ

năng để giải quyết những vấn đề của nội dung bài học Phương pháp này có vai trò

là qua các tình huống có vấn đề, vụ án, người học khai thác các mâu thuẫn, chỉ racách giải quyết chúng Khi áp dụng, người dạy phải thiết kế, phân loại, chỉ ra cácvấn đề, tình huống của nội dung giáo dục quyền con người; điều khiển, hướng dẫn,điều chỉnh các hướng giải quyết vấn đề và kiểm chứng tính đúng đắn của những kếtluận (quan điểm) mà người học đưa ra Người học phải tìm kiếm, giải quyết mâuthuẫn, đề ra giả thuyết và phương hướng giải quyết Ưu điểm của phương pháp này

là giúp người đọc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hình thành tư duyphê phán Tuy nhiên, nhược điểm là khó triển khai, tốn nhiều công sức, thời gian…

Phương pháp thuyết trình – minh họa: phương pháp này có mục tiêu làm cho

người học ghi nhớ nên nó phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người Bản chấtcủa phương pháp này là cách thức tổ chức việc lĩnh hội tri thức thông qua conđường thông báo, trình bày, diễn giải thông tin và nội dung giáo dục quyền conngười Nó đóng vai trò là bước khởi đầu cho việc khám phá sự vật, hiện tượng, kháiniệm đơn giản về quyền con người Khi áp dụng, người dạy phải thông báo, truyềnđạt thông tin bằng các phương tiện khác nhau, trong đó chủ yếu là ngôn ngữ,phương tiện trực quan (sơ đồ, bảng biểu, ví dụ minh họa…); người học phải lĩnh hội

tư duy, ghi nhớ nội dung mà người dạy đã trình bày… Ưu điểm của phương phápnày là dễ triển khai và có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa thời gian, không gian,

số lượng lớn người học với khối lượng thông tin truyền đạt Tuy nhiên, nhược điểm

là làm cho người học thụ động, không hình thành được kỹ năng, thao tác, vận dụng

xử lý thông tin và thiếu sự tương tác, phản hồi từ phía người học

Trang 38

Phương pháp sàng lọc: nhằm cung cấp thông tin để người học lựa chọn và sắp

xếp theo dạng đúng, sai Phương pháp này buộc người học phải tìm hiểu, suy nghĩ,lựa chọn vấn đề và xác định đúng sai qua đó ghi nhớ nội dung bài học, đồng thờikhuyến khích người học tính tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học tập Khi

áp dụng người dạy phải cung cấp hàng loạt thông tin để người học chọn lựa, ghi to,

rõ thông tin lên bảng Người dạy cùng người học sắp xếp thông tin theo dạng đúng– sai Các thông tin đưa ra để lựa chọn được chuẩn bị kỹ và không quá dễ

Phương pháp tự nghiên cứu: phương pháp này có mục tiêu giúp người học phân

tích, tổng hợp, đánh giá, đưa ra quan điểm, ý kiến riêng về những vấn đề của nộidung giáo dục quyền con người Vai trò của phương pháp này giúp người học pháthuy các kỹ năng làm việc độc lập, sáng tạo, mềm dẻo và thích ứng nhanh trong việcgiải quyết các vấn đề mới Khi áp dụng, người dạy phải đưa ra yêu cầu và nhiệm vụnghiên cứu vấn đề cụ thể của nội dung giáo dục quyền con người Người học phảiđộc lập tìm kiếm các phương pháp để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu Ưu điểm củaphương pháp này là giúp người học phát huy khả năng làm việc độc lập, khả năngtìm tòi, phát hiện vấn đề và giải quyết chúng một cách sáng tạo Tuy nhiên, nhượcđiểm là hạn chế sự giao tiếp giữa người dạy với người học và khó tổ chức

Phương pháp tái tạo: làm cho người học hiểu, bước đầu vận dụng, nên nó phù

hợp với nội dung giáo dục quyền con người các vấn đề chuyên sâu Phương phápnày có vai trò là giúp người học hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thao tác thuần thục vớithông tin và nội dung giáo dục quyền con người Khi áp dụng, người dạy phải thiết

kế, đưa ra các “mẫu” (bài tập, bảng biểu, chỉ dẫn…) và phải chương trình hóa cácnội dung giáo dục quyền con người Người học phải thao tác, lặp lại theo mẫu, theochỉ dẫn, sử dụng các kỹ thuật để nhận diện, hiểu rõ vấn đề, bước đầu hình thành,phát triển kỹ năng thực hiện các thao tác đơn lẻ Ưu điểm của phương pháp này làgiúp người học hiểu được bản chất vấn đề, hình thành kỹ năng vận dụng tri thức đãlĩnh hội để giải quyết các tình huống thực tiễn Tuy nhiên, nhược điểm là dễ dẫn đếnhọc “tủ”, rập khuôn, cứng nhắc

Trang 39

Phương pháp khám phá, sáng tạo: là phương pháp giúp cho người học phân tích

được các vấn đề của nội dung đặt ra Phương pháp này giúp người học hình thành

kỹ năng tự xác định, phân tích và giải quyết các vấn đề chứa trong nội dung giáodục quyền con người Khi áp dụng, người dạy phải hướng dẫn cách xác lập vấn đề,tìm kiếm, thu nhập cứ liệu và lập kế hoạch giải quyết các vấn đề của nội dung.Người học phải xác lập, phân tích, lên kế hoạch độc lập để tìm kiếm giải pháp, conđường giải quyết vấn đề Ưu điểm của phương pháp này là giúp người học rènluyện, kích thích tư duy phê phán, sáng tạo, phát triển kỹ năng độc lập giải quyếtvấn đề, tìm kiếm giải pháp mới cho cùng một vấn đề Tuy nhiên, nhược điểm là khó

tổ chức triển khai, tốn nhiều công sức, thời gian, đòi hỏi người dạy và người họcphải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng [22]

Còn một số phương pháp khác như: phương pháp ghi ý kiến lên bảng, đóng vai,hỏi chuyên gia Khi áp dụng phương pháp ghi ý kiến lên bảng, người dạy phải cử 2người học lên bảng ghi lại các ý kiến của lớp hoặc của nhóm và phải biết lồng ýkiến của người học vào bài giảng Phương pháp đóng vai là phương pháp biên soạnkịch bản phù hợp với bài (xây dựng nhân vật, tình huống) Khi áp dụng phươngpháp này, người dạy phải chọn diễn viên và giao nhiệm vụ cho họ Người học nhậpvai và diễn Người dạy nêu câu hỏi để người học trả lời nhằm giải quyết tình huống

mà người dạy đã đưa ra Phương pháp hỏi chuyên gia là phương pháp nêu chủ đề đểngười học nghiên cứu và đưa ra câu hỏi Khi áp dụng phương pháp này, người dạyphải thu thập, sắp xếp và phân loại câu hỏi Người học phải lựa chọn câu hỏi và trảlời ngắn gọn (không tranh luận) Giáo dục quyền con người cũng cần chú trọngphương pháp mới như phương pháp học trực tuyến trên mạng E- Learning Phươngpháp này tuy không hoàn toàn thay thế được bằng phương thức đào tạo truyền thốngnhưng E-learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dụcquyền con người đó là nhu cầu đào tạo tăng lên, quá tải so với khả năng của các cơ

sở đào tạo Phương thức đào tạo này có sức lôi cuốn rất nhiều người học, rất phùhợp với hoàn cảnh của những người đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ Đặcbiệt, E – learning cho phép học viên tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan

Trang 40

đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng,trao đổi mới những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, nhữngđiều mà theo cách học truyền thống là không thể có được, hoặc nếu có thì phải cầnchi phí quá cao.

1.3 GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI – ĐIỀU KIỆN QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Nhà nước pháp quyền là thành tựu của nền văn minh nhân loại trong tiến trìnhphát triển xã hội loài người Tư tưởng Nhà nước pháp quyền được hình thành từ lâutrong lịch sử và ngày càng hoàn thiện như một phương thức tổ chức Nhà nước màtrong đó có các đặc điểm nội bật như: quyền lực Nhà nước được bắt nguồn từ nhândân; các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân công thực hiện rõ ràng;pháp luật là tối thượng; và các cam kết quốc tế được Nhà nước đảm bảo thực hiện.Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người luôn luôn được coi trọng;pháp luật quy định đầy đủ về quyền con người và được bảo đảm trong thực tế Nhànước pháp quyền là một Nhà nước mà ở đó, quyền và nghĩa vụ của tất cả và củamỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Nhà nước và cá nhân phải tuân thủpháp luật, việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống tòa án độc lập.Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất là con người Nhà nướcphải đảm bảo cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại sự tùy tiện củaNhà nước, có một cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp pháp và hợp hiến của phápluật và các hành vi của bộ máy chính quyền Nhà nước Nhà nước pháp quyền phảitạo ra cho công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trênnhững điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Trong Nhà nước phápquyền, Hiến pháp giữ vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật Hiến pháp xây dựngtrên cơ sở bảo đảm tự do và quyền công dân [18, tr.39-40]

Có thể nói rằng Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp đạođức, hợp lý và hiệu quả Xây dựng nhà nước pháp quyền do vậy, đòi hỏi phải cómột bản hiến pháp mang nội dung pháp quyền, dân chủ, ngắn gọn nhưng bao quát

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w