Liên hợp quốc đã ban hành hàng loạt các văn kiện khẳngđịnh các quyền và tự do của tất cả mọi người, đặc biệt là Hiến chương Liênhợp quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 19
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU HẰNG
QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Öc
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
pháp quyền
Chương 2: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
quyền con người
đặt ra trong việc phát triển, đảm bảo và bảo vệ quyền con người
quyền con người
Trang 5Chương 3: CÁC CƠ CHẾ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
Ở VIỆT NAM
quyền con người
địa phương
pháp luật Việt Nam
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
120121
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sựBLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sựCƯQT : Công ước quốc tế
ĐƯQT : Điều ước quốc tế
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một trong những yếu tố cơ bản, nền tảng của một
xã hội dân chủ, văn minh Tư tưởng về quyền con người đã hình thành từ rấtsớm trong lịch sử nhân loại; tuy nhiên không phải trong bất cứ hình thái - xãhội nào, trong bất cứ kiểu Nhà nước nào nó cũng tồn tại và được thừa nhậnmột cách đầy đủ Vì thế, quyền con người là một phạm trù lịch sử và là kếtquả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn nhân loại nhằm vươn tới những
lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm xây dựng một xã hội thật sựcông bằng, dân chủ và nhân đạo
Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi quyền conngười như một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phongkiến và để tập hợp lực lượng trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề vềquyền con người đã được giai cấp tư sản đề cập đến như Tuyên ngôn độc lậpcủa Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dânquyền của Pháp năm 1789
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bịđập tan năm 1945, vấn đề quyền con người trở thành mối quan tâm của cảNhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chứcLiên hợp quốc ra đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ chức này là vấn đềquyền con người Liên hợp quốc đã ban hành hàng loạt các văn kiện khẳngđịnh các quyền và tự do của tất cả mọi người, đặc biệt là Hiến chương Liênhợp quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 thì vấn đề vềquyền con người đã chuyển sang một bước ngoặt mới trong lịch sử nhân loại,trở thành một quan hệ cơ bản được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế
Đến nay thì quyền con người đã được ghi nhận, khẳng định trong Hiếnpháp của nhiều quốc gia trên thế giới Vấn đề đảm bảo quyền con người
Trang 8ở mọi lĩnh vực hoạt động cụ thể cũng được tất cả các quốc gia trên thế giới coi trọng.
Ở Việt Nam, kể từ khi giành được độc lập năm 1945, Đảng và Nhànước ta luôn tôn trọng quyền con người Tuyên ngôn độc lập của nước ViệtNam dân chủ cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường BaĐình ngày 02/9/1945 được coi là một văn kiện có tính lịch sử trên phươngdiện quốc tế về quyền con người Trên cơ sở đó, quyền con người được ghinhận trong Hiến pháp nước ta qua các thời kỳ 1946, 1959, 1980 và 1992 Điều
50 Hiến pháp năm 1992 của nước ta khẳng định: "Ở nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, vănhóa và xã hội được tôn trọng và bảo đảm thực hiện" [33]
Nước ta đang trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì việc đảm bảo quyền con người lạicàng có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết, nhằm làm cho Việt Nam sớm hội nhậpvới thế giới và khu vực, góp phần xây dựng nền văn hóa nhân quyền toàn cầu
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiêncứu để làm rõ khái niệm, bản chất và cấu trúc của quyền con người; lịch sử tưtưởng về quyền con người ở Việt Nam; đồng thời làm rõ các cơ chế pháp lýbảo đảm quyền con người trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ởnước ta hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài trong nước và nước ngoài
Quyền con người và đảm bảo quyền con người là một vấn đề cơ bản,được tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt coi trọng trong lĩnh vực nghiêncứu lý luận cũng như thực tiễn Trong lịch sử phát triển của nhân loại, các giátrị về quyền con người và đảm bảo quyền con người luôn gắn liền với nhữngthành tựu mà nhân loại đã đạt được
Trang 9Trên thế giới, từ cơ sở Luật quốc tế về quyền con người, các khu vựcquốc gia đều xây dựng cho mình các thiết chế để đảm bảo và phát huy quyềncon người trên thực tế.
Cùng với các căn cứ pháp lý về quyền con người, các quan điểm, tưtưởng và quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này đã phản ánh hết sức
phong phú và đa dạng như: tác phẩm "Nhân quyền, bảo vệ nhân quyền theo Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị" của Lippman Matther, tạp chí Quốc tế California, số 10 - 1980; tác phẩm "Việc áp dụng Hiệp ước Châu âu
về quyền con người của Tòa án Pháp" của Steiner Eva, tạp chí luật Kings Collages, số 6-1996; tác phẩm "Các đảm bảo quyền cá nhân theo Hiến pháp Liên bang Mỹ" của Scialia Antomin, nhà xuất bản Martinus Nijhoff publishers, Dordrecht 1994…
Các tác phẩm nêu trên đề cập đến các vấn đề lý luận về quyền conngười nói chung, quyền con người ở từng lĩnh vực nói riêng, về tổ chức vàhoạt động thực tiễn đảm bảo quyền con người ở các quốc gia trong Cộngđồng Châu Âu, cũng như các quốc gia, tổ chức khác trên thế giới
Ở nước ta, việc nghiên cứu về quyền con người và đảm bảo quyền conngười là vấn đề đã được Đảng, Nhà nước ta cùng các nhà khoa học xã hội hếtsức quan tâm trong thời kỳ đổi mới Có thể kể đến những công trình như sau:
"Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền", Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, do TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên;
tác phẩm "Quyền con người trong thế giới hiện đại", của GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Ích Khiêm; tác phẩm "Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ
ở Việt Nam hiện nay", của Đỗ Trung Hiếu; tác phẩm "Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", của GS.TS Trần Ngọc Đường; Luận văn Thạc sĩ: "Đảm bảo pháp lý về quyền con người ở Việt Nam hiện nay", của Trần Thị Phương Hảo, 2008; Luận án tiến sĩ:
"Pháp luật bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực xã hội ở
Trang 10Việt Nam", của Lê Hoài Trung, 2011; Luận án tiến sĩ: " Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Tố tụng hình sự Việt Nam",
của Lại Văn Trình, 2011
Như vậy, trên thế giới cũng như trong nước đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về quyền con người và đảm bảo quyền con người nói chung hoặcđảm bảo quyền con người trong các lĩnh vực hoạt động cụ thể Các công trìnhnghiên cứu này đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về quyền conngười, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của quyền con người, về tổ chức vàhoạt động của bộ máy nhà nước, về việc xây dựng pháp luật để đảm bảoquyền con người… Vì thế, các công trình này là nguồn tham khảo quan trọngđối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
3. Mục đích và nhiệm vụ chủ yếu của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở
lý luận và thực tiễn đảm bảo quyền con người ở nước ta hiện nay Thông qua
đó, nêu lên những giải pháp nhằm đảm bảo quyền con người ở Việt Nam trênmọi lĩnh vực đạt được hiệu quả cao hơn nữa
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu về khái niệm, bản chất của quyền con người, lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng nhân quyền và nhà nước pháp quyền nói chung
- Nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển tư tưởng nhân quyền
ở Việt Nam
- Nghiên cứu các cơ chế pháp lý để đảm bảo quyền con người ở ViệtNam, thông qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm tăng cường việc đảm bảoquyền con người ở Việt Nam
Trang 114. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng những quan điểm duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh và những quan điểm của Đảng ta về nhà nước pháp quyền và về quyềncon người Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổnghợp, hệ thống, tiếp cận lịch sử và phương pháp so sánh
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền con người.
Chương 2: Lịch sử tư tưởng về quyền con người ở Việt Nam.
Chương 3: Các cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
Trang 12Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁ NHÂN, XÃ HỘI, NHÀ NƯỚC VÀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầunhư được ghi nhận trong tuyên bố của Hội nghị thế giới Vienna về quyền conngười năm 1993 và các nghị quyết của Liên hợp quốc đã được thông qua nhândịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngườinăm 1998 Kể từ đó, ngày càng có nhiều quốc gia bày tỏ sự ủng hộ của mìnhđối với Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người và đã phê chuẩn Công ướcquốc tế (CƯQT) về các quyền dân sự và chính trị cũng như CƯQT về cácquyền kinh tế, văn hóa và xã hội được dựa trên nền tảng của Tuyên ngôn
Điểm bắt đầu của khái niệm về quyền con người là khái niệm về phẩmgiá vốn có của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại như được ghi nhậntrong Tuyên ngôn thế giới và các công ước năm 1966 Các công ước này cũngghi nhận ý tưởng về con người tự do khỏi sự sợ hãi, tự do làm điều mong muốn
và được hưởng các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng Theo đó,quyền con người mang tính phổ quát và không thể chuyển nhượng, có nghĩa làchúng được áp dụng khắp nơi mà không thể lấy đi Như Tổng thư ký Liên hợpquốc Boutros-Ghali đã nói trong Hội nghị Thế giới Vienna về quyền con ngườivào năm 1993: "quyền con người là các quyền bẩm sinh"
Các quyền con người là không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau Cácchiều hướng hay phạm trù nhân quyền khác nhau có thể được phân biệt theocác quyền dân sự và chính trị như là quyền tự do bày tỏ và các quyền kinh tế,
xã hội và văn hóa Trước đây, một số quốc gia hay nhóm các quốc gia cụ thểnhư là các quốc gia XHCN đã ưu tiên các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
Trang 13hơn là các quyền dân sự và chính trị, trong khi Hoa Kỳ và các quốc gia thànhviên của Hội đồng châu Âu lại thể hiện sự ưu tiên các quyền công dân vàchính trị hơn Tuy nhiên, tại Hội nghị quốc tế về quyền con người ở Viennavào năm 1993, cuộc tranh luận không có ý nghĩa này đã được giải quyết bởiviệc công nhận cả hai phạm trù hay xu hướng về quyền con người này là quantrọng như nhau Tại Hội nghị Teheran năm 1968, hai nhóm quyền này đượcghi nhận là không thể chia cắt và phụ thuộc lẫn nhau vì sự hưởng thụ đầy đủcác quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa dường như là không thể nếu nhưkhông có các quyền dân sự, chính trị và ngược lại.
Vào những năm 1980, một nhóm các quyền con người nữa được ghinhận là quyền được hưởng hòa bình, quyền phát triển và quyền được sốngtrong một môi trường khỏe mạnh Những quyền này tạo ra một khuôn khổ cầnthiết kể cả khi có sự đồng ý của cá nhân đó cho cho việc hưởng thụ đầy đủ cácquyền khác Nhóm quyền thứ ba là sự thể hiện tốt nhất tính thống nhất củacác quyền, vì chúng đòi hỏi phải có sự hợp tác quốc tế và hướng tới việc xâydựng cộng đồng
Trong khi quyền con người là quyền của tất cả cá nhân, cho dù họ cóquyền công dân của một nước cụ thể nào hay không, quyền công dân là cácquyền cơ bản được đặc biệt bảo đảm cho các công dân của một quốc gia cụthể, ví dụ như quyền bầu cử hay quyền được tiếp cận với các dịch vụ côngcộng tại một quốc gia nào đó
Cần phân biệt quyền con người các quyền thiểu số, tức là quyền củacác thành viên trong một nhóm với các đặc điểm khác biệt về dân tộc, tôngiáo hay ngôn ngữ Tự bản thân họ hay trong cộng đồng với các thành viêncủa nhóm, họ có quyền con người về hưởng nền văn hóa riêng của mình,được bày tỏ hay thực hiện tôn giáo của riêng mình, được bày tỏ hay thực hiệntôn giáo của riêng mình hay để sử dụng ngôn ngữ của riêng mình
Ngày nay, khái niệm quyền con người được chia sẻ ở cấp độ toàn cầu
và nhờ đó được coi như một nền tảng cho các quốc gia của cộng đồng quốc tế,
Trang 14các tổ chức quốc tế và các phong trào xã hội, tất cả đều với tư cách là thànhviên của xã hội quốc tế Quyền con người cũng có thể là một phương tiện màmọi người có thể sử dụng như một công cụ biến đổi xã hội Do đó, khái niệmquyền con người gắn bó chặt chẽ với khái niệm về dân chủ.
1.1.2 Địa vị pháp lý của cá nhân trong xã hội
Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân sống trên lãnh thổ là mối quan
hệ nền tảng trong mỗi quốc gia Quan hệ đó thể hiện trong các quyền và nghĩa
vụ được quy định tạo thành địa vị pháp lý của cá nhân Địa vị pháp lý nàynhiều, ít tùy thuộc vào tính chất của Nhà nước (quân chủ chuyên chế, dân chủ
tư sản hay dân chủ XHCN) và vào tính công dân của người đó (là công dân,người không quốc tịch hay người nước ngoài) Do đó việc xác định tính côngdân (quốc tịch) của một cá nhân là một yếu tố trong việc quy định địa vị pháp
lý của cá nhân
Công dân là bộ phận dân cư của một Nhà nước bao gồm những ngườiđược xác định lệ thuộc pháp lý đối với Nhà nước đó Người là công dân củaNhà nước sở tại thì được hưởng đầy đủ những quyền và lợi ích tương xứng,đồng thời phải gánh vác những nghĩa vụ do Nhà nước quy định Những cánhân không phải là công dân thì chỉ được hưởng một số quyền lợi và gánh vácnhững nghĩa vụ không đầy đủ so với những người là công dân theo pháp luậtnước sở tại và các hiệp ước được ký kết hoặc phê chuẩn
Khái niệm công dân được gắn liền với khái niệm quốc tịch Người làcông dân của nước nào thì mang quốc tịch nước đó Điều 49 Hiến pháp nước
ta quy định "công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người cóquốc tịch Việt Nam" [33] Khái niệm quốc tịch được dùng để phân biệt côngdân của một nước với công dân của nước khác và với người không phải làcông dân của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
Khái niệm quốc tịch được quy định thông dụng trên thế giới Theo từđiển Bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì:
Trang 15Quốc tịch là sự quy thuộc về mặt pháp lý và chính trị củamột cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan hệ qua lại giữaNhà nước và cá nhân Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân làcông dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài Vềphần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước vàhoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước [53, tr 75].
Luật Quốc tịch Việt Nam định nghĩa:
Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cánhân đối với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làmphát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước
và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đối với công dân Việt Nam [40]
Như vậy, quốc tịch là trạng thái pháp lý xác định mối quan hệ lệ thuộcgiữa một cá nhân với một Nhà nước nhất định Người có quốc tịch sẽ chịu sựtài phán tuyệt đối của Nhà nước, đồng thời được hưởng đầy đủ mọi năng lựcpháp lý với sự bảo hộ của Nhà nước cả trong nước cũng như ở nước ngoài
Trong trạng thái pháp lý trên, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân
có quốc tịch được thể hiện như sau: Thứ nhất, Nhà nước bằng pháp luật, quy
định quyền và nghĩa vụ của công dân, trong số các quyền đó, công dân cóquyền tham gia quyết định các công việc Nhà nước một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp thông qua những người đại diện do Nhân dân bầu ra; thứ hai, công
dân phải có nghĩa vụ tuân theo pháp luật mà Nhà nước của mình đặt ra dù họ
ở trong hoặc ngoài nước; thứ ba, Nhà nước có quyền phán xét, xử lý tuyệt đối
các hành vi của công dân nước mình đồng thời phải có trách nhiệm bảo hộquyền và lợi ích của công dân cả ở trong và ngoài nước
Khi nói quốc tịch hay công dân là nói tới sự lệ thuộc của một cá nhânvào một Nhà nước nhất định chứ không phải đối với một đất nước Trên mộtđất nước, qua các giai đoạn lịch sử có thể có những chế độ Nhà nước khácnhau tồn tại Quan hệ Nhà nước công dân bao giờ cũng là quan hệ giữa công
Trang 16dân với một Nhà nước cụ thể Hiện nay ở nước ta, đó là mối quan hệ giữacông dân Việt Nam đối với Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Công dânViệt Nam của các chế độ trước được hưởng quyền và sự bảo hộ kế thừa củaNhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay.
Sự tồn tại của Nhà nước luôn luôn gắn liền với một quốc tịch thốngnhất Trong từng trường hợp Nhà nước được tổ chức dưới hình thức liên bangthì quốc tịch của các lãnh thổ hợp thành đồng thời là quốc tịch của Nhà nướcliên bang
Để xác định công dân của mình, Nhà nước ban hành luật quốc tịch
Đó là một chế định điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình xác lập tính lệ thuộc giữa một bên là các cá nhân sống trên lãnh thổ vàbên kia là Nhà nước Luật về quốc tịch là tổng thể các quy phạm quy định về
sự có, mất, thay đổi quốc tịch, quốc tịch của người chưa thành niên, thẩmquyền và thủ tục giải quyết các vấn đề quốc tịch
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn luôn gắn liền với vấn đề quốc tịch là nội dung biểu hiện của vấn đề quốc tịch Có quốc tịch thì mới có quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; không có điều ngược lại Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là hạt nhân cơ bản của công dân của quy chế công dân.
Những quyền và nghĩa vụ được quy định trong văn bản có hiệu lựcpháp lý cao nhất trong mỗi một Nhà nước được gọi là quyền và nghĩa vụ cơbản Việc quy định như vậy vì những quyền và nghĩa vụ xuất phát từ nhânquyền; việc thành lập ra Nhà nước tiến bộ để bảo vệ chúng và không đượcxâm phạm trong khi thực hiện quyền lực của mình Nhưng khác với quyềncon người ở chỗ quyền công dân luôn gắn liền với một nhà nước sở tại.Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những quyền, nghĩa vụ được quyđịnh trong Hiến pháp Những quyền và nghĩa vụ này được hiến pháp quy địnhcho tất cả mọi công dân, hoặc cho cả một tầng lớp, một giai cấp, không quyđịnh cho từng người trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Những quyền nàythường được xuất phát từ quyền con người: "được sống, được tự do, được
Trang 17mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm được" Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở cho mọi quyền và nghĩa vụ cụ thể của một công dân.
1.2 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.2.1 Lịch sử phát triển của tư tưởng nhân quyền
Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ xa xưa trong lịch sử củanhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa và tôngiáo Tuy nhiên, ý tưởng về "quyền con người" là kết quả của tư tưởng triếthọc thời hiện đại, không chỉ dựa trên triết học của chủ nghĩa duy lý và thời đạikhai sáng, chủ nghĩa tự do và dân chủ, mà còn dựa trên chủ nghĩa xã hội
Trong lịch sử nhân loại, ngay từ thời cổ, đã có các bản văn nhìn nhậnnhững quyền lợi của con người; nhưng không phải ai ai cũng được hưởngnhững quyền đó mà chỉ có một giai cấp nào, một giới nào đó thôi Việc nhìnnhận cho hết mọi người, bất kỳ tuổi tác, phái tính, giai cấp nào, cũng đượchưởng một số quyền lợi căn bản như nhau, là một quan điểm hết sức mới mẻ.Người ta thường cho rằng khởi điểm là Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm
1789: "Hết mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng với nhau" Tuy nhiên,
bản tuyên ngôn các quyền lợi con người của cuộc cách mạng Pháp khôngthành hình một sớm một chiều, mà nó đã được chín muồi từ bao nhiêu tưtưởng triết lý, tôn giáo và pháp lý trước đó
Trong số những văn kiện pháp lý gây ảnh hưởng trực tiếp trên tuyênngôn nhân quyền của cách mạng Pháp là sắc dụ Sublimis Deus (2/6/1537) củaĐức Thánh Cha Phaolo III Phần đông các nhà thần học Tây Ban Nha thời đócho rằng vũ trụ này thuộc về Thiên Chúa, cho nên ai theo đạo Thiên Chúa thì
có quyền chiếm hữu vũ trụ Tuy nhiên cha Francisco de Vitoria, dòngĐaminh, giáo sư tại Salamanca (1484-1546), chủ trương rằng chủ quyền đấtđai không dựa trên lý do tôn giáo nhưng dựa trên bản tính con người Vì thếcác thổ dân có quyền làm chủ lãnh thổ của họ, và hoàng triều Tây Ban Nha
Trang 18không có cơ sở pháp lý nào để chiếm cứ Văn kiện này không phải chỉ có tínhcách thần học, mà nó còn có tính cách pháp lý nữa bởi vì nó ràng buộc chínhsách của hoàng triều Tây Ban Nha tại châu Mỹ, và cha Bartolomeo de LasCasas đã dựa vào đó để bảo vệ tự do cho các thổ dân Tuy bản văn còn mangnhiều giới hạn về lý thuyết và áp dụng, nhưng nó cũng đã phản ánh ý thức vềnhững quyền lợi gắn với bản tính con người, tựa như: tự do, sở hữu và thủ đắctài sản Nó là khởi điểm cho việc thiết lập danh sách các quyền lợi căn bảncủa con người trong các thế kỷ kế tiếp, chẳng hạn: Quyền con người của Anh(1689), và những tuyên ngôn độc lập ở Bắc Mỹ Vào các thế kỷ 16-17, từ ngữcòn mông lung: quyền của công dân, quyền của con người, quyền tự nhiên,quyền thiên nhiên, v.v Thế nhưng phải nói rằng chính lý thuyết về quyền tựnhiên đã trở thành nguồn gốc và nền tảng của học thuyết về nhân quyền.
Từ ngữ "quyền tự nhiên", ắt sẽ gợi lên trong suy nghĩ của mỗi người một
tư tưởng khác nhau Có người liên tưởng tới những quyền tự do của loài ngườikhi còn sống trong tình trạng tự nhiên, muốn làm gì thì làm, không bị luật lệ nàocưỡng bách gò bó Tuy nhiên, ta cũng có thể hiểu quyền tự nhiên theo nghĩa lànhững quyền lợi gắn với bản tính của con người, nghĩa là bẩm sinh chứ không do
xã hội ban cấp và thu hồi Ý thức về những quyền lợi bẩm sinh đã xuất hiệntrong các triết gia Hy Lạp, La Mã trước Kitô giáo Trong tiến trình đòi hủy bỏchế độ nô lệ, các triết gia Hy Lạp đã lập luận rằng con người sinh ra đều bìnhđẳng với nhau; sở dĩ có người làm chủ nhân và có người làm tôi mọi là do hoàncảnh thời thế mà thôi Có thể nêu tên tuổi một vài triết gia cận đại đã gây ảnh
hưởng đến các bản tuyên ngôn nhân quyền như: Thomas Hobbes (1588-1679),
Edward Coke (1552-1634), John Locke (1632-1704) Lập luận của họ đều dựatrên quan điểm: con người có những quyền lợi gắn liền với bản tính chứ khôngphải là do đặc ân của nhà cầm quyền xã hội ban cho
Như vậy, bản tuyên ngôn nhân quyền cách mạng Pháp đã có những tiền
sử xa gần của nó Gần hơn cả là những tuyên ngôn của Anh vào thế kỷ 17 Tuynhiên, Tuyên ngôn cách mạng 1789 của Pháp đã đánh dấu một giai đoạn
Trang 19mới, bởi vì không những nó được truyền bá và áp đặt trong nước mà còn tạinhững quốc gia khác ở Châu Âu do những cuộc chinh phục quân sự củaNapoleon Bản tuyên ngôn được sử dụng như công cụ để lật đổ các chế độ quânchủ Về mặt lý thuyết, có thể thấy có sự tiến triển về quan niệm nhân quyền sovới các bản văn trước đó Trước đây, để chống lại những luật lệ bất công hay hàkhắc của nhà vua, người ta đã tranh đấu để được hưởng một vài đặc ân, nhưng
mà những đặc ân đó chỉ giới hạn vào một vài điểm cụ thể (ví dụ: có thể theo mộttôn giáo khác với quốc giáo; không bị bắt giam vô cớ…), hay chỉ dành cho mộttầng lớp xã hội (quý tộc, giáo sĩ) Tuyên ngôn cách mạng Pháp nhìn nhận cho hếtmọi con người sinh ra đều được tự do và bình đẳng
Tuy nhiên, theo thời gian, người ta thấy bản tuyên ngôn cách mạngPháp có nhiều giới hạn:
- Chủ thể của những quyền lợi không phải là hết mọi con người sinh
ra trên thế giới này, mà chỉ là những công dân Pháp Tựa đề của tuyên ngôn
đã nói rằng đây là những quyền của con người và của công dân (nhân quyền
và dân quyền) Dĩ nhiên các dân ở các nước thuộc địa không thể nào yêu sách
được hưởng những quyền lợi đó, bởi vì họ đâu có phải là công dân nướcPháp, phụ nữ và vị thành niên cũng chưa được hưởng quyền công dân
- Quyền con người là giới hạn cho sự can thiệp của Nhà Nước, chínhquyền không được phép đụng tới khu vực tự do của mọi công dân Về mặt lýthuyết thì đó là quan điểm tuyệt vời; nhưng mà khi bối cảnh xã hội thay đổithì những quyền tự do đó chỉ bảo vệ cho giới tư sản, còn lớp dân nghèo thìvẫn lâm vào cảnh đói kém Điều này đã xảy ra nhân cuộc cách mạng côngnghệ ở Châu Âu vào thế kỷ 19 Giới tư bản dựa vào các quyền tự do để có thểthao túng thị trường theo định luật cung cầu, và hậu quả là hàng triệu ngườirơi vào tình trạng nghèo đói của lớp vô sản
Cuộc cách mạng Pháp đã cho ra đời tuyên ngôn các quyền lợi chính trịcủa công dân Do những thiếu sót vừa nêu, người ta thấy cần phải thêm nhữngquyền lợi kinh tế xã hội Điển hình với bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên
Trang 20hợp quốc được biểu quyết ngày 10/12/1948 sau gần hai năm thảo luận trải qua
18 dự thảo Điều 1 của văn kiện viết như sau: "Mọi người đều sinh ra tự do vàbình đẳng về phẩm giá và quyền lợi Con người có lý trí và lương tâm, và phảiđối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ" Dựa trên nền tảng này, bản tuyênngôn loại trừ hết mọi kỳ thị về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôngiáo, chính kiến, tư tưởng Trong số các quyền lợi được liệt kê chúng ta có thểphân biệt hai nhóm:
- Những quyền tự do cá nhân, bao gồm: sinh sống, an ninh bản thân(Điều 3), không bị làm tôi mọi (Điều 4), không bị hành hạ tra tấn, đối xử tráivới nhân đạo (Điều 5), không bị giam giữ hay trừng phạt trái phép (Điều 9-11), không bị xâm phạm vào đời tư (Điều 12), cũng như những quyền đượckết hôn và lập gia đình (Điều 16), quyền tư hữu (Điều 17), quyền tự do tưtưởng, lương tâm, tín ngưỡng (Điều 18), quyền tự do có ý kiến và phát biểu(Điều 19), quyền hội họp và lập hội (Điều 20) Những quyền này đã đượcnhìn nhận trong hiến pháp của các nước dân chủ
- Những quyền chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa, từ Điều 21 trở đi,bao gồm: tham gia chính quyền, an sinh, làm việc và nghỉ ngơi (Điều 23-24), bảohiểm sức khỏe và tai nạn rủi ro (Điều 25), giáo dục và văn hóa (Điều 26-27)
Trước đây, những quyền tự do chính trị đặt ra những giới hạn cho sự canthiệp của Nhà nước vào đời sống của tư nhân Ngày nay, các quyền lợi kinh tế xãhội thì lại đòi hỏi Nhà nước phải hành động, tạo ra những điều kiện phục vụ chocác quyền lợi ấy (công ăn việc làm, nhà ở, bệnh viện, trường học )
Rõ ràng, nhân quyền qua những tuyên ngôn và hiệp ước của Liên hợpquốc có rất nhiều điểm tiến bộ, nhất là khi so sánh với bản tuyên ngôn 1789của cách mạng Pháp Tuy nhiên, đằng sau những bản liệt kê khác nhau về cácquyền lợi ta thấy có một quan niệm như nhau về chủ thể của chúng, đó là cánhân con người Con người bẩm sinh đã có một số quyền lợi mà xã hội khôngnhững không được xâm phạm đến mà còn có nghĩa vụ phải bảo vệ nữa Thếnhưng quan niệm như vậy lại hình dung cá nhân con người tách rời ra khỏi
Trang 21cộng đồng xã hội, con người hiện hữu trước và ngoài xã hội Chính vì thế cáchọc giả bắt đầu hình thành quan điểm con người xét như là thành phần của mộtcộng đồng Từ đó, vấn đề nhân quyền kèm theo quyền của các cộng đồng, đặcbiệt là cộng đồng thiểu số, quyền của các cộng đồng (ngôn ngữ, văn hóa, tôngiáo) được hiện hữu và hoạt động Theo chiều hướng đó, Liên hợp quốc đã đưa
ra không chỉ quyền độc lập tự quyết của các dân tộc mà còn quyền của nhữngthành phần chịu thiệt thòi, chẳng hạn: trẻ em, người khuyết tật, phụ nữ
Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, thế giới giống như tất cảđều sống chung trong một ngôi làng nhỏ, và bất cứ biến cố nào xảy ra tại mộtvùng trên thế giới cũng đều gây ảnh hưởng cho toàn thể cộng đồng nhân loại.Bắt đầu từ khi chiến tranh vùng Vịnh đã gây ra cơn sốt giá cả về dầu lửa, sau
đó là những vụ di cư, tị nạn, khủng bố và đặc biệt là môi trường Các nướcnghèo chặt cây đốt rừng để sinh sống và sự phá rừng này gây những ảnhhưởng đến thời tiết nhiệt độ của địa cầu Vì vậy mà việc bảo vệ nhân quyềnmặc nhiên bao gồm cả bảo vệ quyền của toàn thể cộng đồng nhân loại, đặcbiệt là những thế hệ tương lai Đến đây quyền sống của cá nhân và cộng đồng,quyền được hưởng hòa bình, quyền của các dân tộc được phát triển về vănhóa và kinh tế, được ghi nhận Liên hợp quốc trở thành cơ quan thúc đẩyviệc tổ chức những hội nghị về môi sinh, phát triển
1.2.2 Lịch sử phát triển của nhà nước pháp quyền
Các nhà tư tưởng tiến bộ thế kỷ XVIII-XIX đã đưa ra quan niệm Nhànước pháp quyền nhằm chống lại Nhà nước chuyên chế, cực quyền phongkiến, chống lại sự độc đoán, lạm quyền và nằm trong trào lưu chung của hệ tưtưởng giải phóng Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải thay đổi
hệ thống chính trị, mở rộng dân chủ dựa trên nguyên tắc tôn trọng tính tối caocủa pháp luật và pháp chế Với tính cách là một hình thức chính trị pháp lýhợp lý, Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị quý báu chung củatoàn nhân loại, được xếp ngang với những giá trị khác như nhân quyền, dânchủ và chế độ lập hiến
Trang 22Từ thời cổ đại, người ta đã bắt đầu tìm kiếm nguyên tắc, hình thức và
cơ cấu để thiết lập quan hệ qua lại, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhaugiữa pháp luật và quyền lực
Trào lưu của quan niệm ngày càng sâu sắc, sớm hình thành tư tưởng
về sự hợp lý và công bằng của việc tổ chức một hình thức chính trị của đờisống xã hội, trong đó nhờ vào sự thừa nhận và ủng hộ của quyền lực, phápluật trở thành sức mạnh của quyền lực, còn sức mạnh của quyền lực được tổchức có trật tự, thừa nhận pháp luật và bị hạn chế, ràng buộc bởi pháp luật, trởthành quyền lực nhà nước công bằng (tức phù hợp với pháp luật) Sự nhậnthức như vậy về Nhà nước như một tổ chức pháp lý của sức mạnh quyền lựccông khai là tư tưởng cơ bản về Nhà nước pháp quyền Học thuyết về Nhànước pháp quyền thực tế được xây dựng muộn hơn trong cuộc đấu tranhchống lại sự lộng quyền, độc đoán của giai cấp phong kiến Tuy vậy, ý tưởng
về Nhà nước pháp quyền có cội nguồn xa xưa trong lịch sử nhân loại
Xét về phương diện lịch sử, vấn đề nhà nước pháp quyền xuất hiệnsớm nhất ở Trung Quốc cổ đại, vào cuối thời Xuân Thu, đầu thời Chiến Quốcvới người khởi xướng là Thân Bất Hại, sau đó được Quản Trọng, Tử Sản,Thương Ưởng, Hàn Phi bổ sung và phát triển Đây chính là tư tưởng pháp trị
và trường phái tư tưởng này được gọi là "Pháp gia"
Tuy chủ trương chung là dùng pháp luật để trị nước, song các nhà tưtưởng thuộc pháp gia có những ý kiến không thống nhất Thận Đáo nhấnmạnh tầm quan trọng của "thế" nghĩa là coi trọng địa vị, uy tín, trình độ củanhững người nắm pháp luật mà cụ thể là Vua và hệ thống quan lại Thân BấtHại đứng đầu nhóm duy pháp, cho rằng "pháp luật" là yếu tố quan trọng nhất;bởi vì: nếu pháp luật đầy đủ, nghiêm minh thì nước mạnh, nếu pháp luật thiếu,yếu, lỏng lẻo thì nước yếu Thương Ưởng khẳng định rằng, "thuật" là nhân tố
có tầm quan trọng trong đường lối trị nước, đó là "thuật" bổ nhiệm quan lạidựa trên chính danh, trên nhu cầu thực tế, "thuật" giám sát và thưởng phạt dựatrên nguyên tắc "theo danh mà trách thực", "theo việc mà trách
Trang 23công" là quan lại phải chịu trách nhiệm và bổn phận về việc mình làm, không
đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh, không trốn tránh trách nhiệm
Với tư cách là đại biểu điển hình, là linh hồn của pháp gia, Hàn Phi đãthống nhất được nội dung của cả ba quan điểm trên ông cho rằng, người lậppháp và thi hành pháp luật phải có cái thế riêng của mình, tức phải chính danh,đồng thời phải có thuật trị nước, sau đó vận dụng pháp luật phải hợp thời
Theo Hàn Phi Tử, trong pháp luật có ba đối tượng (chủ thể pháp luật)tham gia: Vua là người đặt ra pháp luật; bề tôi (hệ thống quan lại) là những ngườitriển khai và giám sát pháp luật; dân là những người phải tuân thủ nhất quánpháp luật, trong đó hệ thống quan lại có một vai trò quan trọng [16, tr 428]
Tư tưởng Pháp gia đã có ảnh hưởng sâu rộng về phương diện thực tiễntrong xã hội Trung Quốc đương thời, tuy còn những hạn chế nhất định, song
tư tưởng pháp trị của Pháp gia đã tạo tiền đề lý luận cho việc hình thành tưtưởng về nhà nước pháp quyền của nhân loại về sau
Thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Solon (638 - 559 tr.CN) - nhà thôngthái Hy Lạp - đã áp dụng tư tưởng kết hợp sức mạnh với quyền lực trong việc
tổ chức Nhà nước Ai Cập trên những nguyên tắc dân chủ Ông diễn đạt tưtưởng của mình rằng, phải giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực phápluật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật
Sau tư tưởng của Solon, nhà toán học kiêm triết gia Pithagore đòi phảithực hiện mệnh lệnh của nhà nước, tức là phải tuân thủ pháp luật Pháp luậtphải đứng cao hơn các phong tục, tập quán truyền thống Trên quan điểm duyvật biện chứng, ông cho rằng, pháp luật là phương thức thực hiện các quyềnlợi chung của nhân dân; do vậy, muốn có tự do và bình đẳng thì nhân dân phảiđấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của bản thân mình.Theo ông, các thành bang phải được thiết lập trên cơ sở pháp luật, mọi ngườiphải đấu tranh cho pháp luật như đấu tranh bảo vệ thành lũy quê hương Mộtnhà triết học duy vật khác là Democrite cho rằng, nhà nước và pháp luật là sảnphẩm cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân bị đè nén nhằm
Trang 24liên kết với nhau thành cộng đồng xã hội để bảo vệ quyền lợi của mình Nhànước là sự hiện thân quyền lực chung của mọi công dân Sự tự do của côngdân chính là sự tuân thủ pháp luật.
Sự thắng lợi của nền dân chủ Athens nửa sau thế kỷ V (tr.CN) đã tạođiều kiện cho sự ra đời lý thuyết "pháp luật tự nhiên", theo đó thì nhà nước vàpháp luật là sản phẩm sáng tạo của xã hội, chúng được tạo nên bởi những thỏathuận giữa mọi thành viên trong xã hội và có nhiệm vụ bảo vệ an ninh vàquyền lợi chung cho mọi công dân
Pháp luật là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Cuối thế kỷ Vtrước Công Nguyên, trong xã hội Hy Lạp xuất hiện nhiều phe phái chính trị,nền dân chủ Athens lâm vào khủng hoảng Bằng luận điểm: "Quyền lực căn
cứ không phải trên luật pháp, mà trên thói chuyên quyền của người cầmquyền, quyền lực như vậy chống lại nhân dân" [46, tr 17], Socrate cho rằngdân chủ không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật hay pháp luật bất lực Giá trị caonhất là công lý, nghĩa là con người ta sống tuân thủ pháp luật của nhà nước
Theo Aristote, ở vương quốc Ai Cập cổ đại, nền dân chủ được hình thành
từ thời đại Solon Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của người cổ đại nhằmchống lại quan niệm ấu trĩ, ngụy biện cho rằng sức mạnh đẻ ra pháp luật (tức lẽphải thuộc về kẻ mạnh ) Ông cho rằng nơi nào không có sức mạnh của Luật thìnơi đó không có hình thức chế độ Nhà nước Aristote hiểu luật là luật phápquyền (bất cứ đạo luật nào cũng bao hàm trong mình pháp luật, nói về tính tốicao của luật trong một Nhà nước được tổ chức theo đúng nghĩa của nó) Theoông, khái niệm công bằng gắn liền với quan niệm về Nhà nước, bởi vì pháp luật
là tiêu chuẩn của sự công bằng, là quy phạm điều chỉnh mọi giao tiếp chính trị
Còn Platon thì cho rằng, "chúng ta thừa nhận rằng những nơi mà luậtđược định ra vì lợi ích của một số người thì ở đó không có chế độ Nhà nước.Chỉ có thể gọi là Nhà nước nếu ở đó có sự công bằng"
Các nhà tư tưởng cổ đại không chỉ chú trọng tới tính tối cao của luật,của pháp luật mà còn chú trọng tới sự tổ chức hợp lý của hệ thống quản lý
Trang 25Nhà nước Cả hai khía cạnh đều có ý nghĩa quan trọng, liên hệ mật thiết vớinhau Nếu không có tổ chức quy củ của Nhà nước, không có sự phân định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn; Không quy định trật tự trong mối quan hệ qua lạigiữa các cơ quan Nhà nước thì không thể có tính tối cao của pháp luật Mặt khác,bản thân tổ chức hệ thống quyền lực của Nhà nước pháp quyền không thể tồn tạinếu không phù hợp với pháp luật, nếu luật không được tuân thủ.
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối caocủa pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức quyền lực chính trị Đó là haiyếu tố không thể thiếu và không thể tách rời của Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của các nhà tư tưởng cổ đại ảnhhưởng đến sự hình thành và phát triển các học thuyết về phân quyền, Nhànước pháp quyền của các nhà tư tưởng thời kỳ trung đại và cận đại Các họcthuyết này đã đóng vai trò to lớn trong việc phê phán sự bất bình đẳng của chế
độ phong kiến, sự lạm quyền của quan lại phong kiến, khắc phục các quanđiểm thần học về Nhà nước và pháp luật, khẳng định tư tưởng bình đẳng và tự
do của mọi người trong đời sống xã hội, trong tổ chức pháp luật - Nhà nướccủa các quan hệ chính trị
Ý nghĩa quyết định của sự phát triển về lịch sử và lý luận của nhữngquan niệm mới về Nhà nước pháp quyền vào thời kỳ quá độ từ chế độ phongkiến lên chủ nghĩa tư bản, là những vấn đề quyền lực chính trị dưới hình thứcphân quyền phù hợp với tương quan mới của các lực lượng chính trị, xã hội -giai cấp, đồng thời loại trừ khả năng độc quyền hóa quyền lực trong tay mộtngười hay một cơ quan Thế giới quan pháp lý của giai cấp tư sản đang lên đòihỏi những quan niệm mới về tự do của con người thông qua việc tôn trọngtính tối cao của pháp luật trong mọi việc công, tư
Thomas Hobbes (1588-1679) - nhà triết học duy vật Anh cho rằng: từbuổi mới khai thiên lập địa, loài người sống trong trạng thái tự nhiên hoang
dã, khi đó chưa hình thành xã hội công dân, chưa ai có quyền lực kinh tế,chính trị hơn ai nên mọi người đều bình đẳng cả về thể xác lẫn tinh thần
Trang 26Bằng việc chuyển nhượng quyền tự nhiên của mình cho một nhóm người,trạng thái sống tự nhiên của người dân chuyển dần sang trạng thái dân sự.Nhóm người đó chính là những đại diện trong bộ máy nhà nước, với tư cách
là một tổ chức chính trị xã hội đặc biệt đã tham gia, hay thậm chí còn canthiệp sâu vào mọi lĩnh vực đời sống con người, thúc đẩy hay cản trở quyền tự
do bình đẳng của họ bằng một hệ thống luật lệ gọi là pháp luật
Tiếp tục phát triển quan điểm của Hobbes, John Locker (1632 - 1704)(nhà triết học pháp quyền người Anh thế kỷ XVII) lý giải về việc phải thực hiệnphân quyền dựa trên sự ngự trị của pháp luật thể hiện dưới hình thức Nhà nước,trong đó Luật có tính tối cao - Luật phù hợp với pháp luật tự nhiên, công nhận tự
do và các quyền tự nhiên của cá nhân Nhà nước (có luật ngự trị) đối lập vớichuyên quyền, pháp chế đối lập với phi pháp của người nắm quyền Theo ông,nguyên tắc "cho phép làm tất cả những gì mà luật không cấm" chỉ đúng khi ápdụng đối với công dân còn đối với người nắm quyền lực phải áp dụng nguyên tắcngược lại: "Cấm không được làm những gì mà luật không cho phép" Locke căn
cứ vào tính chất, cách thức lập pháp để xác định các kiểu và các hình thức chínhquyền nhà nước Nét đặc trưng trong học thuyết của John Locker là việc khởithảo học thuyết về "sự phân chia quyền lực" Tiếp thu tư tưởng về vai trò quyềnlực nhà nước của Thomas Hobbes, John Locke cho rằng, khi một quốc gia mớithành lập, thì việc đầu tiên cần làm là thiết lập cơ quan quyền lực lập pháp Cơquan lập pháp này không những là quyền lực tối cao của quốc gia, mà còn làquyền lực thiêng liêng và không thể hoán đổi
Tuy nhiên, cơ quan lập pháp khi đã xác lập và ban hành pháp luật thìcòn có nhiệm vụ phải giám sát, và quan trọng hơn là phải thực thi nó Để phápluật được xã hội giám sát và thực thi một cách có hiệu quả, theo John Locke,cần thiết phải thành lập một cơ quan nhà nước khác là hành pháp Chức năngthi hành và giám sát pháp luật của cơ quan hành pháp luôn được duy trì vàcủng cố bằng những biện pháp mang tính cưỡng chế đơn phương, buộc mọicông dân luôn phải tuân thủ pháp luật, nếu không sẽ bị này trừng phạt Có thểnói, John Locke đã đặt nền móng xây dựng lý thuyết nhà nước pháp quyền,
Trang 27ông đã phác họa ra những đặc điểm chung của nhà nước pháp quyền Qua đó,ông đã đặt nền móng cho chế độ nhà nước dân chủ tự do chủ nghĩa đứng đốilập với chế độ quân phiệt, chế độ chuyên chế và nền bạo chính.
Quan niệm mới về phân quyền thể hiện đầy đủ trong các công trìnhcủa Montesqiue (1689 - 1755) vào thế kỷ thứ XVIII Theo ông, ở mỗi Nhànước có ba loại quyền: Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Để tránh lạm quyền, ba quyền đó phải nằm trong tay ba cơ quan khácnhau, chế ước lẫn nhau Đó là điều kiện chủ yếu để đảm bảo tự do chính trị trongNhà nước Tự do không phải làm những gì mà mình muốn và cũng không cónghĩa là bị buộc làm những gì mà mình không muốn Tự do có nghĩa là được làmtất cả những gì mà luật cho phép Cụ thể: Quyền lập pháp giao cho nghị viện,quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền tư pháp giao cho tòa án Theo lýluận của Montesqiue thì khi quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trongtay một người hay một viện nguyên lão, thì sẽ không còn gì là tự do nữa Cũngkhông có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp vàquyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽđộc đoán đối với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt
ra luật Nếu quyền tư pháp nhập với quyền hành pháp thì quan tòa có cả sứcmạnh của kẻ đàn áp Sơ đồ phân quyền này không chấp nhận việc một cơ quannhà nước đứng trên hoặc nắm trọn vẹn cả ba quyền, không một cơ quan nàođược vượt lên những cơ quan khác và có thể tước đoạt quyền cá nhân của côngdân Sự phân quyền là nhằm dùng một quyền lực này để kiểm soát và kiềm chếmột quyền lực khác Tư tưởng của Montesquieu như đã nói trên đã trở thành mộttrong những nội dung cơ bản thuyết tam quyền phân lập trong nhà nước phápquyền tư sản truyền thống và hiện đại
Học thuyết của Locke và Montesqiue về phân quyền, về bảo đảm quyền
tự do của công dân ảnh hưởng rõ nét đến quan niệm lý luận về Nhà nước phápquyền, pháp luật nói chung và hiến pháp nói riêng của các Nhà nước tư sản saunày Chẳng hạn, Tuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của
Trang 28Pháp 1789: "Luật chỉ có thể cấm những hành vi có hại đối với xã hội Tất cảnhững gì mà luật không cấm, đều cho phép làm và không ai có thể bị buộcphải làm điều gì mà luật không quy định".
Immanuel Kant (1724-1804) là người lập luận trên phương diện triếthọc về Nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước là tập hợp nhiều người cùngphục tùng đạo luật pháp quyền, hoạt động sao cho sự biểu thị tự do theo ýmình phù hợp với tự do của người khác, phù hợp với luật chung Ông cũng làmột trong những người tán thành nguyên tắc phân quyền Theo ông, ở đâu ápdụng nguyên tắc phân quyền thì ở đó có Nhà nước pháp quyền, còn nếukhông thì là chuyên quyền Nhà nước pháp quyền không phải là hiện thựckinh nghiệm mà là mô hình lý luận, lý tưởng cần được tuân thủ như sự đòi hỏicủa lý trí và mục đích của nỗ lực của con người trong tổ chức thực tế đời sốngpháp luật nhà nước Nguyên tắc pháp luật chính là kết luận có sự phân tích rút
ra từ khái niệm tự do Tự do đòi hỏi con người phải công nhận tự do củangười khác không phụ thuộc vào việc họ sử dụng tự do nhằm mục đích gì.Trong Nhà nước pháp quyền, cần phân biệt pháp luật với đạo đức, nghĩa vụpháp lý với trách nhiệm của người hảo tâm, Nhà nước với tính cách là cộngđồng pháp luật với nhà thờ như một cộng đồng đạo đức: Nhà thờ quy địnhtrách nhiệm về đạo đức, Nhà nước quy định trách nhiệm pháp lý Nhà nướcpháp quyền là Nhà nước cộng hòa thuần túy, nơi ngự trị pháp luật, không phụthuộc bất cứ cá nhân nào Hoạt động của Nhà nước hầu như thực chất là lậppháp, mục đích của quyền lập pháp là sự tự do, còn quyền hành pháp không
có mục đích pháp lý chung và do vậy những biện pháp nhằm đạt tới nhữngmục đích không phải pháp lý không thể là các biện pháp cưỡng chế
Theo Hegel (1770-1831), Nhà nước pháp quyền là thực tiễn của lý trítrong những hình thức nhất định của sự tồn tại thường ngày của con người.Con người là tự do vì nó là thực thể tinh thần Con người tự do và các hìnhthức tự do chỉ hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Trongquá trình đó con người tự tạo ra mình với tính cách là một thực thể tự do, tạo
Trang 29ra thế giới tự do của mình, tạo ra Nhà nước, pháp luật Hegel coi lịch sử thếgiới là một quá trình nhận thức về tự do, quá trình con người nhận thức ngàycàng sâu sắc về chân lý khách quan, kể cả việc nhận thức về mình như mộtthực thể tinh thần, tự do và quá trình thực hiện khác nhau về tự do dưới hìnhthức Nhà nước - pháp luật Theo Hegel, pháp luật là tư tưởng tự do, Nhà nướccũng chính là pháp luật, pháp luật cụ thể, có nội dung phong phú và là toàn bộ
hệ thống pháp luật, một hệ thống bao hàm việc thừa nhận mọi quyền khác,quyền của cá nhân, gia đình và xã hội Hegel đặt Nhà nước lên cao nhất, trên
cá nhân, trên cả xã hội Nhà nước là thứ pháp luật cụ thể ở vị trí đỉnh chóp củahình nón pháp luật Ông thần thánh hóa Nhà nước pháp quyền, coi các quyền
cá nhân và xã hội phụ thuộc, phục tùng Nhà nước không phải với tính cách là
bộ máy bạo lực mà là một thứ pháp luật cao hơn
Là nhà tư tưởng đầu thế kỷ thứ XIX, Hegel cho rằng tư tưởng về tự dotồn tại dưới hình thức quân chủ lập hiến dựa trên cơ sở của nguyên tắc phânquyền Sự phân quyền trong Nhà nước là sự bảo đảm cho tự do công cộng Toàn
bộ cấu trúc về Nhà nước pháp quyền của Hegel trực tiếp chống lại sự lạm quyền,chuyên chế, chống lại mọi nguy cơ dùng vũ lực, bạo lực phi pháp Về thực chất,Hegel dùng chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền chống lại chủ nghĩa cực quyền
Nói về lịch sử tư tưởng Nhà nước pháp quyền không thể không nhắcđến các quan niệm pháp luật thực chứng phát triển vào thế kỷ XIX và thế kỷ
XX Đó là quan niệm của Herber, Daisi, Ellinec, Laband …
Bản chất của các quan niệm này thể hiện ở chỗ phải tạo ra cấu trúcNhà nước bị kiềm chế, ràng buộc bởi pháp luật do chính Nhà nước tạo ra.Những người theo thuyết này phủ định sự phân biệt luật với pháp luật và coipháp luật là những quy phạm (các quy phạm luật, dưới luật, luật tục, án lệ…)
do Nhà nước đặt ra và bảo vệ Theo quan niệm pháp luật thực chứng, Nhànước là cội nguồn sản sinh ra pháp luật Lệnh của vua là pháp luật, không có
sự phân biệt giữa pháp luật với sự tùy tiện, tự do và bạo lực Sự tùy tiện, bạolực khi được người nắm quyền bảo đảm sẽ mặc nhiên trở thành pháp luật
Trang 30Quyền và tự do cá nhân là lộc do chính quyền ban phát, cho nên có thể bị thuhồi bất cứ lúc nào Do vậy, các quan niệm pháp luật thực chứng phủ định Nhànước pháp quyền Nói đúng hơn, đó là quan niệm Nhà nước phi pháp chế,trong đó Nhà nước không bị ràng buộc bởi luật, không có tiêu chuẩn kháchquan để xác định tính hợp pháp, tính chất pháp lý của các Nhà nước đó, khôngphân biệt đâu là pháp luật, đâu là sự tùy tiện.
Lý luận kinh điển về Nhà nước pháp quyền phát triển mạnh ở nướcĐức vào nửa đầu thế kỷ XIX Robert Fon Mohn, Karl Teodor Valker là nhữngngười đầu tiên dùng thuật ngữ Nhà nước pháp quyền đã được lập luận trongtriết học của Kant, Hegel Mohn và Valker đề ra nguyên tắc về tính tối cao củaluật như là tiêu chuẩn quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền Tính tối caocủa luật, sự ngự trị của pháp luật thể hiện qua quyền lực nhân dân dưới hìnhthức chủ quyền của nghị viện
Theo Mohn, trong ba loại quyền trong Nhà nước pháp quyền thì quyềnlập pháp có vị trí cao nhất, không thể không có sự kiểm tra của các cơ quan tưpháp lớn hơn sự hoạt động lập pháp mà chỉ lớn hơn các cơ quan hành pháp
mà thôi Theo Mohn và Valker, trong những tiêu chuẩn của Nhà nước phápquyền đó là sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật, thừa nhận mục đíchsống còn của tất cả mọi người không phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ, việc
áp dụng các quy phạm chung một cách khách quan không phụ thuộc vào địa
vị xã hội của cá nhân Nhà nước pháp quyền không thể có mục tiêu nào khácngoài việc làm thế nào tổ chức được đời sống của nhân dân sao cho mỗi thànhviên trong đó nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển tự do tối đa
và toàn diện năng lực tổng hợp của mình
Stal (1802-1861) là nhà tư tưởng theo trường phái bảo thủ về Nhànước pháp quyền có quan điểm gần giống Mohn nhưng lại bác bỏ mọi hìnhthức phân quyền, khẳng định Nhà nước chỉ phải bị ràng buộc bởi luật
Ông định nghĩa Nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước cần phảitrở thành Nhà nước pháp quyền Đó là phương châm của thời đại Nhà nước
Trang 31phải xác định phương hướng và giới hạn hoạt động của mình cũng như phạm
vi tự do của công dân thông qua pháp luật như sự bảo đảm bất khả xâm phạm.Nhà nước cần thực hiện những tư tưởng trong giới hạn của lĩnh vực pháp luật,trong bất cứ trường hợp nào cũng không được vượt qua giới hạn đó
Bản chất của Nhà nước pháp quyền là không phải xác định mục tiêu
và nội dung của trật tự pháp luật Nhà nước mà chỉ xác định phương thức thựchiện mục tiêu và nội dung đó
Theo Stal, Nhà nước pháp quyền vừa là vật chất, vừa là hình thức Vớitính cách là Nhà nước pháp quyền vật chất, nó thực hiện những tiêu chuẩn,nội dung của sự ngự trị của đạo đức Là Nhà nước pháp quyền hình thức, nóngăn ngừa việc dùng bạo lực để thực hiện những tiêu chuẩn đó
Stal phủ định sự phân định rạch ròi giữa Nhà nước và xã hội, phủ địnhkhả năng kiểm tra của pháp luật tự nhiên lớn hơn pháp luật thực định nhằmbênh vực chính sách can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực công cộng Điều đóthể hiện và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản
Theo Stal, các quan hệ xã hội hiện có với tính cách là các quan hệpháp lý khởi điểm được phản ảnh một cách đơn giản trong các văn bản phápluật và hiệu lực pháp lý của luật chỉ xuất phát từ đặc điểm và truyền thống.Ông không giải quyết mâu thuẫn giữa pháp luật với tính cách là sự phản ảnhcủa bản chất sự việc mà với pháp luật với tính cách là yếu tố sáng tạo, quyđịnh tương lai của xã hội Sự mâu thuẫn tồn tại vì ông đại diện cho lợi ích củagiai cấp tư sản trong sự can thiệp có hiệu quả của Nhà nước đồng thời cũngbiểu hiện lợi ích của tầng lớp quý tộc trong việc bảo vệ các hình thức sở hữu
tư bản chủ nghĩa, tránh sự can thiệp của Nhà nước
Lịch sử học thuyết về Nhà nước pháp quyền là kho tàng phong phúvới những mặt mạnh, mặt yếu cần được tiếp tục nghiên cứu để đưa ra giảipháp thực tế đúng đắn trong những điều kiện hiện nay
Là quốc gia tiến hành xây dựng XHCN xuất phát từ một nền kinh tế tiểunông, không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Việt Nam chưa có
Trang 32nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Bởi vì, bỏ quagiai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa không có nghĩa là bỏ qua sự phát triểnlực lượng sản xuất, cách quản lý kinh tế của nó mà còn bỏ qua cả kinh nghiệm
tổ chức mô hình và cách thức quản lý nhà nước pháp quyền cũng như cácquan niệm hiện đại về nhân quyền, về quyền tự do bình đẳng, v.v
Thực tế cho thấy, nhà nước pháp quyền tư sản là sản phẩm phát triểntất yếu của lịch sử nhân loại, mô hình nhà nước này có nhiều ưu điểm trongviệc điều hành kinh tế và quản lý xã hội Do vậy trong sự nghiệp xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần phải nghiêncứu, tham khảo, khai thác và tiếp biến, kế thừa những điểm tiến bộ nêu trên đểxây dựng Nhà nước ta thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
1.3 CÁC THẾ HỆ QUYỀN CON NGƯỜI
Thuật ngữ "thế hệ quyền con người" lần đầu tiên được luật gia ngườiCzech, Karel Vasak, cũng là Tổng thư ký của Viên nhân quyền quốc tế tạiStrasbourg đặt tên vào năm 1977 Karel dựa vào ba cuộc cách mạng lớn tronglịch sử để chia làm ba thế hệ quyền con người Cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789 đã tạo ra thế hệ quyền con người thứ nhất, đó là các quyền dân sự vàchính trị Cuộc cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 tạo ra thế hệ quyền conngười thứ hai - các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Cuối cùng cuộc giảiphóng dân tộc của các quốc gia thuộc địa dẫn đến sự công nhận của thế hệquyền con người thứ ba - quyền được phát triển, quyền tự quyết, quyền đượcsống trong môi trường trong lành… Khi nói đến các thế hệ quyền con người
là nói đến tính chất của từng nhóm quyền đã lần lượt được ghi nhận trongpháp luật của các quốc gia và trong các văn kiện quốc tế theo dòng chảy củalịch sử các quyền con người
Thế hệ quyền con người thứ nhất được coi là kết quả của nền dân chủPhương Tây, đó là tự do của con người, bao gồm các quyền tự do được làm(tự do ngôn luận; tự do về tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; tự do có ý kiến vàbiểu đạt; tự do về di chuyển và lựa chọn nơi ở…) và tự do thoát khỏi (không
Trang 33có ai có thể bị bắt và giam giữ vô cớ; không ai có thể là nạn nhân của sự tratấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục; không ai có thể
bị bắt làm nô lệ…) Thế hệ quyền thứ nhất là thụ động bởi lẽ việc thực hiệnquyền đòi hỏi các quốc gia không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào việcthụ hưởng quyền của cá nhân Hay nói cách khác, xét về bản chất đây lànhững quyền tự do để không ai bị xâm phạm quyền được bảo vệ từ phía Nhànước Do đó, các quyền này gắn liền với trách nhiệm của Nhà nước khôngđược can thiệp vào những lĩnh vực liên quan đến các quyền này
Thế hệ quyền con người thứ hai được hình thành trong quá trình đấutranh của nhân dân vì một đời sống tốt đẹp hơn nhằm cải thiện các điều kiệnkinh tế, nâng cao văn hóa Đây là những quyền chủ động, nghĩa là việc thựchiện các quyền này đòi hỏi những hành động tích cực của chính quyền nhưban hành chính sách, chương trình và thực hiện dự án hay kế hoạch nhằm đảmbảo các quyền của người dân Các quyền thuộc thế hệ này bao gồm các quyền
về việc làm, quyền về điều kiện làm việc, quyền được thành lập và gia nhậpcông đoàn, quyền được tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền đạt tới tiêu chuẩncao nhất về sức khỏe và tinh thần, về được giáo dục, quyền về văn hóa vàquyền được hưởng lợi ích từ những thành tựu khoa học…
Điểm khởi đầu của quá trình ra đời và phát triển thế hệ quyền conngười thứ hai là vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi chủ nghĩa tư bản đãđẩy xã hội vào quá trình phân hóa gay gắt Học thuyết chủ nghĩa tự do mới đã
ra đời chủ trương làm dịu sự đối kháng giữa một bên là những kẻ giàu và mộtbên là những người nghèo thông qua một hệ thống an ninh xã hội, xác lập chế
độ bảo hiểm xã hội cho người già, cho các trường hợp ốm đau, bệnh tật…
Các quyền con người được đảm bảo về mặt xã hội, tuy nhiên phải hiểu đây không chỉ là khẩu hiệu mà phải gắn liền chúng với việc xây dựng và thực thi các chương trình cải cách kinh tế đúng đắn nhằm nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân Đây cũng chính là điểm yếu của các nước XHCN hiện thực trước đây, khi mà ở đó, các mục tiêu an sinh xã hội như đảm bảo việc
Trang 34làm, bảo trợ xã hội, chế độ nghỉ ngơi, chế độ bảo vệ bà mẹ trẻ em, y tế, giáodục v.v… đã không song hành với mức độ tăng trưởng kinh tế của xã hội.
Vào những thập niên sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhận thức đượcđiều đó, cộng đồng thế giới đã gắn các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa vớinhau trong một tập hợp thống nhất các quyền con người Với sự ra đời củaCông ước năm 1966 về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thì bộ quy chuẩn
về các thế hệ quyền con người thứ hai đã được hoàn chỉnh
Thế hệ quyền con người thứ hai khác thế hệ quyền con người thứ nhất
ở tính chất và vị trí của chúng Tiêu chí quan trọng nhất để nhận biết sự khácbiệt này chính là vấn đề vai trò và thái độ của Nhà nước đối với các quyền conngười Các quyền tự do cá nhân liên quan đến nhân thân con người, các quyềndân sự được coi là những quyền con người với tính cách là thành viên của xãhội dân sự, các quyền chính trị gắn với con người với tính cách là sự can dựvào đời sống chính trị Tất cả các quyền đó trong bộ quy tắc nhân quyền thế
hệ thứ nhất đặt ra yêu cầu quan trọng nhất là phải được Nhà nước bảo vệ hoặckhông can thiệp Trong khi đó thế hệ quyền con người thứ hai - các quyềnkinh tế, xã hội đòi hỏi Nhà nước phải chủ động xây dựng và thực hiện cácchương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Chính vì vậy, vin vào cớ chorằng, những quyền này là không có tính ổn định, khó được bảo đảm bằng conđường thủ tục khiếu kiện pháp lý, nên một số quốc gia đã không tham giaCông ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Có thể nói rằng quan niệm
đó tuy không hoàn toàn thiếu căn cứ, vì trên thực tế để thực hiện được cácquyền đó cần có các điều kiện khách quan và đây là các quyền thuộc nhómkhách quan, nhưng việc thừa nhận và cam kết đảm bảo cho công dân có đượcnhững quyền này sẽ thúc đẩy các quốc gia có thêm trách nhiệm hoàn thiệnpháp luật quốc gia mình và thực thi các cam kết quốc tế
Thế hệ quyền con người thứ ba được hình thành trong những năm sauChiến tranh Thế giới lần thứ II Những bài học lịch sử cay đắng của chiếntranh đã hối thúc cộng đồng quốc tế quyết tâm giữ gìn hòa bình, chống chiếntranh, giải trừ quân bị Như vậy, lịch sử đã mở ra một kỷ nguyên cho các
Trang 35quyền về hòa bình, quyền tự quyết dân tộc là các quyền của con người - cá thểcũng như tập thể Tuy nhiên, các quyền này trước hết thuộc về các dân tộc,các quốc gia là chủ thể của pháp luật quốc tế và vì vậy, nhóm thế hệ quyềncon người thứ ba có thể được coi là các quyền tập thể: quyền của dân tộc, củanhân dân, của cộng đồng, của hội đoàn Lẽ đương nhiên, đây không phải làcác quyền tự nhiên mà là những quyền xuất phát từ những giá trị cần cho sựtồn tại và phát triển của các cộng đồng và tập thể; nó không thể là con số cộngcủa các quyền cá nhân mà có ý nghĩa khác hơn về chất bởi các mục tiêu, ý chí
và nguyện vọng tập thể Tuy vậy, các quyền tập thể không thể và không đượctrái với các quyền tự nhiên của con người mà phải vì con người và lấy cái gốc
là quyền con người làm chuẩn giá trị Nếu không đáp ứng được điều đó thìcác quyền đó là phi nhân đạo, phi nhân tính Mặt khác, coi trọng quyền của cánhân không có nghĩa là thừa nhận thói ích kỷ, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợiích tập thể và cộng đồng Vì vậy, các thế hệ quyền con người phải được đặttrong tổng thể hòa hợp, bổ sung cho nhau nhằm mục tiêu phát triển và tiến bộ
Tuy nhiên, nhiều thập niên trở lại đây, những điều tưởng chừng nhưđơn giản ấy vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ, vẫn còn nhiều mâu thuẫn và thiếunhất quán trong chính sách thực hiện quyền con người Sự coi thường các lợiích của cộng đồng dân cư, thậm chí là của các quốc gia nhỏ yếu, các dân tộcthiểu số chính là nguyên nhân của các xung đột sắc tộc, tôn giáo Ngược lại,việc lạm dụng lợi ích cộng đồng hoặc tập thể, chủ nghĩa dân tộc hoặc tôn giáocực đoan nhằm vi phạm những quyền cá nhân con người hoặc lợi ích quốc gia,dân tộc cũng sẽ gây tổn thương cho quyền con người
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, cùng với sự phát triển của lịch sử,các quyền con người, bao gồm quyền cá nhân và quyền tập thể sẽ còn đượcphát triển, bổ sung
1.4 CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Quyền con người là "quyền vốn có", "không thể tách rời" đối với mỗingười sinh ra trên trái đất này, không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu, không
Trang 36phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo hay địa vị xã hội Điều này đã đượcquy định rất rõ ràng tại nhiều văn kiện quan trọng.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, Liên hợp quốc đã ra đời và trở thànhmột dấu ấn quan trọng trong lịch sử phát triển của nhân loại Cùng với sự rađời của tổ chức này, các quy định về nhân quyền đã được hình thành và gắnliền với quá trình phát triển của phần lớn các quốc gia, các dân tộc trên toànthế giới Kéo theo đó là hàng trăm các văn kiện quốc tế về quyền con người
đã được soạn thảo và được thông qua trong suốt hơn 60 năm qua
Các văn kiện quốc tế về quyền con người bao gồm các tuyên bố, tuyênngôn được thông qua tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, các CƯQT được ký kếttheo trình tự nhất định của pháp luật quốc tế Tuy nhiên, văn kiện được coi làquan trọng nhất, chuẩn mực nhất về quyền con người là Hiến chương Liênhợp quốc, Bộ luật quốc tế về quyền con người, Công ước về ngăn ngừa vàtrừng trị tội diệt chủng 1948, Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phânbiệt và đối xử đối với phụ nữ 1979, Công ước chống tra tấn và sử dụng cáchình thức trừng phạt hay đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người
1984, Công ước về quyền trẻ em 1989
• Hiến chương Liên hợp quốc
Mặc dù không có riêng điều khoản nào nói về quyền con người nhưngtrong nhiều điều khoản của Hiến chương đã đề cập đến các quyền và tự do cơbản của con người Phần mở đầu của Hiến chương đã nêu rõ những quyền cơbản, nhân phẩm và giá trị của con người ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ,bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ Hiến chương khẳng định, các quốc giathành viên của Liên hợp quốc luôn cam kết hành động trên cơ sở phối hợphoặc riêng rẽ trong sự hợp tác với Liên hợp quốc để nhằm thúc đẩy sự "tôntrọng và tuân thủ những giá trị quyền con người toàn cầu và các quyền tự do
cơ bản của con người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặctôn giáo" [17] Có thể nói, đây là lần đầu tiên vấn đề quyền con người đã
Trang 37được chính thức thừa nhận và tôn trọng bởi một văn bản quốc tế có giá trịpháp lý được thừa nhận rộng rãi.
Không chỉ thừa nhận rộng rãi các giá trị về quyền con người, Hiếnchương cũng đã cố gắng biến tất cả những quan điểm này thành hành độngthực tế thông qua việc ghi nhận các quy định về thành lập các cơ quan trựcthuộc của Liên hợp quốc để nhằm thúc đẩy quyền con người:
-Đại hội đồng chủ động nghiên cứu và đề xuất các khuyến nghị nhằmthực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người không phân biệt chủng tộc,giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo
-Hội đồng kinh tế - xã hội đưa ra các khuyến nghị nhằm thúc đẩy sựtôn trọng và tuân thủ các quyền và tự do cơ bản của con người Ngoài ra, Hộiđồng còn có quyền soạn thảo các Dự thảo công ước để trình lên Đại hội đồng,
có quyền triệu tập các hội nghị quốc tế về quyền con người
-Ủy ban quyền con người giải quyết các vấn đề về quyền con người,nghiên cứu, chuẩn bị các khuyến nghị và soạn thảo các Điều ước quốc tế(ĐƯQT) về quyền con người, điều tra các vụ vi phạm về quyền con người, xử
lý thông tin liên quan đến các vụ vi phạm
-Ủy ban loại trừ sự phân biệt đối xử về chủng tộc, Ủy ban các quyềnkinh tế, xã hội và văn hóa, Ủy ban xóa bỏ tệ phân biệt đối xử đối với phụ nữ,
Ủy ban chống tra tấn được thành lập theo các CƯQT về quyền con người
-Ban thư ký của Liên hợp quốc thành lập ra Trung tâm Quyền conngười có trách nhiệm giúp Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế - xã hội, Ủy banQuyền con người và các cơ quan khác của Liên hợp quốc trong việc thúc đẩy
và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của con người
-Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn và các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc khác đều có mối quan tâm đặc biệt về quyền con người
Trong khuôn khổ hoạt động của mình, Liên hợp quốc đã luôn tổ chức các Hội nghị quốc tế về quyền con người để thúc đẩy các hoạt động về quyền
Trang 38con người tại tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Từ khi Hiến chương Liênhợp quốc ra đời, Liên hợp quốc đã thông qua bộ máy hoạt động về nhânquyền để thực hiện tốt hơn những đòi hỏi của cộng đồng thế giới.
Thông qua các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc cũng như cáchoạt động thực tiễn của Liên hợp quốc trong thời gian qua, có thể khẳng địnhrằng Liên hợp quốc luôn coi việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là mộtnhiệm vụ cần phải làm nhằm bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới
• Bộ luật quốc tế về quyền con người bao gồm Tuyên ngôn toàn thếgiới về quyền con người; CƯQT về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; CƯQT
về các quyền dân sự và chính trị cùng với hai Nghị định thư bổ sung cho côngước này
Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người được soạn thảo bởi cácthành viên đến từ các vùng miền khác nhau trên toàn thế giới đã đảm bảo chovăn kiện này phản ánh được các truyền thống văn hóa khác nhau và các giá trịcộng đồng khác nhau, các hệ thống pháp luật khác nhau, các truyền thốngchính trị, tôn giáo khác nhau Quan trọng hơn cả là Tuyên ngôn đã trở thànhmột tuyên bố chung của khát vọng chia sẻ quan điểm về một thế giới côngbằng và bình đẳng hơn Là nền móng của Pháp luật về quyền con người,Tuyên ngôn là cơ sở cho một loạt Công ước, tuyên bố trên Thế giới và nó làmột phần không thể tách rời trong Hiến pháp và pháp luật của nhiều quốc gia.Lần đầu tiên trong lịch sử, cộng đồng thế giới đã cũng thống nhất về một vănkiện được coi như là có giá trị trên toàn thế giới như là "thước đo chung chotất cả các dân tộc, tất cả các quốc gia" [18] Lời nói đầu của Tuyên ngôn đãghi nhận tầm quan trọng của khung pháp lý về quyền con người là để gìn giữhòa bình và an ninh thế giới, tuyên bố rằng việc công nhận về phẩm giá và cácquyền bình đẳng của con người là cơ sở của tự do, công lý và hòa bình trêntoàn thế giới
Tuyên ngôn quy định về các quyền con người trong 30 điều khoảnđược soạn thảo rõ ràng và chính xác Điều 1 của Tuyên ngôn tuyên bố rằng:
Trang 39"Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng về nhân phẩm và quyền.Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối
xử với nhau trong tình bằng hữu" [18] Điều 2 ghi nhận về quyền không bịphân biệt đối xử của con người: "Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền
và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này, không phân biệt về chủng tộc, màu
da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác,nguồn gốc quốc gia hay xã hội, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội" [18]
Từ Điều 3 đến Điều 21 ghi nhận các quyền về dân sự và chính trị mà mỗingười đều được hưởng, đó là các quyền không bị bắt làm nô lệ, không bị tratấn, bắt giữ tùy tiện cũng như các quyền được xét xử công bằng, tự do ngônluận, tự do đi lại và các tự do cá nhân khác Từ Điều 22 đến Điều 27 quy địnhcác quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa gồm các quyền về mặt xã hội liênquan đến chất lượng cuộc sống, phúc lợi xã hội, giáo dục; các quyền về kinh
tế liên quan đến việc làm, trả lương công bằng, nghỉ ngơi và các quyền thamgia vào đời sống văn hóa cộng đồng Từ Điều 28 đến Điều 30 đưa ra mộtkhung đảm bảo cho các quyền con người được thực hiện
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã lần đầu tiên đánh dấunhững quyền và tự do cá nhân của con người một cách chi tiết Đó chính là sựcông nhận đầu tiên mang tính quốc tế rằng quyền con người và các quyền tự
do cơ bản được áp dụng cho tất cả mọi người, ở mọi nơi trên thế giới Tuyênngôn đã quy định những quyền và tự do cơ bản cho tất cả mọi người, trong số
đó có các quyền quan trọng như là quyền sống, quyền tự do, quyền có quốctịch, quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, quyền có việc làm, quyềnđược học tập, quyền được tham gia vào các công việc của Chính phủ… Cácquyền này có sự ràng buộc pháp lý thông qua các CƯQT mà hầu hết các quốcgia đều là thành viên Có thể khẳng định, Tuyên ngôn ra đời đã trở thành mộtthành quả to lớn trong lịch sử thế giới Và cho đến nay, hơn 60 năm trôi qua,Tuyên ngôn vẫn tiếp tục có ảnh hưởng và thúc đẩy các hoạt động về quyềncon người và hoạt động lập pháp trên toàn thế giới
Trang 40Công ước về các quyền dân sự và chính trị tập trung vào các quyềndân sự và chính trị của cá nhân và dân tộc.
Quyền của dân tộc bao gồm: Quyền dân tộc tự quyết; Quyền tự dođịnh đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình và quyền không bị tước
đi những phương tiện sinh tồn của mình
Quyền của cá nhân bao gồm: Quyền được sống; quyền tự do đi lại, tự
do cư trú; quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền được suy đoán vô tội chođến khi tội đó được chứng minh theo pháp luật; quyền được kháng án; quyềnđược công nhận là thể nhân trước pháp luật ở bất kỳ nơi nào; quyền bí mật cánhân và được bảo vệ bằng pháp luật; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôngiáo; quyền tự do giữ quan điểm của mình và tự do ngôn luận; quyền tự dohội họp và tự do lập hội
Công ước về các quyền kinh tế, dân sự và văn hóa mô tả các quyền cơbản về kinh tế, xã hội và văn hóa của các cá nhân, dân tộc, bao gồm: Quyền tựquyết; quyền được trả lương thỏa đáng để đảm bảo điều kiện sống tối thiểu;quyền được trả lương công bằng; quyền có cơ hội công bằng cho sự phát triển;quyền được thành lập công đoàn; quyền được đình công; quyền được nghỉ cólương với đầy đủ các phúc lợi bảo hiểm xã hội trong thời gian sinh con; giáodục tiểu học miễn phí và khả năng được tiếp cận với giáo dục ở tất cả các cấphọc; quyền tác giả, bằng sáng chế, đăng ký thương hiệu và các bảo vệ khác về
sở hữu trí tuệ Thêm vào đó, Công ước cấm tất cả các hành vi bóc lột trẻ em vàđòi hỏi các quốc gia trên thế giới phải phối hợp với nhau để chấm dứt nạn đóitrên thế giới
Như vậy, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến nay, Bộ luậtquốc tế về quyền con người vẫn được coi là Hiến pháp của cộng đồng quốc tếtrong lĩnh vực nhân quyền Tuyên ngôn cùng hai Công ước luôn là một nguồnquan trọng của pháp luật quốc tế về nhân quyền và luôn là cơ sở để soạn thảotất cả các văn kiện quốc tế khác về nhân quyền