1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở việt nam001

120 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 314,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn nhận tính nghiêm trọng của tội phạm về ĐVHD và sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD , Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ HÀ

PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ §éNG VËT

HOANG D· ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THỊ HÀ

PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ §éNG VËT

HOANG D· ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THU HẠNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Thị Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 6

1.1 Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã 6

1.1.1 Khái niệm động vật hoang dã 6

1.1.2 Vai trò của động vật hoang dã 8

1.1.3 Phân loại động vật hoang dã 9

1.1.4 Mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với bảo vệ động vật hoang dã 12

1.1.5 Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật 13

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 18

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và tiêu chí đánh giá pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 18

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam 19

1.2.3 Tổng quan các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 22

1.2.4 Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 32

Trang 5

1.2.5 Xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ động vật hoang dã và bài

học kinh nghiệm cho Việt Nam 35

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI

HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam 39

2.1.1 Thực trạng các quy định về quản lý bảo vệ động vật hoang dã 39

2.1.2 Thực trạng các quy định xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ động

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU

QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT

HOANG DÃ Ở VIỆT NAM 82 3.1 Sự cần thiết phải hệ thống hoá và xây dựng khung pháp luật

thống nhất về bảo vệ động vật hoang dã 82 3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 82 3.3 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ động

vật hoang dã 84

Trang 6

3.3.1 Giải pháp hoàn thiện các quy định về quản lý bảo vệ động vật

hoang dã 84

3.3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định xử lý vi phạm pháp luật về

động vật hoang dã 85

3.3.3 Giải pháp hoàn thiện các quy định về xử lý tang vật, cứu hộ

động vật hoang dã 92

3.3.4 Xây dựng đạo luật riêng về bảo vệ động vật hoang dã 93

3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã 97 3.4.1 Các giải pháp chung 97

3.4.2 Các giải pháp cụ thể 98

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 109

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng vụ vi phạm liên quan đến động vật rừng

Bảng 2.2: Số lượng bị cáo và vụ việc liên quan đến ĐVHD bị

đưa ra xét xử trong giai đoạn 2009-2013 74

Trang 9

̉l ̉m DANH MUC̣ CÁC BIÊU ĐÔ

Biểu đồ 2.1: Số lượng vụ việc và đối tượng bị xử lý hình sự vi

phạm về ĐVHD trong giai đoạn 2010-2013 73Biểu đồ 2.2: Vai trò các đối tượng bị xử lý hình sự vi phạm về

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Động vật hoang dã (ĐVHD) là một bộ phận quan trọng cấu thành nên

đa dạng sinh học của Việt Nam Tuy nhiên, số lượng ĐVHD đang ngày càngsuy giảm nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do nạn săn bắt, buôn bán

trái phép các loài ĐVHD Theo Báo cáo số 683/BC-KL-QLR ngày 17/12/2014 của Cục Kiểm lâm về Công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2014 và Phương hướng nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2015, chỉ tính riêng trong năm 2014, các cơ quan chức năng đã phát hiện và xử lý 432 vụ vi phạm các quy định về quản lý

ĐVHD, tịch thu 8.051 cá thể, tương đương 17.473 kg (trong đó có 598 cá thểđộng vật nguy cấp, quý hiếm) [12] Trên trường quốc tế, Việt Nam hiện đượcđánh giá là “điểm trung chuyển” và “điểm đến” (tiêu thụ) của các loài ĐVHD[34] Trong Báo cáo Đánh giá việc tuân thủ và thực hiện cam kết CITES về

Hổ, Tê giác và Voi tại 23 quốc gia trong số nhiều quốc gia được coi là có sựphân bố, trung chuyển hoặc tiêu thụ các loài này, tổ chức WWF (Quỹ quốc tếbảo vệ thiên nhiên) đã đánh giá Việt Nam là một trong các quốc gia có việcthực thi đáng lo ngại nhất với thẻ màu đỏ đối với hai loài Tê giác và Hổ [47]

Nhìn nhận tính nghiêm trọng của tội phạm về ĐVHD và sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD , Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI

đã thông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam ngày 03/6/2013 trong đó đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân” và từ đó đưa ra một trong các nhiệm vụ cụ thể, trọng tâm là “Bảo

vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”.

Trang 11

Trong bối cảnh như vâỵ , tác giả nhận thấy các quy phạm pháp luật vềbảo vệ ĐVHD hiện nay còn chưa mang tính hệ thống, tồn tại nhiều lỗ hổngcũng như chồng chéo và do đó không đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước

và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này

Chính vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm nghiên cứu các vấn đề chủ

yếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam, đánh giáthưc ̣ tiêñ thưc ̣ thipháp luật và từ đó kiến nghị các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thốngcác quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này để kiểm soát tình trạng săn bắt vàbuôn bán ĐVHD trái phép hiện đang là nguyên nhân đẩy các loài ĐVHD củaViệt Nam và thế giới đến nguy cơ tuyệt chủng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học (trong đó có ĐVHD),

trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Sách “Bảo tồn đa dạng sinh học” của tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn xuất bản năm 1999; Sách “Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên” của tác giả Lê Trọng Cúc xuất bản năm 2002; Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học ở hệ thống rừng đặc dụng vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam” do tác giả Trần Thế Liên thực hiện năm 2006.

Liên quan đến pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, đã có một số

nghiên cứu như: Luận văn Thạc sỹ “Luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Thu Hải bảo vệ năm 2006; “Báo cáo rà soát, đánh giá văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học” của tác giả Trương Hồng Quang, Viện khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thực hiện năm 2009; Chuyên đề “Thành tựu và thách thức qua 5 năm thực hiện Luật Đa dạng sinh học” của GS.TS Đặng Huy Huỳnh công bố năm 2013; Bài viết “Pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, thực trạng và tồn tại

Trang 12

trước khi có Luật Đa dạng sinh học”, của TS Nguyễn Văn Tài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008; Bài viết “Pháp luật về đa dạng sinh học một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam”, của Thạc sĩ Huỳnh Thị

Mai, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 133 năm 2008.Trong đó, phápluật về bảo vệ ĐVHD chỉ là một bộ phận nhỏ của các nghiên cứu này

Ngày 8/9/2014, Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách pháttriển bền vững phối hợp với Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và

Môi trường) đã công bố “Báo cáo tóm tắt về khung pháp lý và chính sách về quản lý bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm” Tuy nhiên, Báo cáo chỉ

tập trung vào các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ màchưa xem xét toàn diện hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam Nhưvậy, cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có một đề tài tập trung nghiên cứu

hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam

Việc đánh giá, xem xét một cách có hệ thống các quy định của phápluật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hết sức cần thiết đểgóp phần hoàn thiện lĩnh vực pháp luật mới được chú trọng trong thời giangần đây ở Việt Nam Do đó, tác giả nhận thấy đề tài mang tính mới và cónhiều ý nghĩa trên thực tiễn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận về động vậthoang dã, bảo vệ ĐVHD, pháp luật về bảo vệ ĐVHD; và thực trạng pháp luậtcũng như thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệĐVHD ở Việt Nam vào thời điểm thực hiện luận văn bao gồm các vấn đề vềchính sách quản lý, xử lý vi phạm, xử lý tang vật các loài ĐVHD Luận văntập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy có đề cập đến nhưngchỉ ở mức khái quát kinh nghiệm quốc tế để rút ra các bài học kinh nghiệmnhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam

Trang 13

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn được xây dựng nhằm mục tiêu làm rõ những vấn đề lý luận

về động vật hoang dã, sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD, tổng quan và đánh giánhững bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như những khó khăn,tồn tại trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD, từ đó đề xuất một số kiếnnghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD và tăng cường thực thi phápluật trong lĩnh vực này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm sáng tỏ các khái niệm có liên quan về ĐVHD;

- Lý giải sự cần thiết phải bảo vệ ĐVHD và bảo vệ ĐVHD bằng các quy định của pháp luật;

- Tìm hiểu xu hướng pháp luật quốc tế về bảo vệ ĐVHD và rút ra bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam;

- Phân tích và đánh giá hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD tại Việt Nam hiện nay;

- Đánh giá hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD và lý giảinguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam;

- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtViệt Nam về bảo vệ ĐVHD

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật để phân tích làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

Trang 14

Các phương pháp nghiên cứu chính để giải quyết vấn đề được sử dụngtrong luận văn bao gồm: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh.

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ các khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệĐVHD bằng pháp luật và đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành củaViệt Nam liên quan đến bảo vệ ĐVHD cũng như khả năng thực thi các quyđịnh này trên thực tế Đồng thời, luận văn cũng đề xuất những giải pháp mangtính sáng tạo để hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng thực thi trong lĩnhvực này Vì vậy, luận văn là một nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các cơ quannhà nước hữu quan trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở ViệtNam trong thời gian tới Ngoài ra, luận văn cũng là một nguồn tài liệu thamkhảo tốt cho việc giảng dạy, nghiên cứu tại Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các

cơ sở đào tạo luật khác của Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo,

luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về động vật hoang dã, bảo vệ động vật

hoang dã và pháp luật về bảo vệ ĐVHD

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo

vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

1.1 Một số vấn đề cơ bản về bảo vệ động vật hoang dã

1.1.1 Khái niệm động vật hoang dã

Hiện nay, tại Việt Nam các học giả chưa đưa ra một khái niệm chính xác

về ĐVHD Do đó, trong nội dung này, tác giả sẽ tham khảo và phân tích các từđiển trong nước và quốc tế nhằm đưa ra một khái niệm tương đối về ĐVHD

Theo từ điển “American Heritage® Dictionary of the English Language, Fifth Edition”, ĐVHD được hiểu là những loài động vật chưa bị thuần hoá và thường sống trong môi trường tự nhiên [35].

Theo Bách khoa tri thức Việt Nam, “động vật là những cơ thể sống dinh dưỡng bằng những vật chất sống” Phần lớn động vật có thể di chuyển

được và có một hệ thần kinh Khác với thực vật, động vật không tự tạo ra chấtdinh dưỡng cho mình mà phải tồn tại nhờ nguồn thực vật trong thiên nhiênhoặc động vật khác mà chúng bắt được [26]

Bên cạnh đó, Điều 3 Luật đa dạng sinh học của Việt Nam năm 2008

cũng định nghĩa: “Loài hoang dã là loài đông ̣ vâṭ, thưc ̣ vâṭ, vi sinh vâṭvànấm

sinh sống và phát triển theo quy luật”

Từ những khái niệm này, tác giả cho rằng có thể hiểu “ĐVHD” lànhững cơ thể sống dinh dưỡng theo quy luật trong tự nhiên, chưa bị con ngườithuần hóa (ví dụ như các loài hổ, báo, tê giác, tê tê…) Cần lưu ý rằng việcĐVHD sống theo quy luật trong tự nhiên và chưa bị con người thuần hoákhông có nghĩa là ĐVHD không hề chịu sự tác động của con người Bên cạnhhoạt động săn bắt có chủ đích ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng các loàiĐVHD, có thể dễ dàng nhận thấy những hoạt động sống của con người hiện

Trang 16

nay đang tác động lên mọi mặt của trái đất như tài nguyên, khí hậu, nguồnnước… và do đó đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các loài ĐVHD ởnhững mức độ khác nhau Ví dụ, lượng khí thải nhà kính tăng cao từ các hoạtđộng “công nghiệp hóa” nhằm phát triển kinh tế của con người hiện đang dẫnđến tình trạng trái đất nóng lên, thời tiết khô hạn và một hệ quả tất yếu là cháyrừng Hiện tượng này không những hủy họa môi trường sống của nhiều loài

mà cũng trực tiếp giết chết các cá thể ĐVHD

Từ khái niệm ĐVHD được đúc kết ở trên cũng có thể thấy ĐVHD khácvới động vật nuôi (ví dụ như trâu, bò, lợn, gà…) ở chỗ nó chưa được conngười thuần hóa nhằm phục vụ một mục đích nào đó của con người (hỗ trợlao động, làm thực phẩm…) Tuy nhiên, sự so sánh này cũng chỉ mang tínhchất tương đối Hiện nay, rất nhiều các quần thể ĐVHD vừa sinh sống trong

tự nhiên và đồng thời một bộ phận cũng được con người “thuần hóa”, “gâynuôi” thành công nhằm phục vụ các nhu cầu của con người như cá sấu, nhím,trăn, rắn, ba ba trơn, lợn rừng… Quần thể các loài này ngoài tự nhiên sẽ đượcgọi là ĐVHD trong khi các cá thể có nguồn gốc sinh sản từ các trang trại gâynuôi vì mục đích thương mại sẽ được gọi là động vật nuôi, ví dụ như nhímnuôi, rắn nuôi, lợn rừng nuôi…

Thế giới ĐVHD rất phong phú và phân bố đa dạng trong các môitrường sống khác nhau Việc nghiên cứu toàn bộ hệ thống pháp luật liên quanđến những loài này là không khả thi Chính vì vây, phạm vi luận văn chỉ giớihạn trong việc nghiên cứu các quy định về bảo vệ ĐVHD hiện được liệt kêtrong các danh mục bảo vệ của Nhà nước Các loài thủy sinh được coi là thựcphẩm truyền thống của con người như các loài cua, mực, tôm biển vẫn đangđược khai thác tự do trong các vùng biển của Việt Nam hay các loài côntrùng, giáp xác không được liệt kê trong các danh mục bảo vệ của Nhà nước

sẽ không được nghiên cứu trong luận văn này

Trang 17

Tác giả cho rằng các nhà làm luật của Việt Nam cần đưa ra một kháiniệm rõ ràng về ĐVHD và danh sách các loài ĐVHD được bảo vệ (không chỉbao gồm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm mà còn bao gồm một số loàiĐVHD thông thường khác) nhằm tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu vàthực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD Danh sách này có thể được thường xuyênsửa đổi, bổ sung tuỳ theo phát hiện mới của các nhà khoa học.

1.1.2 Vai trò của động vật hoang dã

Là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái, ĐVHD có nhiều giá trị tolớn, trong đó giá trị quan trọng nhất chính tạo ra hệ sinh thái bền vững, diễnthế theo con đường tự nhiên ĐVHD là thành tố của nhiều quá trình trao đổichất quan trọng trong tự nhiên, tạo lên các mắt xích trong chuỗi thức ăn haylưới thức ăn Ngoài ra, nhiều loài ĐVHD đặc hữu mang các gen quý chứađựng những tính trạng tốt mà các loài động vật khác không có Thông qua cácloài hoang dã này, con người có thể nghiên cứu, khai thác và sử dụng mộtcách hợp lý các gen này đạt hiệu quả cao nhất Thêm vào đó, ĐVHD cònmang lại nhiều giá trị khác về mặt kinh tế như là nguồn thức ăn, nguyên liệucông nghiệp, phân bón, dược liệu quý hoặc được sử dụng cho nghiên cứukhoa học và giáo dục…

Bên cạnh các tác động tích cực này, ĐVHD trong một số trường hợpcũng là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra những bệnh dịch nguyhiểm cho con người Một số đại dịch hiện nay như SARS, EBOLA, MER …đều có nguồn gốc từ ĐVHD [32] Không những vậy, một số loài “thú dữ”cũng có thể gây hại, tấn công con người hoặc tàn phá lương thực, mùa màng

Tuy nhiên, có thể thấy ĐVHD có các tác động tích cực là chủ yếu và từ

đó thúc đẩy nhiệm vụ phải bảo tồn các loài ĐVHD vì chính cuộc sống củacon người

Trang 18

1.1.3 Phân loại động vật hoang dã

ĐVHD có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như đặcđiểm sinh học, mức độ nguy cấp hay địa điểm phân bố Tuy nhiên, luận vănchỉ tiến hành phân loại ĐVHD dựa trên mức độ nguy cấp và địa điểm phân bốcủa các loài này – là hai phương thức phân loại hiện đang được đề cập trongcác văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam

Thứ nhất, phân loại dựa trên mức độ nguy cấp của các loài ĐVHD

Theo mức độ nguy cấp, có thể phân chia các loài ĐVHD thành ĐVHDthông thường và ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm

Trong đó, hiện nay pháp luật chưa đưa ra khái niệm ĐVHD thôngthường nhưng có thể hiểu ĐVHD thông thường là các loài động vật sinh sốngtrong các môi trường tự nhiên khác nhau, số lượng cá thể còn nhiều trong tựnhiên và chưa bị đe doạ tuyệt chủng

Trong khi đó, hiện nay pháp luật Việt Nam đưa ra nhiều khái niệm cóliên quan đến ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm Nhìn chung, có thể thấy hai đặctính cơ bản của loài nguy cấp, quý, hiếm nói chung là “có giá trị đặc biệt vềkinh tế, khoa học, môi trường” và “số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc cónguy cơ tuyệt chủng” Trong một số trường hợp, hai yếu tố này có mối liên hệchặt chẽ với nhau bởi lẽ chính các “giá trị đặc biệt” đã khiến các loài ĐVHDnày bị săn bắt, khai thác nhiều hơn trong tự nhiên và vì thế số lượng còn íthoặc có nguy cơ tuyệt chủng

Trên thế giới, các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm cũng được các tổchức hoặc chuyên gia phân loại theo nhiều cách thức khác nhau Một trongcác cách thức phân loại thường được các nhà khoa học tham khảo là phân loạiĐVHD của Liên minh IUCN

Từ năm 1963, Liên minh IUCN thường xuyên phát hành Sách đỏ (tiếng

Anh: IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red Listhay Red Data List)

Trang 19

là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vậttrên thế giới Trong đó, các loài ĐVHD được chia thành các cấp độ nguy cấpnhư sau [42]:

- Extinct EX (tuyệt chủng)

- Extinct in the Wild EW (tuyệt chủng trong tự nhiên)

- Critically Endangered CR (cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng)

- Endangered EN (nguy cấp cao)

- Vulnerable VU (bị đe dọa, sắp nguy cấp)

- Near Threatened NT (sắp bị đe dọa hoặc nguy cơ nhẹ)

- Least Concern LC (ít quan tâm)

- Data Deficient DD (không đủ dữ liệu)

- Not Evaluated NE (không phân loại hoặc không đánh giá)

Tại Việt Nam, các nhà khoa học của Viện Khoa học và Công nghệ ViệtNam cũng đã xây dựng Sách đỏ Việt Nam trong đó các tiêu chuẩn được xâydựng trên nền tảng tiêu chuẩn của IUCN nhưng có nghiên cứu đến hiện trạngphân bố quần thể loài ở Việt Nam

Hiện nay, nhiều người cho rằng các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm làcác loài ĐVHD được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam hoặc Sách đỏ thế giới.Tuy nhiên, trên thực tế các danh mục Sách đỏ này chỉ mang tính chất thamkhảo và không có ý nghĩa trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ ĐVHD.Trong quy định của pháp luật Việt Nam, các loài ĐVHD sẽ được coi là nguycấp, quý, hiếm và được pháp luật bảo vệ chặt chẽ nếu nằm trong các Phụ lụccủa CITES (các loài có tên trong các Phụ lục I, II); Danh mục loài nguy cấp,quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/ND-

CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản

lý loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Nghị định số CP); động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB và IIB Danh mục loài

Trang 20

160/2013/NĐ-động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định

32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý các loài động vật rừng, thực vật rừng hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 32/2006/NĐ-CP), các loài thủy sinh nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo tồn, bảo vệ và phát triển ban hành kèm theo Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của

Bộ Nông nghiêp ̣ vàPhát triển Nông thôn về việc ban hành danh mục loài thuỷ

sinh nguy cấp cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (Quyết định

82/2008/QĐ-BNN), các loài thuỷ sản bị cấm khai thác ban hành kèm theo

Thông tư 62/2008/TT-BNN ngày 20/05/2008 của Bộ Nông nghiêp ̣ vàPhát triển Nông thôn v ề việc sửa đổi một số điều của Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/03/2006 của Bộ Thuỷ sản ngày 20/03/2006 về việc hướng dẫn một sốnội dung của Nghị định 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về

điều kiện sản xuất và kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản (Thông tư 62/2008/TT-BNN)

Hiện nay, Nghị định 160/2013/NĐ-CP là văn bản mới nhất của Chính phủViệt Nam đưa ra hệ thống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưavào Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - nhóm loài nguycấp, quý, hiếm hiện được bảo vệ cao nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam.Việc đưa ra khái niệm “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”dẫn đến cách hiểu còn hai nhóm khác trong cách thức phân loại này là “loàiĐVHD nguy cấp, quý, hiếm không được ưu tiên bảo vệ” và “loài ĐVHD thôngthường” Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện tại vẫn chưa đề cập và đưa ra tiêuchí để thiết lập danh sách hai nhóm loài còn lại này

Thứ hai, phân loại dựa trên địa điểm phân bố

Hiện nay, ở Việt Nam cũng không có sự phân định rõ ràng ĐVHD dựatrên phân bố Tuy nhiên, dựa trên các danh mục ĐVHD được ban hành trongcác quy phạm pháp luật có liên quan như Danh mục loài thuỷ sinh quý hiếm

Trang 21

có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển;Danh mục loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm… có thể hiểu một cáchthức phân loại thứ tư là dựa trên đặc điểm phân bố Dựa trên phân bố của cácloài ĐVHD, có thể phân thành động vật rừng và động vật hoang dã thuỷ sinh.Các loài động vật rừng có phân bố trong rừng, bao gồm cả các loài thuỷ sinh

tại các suối trong rừng như cá cóc Tam Đảo (tên khoa học: “Paramesotriton deloustali”) Động vật hoang dã thuỷ sinh phân bố ở biển hoặc các sông mà

không nằm trong rừng Tuy nhiên, cách thức phân loại này cũng không thực

sự thích hợp bởi lẽ có một khoảng hổng lớn là một số loài ĐVHD không sinhsống trong rừng hay ở sông, biển như các loài chim di trú sẽ không được đặttrong nhóm động vật rừng hay động vật thuỷ sinh Mặc dù vậy, đây là cáchthức hiện đang được các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD sửdụng phổ biến để phân loại các loài ĐVHD bên cạnh cách thức phân loại dựatrên mức độ nguy cấp

1.1.4 Mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học với bảo vệ động vật hoang dã

Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ ĐVHD có mối quan hệ mậtthiết, bảo vệ ĐVHD chính là một phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạngsinh học

Đa dạng sinh học là thuật ngữ thể hiện tính đa dạng của các thể sống,loài và quần thể, tính biến động di truyền giữa chúng và tất cả sự tập hợpphức tạp của chúng thành các quần xã và hệ sinh thái Có thể nói, đa dạngsinh học là sự giàu có, phong phú các nguồn gen, các loài và các hệ sinh tháitrên bề mặt trái đất, có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình

tự nhiên và cân bằng sinh thái (Điều 3 Luật Đa dạng Sinh học 2008) Đa dạngsinh học là yếu tố đặc biệt quan trọng, sống còn với phát triển bền vững, đảmbảo cho sự tồn tại và phát triển của con người trong quá khứ, hiện tại và

Trang 22

tương lai Đa dạng sinh học có những giá trị kinh tế, giá trị môi trường, giá trịcuộc sống to lớn mà cho đến một vài thế kỷ gần đây chúng ta mới nhận thứcđược một cách đầy đủ [16] Do đó, chiến lược quốc gia về đa dạng sinh họcđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2013 đã chỉ rõ: “Đa dạng sinh học là nền tảng của nền kinh tế xanh, bảo tồn đa dạng sinh học là một trong các giải pháp then chốt nhằm thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu”.

Trong đó, các loài ĐVHD là một thành tố không thể thiếu của đa dạngsinh học và hệ sinh thái Các loài này đã trải qua nhiều triệu năm tiến hóa đểthích nghi và tồn tại trong môi trường sống tự nhiên đầy khắc nghiệt Mỗi loàibiến mất sẽ làm những giá trị độc nhất bị mất đi vĩnh viễn, không thể phục hồi,kéo theo đó là những hậu quả về sinh thái Khi một loài bị tiêu diệt, có thể sẽ kéotheo sự mất cân bằng sinh thái, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ cục bộ chođến tất cả các hệ sinh thái và cuối cùng là cả trái đất Khi các hệ sinh thái mấtcân bằng, con người đương nhiên sẽ gánh chịu mọi hậu quả Chính vì vậy bảo vệĐVHD là một vấn đề đang được thế giới đặc biệt quan tâm bởi nó là một mắtxích quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học

và bảo vệ môi trường nói chung Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng củaloài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Do đó, bảo vệ ĐVHD làmột vấn đề đang được thế giới đặc biệt quan tâm Đây cũng là vấn đề mang tầmquốc tế mà không phải của riêng quốc gia, dân tộc nào

1.1.5 Sự cần thiết bảo vệ động vật hoang dã bằng pháp luật

Theo cách hiểu của tác giả, “bảo vệ ĐVHD” là hoạt động nhằm bảo vệcác loài động vật sinh sống và phát triển theo quy luật của tự nhiên tránh khỏinhững nguy cơ bị buôn bán, săn bắt, nuôi nhốt trái phép Việc bảo vệ ĐVHDcũng đồng thời nhằm tạo ra những điều kiện để các loài này sinh trưởng vàphát triển nhằm tránh khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng

Trang 23

ĐVHD là một thành tố quan trọng, không thể mất đi của hệ sinh thái,thế nhưng ĐVHD trên thế giới cũng như tại Việt Nam hiện nay đang gặp phảinhiều mối đe dọa chính và tiềm tàng do hậu quả của mất sinh cảnh, nạn sănbắt, buôn bán trái phép Mặc dù vậy, hiện nay nhận thức trong vấn đề bảo vệĐVHD vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

Chặt phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản, xây dựng cơ sở hạ tầng vàcanh tác nông nghiệp là những nguyên nhân chính làm mất sinh cảnh của cácloài ĐVHD Nếu như diện tích rừng tự nhiên trước đây che phủ phần lớn đấtnước, hiện tại diện tích rừng Việt Nam chỉ còn lại khoảng 43% [29] Sinhcảnh bị mất và bị chia cắt bởi việc xây dựng đường xá đã cản đường dichuyển kiếm ăn và cơ hội giao phối trong mùa sinh sản của động vật

Tuy nhiên, nạn săn bắt, buôn bán ĐVHD mới là nguyên nhân quan trọngnhất dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài ĐVHD nói chung và ĐVHD ở ViệtNam nói riêng Săn bắt ĐVHD là một hoạt động lao động chủ yếu nhằm đảmbảo sự tồn tại của con người từ hàng nghìn năm trước Hiện nay, việc săn bắtĐVHD không nhằm đảm bảo nhu cầu thức ăn của đại đa số con người mà chỉnhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ của một nhóm những người giàu có, mong muốntìm kiếm các mặt hàng “đặc biệt” Tuy nhiên, nạn săn bắt trái phép không kiểmsoát đã vượt quá “ngưỡng bền vững” khi mà tốc độ tái tạo quần thể ĐVHDkhông kịp đáp ứng cho nhu cầu săn bắt ngày càng cao của con người

Tội phạm về ĐVHD đang là một vấn đề nóng được cả thế giới quantâm Tội phạm trong lĩnh vực này đang diễn ra ngày một phổ biến với mức lợinhuận khổng lồ, ước tính khoảng 150 tỷ đô la Mỹ mỗi năm [24] Tình hìnhsăn bắt, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp xuyên quốc gia các loàithuộc CITES, đặc biệt đối với các loài voi, hổ, tê giác và các sản phẩm, bộphận, dẫn xuất của chúng, diễn biến rất phức tạp trong những năm gần đây.Hơn 25.000 cá thể voi châu Phi đã bị giết hại vào năm 2012, chủ yếu tại

Trang 24

Trung và Đông Phi (Voi châu Phi được CITES liệt kê vào danh sách động vậtgần tuyệt chủng vì hiện chỉ còn khoảng 472.000 cá thể) Loài hổ cũng đang bịsăn bắt quá mức để thỏa mãn nhu cầu lấy da, lông và nhiều bộ phận khác trên

cơ thể như răng, xương, móng Nhiều bộ phận trên cơ thể hổ dùng để nấu cao,chế thuốc và làm đồ trang trí phục vụ con người Đối với tê giác, các nước có

tê giác như Nam Phi, Kenya, Zimbabwe, Ấn Độ đứng trước cảnh báo nguy cơ

tê giác tuyệt chủng Nam Phi đang đứng đầu danh sách khi các nhà bảo tồn đãchính thức cảnh báo, cả tê giác trắng lẫn tê giác đen tự nhiên của nước này cóthể biến mất trước năm 2016 [39]

Biểu đồ 1.1: Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng tại Nam Phi

từ 2007 – 8/2015

bắt trộm, Mozambique chính thức tuyên bố quần thể tê giác ở nước này đãtuyệt chủng [36] Hội nghị các nước thành viên CITES lần thứ 16 (CoP16) tại

Thái Lan vào tháng 3/2013 đã

Trang 25

rút ra nhận định vì lợi nhuận cao (không kém ma túy) mà hình phạt thấp vàkhông bị coi là tội phạm nguy hiểm ở nhiều quốc gia, nên nhiều tổ chức tộiphạm buôn lậu ma túy, buôn bán người đang chuyển hướng hoạt động sangbuôn lậu các loài hoang dã xuyên quốc gia Tình hình này nghiêm trọng đếnmức Liên Hợp quốc công bố buôn bán trái phép ĐVHD là hình thức hoạtđộng mới của tội phạm xuyên quốc gia và xếp vào hàng tội phạm có tổ chứcxuyên quốc gia nghiêm trọng nhất, bên cạnh tội phạm về ma túy, vũ khí vàrửa tiền Tại Hội nghị London về nạn buôn bán trái phép ĐVHD tổ chức ngày14/2/2014, trước đại diện cấp cao từ 46 quốc gia và 11 tổ chức quốc tế, Bộtrưởng Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việcbảo vệ ĐVHD và sự cần thiết phải ngăn chặn nạn săn bắt buôn bán ĐVHDtrên phạm vi quốc tế: “Đây không phải là một khủng hoảng về môi trườngđơn thuần Đây là một “ngành công nghiệp tội phạm xuyên quốc gia”, sánhngang với tội phạm về ma túy, vũ khí và buôn bán người” [26].

Đặc biệt ở Việt Nam, tình hình buôn bán ĐVHD đang diễn ra hết sứcphức tạp, với nhiều thủ đoạn rất tinh vi đang đẩy các loài ĐVHD của ViệtNam đến nguy cơ tuyệt chủng Cá thể tê giác Java cuối cùng của Việt Nam đã

bị giết tại Vườn quốc gia Cát Tiên để lấy sừng vào năm 2010 Theo nghiêncứu của các nhà khoa học, số lượng hổ trong tự nhiên của Việt Nam cũng cònchưa đến 30 cá thể [41] Các loài vượn, vọoc, gấu, tê tê đang dần theo bướcchân của tê giác đến con đường tuyệt chủng do nạn săn bắt và buôn bánĐVHD bất hợp pháp

Bên cạnh Trung Quốc, Việt Nam hiện đang được thế giới đánh giá là nướctrung chuyển và là thị trường tiêu thụ ĐVHD lớn trên thế giới [44] Theo thôngtin từ Nam Phi, có đến 80% trong tổng số các đối tượng săn bắt, buôn bán, vậnchuyển trái phép sừng tê giác tại Nam Phi là người Việt Nam [45] Do đó, sựbiến mất của các loài ĐVHD không những tác động trực tiếp đến đa

Trang 26

dạng sinh học của nước nhà mà còn đồng thời làm xấu đi hình ảnh Việt Namtrên trường quốc tế.

Chính vì vậy, hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương khoá XI đãthông qua Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng

sản Việt Nam ngày 03/6/2013 đã đưa ra nhận định: “Đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân” từ đó đề ra một trong các nhiệm vụ cụ thể và trọng tâm là “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã,… loài quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng”.

Dựa vào các nguy cơ khác dẫn đến sự diệt vong của các loài ĐVHD, cónhiều cách thức bảo vệ ĐVHD như bảo vệ, cải tạo rừng, biển và các môi trườngsinh sống khác của ĐVHD; đầu tư nghiên cứu khoa học để bảo tồn nguồn gencác loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm; tuyên truyền, nâng cao nhận thức củangười dân về việc bảo vệ ĐVHD, giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHD và các sảnphẩm, bộ phận của những loài này… Tuy nhiên, nguyên nhân quan

trọng nhất dẫn đến sự suy giảm của các quần thể ĐVHD là nạn săn bắt, buôn bán

và tiêu thụ ĐVHD do con người gây ra Vì vậy, muốn bảo vệ ĐVHD trước hết làtác động đến hành vi con người Pháp luật thông qua các hệ thống quy phạm đểđiều chỉnh hành vi xử sự của con người và được đảm bảo thực hiện bằng quyềnlực nhà nước sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ ĐVHD Chỉ các chế tàinghiêm khắc của pháp luật mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm tronglĩnh vực này Chính vì vậy, trong các biện pháp bảo vệ ĐVHD, cách thức bảo vệĐVHD bằng pháp luật là hiệu quả và cấp thiết nhất

Bên cạnh việc gia nhập các công ước quốc tế về bảo vệ ĐVHD thì việchoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước thông qua xây dựng, sửa đổi, bổsung các văn bản quy pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hết sức cần thiết và phảikhẩn trương triển khai thực hiện Tuy nhiên,để bảo vệ có hiệu quả các loài

Trang 27

ĐVHD, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn phải gắn liền với tăng cường

và đảm bảo thực thi pháp luật trong lĩnh vực này

1.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và tiêu chí đánh giá pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam

Theo cách hiểu của tác giả, pháp luật về bảo vệ ĐVHD là hệ thống cácquy phạm pháp luật xác định một số hành vi, một số hoạt động mà các chủ thểcần phải tiến hành trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD và các hậu quả pháp lý màchủ thể phải gánh chịu nếu không thực hiện/thực hiện không đúng các hoạtđộng này

Pháp luật về bảo vệ ĐVHD mang những đặc điểm chung của pháp luật

đó là có tính quy phạm phổ biến (tính bắt buộc chung), tính xác định chặt chẽ

về hình thức và tính được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước

Trong đó, tính quy phạm phổ biến thể hiện ở việc các quy phạm phápluật về bảo vệ ĐVHD có tính chất bắt buộc chung đối với tất cả các đối tượng

có hoạt động liên quan đến ĐVHD; tính xác định chặt chẽ về hình thức thểhiện ở việc các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD được quy định rõ ràng

để đảm bảo mọi đối tượng đặt trong hoàn cảnh tương tự đều phải ứng xửtương tự; tính được đảm bảo bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước thể hiện

ở việc các đối tượng có liên quan bị buộc phải thực hiện quy phạm pháp luật

về bảo vệ ĐVHD và sẽ phải chịu những chế tài/biện pháp cưỡng chế nhấtđịnh do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành nếu không thựchiện/thực hiện không đúng các quy phạm này

Bên cạnh đó, pháp luật về bảo vệ ĐVHD còn mang những đặc điểmriêng biệt, có thể kể đến như sau:

Thứ nhất là tính cụ thể: Pháp luật về bảo vệ ĐVHD điều chỉnh các

Trang 28

quan hệ pháp luật liên quan đến việc bảo vệ ĐVHD – là một lĩnh vực tronglĩnh vực bảo vệ môi trường nên có tính cụ thể Các nguyên tắc bảo vệ ĐVHDđược quy định khá chi tiết trong các quy phạm pháp luật có liên quan.

Thứ hai là tính phân tán: Các quy phạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD

không nằm tập trung trong một văn bản luật nhất định mà nằm rải rác trongcác văn bản quy phạm pháp luật của các lĩnh vực chuyên ngành như lĩnh vựcmôi trường, lâm nghiệp và thủy sản

Một số tiêu chí có thể được xem xét khi đánh giá pháp luật về bảo vệĐVHD ở Việt Nam là:

Thứ nhất, tính chất phù hợp về mặt nội dung Trong đó, cần đánh giá

quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã có phù hợp với quan điểm,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; có phù hợp với điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội của đất nước, phù hợp với năng lực thực thi của cơ quanchức năng có thẩm quyền hoặc phù hợp với các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc

tế hay không

Thứ hai, tiêu chuẩn về mặt hình thức Trong đó, cần đánh giá được các

yếu tố như tính toàn diện của hệ thống pháp luật về bảo vệ ĐVHD, tính thốngnhất, tính đồng bộ và hình thức thể hiện, kỹ thuật lập pháp của văn bản quyphạm pháp luật về bảo vệ ĐVHD

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và chú trọng việc bảo vệmôi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó có việc bảo vệ các loàiĐVHD Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệrừng có thể coi là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến bảo vệ ĐVHD [5].Tuy nhiên, ĐVHD chỉ được đề cập khá sơ sài trong văn bản đầu tiên này

Trang 29

Ngay từ những năm xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, trong khi phải giảiquyết nhiều vấn đề cấp bách đảm bảo dân sinh và sản xuất phục vụ chiếntranh vệ quốc, Nhà nước ta vẫn quan tâm và ra Nghị định 39/CP ngày05/04/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về săn, bắt

chim, thú rừng nhằm “bảo vệ và phát triển những loài có ích, hiếm và quý, đồng thời khai thác hợp lý tài nguyên về chim, thú rừng” Chủ trương bảo vệ

các loài ĐVHD tiếp tục được kế thừa và phát triển trong suốt quá trình xâydựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của nước nhà Trong những năm gần đây,trước tình trạng săn bắt và buôn bán ĐVHD diễn ra ngày càng phức tạp, Đảng

và Nhà nước đã tiếp tục khẳng định quan điểm này trong nhiều văn kiện quantrọng như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá

IX) “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước”, Luật Đa dạng sinh học (Luật số 20/2008/QH12) được Quốc

hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 và gần đây nhất là Nghị quyết số

24 NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI “Về chủđộng ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệmôi trường” và Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20 tháng 2 năm 2014 của Thủtướng Chính phủ “Về việc tăng cường chỉ đạo và thực hiện các biện phápkiểm soát, bảo tồn các loài ĐVHD, nguy cấp, quý, hiếm”

Dưới chủ trương, đường lối của Đảng, công tác bảo tồn đa dạng sinhhọc nói chung và bảo vệ ĐVHD được các cơ quan chức năng triển khai tíchcực bằng nhiều biện pháp như:

- Tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ ĐVHD nhưCBD, CITES, thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của Việt Nam trong việcchung tay cùng thế giới bảo vệ các loài ĐVHD nói riêng và đa dạng sinh họcnói chung của quốc gia cũng như thế giới

- Thành lập và hoàn thiện cơ chế quản lý tại các vườn quốc gia, khu

Trang 30

bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo tồn toàn diện các hệ sinh thái đặc trưng, môitrường sống của những loài ĐVHD khỏi sự khai thác, can thiệp của con người

và qua đó bảo vệ các loài ĐVHD đặc hữu hoặc đang nguy cấp tại khu vực đó

- Xây dựng và ban hành Sách đỏ Việt Nam - Danh sách các loài động vật,thực vật ở Việt Nam thuộc loại nguy cấp, quý, hiếm,đang suy giảm số lượng hoặc cónguy cơ tuyệt chủng Đây là căn cứ khoa học quan trọng để Nhà nước ban hànhnhững Nghị định và Chỉ thị về việc quản lý bảo vệ và những biện pháp cấp bách đểbảo vệ và phát triển những loài ĐVHD ở Việt Nam

- Rà soát, xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật về buôn bán, tiêu thụđộng vật, thực vật hoang dã trong đó chú trọng xây dựng các chế tài đủ mạnh,

đủ sức răn đe các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này

- Tăng cường phối hợp thực thi luật pháp dưới sự điều phối của Ban chỉđạo Việt Nam – WEN do Chính phủ thành lập Các cơ quan liên ngành có liênquan bao gồm: Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Cục Kiểm lâm, Cục

Thú y, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn), Cục An ninh nông nghiệp phát triển nông thôn, Cục Cảnhsát phòng chống tội phạm về môi trường, Văn phòng Interpol (Bộ Công an),Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính), Cục Quản

lý thị trường (Bộ Công Thương), Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Bộ Tàinguyên và Môi trường) đã phối hợp hoạt động tích cực và đạt được nhiềuthành tích đáng khích lệ trong công tác đấu tranh kiểm soát buôn bán ĐVHD

- Xây dựng và triển khai nhiều chiến lược, kế hoạch hành động nhằmtăng cường nỗ lực bảo tồn và kiểm soát buôn bán, tiêu thụ trái phép các loàiđộng, thực vật hoang dã như: Đề án “Tổng thể bảo tồn voi Việt Nam giaiđoạn 2013-2020” do Bộ nông nghiệp và nông thôn xây dựng đã được Thủtướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 763/QĐ-TTg ngày 21/05/2013;Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 đã

Trang 31

được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1250/QĐ-TTg ngày 31/07/2013;Chương trình quốc gia về bảo tồn loài hổ đến năm 2022 được Bộ Nôngnghiệp và Nông thôn xây dựng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tạiQuyết định số 539/QĐ-TTg ngày 16/04/2014 Hiện nay, Tổng cục Thuỷ sảnthuộc Bộ Nông nghiệp và Nông thôn cũng đang xây dựng Kế hoạch hànhđộng bảo tồn rùa biển giai đoạn 2015-2025 và dự kiến trình Bộ trưởng thôngqua vào cuối năm 2015 Về mặt hợp tác quốc tế, trong năm 2013, Chính phủViệt Nam và Nam Phi đã ký kế hoạch hành động chung (có hiệu lực đến năm2017) về việc bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có việc quản lýcác hoạt động chung để bảo tồn các loài hoang dã, nhất là đối với những loàiĐVHD nguy cấp, quý hiếm như tê giác, voi, gấu, hổ.

- Tăng cường công tác truyền thông giảm thiểu nhu cầu tiêu thụ ĐVHDcủa cộng đồng và hướng dẫn, phổ biến các quy định pháp luật về bảo vệ độngvật đến người dân cũng như cơ quan chức năng địa phương Đây được xem lànhóm giải pháp cơ bản, được tiến hành thường xuyên với sự tham gia tích cực

và có hiệu quả của các cơ quan truyền thông, báo chí trên cả nước

1.2.3 Tổng quan các quy phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang

dã ở Việt Nam

Các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD hiện đang có hiệu lực thi hànhtại Việt Nam bao gồm các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và cácquy phạm pháp luật trong nước có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD Tuynhiên, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ đề cập đến những văn bản có liênquan trực tiếp đến bảo vệ ĐVHD Cụ thể như sau:

1.2.3.1 Các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan trực tiếp đến bảo vệ ĐVHD

Trong số các công ước quốc tế có liên quan đến bảo vệ ĐVHD đã được

đề cập ở Mục 1.4, hai công ước liên quan đến lĩnh vực bảo vệ ĐVHD sau đây

Trang 32

là một bộ phận không thể thiếu của pháp luật về bảo vệ ĐVHD ở Việt Nam.

Đó là Công ước về Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity CBD) và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dãnguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of WildFauna and Flora - CITES)

-Công ước về buôn bán quốc tế các loài hoang dã nguy cấp (CITES)

Công ước CITES là hiệp định liên chính phủ có ảnh hưởng lớn nhất với

sự tham gia của nhiều nước trên thế giới, để thống nhất quy định về buôn bánquốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp sao cho các loài nàykhông bị tuyệt chủng do buôn bán thương mại

Đối với các loài bị đe dọa tuyệt chủng hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi cáchoạt động thương mại (được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước), giấy phépxuất khẩu chỉ được cấp trong một số trường hợp nhất định với yêu cầunghiêm ngặt; việc nhập khẩu những loài này cũng đòi hỏi phải có giấy phép,trong khi đó, mọi hình thức xuất, nhập khẩu vì mục đích thương mại đều bịcấm Đối với các loài có thể có nguy cơ tuyệt chủng nếu các hoạt động thươngmại không được kiểm soát nghiêm ngặt (được liệt kê trong Phụ lục II), giấyphép xuất khẩu chỉ có thể được cấp nếu việc xuất khẩu không gây bất lợi cho

sự tồn tại của loài đó và nếu mọi yêu cầu cho việc xuất khẩu được đáp ứng.Đối với các loài của các quốc gia cần hợp tác quốc tế để kiểm soát các hoạtđộng thương mại (được liệt kê trong Phụ lục III), giấy phép xuất khẩu có thểđược cấp cho mẫu vật Việc bổ sung và hay loại bỏ các loài từ Phụ lục I và IIđược thực hiện bởi Hội nghị các bên, theo tiêu chí thành lập Công ước

Công ước về Đa dạng Sinh học (CBD)

Công ước CBD là một hiệp ước liên chính phủ có tính ràng buộc màcác bên tham gia Công ước có nghĩa vụ pháp lý phải tuân theo Mục tiêuchính của Công ước nhằm bảo tồn đa dạng sinh học; sử dụng bền vững các

Trang 33

thành phần của đa dạng sinh học; và chia sẻ công bằng và hợp lý những lợiích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học Theo quy định tại Điều 6Công ước, bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học đang được thựchiện hoặc bằng cách áp dụng các chiến lược cụ thể hoặc bằng cách kết hợpcác vấn đề cấp bách có liên quan vào các kế hoạch, chương trình và chínhsách Theo quy định tại Điều 10, việc sử dụng bền vững đa dạng sinh học phảiđược xem xét trong việc ra các quyết định quốc gia Các bên tham gia Côngước cũng được yêu cầu phải xác định và kiểm soát các nguồn tiềm năng củacác tác động xấu đến đa dạng sinh học để điều tiết và quản lý chúng (Điều 7).Trong các nghĩa vụ đối với các bên tham gia Công ước, các bên được yêu cầuphải tiến hành phục hồi quần thể các loài bị đe doạ, đặc biệt cần xây dựng và

áp dụng pháp luật để tập trung bảo vệ các loài nguy cấp (Điều 8) Các bêntham gia Công ước cũng đồng thời được yêu cầu đánh giá tác động môitrường của các dự án có khả năng có "tác dụng phụ đáng kể" về đa dạng sinhhọc được yêu cầu (Điều 14)

1.2.3.2 Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước liên quan trực tiếp đến bảo vệ động vật hoang dã

Các văn bản quy phạm pháp luật trong nước được liệt kê dưới đây sẽđược sắp xếp theo trình tự thời gian với hiệu lực pháp lý giảm dần

Các văn bản quy phạm pháp luật này điều chỉnh mọi hoạt động liênquan đến việc (i) quản lý ĐVHD từ danh mục các loài ĐVHD đến điều kiện,trình tự, thủ tục để đăng ký khai thác, vận chuyển, buôn bán, nuôi nhốt, tặngcho, xuất, nhập khẩu ĐVHD và quy trình quản lý các hoạt động này; (ii) xử lýcác hành vi vi phạm liên quan đến ĐVHD từ trách nhiệm hình sự đến hànhchính; (iii) xử lý tang vật là ĐVHD Trong đó, các quy phạm quản lý và xử lýtang vật được quy định trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), Luật Đadạng sinh học (2008) và các Nghị định, Thông tư trong lĩnh vực nông – lâm

Trang 34

nghiệp, thuỷ sản, đa dạng sinh học và môi trường Các quy định về xử lý viphạm liên quan đến loài ĐVHD được quy định trong Bộ luật Hình sự (1999,sửa đổi bổ sung 2009) và các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực chuyên ngành.

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004)

Luật bắt đầu có hiệu lực từ 01/04/2005 Theo đó, những hành vi săn,bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm.Đồng thời Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phải được phépcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật

về bảo tồn ĐVHD Việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạmnhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phảituân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam

ký kết hoặc gia nhập Hiện nay, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã được Quốchội đưa vào chương trình sửa đổi, mang tính tổng quát hơn với tên gọi “LuậtLâm nghiệp” Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là đầu mối xây dựng

và hoàn thiện dự thảo Luật này

- Luật Đa dạng Sinh học (ĐDSH) năm 2008

Luật đa dạng sinh học được thông qua ngày 13/11/2008 và bắt đầu cóhiệu lực từ ngày 01/07/2009 Luật dành riêng một Chương IV với 18 điều quyđịnh về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật Theo đó, các loàiĐVHD sẽ được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưutiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đedọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dãđược khai thác có điều kiện trong tự nhiên Luật cũng quy định về khu bảotồn, phân cấp khu bảo tồn và những hành vi bị cấm trong khu bảo tồn

- Bộ Luật Hình Sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009

Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã có quy định về Tội vi phạm các

Trang 35

quy định về bảo vệ ĐVHD quý hiếm tại Điều 190 Khi Bộ luật Hình sự đượcsửa đổi, bổ sung năm 2009, Điều 190 được sửa đổi thành Tội vi phạm các quyđịnh về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưutiên bảo vệ Theo đó, các hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán, nuôinhốt trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vậnchuyển, buôn bán trái phép sản phẩm, bộ phận cơ thể của của loại động vật đó

có thể bị phạt lên tới 7 năm tù giam

- Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản

lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

Nghị định đã phân chia động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 02nhóm tùy theo mức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài

- Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản

lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm (Nghị định 82/2006/NĐ-CP)

Nghị định quy định trình tự, thủ tục cụ thể hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinhtrưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật (kể cả loài lai) hoang dãnguy cấp, quý, hiếm, bao gồm:

Trang 36

+ Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục

I, II và III của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES)

+ Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếmtheo quy định của pháp luật Việt Nam

Hiêṇ nay, môṭsốtrinh̀ tự, thủ tục theo Nghị định này đã được sửa đổi ,bổsung bởi Nghi địnḥ 98/2011/NĐ-CP ngày 26/10/2011 vềsửa đổi , bổsungmôṭsốđiều các Nghi địnḥ vềNông nghiêp ̣

- Nghị định 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản (Nghị

dịnh 103/2013/NĐ-CP)

Nghị định 103/2013/NĐ-CP quy định các hành vi khai thác, mua bán,thu gom, nuôi, lưu giữ, sơ chế, chế biến các loài thủy sinh nguy cấp quý hiếmhoặc khai thác, thu gom, sơ chế, bảo quản, vận chuyển các loài thủy sản trongdanh mục cấm khai thác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tối đalên đến 100 triệu đồng tùy thuộc vào khối lượng của loài thủy sinh hoặc thủysản

Toàn bộ số thủy sinh quý hiếm hoặc thủy sản sẽ bị tịch thu và thả lạimôi trường sống của chúng (nếu còn sống) hoặc chuyển giao cho cơ quan cóthẩm quyền để xử lý (nếu đã chết)

- Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Nghị định 157/2013/NĐ-CP)

Nghị định 157/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hànhchính đối với các vi phạm trong hoạt động quản lý, phát triển, bảo vệ rừng vàquản lý lâm sản (trong đó có ĐVHD)

Theo đó, căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm; các tình tiết tăng nặng,

Trang 37

giảm nhẹ mà các hành vi săn, bắn, bẫy, bắt; nuôi, nhốt, lấy dẫn xuất từ độngvật rừng; giết động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật hoặc mua,bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản không có hồ sơ hợp pháp hoặc có

hồ sơ hợp pháp nhưng lâm sản không đúng nội dung hồ sơ sẽ bị xử phạt đến

500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỉ đồng đối với tổ chức

- Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý,

hiếm được ưu tiên bảo vệ

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Nghị định quy định hệthống các tiêu chí để đánh giá và xác định loài ĐVHD đưa vào Danh mục loàinguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Theo đó, loài được đưa vào Danhmục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ nếu (i) Số lượng cá thể còn

ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng và (ii) Là loài đặc hữu có một trong các giátrị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế; sinh thái, cảnh quan, môi trường và vănhóa – lịch sử

Nghị định cũng quy định nguyên tắc bảo tồn các loài ĐVHD nguy cấp,quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ và cơ chế chặt chẽ để quản lý việc khai thác;trao đổi, mua bán, tặng cho, thuê, lưu giữ, vận chuyển mẫu vật; nuôi trồng vàcứu hộ loài thuộc Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ Một điểm đặc biệt làdanh mục loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được banhành kèm theo Nghị định này hầu hết là các loài động vật rừng nguy cấp, quý,hiếm nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP (đề cập ở trên) Chính vì vậy,Nghị định 160/2013/NĐ-CP đã quy định chế độ quản lý loài đối với loài đồngthời thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP sẽ được

áp dụng theo quy định của Nghị định 160/2013/NĐ-CP

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định

về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (Nghị định 179)

Trang 38

Nghị định 179/2013/NĐ-CP là văn bản quy định mức độ xử phạt hànhchính đối với các vi phạm trong lĩnh vực môi trường Trong đó, Điều 42 cóquy định về mức độ xử phạt đối với hành vi lưu giữ trái phép bộ phận cơ thểhoặc sản phẩm của loài ĐVHD thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếmđược ưu tiên bảo vệ với mức xử phạt tối đa lên đến 500 triệu đồng đối với cánhận và 1 tỉ đồng đối với tổ chức.

- Thông tư Liên tịch VKSNDTC-TANDTC ngày 08/03/2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của

19/2007/TTLT/BNN&PTNT-BTP-BCA-Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Thông tư 19)

Thông tư liên tịch này hướng dẫn thực hiện Điều 190 Bộ luật Hình sự

1999 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ ĐVHD quý, hiếm Theo đó,những loài động vật quý hiếm là những loài thuộc nhóm IB của Nghị định32/2006/NĐ-CP Đồng thời thông tư cũng hướng dẫn cụ thể căn cứ để đánhgiá hành vi vi phạm là gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặcbiệt nghiêm trọng để áp dụng tình tiết định khung tăng nặng Cụ thể, Thông tưban hành Phụ lục về việc xác định số lượng cá thể động vật rừng nguy cấp,quý, hiếm nhóm IB để làm căn cứ xác định Ví dụ, hành vi vi phạm liên quanđến gấu, 1 cá thể là gây hậu quả nghiêm trọng, 2 đến 3 cá thể là hậu quả rấtnghiêm trọng, từ 4 cá thể trở lên là đặc biệt nghiêm trọng; trong khi chỉ cần viphạm đối với 1 cá thể hổ là đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Thông tưnày hướng dẫn quy định tại Điều 190 BLHS 1999 đối với các vi phạm liênquan đến loài “bị cấm theo quy định của Chính phủ” Khi Bộ luật Hình sự sửađổi năm 2009 điều chỉnh đối tượng tại Điều 190 thành “động vật trong Danhmục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”, phần hướng dẫn củaThông tư liên quan đến vấn đề này đương nhiên hết hiệu lực Tuy nhiên,không có bất cứ hướng dẫn nào sau khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 nên

Trang 39

hiện Thông tư này vẫn được các cơ quan chức năng địa phương tham khảo

làm căn cứ xử lý các vi phạm hình sự về ĐVHD.

triển Nông thôn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số BTS ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thị hành Nghị định

02/2006/TT-số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về Điều kiện sản xuất kinh doanh một số ngành nghề thủy sản (Thông tư 62/2008/TT-BNN)

Trong Thông tư này có ban hành kèm theo Danh mục những đối tượng

bị cấm khai thác (thủy sản) Đây là những loài thuỷ sinh nguy cấp có phân bố

tự nhiên tại Việt Nam và mọi hoạt động khai thác các loài này trong ngànhnghề thuỷ sản đều bị nghiêm cấm Ngoài ra, Thông tư cũng ban hành danhmục các đối tượng thủy sản bị cấm khai thác có thời hạn trong năm Thời hạnnày thường là mùa sinh sản của các loài thủy sinh bị cấm để tạo điều kiện chochúng khôi phục quần thể trong tự nhiên

- Quyết định 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/07/2008 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn về việc công bố Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển (Quyết định 82/2008/QĐ-BNN)

Quyết định này nhằm ban hành Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm cónguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển quaviệc áp dụng các tiêu chuẩn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IUCN(Phiên bản 2.2, 1994) và Sách đỏ Việt Nam 2007 để đánh giá mức độ quý hiếmcủa loài thủy sinh theo các bậc: Tuyệt chủng (EX); Tuyệt chủng ngoài thiênnhiên (EW); Rất nguy cấp (CR); Nguy cấp (EN); Sẽ nguy cấp (VU)

- Thông tư 90/2008/TT-BNN ngày 28/08/2008 hướng dẫn xử lý tang vật

là động vật rừng sau khi xử lý tịch thu (Thông tư 90/2008/TT-BNN)

Thông tư 90/2008/TT-BNN quy định những tang vật là động vật rừng

Trang 40

thu được trong các vụ vi phạm sẽ được xử lý lần lượt theo trình tự quy địnhtại thông tư này căn cứ mức độ nguy cấp, quý hiếm của từng nhóm (IB, IIB,Phụ lục I, II CITES hay động vật rừng thông thường).

Việc xử lý cũng căn cứ vào loại tang vật là động vật rừng còn sống, đãchết hay bộ phận, sản phẩm của chúng, là loài trong nước hay nhập khẩu

- Quyết định 95/2008/QĐ-BNN ngày 29/09/2008 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn về việc ban hành Quy chế quản lý gấu nuôi (Quyết

định 95/2008/QĐ-BNN)

Quyết định này là sự kế thừa Quyết định 02/2005/QĐ-BNN ngày05/01/2005 về việc ban hành Quy định về quản lý gấu nuôi nhốt trong đó thểhiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc quản lý số lượnggấu đang nuôi nhốt và ngăn chặn gấu mới từ tự nhiên bị bắt vào các trang trại

Tại Quyết định này, mọi hành vi săn bắn, bẫy bắt, mua, bán, giết mổ,vận chuyển, quảng cáo, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất khẩu gấu vàsản phẩm, dẫn xuất từ gấu trái với quy định của pháp luật đều bị nghiêm cấm.Ngoài ra, Quyết định cũng đặt ra quy định về điều kiện chuồng, trại, vệ sinh,thú ý và các điều kiện đăng ký trại nuôi gấu Gấu là loài ĐVHD nguy cấp,quý, hiếm duy nhất ở Việt Nam hiện nay có một văn bản quy phạm pháp luậtquản lý chuyên biệt đối với chúng Từ năm 2012, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn đang xây dựng Thông tư mới thay thế Quyết định này Tuynhiên, Thông tư mới hiện đang gặp phải phản đối mạnh mẽ từ các tổ chức bảotồn bởi việc cho phép tiếp tục đăng ký các cá thể gấu con được nuôi tại trại sẽtạo kẽ hở cho việc đưa gấu từ tự nhiên vào các trang trại nuôi nhốt Do đó,văn bản này hiện tại vẫn đang bị tạm dừng

- Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/09/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường (Thông tư 47/2012/TT-BNNPTNT)

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w