tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam gồm có: do nghèo đói, do người sửdụng lao động muốn tiết kiệm chi phí sản xuất đã sử dụng lao động trẻ em vớitiền công rẻ mạt, do sự thiếu hiểu biết
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
PH¸P LUËT QUèC TÕ Vµ PH¸P LUËT VIÖT NAM
VÒ NG¡N NGõA Vµ XãA Bá LAO §éNG TRÎ EM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ CÔNG GIAO
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Vân Anh
Trang 3MỤC LỤC
Tran g
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN CỦA NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 7 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM QUAN TRỌNG 7
1.1.1 Trẻ em 7
1.1.2 Quyền trẻ em 9
1.1.3 Lao động trẻ em 11
1.1.4 Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 21
1.2 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI 22 1.2.1 Thực trạng 22
1.2.2 Nguyên nhân 26
1.2.3 Tác động tiêu cực 28
1.3 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 30 1.3.1 Mục đích 30
1.3.2 Ý nghĩa 32
Kết luận Chương 1 34 Chương 2: KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO
ĐỘNG TRẺ EM 35
Trang 42.1 KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA
VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 352.1.1 Khái quát các văn bản pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ
lao động trẻ em 352.1.2 Pháp luật quốc tế về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 45
2.2 KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA
VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 582.2.1 Khái quát các văn bản pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa
bỏ lao động trẻ em582.2.2 Pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 63
2.3 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TƯƠNG THÍCH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ NGĂN NGỪA
VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 79
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VÀ
PHÁP LUẬT VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO
3.1 THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG TRẺ EM 813.1.1 Khái quát thực trạng, nguyên nhân và tác động tiêu cực của lao
động trẻ em ở Việt Nam 813.1.2 Thực trạng thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động
trẻ em ở Việt Nam84
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ LAO
ĐỘNG TRẺ EM 923.2.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về
ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 92
Trang 53.2.2 Quan điểm về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về
ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 94 3.2.3 Những giải pháp cụ thể về hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt
Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em 96
3.2.4 Một số biện pháp hỗ trợ khác 102
Kết luận Chương 3 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Công ước số 138 Công ước số 138 của ILO về tuổi lao động tối thiểu
(Minimum Age Convention), 1973
Công ước số 182 Công ước số 182 của ILO về cấm và hành động ngay lập
tức nhằm xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ
nhất (Worst Forms of Child Labour Convention), 1999
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế (the International Labour
Organization)
IPEC Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của
ILO (International Programme on the Elimination of Child Labour)
Khuyến nghị số 146 Khuyến nghị số 146 của ILO về tuổi lao động tối thiểu
(Minimum Age Recommendation), 1973
Khuyến nghị số 190 Khuyến nghị số 190 của ILO về cấm và hành động ngay
lập tức nhằm xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em
tồi tệ nhất (Worst Forms of Child Labour Recommendation), 1999
SIMPOC Chương trình Thông tin thống kê và giám sát lao động trẻ
em (Statistical Information and Monitoring Programme on Child Labour)
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations Children’s
Fund)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại lao động trẻ em dựa theo tính chất nguy hại 17 Bảng 1.2: Phân loại lao động trẻ em theo tình trạng công việc 19 Bảng 1.3: Phân loại lao động trẻ em theo lĩnh vực ngành nghề 21 Bảng 1.4: Thống kê tỷ lệ lao động trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17,
nhất theo Công ƣớc số 182 và các tội có liên quan trong Bộ
Trang 8MỞ ĐẦU
Ngày nay, trên thế giới, tình trạng lao động trẻ em vẫn là một hiệntượng phổ biến, trong đó, nhiều trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điềukiện độc hại, nguy hiểm và bị khai thác triệt để Những mối nguy hại đe dọa
từ lao động trẻ em thay đổi tùy thuộc vào loại hình lao động, điều kiện laođộng và để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển bình thường củatrẻ Không những thế, lao động trẻ em gia tăng còn gây ra những tác động tiêucực tới cộng đồng, xã hội, tăng trưởng kinh tế và sự phát triển lâu dài của mỗiquốc gia Vì vậy, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là mục tiêu chung màcộng đồng quốc tế đang hướng tới
Ở Việt Nam, số lượng trẻ em lao động vẫn còn ở mức cao, trong đó cónhiều em đang rơi vào những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất được quy địnhtrong Công ước số 182 của ILO về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏnhững hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất Thực tế đó đặt ra những yêu cầu cấpbách cho Chính phủ và toàn xã hội Việt Nam trong việc ngăn ngừa và xóa bỏ laođộng trẻ em
Nhà nước Việt Nam đã rất tích cực trong vấn đề đảm bảo thực hiện quyền trẻ
em Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em Việt Nam cũng đã phê chuẩn và gia nhập
cả hai điều ước chủ chốt của ILO về lao động trẻ em, bao gồm Công ước số 182 và Công ước số 138 về tuổi lao động tối thiểu Đây là những bằng chứng cho thấy cam kết mạnh mẽ của nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ quyền trẻ em nói chung và ngăn ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng.
Mặc dù vậy, Việt Nam hiện vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăntrong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến
Trang 9tình trạng lao động trẻ em ở Việt Nam gồm có: do nghèo đói, do người sửdụng lao động muốn tiết kiệm chi phí sản xuất đã sử dụng lao động trẻ em vớitiền công rẻ mạt, do sự thiếu hiểu biết của một bộ phận dân cư về điều kiệnlàm việc, về nguy cơ tiềm ẩn khi trẻ em tham gia lao động… Tuy nhiên,không thể kể đến nguyên nhân quan trọng là pháp luật về lao động trẻ em cònbộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định: quy định hiện hành liên quan trựctiếp đến lao động trẻ em còn ít, đặc biệt là chưa xây dựng hoàn thiện khungpháp lý quy định các vấn đề cơ bản về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em.Bên cạnh đó, việc thực thi pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ emcòn kém hiệu quả, công tác thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật laođộng trẻ em vẫn hạn chế và bị coi nhẹ, việc tuyên truyền và phổ biến phápluật trong lĩnh vực này chưa thường xuyên và chưa sâu rộng Điều này đòihỏi một số quy định pháp luật lao động, pháp luật bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em cần được sửa đổi, bổ sung nhằm điều chỉnh và phù hợp với tìnhtrạng lao động trẻ em đang ngày một gia tăng và diễn biến phức tạp.
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em” làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình, nhằm nghiên cứu pháp luật quốc tế và làm sáng tỏ
lý luận, thực tiễn pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em ở ViệtNam, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
Vấn đề lao động trẻ em đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế
và được tổ chức nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau Có thể kể tới các báo
cáo thường kỳ của Tổ chức Lao động quốc tế ILO như: Báo cáo về xu hướng lao động trẻ em toàn cầu giai đoạn 2000-2004, 2004-2008, 2008-2012, Báo cáo “Đánh dấu sự tiến bộ chống lại lao động trẻ em năm 2013” Các báo
2
Trang 10cáo này đã đưa ra tình hình lao động trẻ em ở nhiều khu vực trên thế giới vàchỉ ra những nỗ lực của nhiều quốc gia trong việc ngăn chặn và loại bỏ cáchình thức lao động trẻ em tồi tệ Báo cáo cũng khuyến nghị các quốc gia thựchiện các chính sách kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo cần thiết nhằm loại
bỏ lao động trẻ em
Ở Việt Nam, ngày càng có nhiều công trình khoa học, báo cáo thường
kỳ, bài viết và các cuộc hội thảo, hội nghị chuyên đề về lao động trẻ em, lao độngchưa thành niên Có thể kể đến một số công trình như:
“Vấn đề lao động trẻ em” của Vũ Ngọc Bình, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia Hà Nội, năm 2000, phân tích vấn đề lao động trẻ em trên thế giới vàvấn đề lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay, đưa ra các giải pháp nhằm giảiquyết vấn đề lao động trẻ em trong nền kinh tế thị trường
Bài viết “Quản lý và ngăn ngừa lao động trẻ em ở Việt Nam hiện nay”
của tác giả Nguyễn Bao Cường đăng trên Bản tin số 23 - Viện Khoa học vàLao động xã hội đưa ra một số điểm cơ bản về tình trạng, nguyên nhân củalao động trẻ em, một số hoạt động ưu tiên nhằm giải quyết tình trạng lao độngtrẻ em giai đoạn 2010-2015
Bài viết “Giúp trẻ thoát khỏi các hình thức lao động tồi tệ: cần sự chung
tay của toàn xã hội” của tác giả Anh Nguyễn đăng trên Báo Giáo dục và Thời
đại số 22 ra ngày 30.5.2010; bài viết “Xóa bỏ lao động trẻ em - một việc làm cấp
bách” của tác giả Lan Hương đăng trên Tạp chí Cộng sản số 844 ra ngày
01-4-2013; bài viết “Giải quyết vấn đề lao động trẻ em và trẻ em lang thang trong
Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” của tác giả Quách Thị Quế
đăng trên Tạp chí Cộng sản số 846 ra ngày 01-06-2013 và một số bài báo, tạpchí khác Tuy nhiên, các bài viết, công trình này chủ yếu tập trung vào đối tượngtrẻ em và lao động trẻ em mà không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề ngăn ngừa vàxóa bỏ lao động trẻ em hoặc nếu có đề cập tới vấn
Trang 11đề xóa bỏ lao động trẻ em thì mới chỉ được thực hiện dưới góc độ kinh tế, xãhội mà chưa đề cập nhiều dưới góc độ luật học.
Tóm lại, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dưới các dạng khác nhau
về vấn đề lao động trẻ em nhưng các công trình nghiên cứu này hầu như chưa
đề cập tới ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em - mục tiêu chung mà cộng đồngquốc tế đang hướng tới cũng như chưa đưa ra được những bất cập của thựctrạng pháp luật về vấn đề này Cho nên, có thể nói đề tài “Pháp luật quốc tế vàpháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là công trình đầutiên nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và cập nhật về pháp luật quốc tế
và thực tiễn pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễnliên quan đến việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đồng thời đưa ra cácgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể sau:
- Phân tích cơ sở lý luận của việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
- Nghiên cứu, phân tích nội dung các Công ước quốc tế liên quan đến ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
- Đánh giá thực trạng pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Lao động trẻ em là vấn đề phức tạp, liên quan tới cả các lĩnh vực kinh
tế, xã hội Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các quy định cơ bản
4
Trang 12của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao độngtrẻ em; phân tích, đánh giá việc thực thi pháp luật về vấn đề trên tại Việt Nam
và từ đó nêu ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luâṇ văn đươc ̣ tiếp câṇ nghiên cứu trên cơ sởkếthừa các công trinh̀nghiên cứu trước đây cùng cơ sởlýluâṇ vàpháp luâṭthưc ̣ đinḥ quốc tếvà của ViêṭNam vềlao động trẻ em nói chung và ngăn ngừa , xóa bỏ lao động trẻ em nói riêng
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duyvật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phápluật và xây dựng pháp luật
Trong Chương 1, để làm sáng tỏ vấn đề lý luận về lao động trẻ em,
luâṇ văn sử dung ̣ phương pháp hê ̣thống , phân tich́ , so sánh đểlàm rõkhái niêṃ “trẻ em”, “lao động trẻ em”, “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em” Phương pháp phân tích cũng được vận dụng để đề cập tới nguyên nhân, tác động tiêu cực, mục đích và ý nghĩa của ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Tại Chương 2 của luận văn, các phương pháp nghiên cứu được sử dung ̣ là thống kê , so sánh, phân tich́ đểlàm rõmức đô ̣tương thich́ giữa pháp luâṭ quốc tếvàpháp luâṭViêṭNam vềngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Với Chương 3, phương pháp thống kê , phân tich́ , tổng hơp ̣ đươc ̣ sử dụng để nghiên cứu thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam , tính cấp thiết của việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa , xóa bỏ lao động trẻ em và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiêṇ pháp luâṭViêṭNam về vấn đề này
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Lao động trẻ em là một thực tế đã có từ rất lâu Vấn đề bảo vệ lao độngtrẻ em cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Các nghiên cứu và nhậnthức từ trước tới nay luôn cho rằng, lao động trẻ em vẫn cần được duy trì để
Trang 13đáp ứng nhu cầu của xã hội và của chính bản thân, gia đình các em Tuynhiên, nhìn nhận dưới góc độ quyền con người, lao động trẻ em cần phảiđược ngăn ngừa và xóa bỏ, đặc biệt là các hình thức lao động trẻ em tồi tệnhất Yêu cầu này cũng đặt ra việc xác định một cách rõ ràng khái niệm “laođộng trẻ em”, phân biệt với một số loại hình khác gần giống nhưng dễ gâynhầm lẫn, đó là trẻ em làm việc, trẻ em tham gia hoạt động kinh tế…
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn diện
và cập nhật hệ thống các quy định quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam vềngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật
về vấn đề này ở Việt Nam Từ đó đóng góp một số giải pháp hoàn thiện phápluật Việt Nam về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Luận văn làm rõ một số nội dung cơ bản về lao động trẻ em và ngănngừa, xóa bỏ lao động trẻ em trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.Đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với các công ước quốc
tế mà Việt Nam là thành viên và thực trạng thực thi pháp luật Việt Nam, nêu
ra một số vấn đề tồn tại cần sửa đổi, bổ sung trong pháp luật Việt Nam hiệnhành nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật Việt Nam về ngăn ngừa, xóa bỏlao động trẻ em
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn của việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao
động trẻ em
Chương 2: Khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Chương 3: Thực trạng thực thi pháp luật và phương hướng, giải pháp
hoàn thiện pháp luật về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ
em ở Việt Nam
6
Trang 14Trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù do chưa phát triểnđầy đủ về thể chất và trí tuệ, dễ thay đổi, dễ thích nghi, dễ uốn nắn và đặc biệt
là dễ bị tổn thương Chính vì vậy, việc xác định trẻ em theo độ tuổi là điềucần thiết nhằm bảo vệ trẻ em một cách tốt nhất khỏi những nguy cơ từ xã hộiảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ
Theo Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Trẻ em là
những người dưới 18 tuổi” [18] Đây là một quy định mở, trong đó mức trần 18
tuổi được coi là mức tiêu chuẩn nhưng không phải là cố định, bắt buộc đối vớimọi quốc gia, nói cách khác, điều này cho phép các quốc gia thành viên xác định
độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn so với quy định kể trên Công ước số 182
cũng quy định “Trong phạm vi Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” được áp
Trang 15dụng để chỉ tất cả những người dưới 18 tuổi” [33, Điều 1] và không quy định
ngoại lệ Điều này là do mục đích của Công ước 182, độ tuổi 18 được xácđịnh là độ tuổi trưởng thành của một con người mà từ khi đó họ mới có khảnăng đảm nhiệm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Như vậy, nếucho phép các quốc gia thành viên có ngoại lệ quy định độ tuổi thấp hơn đượccông nhận là trẻ em, sẽ có nguy cơ nhiều trẻ em trên thế giới phải làm cáccông việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi các em chưa đủ trưởng thành
Cũng theo định nghĩa kể trên, Công ước về quyền trẻ em không quy
định từ khi nào được coi là trẻ em, nhưng theo Lời nói đầu thì “… trẻ em cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý từ trước cũng như khi chào đời” [18] Quy định này hàm nghĩa rằng
việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em cần phải được thực hiện ngay từ giai đoạn bàothai chứ không đợi đến lúc trẻ chào đời
Trong pháp luật Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
năm 2004 quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [25,
Điều 1] Như vậy trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổitrẻ em được pháp luật bảo vệ và chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi.Mặc dù quy định độ tuổi thấp hơn so với Công ước quốc tế, nhưng quy địnhcủa Việt Nam vẫn được coi là phù hợp bởi quy định mở của Công ước
Bên cạnh văn bản luật chuyên ngành, trong hệ thống pháp luật ViệtNam còn có nhiều ngành luật khác cũng đề cập tới vấn đề trẻ em như Bộ luậtHình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, LuậtThanh niên, Luật Quốc tịch, Luật Giáo dục, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học…Tuy nhiên trong mỗi ngành luật đều tiếp cận khái niệm trẻ em ở một khíacạnh khác nhau Đặc biệt, một số văn bản luật đã có các chế định cụ thể quyđịnh quyền tự định đoạt của trẻ em đối với các vấn đề liên quan trực tiếp tớimình như: trẻ em từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng
8
Trang 16hoặc nhờ cha mẹ quản lý (Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, sửa đổi, bổsung năm 2014); trẻ em từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lấy ý kiếnbằng văn bản khi thay đổi quốc tịch (Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008)…
Ngoài khái niệm trẻ em, luật pháp Việt Nam còn có nhiều quy định đềcập đến nhóm người trong độ tuổi từ 16 đến dưới 18 (hay còn gọi là người
chưa thành niên) Theo Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Người đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” [26] Điều 161 Bộ luật Lao động 2012 cũng quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [29].
Như vậy, chúng ta đang sử dụng đồng thời hai thuật ngữ “trẻ em” và
“người chưa thành niên” Điều này gây khá nhiều rắc rối trong việc áp dụngcũng như nghiên cứu luật
1.1.2 Quyền trẻ em
Từ lâu trẻ em luôn được coi là một trong các nhóm xã hội dễ bị tổnthương nhất và được các nhà nước, các cộng đồng quan tâm bảo vệ Mặc dùvậy, trong các thời kỳ trước đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em cơ bảnxuất phát từ góc độ tình thương, lòng nhân đạo, sự che chở chứ không phảidưới góc độ nghĩa vụ bảo vệ quyền Do vậy, việc bảo vệ trẻ em ở thời kỳtrước về cơ bản chưa mang tính phổ biến, thống nhất, quy chuẩn và ràngbuộc về nghĩa vụ với mọi đối tượng trong xã hội
Đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “quyền trẻ em” mới được đề cậpsau một loạt biến cố quốc tế lớn, nhất là cuộc Chiến tranh thế giới I (1914-1918) Cuộc chiến tranh này đã khiến rất nhiều trẻ em ở châu Âu bị rơi vàohoàn cảnh đặc biệt khó khăn như mồ côi không nơi nương tựa, đói khát, bệnhtật và thương tích… Tình cảnh đó đã thúc đẩy việc thành lập hai tổ chức cứutrợ trẻ em đầu tiên trên thế giới ở Anh và Thụy Điển vào năm 1919 Vào năm
1923, bà Eglantyne - người sáng lập Quỹ cứu trợ trẻ của nước Anh năm 1919
Trang 17- đã soạn thảo một bản Tuyên bố gồm 7 điểm, trong đó kêu gọi bảo vệ và thừanhận các “quyền của trẻ em” Vào năm 1924, Tuyên bố này được Hội Quốc liênthông qua (được gọi là Tuyên ngôn Geneva về quyền trẻ em) Sự kiện này có thểcoi là mốc đánh dấu thời điểm thuật ngữ “quyền trẻ em” lần đầu tiên được nêuchính thức trong pháp luật quốc tế, đồng thời cũng là mốc đánh dấu một bướcngoặt trong nhận thức và hành động bảo vệ trẻ em trên thế giới Vì khi trẻ emđược coi là một chủ thể của quyền, các hành động liên quan đến trẻ em sẽ khôngchỉ còn đặt trên nền tảng tình thương, lòng nhân đạo hay sự che chở nữa, mà còn
là nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, kể cả cha mẹ
Sau khi được thành lập, Liên hợp quốc đã đưa vấn đề quyền trẻ em pháttriển lên một bước ngoặt mới Với mệnh đề mở đầu phổ biến trong Tuyên ngôntoàn thế giới về quyền con người năm 1948 và hai công ước về các quyền dân
sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 là “mọi người cóquyền” hoặc “bất cứ người nào đều có quyền”… thì trẻ em được thừa nhận làchủ thể bình đẳng với người lớn trong việc hưởng tất cả các quyền và tự do cơbản được ghi nhận trong luật quốc tế về quyền con người
Tuy nhiên, do đặc trưng của trẻ em là còn non nớt cả về thể chất vàtinh thần, nên ngay trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Côngước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quốc tế vềcác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 và Công ước quốc tế về quyềntrẻ em, trẻ em đã được ghi nhận những quyền đặc thù, đó là quyền đượcchăm sóc, giáo dưỡng và được bảo vệ đặc biệt
Như vậy, quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em đượchưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn,tham gia và phát triển toàn diện
Công ước về quyền trẻ em là luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em bao gồm
54 điều khoản được Liên hợp quốc thông qua năm 1989 Công ước đề ra cácquyền cơ bản của con người mà trẻ em trên toàn thế giới đều được hưởng
10
Trang 18Bốn nhóm quyền trẻ em theo Công ước quốc tế gồm:
- Nhóm quyền được sống: nhằm đảm bảo quyền được sống và đáp ứngcác nhu cầu cơ bản để tồn tại;
- Nhóm quyền được bảo vệ: nhằm bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bị
bỏ rơi và bị lạm dụng và bóc lột hay phân biệt đối xử;
- Nhóm quyền được phát triển: nhằm đảm bảo nhu cầu cải thiện chấtlượng cuộc sống để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, gồm cácquyền được học tập, nghỉ ngơi và giải trí, tham gia hoạt động văn hóa…;
- Nhóm quyền được tham gia: là những quyền cho phép trẻ em tham
dự vào những công việc ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng, như quyền đượcbày tỏ quan điểm riêng, quyền tiếp cận thông tin…
1.1.3 Lao động trẻ em
1.1.3.1 Khái niệm lao động trẻ em
Cho tới nay, trên phạm vi quốc tế vẫn chưa có một định nghĩa thốngnhất về lao động trẻ em
Không phải mọi công việc hàng ngày mà trẻ em làm đều được coi làlao động trẻ em Cần xác định rõ khái niệm lao động trẻ em và lấy đó là căn
cứ để thực hiện ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
Khác với khái niệm trẻ em, khái niệm về “lao động trẻ em” đòi hỏingoài góc độ độ tuổi còn phải tiếp cận ở góc độ tính chất công việc mà chủthể phải làm
Về độ tuổi, sau khi Công ước về quyền trẻ em và Công ước số 182 vềcấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi
tệ nhất của ILO được ban hành, trong đó đưa ra định nghĩa trẻ em là nhữngngười dưới 18 tuổi thì độ tuổi này được cộng đồng quốc tế coi là mốc chuẩn
để xác định phạm vi chủ thể của khái niệm lao động trẻ em
Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có
Trang 19ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em Nói cách khác,thuật ngữ này đề cập đến những công việc và điều kiện làm việc không thểchấp nhận được đối với trẻ em.
Trên thực tế, nhận thức về công việc có ảnh hưởng tiêu cực đến sự pháttriển toàn diện của trẻ em không đồng nhất do sự khác biệt về hoàn cảnh kinh
tế, xã hội, quan niệm truyền thống, phong tục tập quán của mỗi quốc gia Do
đó, khó có thể đưa ra một định nghĩa thống nhất về lao động trẻ em
Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, nhìn chung, những công việc cóảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ là những công việc mà:gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo đức và xãhội của trẻ; làm ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ (ví dụ, khiến cho trẻkhông được đến trường, buộc trẻ phải nghỉ học sớm, buộc trẻ phải cố gắng đểvừa học vừa làm các công việc nặng nhọc hay mất nhiều thời gian)
Có những công việc có thể chấp nhận được với trẻ em Đó là nhữngcông việc không gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển, không cản trởviệc học của trẻ và mang ý nghĩa tích cực Ví dụ như việc trẻ em giúp đỡ cha
mẹ trong công việc nhà hoặc tham gia việc kinh doanh của gia đình ngoài giờhọc Đây là những hoạt động góp phần vào sự phát triển của trẻ và cũng nângcao phúc lợi của gia đình, cung cấp cho trẻ những kỹ năng và kinh nghiệm cóích cho việc hòa nhập xã hội khi trưởng thành
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF, lao động trẻ em là nhữngcông việc mà:
(a) Làm việc ở độ tuổi quá sớm;
(b) Phải làm việc quá nhiều giờ, ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ;
(c) Lao động trong những điều kiện xấu;
(d) Công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm, lòng tự trọng của trẻ, có hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ;
12
Trang 20(e) Gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại cho trẻ em trên các phương diện thể chất, tinh thần, tâm lý và xã hội [49].
Ở Việt Nam, pháp luật cũng chưa có định nghĩa nào về lao động trẻ
em, mặc dù thuật ngữ này đã được đề cập đến trong một số văn bản pháp luật Ví
dụ, Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định cácđiều nghiêm cấm, trong đó có hành vi lạm dụng lao động trẻ em
Bộ luật Lao động 2012 có quy định khái niệm lao động chưa thành niên
và định nghĩa lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi và ítnhất phải đủ 15 tuổi, trừ một số ngành nghề và công việc do Bộ Lao động -
thương binh xã hội quy định có thể là người nhỏ hơn 15 tuổi Cụ thể, theo Điều 164 Bộ luật Lao động:
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do BộLao động - Thương binh và Xã hội quy định và không được sửdụng lao động là người dưới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc
cụ thể do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định [29].Điều 165 Bộ luật Lao động cũng quy định về các công việc và nơi làmviệc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên
Như vậy, khái niệm lao động chưa thành niên trong pháp luật ViệtNam chưa hoàn toàn đồng nhất với khái niệm lao động trẻ em trong pháp luậtquốc tế Lao động chưa thành niên chỉ bị coi là lao động trẻ em khi làm một
số ngành nghề hoặc trong các điều kiện bị cấm theo quy định của pháp luật.Trong khi đó, lao động trẻ em luôn bị coi là bất hợp pháp, bao gồm: lao độngdưới độ tuổi luật cho phép; lao động quá nhiều giờ; không được trả công đầy
đủ hoặc cản trở việc học hành của các em; lao động trong điều kiện xấu, côngviệc hạ thấp danh dự nhân phẩm hay có hại đến sự phát triển tâm lý, xã hộicủa trẻ
Trang 21Báo cáo “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2012: Các kết quảchính” do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động - Thươngbinh và Xã hội thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO - IPEC/SIMPOC xuấtbản lần đầu năm 2014 đưa ra khái niệm lao động trẻ em như sau:
(a) Trẻ em từ 5-11 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế từ 1 giờtrở lên vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc từ 5 giờ trở lên trong cảtuần tham chiếu
(b) Trẻ em từ 12-14 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế trên 4
giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc trên 24 giờ trong cả tuần tham chiếu
(c) Trẻ em từ 15-17 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế trên 7giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc trên 42 giờ trong cả tuần thamchiếu
(d) Trẻ em từ 5-17 tuổi, tham gia làm các công việc cấm sửdụng lao động vị thành niên theo quy định của Thông tư số 09/TL-
LB ngày 13-4-1995 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
- Y tế quy định chi tiết các điều kiện lao động có hại và các côngviệc cấm sử dụng lao động vị thành niên (Đã được thay thế bằng Thông tư số 10/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội về Ban hành danh mụccác công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên)[4]
Tuy nhiên, đây chỉ là khái niệm sử dụng nhằm phục vụ cho điều tra của Báo cáo này và mang tính chất tham khảo chứ chưa phải định nghĩa chính thức
Từ các góc độ tiếp cận kể trên và từ các tiêu chuẩn quốc tế có liên quancủa ILO, có thể định nghĩa như sau:
Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 18 tuổi) phải làm những công việc có ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện
14
Trang 22của trẻ như: gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần,đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc thời gian làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quánhỏ, làm ảnh hưởng đến thời gian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ.
Để hiểu rõ khái niệm lao động trẻ em, cần phân biệt với một số kháiniệm khác có liên quan, cụ thể như sau:
Trẻ em lao động (child labourer): “Thuật ngữ này đi liền với thuật ngữ lao động trẻ em (child labour), chỉ những trẻ em bị rơi vào vòng xoáy của lao động trẻ em, hay nói cách khác là nạn nhân của lao động trẻ em” [37].
Lao động chưa thành niên (juvenile worker): Thuật ngữ này, như đã đề
cập ở trên, “thường để chỉ những lao động dưới 18 tuổi và không hoàn toàn đồng nghĩa với lao động trẻ em Lao động chưa thành niên có là lao động trẻ
em hay không tùy thuộc vào tính chất công việc, đặc điểm môi trường làm việc, độ tuổi và thời gian làm việc của trẻ” [37].
Trẻ em làm việc (child work) là thuật ngữ “đề cập đến việc trẻ em tham gia làm các công việc khác nhau, thông thường là nhẹ nhàng, có thể chấp nhận được, được đưa ra nhằm mục đích phân biệt với khái niệm lao động trẻ em mà được coi là chỉ những công việc không thể chấp nhận được đối với trẻ em” [37] Cụ thể, theo nhóm công tác khu vực về lao động trẻ em thì trẻ em tham gia làm việc bao gồm các hoạt động không làm hại tới, và có
thể góp phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ trong khi lao động trẻ embao gồm tất cả những loại công việc do trẻ em đến 18 tuổi thực hiện mà có hạicho sức khỏe, tinh thần, trí tuệ hay sự phát triển về mặt xã hội và ảnh hưởngtới việc học tập của trẻ em Trẻ em làm việc không gây những tác động tiêucực cho sự phát triển của trẻ vì đó là những việc làm tự nguyện, phi lợi nhuậnhay các công việc trong gia đình Những công việc này cũng cho trẻ những kỹnăng, kinh nghiệm trong cuộc sống Trái lại, lao động trẻ em hướng tới lợinhuận, trẻ em phải làm việc liên tục trong những ngành công nghiệp làm rahàng hóa Điều đó ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, cơ hội học tập và phát triểncủa trẻ
Trang 23Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế (“economically active children”hoặc “children at work in economic activity”) là thuật ngữ được sử dụng phổbiến trong công tác điều tra, thống kê về lao động việc làm nói chung và laođộng trẻ em nói riêng ở nhiều quốc gia trên thế giới Đây là một khái niệm
“chỉ các công việc sinh lợi do trẻ em thực hiện, bất kể các công việc đó có hay không được trả lương, hợp pháp hay bất hợp pháp, thường xuyên hay không thường xuyên, thời giờ làm việc ngắn hay trọn thời gian” [37] Những
công việc vặt, không sinh lời mà trẻ em thường làm trong gia đình hoặc ởtrường không thuộc phạm trù này, mặc dù trên thực tế, một số trẻ em có thểphải dành nhiều thời gian để làm những công việc đó, làm ảnh hưởng đếnthời giờ học tập, vui chơi, giải trí Để được xem là có tham gia các hoạt độngkinh tế, trẻ em phải làm các công việc sinh lời ít nhất trong một giờ vào bất kỳngày nào trong tuần Như vậy, trẻ em tham gia làm kinh tế có được coi là laođộng trẻ em hay không cũng tùy thuộc vào tính chất công việc, đặc điểm môitrường làm việc, độ tuổi và thời gian làm việc của trẻ Bên cạnh đó, khôngphải tất cả trẻ em tham gia hoạt động kinh tế đều trái với Công ước số 138của ILO về tuổi lao động tối thiểu và Công ước số 182 của ILO về cấm vàhành động ngay lập tức để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
1.1.3.2 Phân loại lao động trẻ em
Phân loại lao động trẻ em giúp làm rõ các đặc điểm của lao động trẻ em
và đưa ra những giải pháp phù hợp để ngăn ngừa và xóa bỏ từng dạng laođộng trẻ em Có nhiều tiêu chí để phân loại lao động trẻ em, trong đó các tiêuchí thường được sử dụng là: theo tính chất nguy hại, theo tình trạng công việc
và theo lĩnh vực ngành nghề mà trẻ em làm việc
* Phân loại theo tính chất nguy hại là cách thức được thực hiện trong
các Công ước số 138 và 182 của ILO, trong đó lao động trẻ em được chia thànhcác cấp độ tùy theo ảnh hưởng tiêu cực của công việc với sự phát triển của trẻ.Theo cách phân chia này, lao động trẻ em bao gồm: công việc nhẹ
16
Trang 24nhàng, công việc thông thường, công việc nguy hại và những hình thức laođộng trẻ em tồi tệ nhất [37].
Bảng dưới đây khái quát những tình huống có thể coi là lao động trẻ
em dựa trên sự phân loại theo tính chất nguy hại từ các quy định có liên quantrong các Công ước 138 và 182 của ILO
Bảng 1.1: Phân loại lao động trẻ em dựa theo tính chất nguy hại
Các công việc không nguy hại Những hình thức lao động
(trong các ngành nghề không nguy trẻ em tồi tệ nhất
hại, thời giờ làm việc ít hơn 43
giờ/tuần)
Công việc Công việc Công việc Những hình nhẹ nhàng thông thường nguy hại thức lao động
(làm việc ít hơn (làm việc nhiều (trong các trẻ em tồi tệ
14 giờ/tuần) hơn 14 giờ/tuần ngành nghề nhất bị cấm
nhưng chưa đến được coi nguy tuyệt đối
43 giờ/tuần) hại, hoặc trong (buôn bán trẻ
các ngành nghề em; lao động khác không cưỡng bức và nguy hại nhưng gán nợ, sử dụng với thời giờ làm trẻ em trong việc nhiều hơn xung đột vũ
43 tiếng/tuần) trang, các hoạt
động khiêu dâm
và bất hợp pháp) 5-11
12-14
15-17
Nguồn: Bộ tài liệu tập huấn về ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em,
(Trong bảng này, phần được coi là lao động trẻ em được đánh dấu đậm)
Trang 25Điều 7 Công ước số 138 của ILO quy định công việc nhẹ là công việc:(a) Không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự pháttriển của các em;
(b) Không ảnh hưởng đến việc học tập, việc tham gia vào
những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo nghề đã được cácnhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chương trình
mà các em có khả năng tiếp thu [31]
Theo ILO, “công việc nhẹ của trẻ em từ 12 đến 14 là công việc mà không phải là gây nguy hại và không vượt quá 14 giờ mỗi tuần” [41] Định
nghĩa này được ILO đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu về tác động của laođộng trẻ em đối với việc học tập và phát triển của trẻ
Cả hai Công ước số 138 và 182 của ILO xác định công việc nguy hại lànhững công việc có khả năng gây nguy hiểm hoặc tổn hại đến sức khỏe, antoàn và đạo đức của trẻ em và danh sách các công việc này phải được xácđịnh ở cấp quốc gia Đây là công việc trong các ngành nghề được coi nguyhại, hoặc trong các ngành nghề khác không nguy hại nhưng với thời giờ làmviệc nhiều hơn 43 tiếng/tuần Việc phân loại này dựa trên các quy định nêutrong Khuyến nghị số 190 kèm theo Công ước số 182 và quy định về côngviệc nguy hiểm trong luật pháp quốc gia
Hình thức cực đoan nhất của lao động trẻ em là trẻ em bị bắt làm nô lệ,
bị tách ra khỏi gia đình, tiếp xúc với các mối nguy hiểm nghiêm trọng và bệnhtật hoặc phải tự lo cho bản thân trên các đường phố của các thành phố lớn,thường là vào độ tuổi rất sớm
* Phân loại theo tình trạng công việc dựa trên các khía cạnh như: trẻ
em làm việc công khai hay bị che giấu, làm việc một mình hay theo nhóm, tậptrung hay phân tán… Cách phân loại này thể hiện cụ thể tại Bảng 1.2 - Phânloại lao động trẻ em theo tình trạng công việc
18
Trang 26Bảng 1.2: Phân loại lao động trẻ em theo tình trạng công việc
Công khai Không công khai
Nhiều trẻ cùng làm việc ở một địa Nhiều trẻ cùng làm việc ở một địa điểm hoặc ở các địa điểm gần nhau, điểm hoặc ở các địa điểm gần nhau có thể
dễ dàng chứng kiến hoặc tiếp nhưng không thể hoặc khó chứng
cận, ví dụ: kiến hay tiếp cận, ví dụ:
May mặc; khâu bóng đá; cơ khí; sản Làm việc trong các lò gạch, mỏ xuất
đồ gỗ; giúp việc trong cửa hàng khai thác đá.
Làm bánh, mứt, kẹo; đầu bếp; bán Làm thợ mộc; phụ việc và vận thức ăn nhanh chuyển vận liệu tại các công trường
Làm việc trong các cửa hiệu sửa xây dựng.
chữa nhỏ, ví dụ, sửa chữa xe máy Làm công nhân hoặc người học việc
dụ đánh giầy, rửa hoặc trông xe ô tô gốm, kính, sắt, nhựa, kim hoàn
Giúp việc trong siêu thị; bán dạo; Làm công nhân trong nhà máy chế khuân vác; vệ sinh; thu ngân ở chợ… biến thực phẩm.
Vận chuyển vật liệu trên đường Dệt các loại vải hoặc thảm truyền hoặc trong các công trường xây dựng thống, bất kể trong gia đình hay tại
Làm thuê trong các đồn điền, trang các cơ sở sản xuất nhỏ trại trồng mía,
cà phê, rau…, một Sản xuất thuốc lá.
mình hoặc cùng với gia đình Làm việc trong các nhà máy sản
Làm việc trong các cơ sở sản xuất xuất diêm, pháo hoa hay thuốc nổ hay đồn điền, trang trại của gia đình, Làm việc trong các mỏ than hay mỏ bất kể
để sản xuất hàng hóa tiêu thụ khoáng sản khác.
trong nội địa hay xuất khẩu Làm việc trong các nhà máy đóng
Chế biến các sản phẩn nông nghiệp tàu hoặc trên các tàu, thuyền đánh cá
và ngư nghiệp.
Trang 27 Đưa báo, đưa tin, chạy việc vặt. khó chứng kiến hay tiếp cận, ví dụ:
Làm các dịch vụ hoặc bán hàng trên Giúp việc gia đình.
đường phố, ví dụ như đánh giầy, bán Làm việc trong các cơ sở sản xuất
Bồi bàn, rửa bát, quét dọn trong các đồ thủ công mỹ nghệ.
khách sạn, nhà hàng, quán cà phê Tự kiếm sống bằng săn bắn, đánh
Nhạc công, vũ công, diễn viên trong cá, hái lượm hoặc các công việc nông các gánh hát, đoàn xiếc… nghiệp khác.
Ăn xin chuyên nghiệp. Ăn cắp, móc túi, buôn lậu, tham gia
Giúp việc, phụ xe trên các phương sản xuất, buôn bán ma túy hoặc các tiện giao thông đường dài (xe buýt, hoạt động khiêu dâm.
tàu khách, tàu chở hàng…) Bị bóc lột tình dục.
Trông nom, bảo vệ nông trại khỏi Bị rơi vào tình trạng nô lệ hoặc lao sự phá hoại của chim chóc, khỉ và kẻ động gán nợ.
Chăn thả bầy gia súc; nuôi dưỡng, trang hoặc phải phục vụ trong các chăm sóc và quản lý vật nuôi cuộc xung đột vũ trang.
Nguồn: A Tool Kit for Labour Inspectors
* Phân loại theo lĩnh vực ngành nghề (ví dụ, khu vực kinh tế chính
thức/không chính thức, hoặc cụ thể hơn, lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp haythương mại) cho phép làm rõ mối quan hệ giữa trẻ em lao động và những chủ thể cóliên quan đến việc sử dụng các em (khách hàng, người sử dụng lao động…) Ví dụ,bảng dưới đây so sánh những đặc điểm cơ bản của lao động trẻ em trong khu vựckinh tế chính thức và không chính thức Lưu ý là khái niệm khu vực kinh tế chínhthức, không chính thức ở đây chỉ mang tính tương đối, phục vụ mục đích chính là tìmhiểu vấn đề lao động trẻ em Vì vậy, có
20
Trang 28thể khái niệm được sử dụng ở đây không hoàn toàn giống với một số địnhnghĩa về khu vực kinh tế chính thức, không chính thức thường được sử dụng
ở Việt Nam
Bảng 1.3: Phân loại lao động trẻ em theo lĩnh vực ngành nghề
Khu vực kinh tế không chính thức Khu vực kinh tế chính thức
(informal sector) (formal sector)
Thường dưới dạng doanh nghiệp gia Thường dưới dạng công ty lớn, baođình nên khó phát hiện gồm doanh nghiệp nước ngoài nên dễ
phát hiện
Dễ sử dụng lao động trẻ em Ít sử dụng lao động trẻ em hơn
ở một khâu nhất định của dây chuyền sản xuất.
Nguồn: Child labour - A textbook for university
students 1.1.4 Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em
“Ngăn ngừa lao động trẻ em là một khái niệm rộng, tuy nhiên, cốt lõi của nó là bảo vệ trẻ khỏi bị rơi vào vòng xoáy của lao động trẻ em vì bất cứ
lý do gì” [37] Về vấn đề này, UNICEF nhấn mạnh rằng tất cả trẻ em đều có
quyền được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế, và điều này chỉ có thể thànhcông khi bắt đầu với việc ngăn ngừa những nguy cơ trẻ em phải lao động sớmhoặc phải làm các công việc nguy hại
Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em đang là mục tiêu hướng tới củacộng đồng quốc tế Do đó, bên cạnh việc xác định khái niệm “lao động trẻem”, cần định nghĩa rõ ràng về “ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em” làm cơ
sở cho việc xây dựng các chính sách, pháp luật hành động vì mục tiêu này Cóthể hiểu như sau:
Trang 29Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là sự phòng ngừa và loại bỏ tìnhtrạng trẻ em (những người dưới 18 tuổi) phải làm những công việc có ảnhhưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ như: gây tổn hại hoặc cókhả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặcthời gian làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, làm ảnh hưởng đến thờigian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ.
1.2 THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
CỦA LAO ĐỘNG TRẺ EM TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Thực trạng
Lao động trẻ em là vấn đề toàn cầu, diễn ra ở mọi quốc gia, mọi khuvực với tính chất rộng lớn và phức tạp Việc đưa ra một đánh giá xác thực vềthực trạng lao động trẻ em trên thế giới là một công việc khó khăn
Theo ILO, vào thời điểm năm 1995, có khoảng 250 triệu trẻ em ở độtuổi 5 đến 14 tham gia hoạt động kinh tế, trong đó ít nhất có khoảng 120 triệutrẻ em phải làm việc trọn thời gian Tuy nhiên số liệu kể trên mới chỉ phảnánh phần nào thực trạng của vấn đề lao động trẻ em trên thế giới vào thờiđiểm đó, bởi lẽ chúng chủ yếu được thu thập thông qua tổng hợp từ các bảnghỏi gửi tới cơ quan thống kê của một số quốc gia, từ những số liệu thống kê
về lao động, việc làm do các quốc gia đó xuất bản, kết hợp với số liệu thuđược từ một số cuộc khảo sát về lao động trẻ em Số lượng đã thu hút sự chú
ý của quốc tế về phạm vi và mức độ của lao động trẻ em trên toàn thế giới
Những năm gần đây, khi phong trào toàn cầu chống lao động trẻ emphát triển, nhu cầu về sự chính xác và chi tiết hơn trong việc ước tính laođộng trẻ em trở nên rõ ràng Dữ liệu từ SIMPOC (Chương trình Thông tinthống kê và giám sát lao động trẻ em), các đơn vị thống kê của Chương trìnhquốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em của ILO (IPEC) và các nguồn khác cũngnhư các công cụ phân tích mới giúp việc thống kê lao động trẻ em chính xác
22
Trang 30hơn, ước tính được số liệu trẻ em phải làm công việc nguy hiểm và các hìnhthức lao động tồi tệ nhất Từ đó, đưa ra bức tranh toàn diện và xác thực hơn
về tình hình lao động trẻ em trên toàn thế giới
Thời điểm năm 2000 là lần đầu tiên ILO cố gắng ước tính mức độ trẻ
em phải làm công việc nguy hiểm và cả các hình thức lao động trẻ em tồi tệnhất Theo thống kê, ước tính trên thế giới có khoảng 211 triệu trẻ em ở độtuổi từ 5 đến 14 và 141 triệu trẻ em ở độ tuổi từ 15 đến 17 tham gia một sốhình thức hoạt động kinh tế; 186 triệu trẻ em ở độ tuổi từ 5 đến 14 và 59 triệutrẻ em ở độ tuổi từ 15 đến 17 phải làm các công việc thuộc các hình thức laođộng trẻ em cần xóa bỏ (trong đó bao gồm cả các hình thức lao động trẻ emtồi tệ nhất) Kết quả thống kê cũng cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ lao động trẻ
em giữa các lãnh thổ
Theo Báo cáo “Đánh dấu sự tiến bộ trong việc chống lại lao động trẻem” được ILO công bố vào tháng 9 năm 2013, cho thấy sự tiến bộ thực sựtrong công cuộc chống lại lao động trẻ em, đặc biệt là trong khoảng thời gian
4 năm trở lại đây Tuy nhiên thành công này có thể chỉ mang tính chất tươngđối Theo đánh giá của “Báo cáo toàn cầu về lao động trẻ em trước đó vàonăm 2010” nhấn mạnh, tiến độ này vẫn còn quá chậm Bản Báo cáo mới đãchỉ ra rằng số lao động trẻ em trên toàn thế giới vào khoảng 168 triệu, chiếmgần 11% tổng số trẻ em nói chung Trẻ em trong độ tuổi 5-17 làm các côngviệc nguy hại ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự an toàn và phát triển nhâncách của trẻ chiếm hơn một nửa số lao động trẻ em, vào khoảng 85 triệu em.Đây là sự tiến bộ đáng kể trong vòng 12 năm kể từ năm 2000 Số lao động trẻ
em đã giảm gần 1/3 trong khoảng thời gian này, trong đó, tỷ lệ giảm với nữ làkhoảng 40% và với nam là 25% Tổng số trẻ em làm các công việc nguy hiểm
mà phần lớn là thuộc các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em giảm hơnmột nửa Tình hình lao động trẻ em ở khu vực cận sa mạc Sa-ha-ra của châu
Trang 31Phi là nghiêm trọng nhất, nơi mà cứ trong năm trẻ em thì có một trẻ thuộcdiện lao động trẻ em Cũng theo Báo cáo thì thế giới không có lao động trẻ
em vẫn còn trong một tương lai xa
Bảng 1.4: Thống kê tỷ lệ lao động trẻ em trong nhóm tuổi từ 5-17,
Nguồn: Marking progress against child labour
Từ các số liệu điều tra có thể thấy:
Lao động trẻ em chiếm tỷ lệ cao trên tổng số trẻ em Năm 2012, laođộng trẻ em chiếm 11% số trẻ em trên toàn thế giới Tỷ lệ này mặc dù cógiảm so với các khoảng thời gian trước nhưng vẫn là tỷ lệ khá cao
Tình trạng trẻ em phải làm những công việc nguy hại, kể cả các hìnhthức tồi tệ nhất vẫn rất nghiêm trọng Theo thống kê năm 2012, trẻ em trong
độ tuổi 5-17 làm các công việc nguy hại ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự
an toàn và phát triển nhân cách của trẻ vào khoảng 85 triệu em, chiếm hơnmột nửa số lao động trẻ em trên thế giới
Một vấn đề đáng lo ngại là phần lớn lao động trẻ em ở độ tuổi nhỏ: Số trẻ
em lao động ở độ tuổi dưới 15 (mức tuổi tối thiểu cơ bản được tuyển dụng vàtham gia làm việc theo công ước số 138 của ILO) là 120,5 triệu em, chiếm 72%tổng số lao động trẻ em Trong đó, số liệu này ở nhóm tuổi 5-11 là 73 triệu em,đây là đối tượng rất dễ bị lạm dụng tại nơi làm việc và dễ bị tổn thương
Trang 3224
Trang 33Về phân bố địa lý, lao động trẻ em diễn ra ở khắp các khu vực trên thếgiới nhưng khác nhau về mức độ: Khu vực châu Á, Thái Bình Dương có sốlượng lao động trẻ em cao nhất, với 77,7 triệu trẻ em lao động Tiếp theo làkhu vực cận sa mạc Sa-ha-ra của châu Phi, với 59 triệu em Số liệu này ở khuvực châu Mỹ - Latin và vùng Caribbe là 12,5 triệu; Trung Đông và Nam Phi
là 9,2 triệu Tuy nhiên, tình hình lao động trẻ em ở khu vực cận sa mạc
Sa-ha-ra của châu Phi là nghiêm trọng nhất, do lao động trẻ em ở khu vực này chiếmtới 21% tổng số trẻ em, trong khi tỷ lệ này ở châu Á, Thái Bình Dương là 9%,Trung Đông và Nam Phi là 8%
Các ước tính toàn cầu mới cũng cung cấp số liệu cập nhật về ngànhnghề mà lao động trẻ em tham gia Khu vực nông nghiệp có số trẻ em làmviệc cao nhất là 98 triệu em, khu vực dịch vụ là 54 triệu em (trong đó 11,5triệu em làm công việc gia đình) và khu vực công nghiệp là 12 triệu em.Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số lượng bé trai nhiều hơn bé gái trong tất cảcác lĩnh vực ngoại trừ công việc gia đình, hình thức làm việc khó bị sự giámsát của cộng đồng và nằm ngoài tầm với của thanh tra lao động, cũng là hìnhthức mà những đứa trẻ đặc biệt dễ bị bóc lột và lạm dụng
Từ các số liệu thống kê về thực trạng lao động trẻ em trên toàn thế giới,
có thể thấy rằng đây là vấn đề toàn cầu Do đó, để chiến dịch toàn cầu chốnglạm dụng và bóc lột trẻ em có hiệu quả, trước hết các quốc gia cần có chínhsách đúng đắn và khuôn khổ pháp lý vững chắc Một hệ thống pháp luật quốcgia hoàn chỉnh về lao động trẻ em và phù hợp với các tiêu chuẩn pháp luậtquốc tế là nền tảng cơ bản cho việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em, đặcbiệt là xác định thế nào là lao động trẻ em cần được xóa bỏ, đồng thời cungcấp cơ sở cho việc thu thập thông tin thống kê lao động trẻ em Hơn hết, phápluật cần ghi nhận trách nhiệm cụ thể (không chỉ của cá nhân mà của cả nhànước và các cơ quan, tổ chức), thiết lập các biện pháp pháp lý bảo vệ nạnnhân và trừng phạt người vi phạm
25
Trang 341.2.2 Nguyên nhân
Lao động trẻ em là một vấn đề rất phức tạp và có nhiều nguyên nhândẫn đến lao động trẻ em Mỗi nguyên nhân có vai trò và mức độ tác độngkhác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau Các nguyên nhân chính của tìnhtrạng này gồm:
Nghèo đói được coi là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới trẻ em phải làmnhững công việc không phù hợp với lứa tuổi của mình Trong nhiều trườnghợp, trẻ em phải làm việc để đảm bảo sự sống còn của gia đình và bản thân.Mặc dù trẻ em không được trả lương cao, nhưng ở nhiều nước đang pháttriển, đó vẫn là nguồn đóng góp lớn cho thu nhập gia đình Cũng theo nhiềucuộc điều tra thống kê, đói nghèo gia tăng trong vùng của châu Phi, châu Á vàchâu Mỹ La tinh dẫn tới sự gia tăng lao động trẻ em
Những tác động của các cú sốc thu nhập hộ gia đình, chẳng hạn nhưthiên tai, khủng hoảng kinh tế, nông nghiệp, tác động của HIV, AIDS, có thểdẫn đến lao động trẻ em Ví dụ, nhiều trẻ em sống với HIV, trong khi một sốthậm chí đã bị mồ côi hoặc bị tổn thương do AIDS, hoặc nếu cha mẹ bị ốm
do các bệnh liên quan đến HIV và AIDS, trẻ có thể phải bỏ học tham gia laođộng để chăm sóc cho các thành viên gia đình
* Các yếu tố truyền thống, văn hóa cũng rất quan trọng Có một quan
niệm phổ biến trong một số quốc gia chậm phát triển là không để phụ nữ
Trang 35được đi học Điều này làm hạn chế giáo dục đối với trẻ em gái và thúc đẩy lao động trẻ em.
* Bất ổn về chính trị, kinh tế, xã hội cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn tới lao động trẻ em Đây là những nhân tố tác động từ bên ngoài
khiến trẻ em sớm vướng vào vòng xoáy của lao động và khó kiểm soát lao động trẻ em
Toàn cầu hóa là một trong các nguyên nhân của lao động trẻ em Toàncầu hóa có những tác động tích cực và tiêu cực Toàn cầu hóa có thể cung cấpcho các nước đang phát triển cơ hội tăng trưởng kinh tế qua đầu tư trực tiếp
từ nước ngoài và giao lưu thương mại Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng manglại ảnh hưởng xấu đến lao động trẻ em ở các nước đang phát triển Trongnhững năm gần đây, nhiều công ty quốc tế chuyển các nhà xưởng sản xuấtsang nước ngoài Các công ty này thường tuyển dụng lao động trẻ em do giánhân công rẻ, do một số nghề cần sự dẻo dai linh hoạt của trẻ và do trẻ em làđối tượng yếu ớt, không chống lại được sự bóc lột, lạm dụng của chủ sử dụnglao động Đối với các nước ví dụ như Việt Nam, Mexico và Thái Lan, cóbằng chứng cho thấy lao động trẻ em giảm do toàn cầu hóa, nhưng các nướcnhư Bolivia và Zambia đã cho thấy một sự suy giảm trong giáo dục và sự giatăng lao động trẻ em [47]
* Rào cản đối với giáo dục
Giáo dục cơ sở không phải là miễn phí tại tất cả các nước và không phải
là mọi trẻ em đều được tiếp cận, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa Chi phí chogiáo dục hoặc việc cha mẹ không nhận thức được giá trị của giáo dục dẫn tớiviệc trẻ em phải tham gia lao động thay vì được học tập Thực tế là, tại nhiềuquốc gia đang phát triển, chất lượng giáo dục thấp do điều kiện cơ sở vật chất,năng lực giáo viên yếu… Kết quả là cha mẹ cho rằng việc để các em làm việc
27
Trang 36rèn luyện các kỹ năng phục vụ cho cuộc sống tốt hơn là việc để trẻ đếntrường học tập Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi trẻ em không được đihọc, các em trở thành nguồn lao động tiềm năng làm gia tăng lao động trẻ em.
* Pháp luật và các chính sách bảo vệ trẻ em chưa hoàn chỉnh và còn hạn chế trong việc thực thi cũng dẫn tới tình trạng lao động trẻ em gia tăng.
Ví dụ, đã có hơn 130 quốc gia ký kết điều ước quốc tế quy định rằng trẻ em
có thể không làm việc toàn thời gian trước khi họ 15 tuổi Tuy nhiên, phápluật của các quốc gia này vẫn chưa quy định rõ ràng và không được thực thi.Người sử dụng lao động thường có thể tìm thấy kẽ hở luật pháp để biện minhcho việc tuyển dụng trẻ em lao động Ngoài ra ở một số nước không có một
hệ thống đăng ký khai sinh thống nhất, rất nhiều người không có giấy khaisinh, việc này cùng với việc không có tài liệu hướng dẫn có thể dẫn tới trẻ em
bị từ chối tới trường [47]
1.2.3 Tác động tiêu cực
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng lao động trẻ em không chỉ có tácđộng tiêu cực đến đời sống và sự phát triển của bản thân trẻ, mà còn đến giađình, cộng đồng và quốc gia nơi trẻ sinh sống
* Tác động tiêu cực của trẻ em với cộng đồng, quốc gia nơi trẻ sinh sống:
Lao động trẻ em làm tăng tỷ lệ mù chữ dẫn tới trình độ dân trí thấp,nghèo đói gia tăng Nguyên nhân là do trẻ em phải làm việc sớm, thường lànhững công việc lao động chân tay, không được giáo dục và đào tạo những
kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để giúp các em có nghề nghiệp ổn định, thunhập cao khi trưởng thành Điều đó làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tếlâu dài của đất nước Cũng vì thế mà lao động trẻ em ảnh hưởng tiêu cực đếnnguồn nhân lực khiến cho năng lực cạnh tranh của quốc gia giảm sút khi thamgia vào thị trường thế giới, tạo ra những trở ngại lớn đối với sự phát triển củaquốc gia Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lao động trẻ em ảnh hưởng rõ rệt
Trang 37tới nền kinh tế quốc gia thông qua các chỉ số, không chỉ hiện tại mà trong cảtương lai do chất lượng nguồn nhân lực kém Rõ ràng, giữa nghèo đói và laođộng trẻ em có mối liên hệ chặt chẽ Nghèo đói là một trong những nguyênnhân dẫn tới lao động trẻ em và lao động trẻ em làm gia tăng tỷ lệ nghèo đóitrong tương lai Đây là một vòng luẩn quẩn khó có thể chấm dứt và do đó, laođộng trẻ em cần phải được ngăn ngừa và xóa bỏ.
Bên cạnh đó, lao động trẻ em sẽ dẫn tới các hậu quả xấu cho xã hội, trẻkhông được giáo dục dễ sa ngã phạm tội hoặc mắc phải các tệ nạn xã hội
* Tác động tiêu cực của lao động trẻ em đến bản thân trẻ:
Về thể chất:
Do còn non nớt, thiếu kinh nghiệm, sức khỏe và sự dẻo daicòn hạn chế, trẻ em dễ bị tổn thương và gặp nhiều rủi ro về thể chấthơn người lớn khi làm việc Ví dụ, trẻ em lao động có thể bị tai nạndẫn tới bị thương, bị chết hoặc tàn tật Trẻ em làm việc trongnhững điều kiện lao động không bảo đảm có thể phải đối mặt vớinhững vấn đề sức khỏe nghiêm trọng về lâu dài [37]
Các nghiên cứu cho thấy số lượng trẻ em làm việc trong các nhà máy
và hầm mỏ có sử dụng máy móc thiết bị công nghiệp, hóa chất, yêu cầu côngviệc khó khăn, đối phó với động vật và côn trùng, hoặc tiếp xúc với nhiệt độrất cao hay rất thấp đều gây nguy hiểm cho sức khỏe của trẻ Hơn nữa, trẻ em
có thể phải làm các công việc như mại dâm, phục vụ trong chiến tranh,vàtrong hành vi buôn lậu, ma túy, dẫn đến việc bị lạm dụng và thậm chí có nguy
Trang 38khăn trong việc tạo lập các mối quan hệ; có thái độ bạo lực hoặc cáchành vi phạm tội, sử dụng chất kích thích; hoặc tâm trạng trầm cảm,
lo lắng, thậm chí có ý định tự hủy hoại bản thân [37]
Về nhận thức: Trong nhiều trường hợp, khả năng nhận thức của trẻ em
bị ảnh hưởng do công việc mà trẻ phải làm, ví dụ như suy giảm năng lựcnhận thức, giao tiếp và thực hành - những yếu tố cốt yếu để trẻ em thích nghi
xã hội và có điều kiện sống tốt hơn
Về giáo dục:
Lao động nặng nhọc hoặc nhiều thời gian có thể khiến trẻ emphải bỏ học sớm hoặc giảm khả năng tiếp thu trong quá trình họctập Tuy nhiên, phổ biến hơn là lao động tước đi của trẻ em thờigian cần thiết cho việc học tập, và vì vậy thành tích học tập của các
em giảm sút, kỹ năng học tập yếu, bị thụt lùi so với bạn bè, bị bỏmặc hoặc gặp khó khăn khi hòa nhập với bạn học [37]
Nhìn chung, lao động trẻ em là vấn đề phức tạp, có những tác động tiêucực đến sự phát triển toàn diện của trẻ, ảnh hưởng tới các quyền cơ bản củatrẻ Bên cạnh đó, nó còn gây ra những hậu quả cho cộng đồng và xã hội, cho
sự phát triển bền vững của quốc gia, bởi trẻ em chính là thế hệ tương lai củađất nước
1.3 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGĂN NGỪA VÀ XÓA BỎ
LAO ĐỘNG TRẺ EM
1.3.1 Mục đích
Lao động trẻ em hiện nay đang là vấn đề toàn cầu, diễn ra ở mọi quốcgia và khu vực Bên cạnh đó, lao động trẻ em xuất phát từ nhiều nguyên nhân:bối cảnh gia đình, nghèo đói, bất ổn về chính trị và xã hội, toàn cầu hóa… Do
đó, ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em là vấn đề vô cùng phức tạp và khôngthể giải quyết được một cách nhanh chóng mà cần sự phối hợp, kiên trì và nỗlực của các quốc gia, các tổ chức trên toàn thế giới
Trang 39Hành động để chống lại lao động trẻ em có cơ sở từ pháp luật quốc tế
về lao động và chủ yếu trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Công ước
số 138 về tuổi lao động tối thiểu và Công ước số 182 về cấm và hành độngngay lập tức nhằm xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất của ILO.Chính sách của ILO được củng cố bởi những nỗ lực của cộng đồng quốc tế đểđạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, để vượt qua những trở ngạiđối với việc đạt được giáo dục cho mọi người và thực hiện Kế hoạch toàn cầuhành động phù hợp để loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
Mục đích trước tiên của việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em làloại bỏ các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em Đây là mục tiêu cần ưutiên hành động ngay lập tức, được xác định trong Công ước của ILO về cáchình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em năm 1999 (số 182) Để thực hiệnđược mục tiêu này, cần xác định những công việc gây tổn hại về thể chất, tâm
lý, nhận thức, đạo đức và không thể chấp nhận được với trẻ em và đưa ra cácbiện pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật, về chính sách kinh tế, xã hội có liênquan, đồng thời xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm đảm bảothực thi hiệu quả các biện pháp trên
Mục đích tiếp theo là bảo vệ trẻ em lao động khỏi những tác động xấu.Điều này cần thiết có một hệ thống pháp luật quy định rõ ràng về cơ chế quản
lý lao động trẻ em, các tiêu chuẩn về lao động trẻ em như độ tuổi tối thiểu,điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi… Đây là những biệnpháp trước tiên có thể giúp kiểm soát và ngăn ngừa lao động trẻ em
Bên cạnh đó, cần tiến hành các biện pháp hỗ trợ như nâng cao giáo dụccho trẻ em, chính sách xóa đói giảm nghèo Bậc giáo dục cơ sở cần đượcmiễn phí ở tất cả các quốc gia, cần cải thiện hệ thống giáo dục một cách triệt
để, từ cơ sở hạ tầng tới chất lượng giáo dục, cắt giảm chi phí đào tạo nhằmtăng tỷ lệ trẻ em được tới trường Trẻ được tới trường thay vì phải tham gia
31
Trang 40làm việc, trẻ cũng được giáo dục những kiến thức cơ bản, học nghề, tậpnghề… Đây là biện pháp không chỉ giúp giảm thiểu, ngăn ngừa lao động trẻ
em mà còn giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia trong tươnglai Chính sách xóa đói giảm nghèo được thực hiện tốt cũng làm giảm mộtcách đáng kể tình trạng lao động trẻ em vì đây là một trong những nguyênnhân chính của tình trạng này
Mục đích lâu dài của việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em làkhông còn lao động trẻ em trên toàn thế giới Đây là mục đích cộng đồngquốc tế đều đang hướng tới và được nêu ra ngay tại điều 1 Công ước số 138của ILO Trẻ em không còn phải tham gia làm việc với thời gian kéo dài,trong những môi trường độc hại làm ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ Cácquyền cơ bản của trẻ cũng được đảm bảo: quyền được học tập, quyền vuichơi, giải trí… Tuy nhiên, thực sự rất khó khăn và mất nhiều thời gian cùng
nỗ lực mới có thể đạt được mục tiêu này
Để đạt được các mục đích kể trên, cần có sự phối hợp giữa các chínhphủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội dân sự và cả các cá nhân trên toànthế giới, trong đó đặc biệt quan trọng là vai trò của chính phủ
Đối với cộng đồng, quốc gia: Ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em có