Tình hình nghiên cứu Để các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm thật sự lành mạnh,tạo tiền đề cho sự phát triển không ngừng đi lên của thị trường bảo hiểm ViệtNam thì trước tiên đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan Hương
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Thị Hồng Nhung
Trang 4Chương 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG
KINH DOANH BẢO HIỂM
bảo hiểm
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG
LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
bảo hiểm tại Việt Nam2.1.1 Pháp luật về các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cạnh
tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm 2004
doanh bảo hiểm
doanh bảo hiểm tại Việt Nam
Trang 52.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
về cạnh tranh và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện hành
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN
THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
trong lĩnh vực kinh danh bảo hiểm
kinh doanh bảo hiểm
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
thuận hạn chế cạnh tranh
không lành mạnh trong luật cạnh tranh và luật kinh doanhbảo hiểm
kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnhvực kinh doanh bảo hiểm
KÊT LUÂN
́́
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm
KDBH : Kinh doanh bảo hiểm
CTKLM : Cạnh tranh không lành mạnhWTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
2.1 Các hình thức xử lý vi phạm đối với thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh2.2 Thống kê các vụ hạn chế cạnh tranh trong giai đoạn
2006-20122.3 Thống kê các vụ hạn chế CTKLM trong giai đoạn 2006-2012
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, có thể nhận thấy hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH)tại Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, không chỉ ở sự gia tăng số lượng cácdoanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) mà điều này còn biểu hiện ở tốc độ tăng trưởngdoanh thu của toàn thị trường Nếu như năm 1999 mới chỉ có 10 DNBH hoạtđộng thì đến cuối năm 2010, trên thị trường đã có 29 DNBH phi nhân thọ và 12DNBH nhân thọ, 11 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 01 doanh nghiệp tái bảohiểm Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước tính cả năm 2010 đạt khoảng 30.201 tỷđồng (đạt tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm/GDP khoảng 1,7%), trong đó doanhthu phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 16.547 tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểmnhân thọ khoảng 13.654 tỷ đồng Tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểmước khoảng 11.347 tỷ đồng đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ chức, cánhân không may gặp rủi ro, qua đó góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xãhội [35] Quá trình phát triển của thị trường bảo hiểm trong nước đã cho thấy sựcạnh tranh gay gắt giữa các DNBH trong việc tăng trưởng doanh thu và chiếmlĩnh thị trường
Bên cạnh đó, hiện nay các cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) trong lĩnh vực bảo hiểm đã có hiệu lực, cùng với sự ra đời của Luậtsửa đổi Luật KDBH năm 2010 cho phép các DNBH nước ngoài sẽ được phépcung cấp các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm vàmôi giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảohiểm và đặc biệt là được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà không cần thành lậppháp nhân tại Việt Nam Như vậy, các cam kết WTO trong lĩnh vực bảo hiểm
đã dần dần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp lý, và đồng nghĩa với đó,
Trang 9thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ chịu tác động cả về quy mô, chất lượng,cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ ngày càng trở lên gay gắt.
Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh là tất yếu, là bản chất,cạnh tranh giữa các nhà cung cấp sẽ giúp người mua có sự thể lựa chọn đượcsản phẩm tốt hơn, rẻ hơn Đây là điều được khuyến khích và là động lực pháttriển kinh tế, phát triển doanh nghiệp Thế nhưng, trên thực tế đối với một lĩnhvực đặc thù như bảo hiểm thì sự cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm thờigian qua bên cạnh những mặt tích cực còn có rất nhiều vấn đề cần phải bànđến, một trong những vấn đề nổi cộm đó là thực trạng bùng nổ của nhữnghành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM), những hành vi hạn chế cạnhtranh có ảnh hưởng xấu đến thị trường tài chính nói chung và thị trường bảohiểm nói riêng
Một trong những vụ việc liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vựcKDBH nổi lên thời gian qua phải kể đến vụ việc ngày 29/07/2010 Hội đồngcạnh tranh đã ra quyết định số 14/QĐ-HĐXL về việc xử lý vụ việc cạnh tranhKNCT-HCCT-009 đối với 19 doanh nghiệp bảo phi nhân thọ vì hành vi ấnđịnh phí bảo hiểm đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới được coi là hành vithỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định củaLuật Cạnh tranh Theo đó, 19 DNBH tham gia ký kết thỏa thuận này đã bị Hộiđồng cạnh tranh xử phạt bằng hình thức phạt tiền Ngoài ra, ngay trong quyếtđịnh xử lý vụ việc, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng đưa ra một số cáckiến nghị, trong đó có kiến nghị ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền,phổ biến pháp luật về cạnh tranh, các cơ quan nhà nước có liên quan phảihoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về KDBH phù hợpvới tình hình mới về cam kết của Việt Nam khi gia nhập các điều ước quốc tế,trong đó có cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Có thểnhận thấy, chưa có thời điểm nào việc nghiên cứu đồng bộ các quy định vềcạnh tranh cũng như bảo hiểm để hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh
Trang 10liên quan đến bảo hiểm lại đặt ra cấp thiết như thời điểm hiện nay Xuất phát
từ thực tế này, đề tài nghiên cứu "Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam" được người viết lựa chọn làm luận văn
thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Để các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm thật sự lành mạnh,tạo tiền đề cho sự phát triển không ngừng đi lên của thị trường bảo hiểm ViệtNam thì trước tiên đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý cơ bản đầy đủ và đồng bộlàm tiền đề hoạt động kinh doanh mang tính cạnh tranh của các DNBH, đồngthời phải xác định rõ được các hành vi hạn chế cạnh tranh, CTKLM chủ yếucủa thị trường này cũng như các chế tài pháp lý để xử lý nghiêm các hành vi
vi phạm
Cùng với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004, các quy phạm phápluật liên quan đến cạnh tranh cũng đã dần được cụ thể hóa vào từng lĩnh vực
cụ thể của nền kinh tế, trong đó có hoạt động KDBH Trong thời gian vừa qua
đã có rất nhiều các bài viết phản ánh trên các tạp chí về hoạt động cạnh tranh
và các hành vi CTKLM trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt trong giaiđoạn vụ việc xử lý hành thỏa thuận ấn định về phí bảo hiểm vật chất xe đượccoi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như đã nói ở trên được Hội đồng xử lý vụviệc cạnh tranh đưa ra xem xét, xử lý Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu
tổng quan mang tính chuyên sâu hơn như nghiên cứu về "Những hành vi hạn
chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Đình Quang, Nguyễn Bá Linh - Tổng Công ty Bảo
hiểm Bảo Việt; hay tác giả Thanh Hương với nghiên cứu tổng hợp "Thực
trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm tại Việt Nam và một số kiến nghị đối với các bên liên quan trên thị trường" Tuy nhiên, các
nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc xem xét các hành vi CTKLM phổ biếncủa thị trường bảo hiểm mà các doanh nghiệp thường sử dụng để tăng trưởng
Trang 11doanh thu, thị phần, chưa có sự xem xét, đánh giá toàn diện với các quy địnhcủa pháp luật về cạnh tranh cũng như đánh giá được mức độ tương đồng, phùhợp của pháp luật về bảo hiểm với các quy định liên quan đến pháp luật vềcạnh tranh hiện hành Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật về cạnhtranh trong lĩnh vực KDBH mang tính tổng thể hiện nay là cần thiết.
Dựa trên thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm Việt Nam hiệnnay và nhìn nhận hành vi cạnh tranh này dưới góc độ pháp luật, trong sựtương đồng với các ngành luật có liên quan khác, người viết chọn đề tài
"Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam"
làm luận văn với hy vọng có thể tìm hiểu sâu rõ hơn về các đặc thù của sảnphẩm bảo hiểm và thị trường bảo hiểm, các vấn đề pháp lý hiện hành điềuchỉnh hành vi cạnh tranh trong hoạt động KDBH của thị trường bảo hiểm ViệtNam, những vướng mắc, bất cập trong các quy định hiện hành, đồng thời đưa
ra các đề xuất để hoàn thiện các quy định của pháp luật về cạnh tranh tronglĩnh vực bảo hiểm, đưa ra các kiến nghị có liên quan để thúc đẩy sự cạnhtranh lành mạnh, phát triển đi lên của thị trường trong quá trình hội nhập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về bảohiểm, các quy định của pháp luật thực định về cạnh tranh trong lĩnh vực bảohiểm, thực tế hoạt động cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam …luậnvăn nhằm mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiệnkhung pháp luật điều chỉnh các quan hệ về cạnh tranh trong lĩnh vực bảohiểm, đồng thời đề xuất các giải pháp khác nhằm thúc đẩy cho sự phát triển vàcạnh tranh lành mạnh của thị trường bảo hiểm Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và ý
nghĩa của cạnh tranh và những vấn đề chung về bảo hiểm, tính đặc thù của
Trang 12sản phẩm bảo hiểm Đây chính là cơ sở cần thiết cho việc nhìn nhận các hành
vi cạnh tranh trong thực tế phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam;
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích các vấn đề pháp lý hiện hành điều
chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm và thực tiễn cạnh tranhtrên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay;
Thứ ba: Căn cứ vào cơ sở lý luận và các các phân tích nêu trên, luận
văn sẽ đưa ra những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật vềcạnh tranh và pháp luật về KDBH trong việc điều chỉnh hoạt động cạnh tranhtrong lĩnh vực bảo hiểm, đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằmhoàn thiện các quy định của pháp luật trong hoạt động cạnh tranh để góp phầnthúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một bản luận văn thạc sĩ với một đề tài mới, với khảnăng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế công trình nghiêncứu này chưa thể bao quát hết được các vấn đề pháp lý về hoạt động cạnhtranh trong lĩnh vực KDBH mà chỉ dừng lại ở những tiếp cận, đánh giá banđầu trên cơ sở thực tế các hành vi cạnh tranh phổ hiển hiện nay trên thị trườngbảo hiểm Giới hạn trong phạm vi đề tài này, luận văn tập trung vào việcnghiên cứu các hành vi liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành
vi CTKLM trong hoạt động KDBH phi nhân thọ vì đây là lĩnh vực tập trung nhiều vấn đề liên quan đến cạnh tranh nhất trong thời gian vừa qua
Luận văn cũng đưa ra đánh đánh giá một cách tổng quát dưới góc độpháp lý về sự tương đồng giữa Luật Cạnh tranh và Luật KDBH trong việcđiều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH
Trên cơ sở đó luận văn cũng đưa ra một số gợi ý và đề xuất để hoànthiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảohiểm và đảm bảo cho khung pháp luật đó được khả thi trên thực tế
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp song song với các phương pháptổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, sơ đồ
Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm bảo hiểm, bảnchất và những đặc thù của bảo hiểm, khái niệm về cạnh tranh, bản chất và ýnghĩa của cạnh tranh, làm rõ thực trạng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam vềhoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm
Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng để làm rõ sự phát triểncủa thị trường bảo hiểm Việt Nam, hệ thống các hành vi được xem làCTKLM, hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm Ngoài ra, luận văncũng sử dụng các bảng biểu, số liệu thống kê để phân tích, chứng minh cácnội dung liên quan
Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóanhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn có những đóng góp khoa học như sau:
a) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh trong lĩnh vực bảohiểm, khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật vềcạnh tranh trong lĩnh vực KDBH
b) Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về cạnh tranh vàcạnh tranh trong lĩnh vực KDBH, những điểm hạn chế, bất cập trong thực tiễn
áp dụng pháp luật điều chỉnh về hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH tạiViệt Nam,
c) Đưa ra một số ý kiến và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về cạnh tranh trong hoạt động KDBH
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm và thị trường bảo hiểm,
pháp luật về cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện các quy
định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Trang 15Chương 1
KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT
VỀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1 KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA CẠNH TRANH
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một kháiniệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm cạnh tranh được sử dụng rấtrộng ở nhiều phạm vi khác nhau như trong phạm vi doanh nghiệp, phạm vingành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi liên quốc gia…và điểm khác nhau làmục tiêu đặt ra của việc cạnh tranh này như thế nào Nếu như ở phạm vi quốcgia, mục tiêu đặt ra là nâng cao mức sống và các chế độ phúc lợi cho nhândân thì đối với doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng là tồn tại và tìm kiếm lợinhuận và các lợi ích tối đa mang lại quá trị cho doanh nghiệp
Theo Các Mác thì "cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất vàtiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [Dẫn theo 50] Nghiêncứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩaMac đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quyluật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thốnggiá cả thị trường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phísản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vân thuđược lợi nhuận
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì:
Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữanhững người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu,nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất[Dẫn theo 50]
Trang 16Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa ó một định nghĩa là về "cạnhtranh" được thừa nhận đầy đủ nhất Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiềugóc độ khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích của các nhà khoa học.
Tiếp cận dưới góc độ hàng hóa, thị trường có thể định nghĩa: Cạnh
tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận,đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Cạnh tranh vốn được xem là động lực của sự phát triển và ý nghĩa củacạnh tranh được thể hiện rõ xét dưới các góc độ sau:
Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: Trên bình diện
toàn bộ nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy pháttriển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả thông qua việc kích thíchcác doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất cũng như hạn chế đượccác méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệuquả và nâng cao phúc lợi xã hội
Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanhnghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao Tuy nhiên, cạnh tranh ở đâyphải là cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng pháttriển, cùng đi lên thì mới có thể làm cho nền kinh tế phát triển bền vững.CTKLM sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó sẽ tạo ra môi trường kinhdoanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền và lợi ích kinh tế trong
xã hội, làm cho nền kinh tế có thể dẫn đến mất ổn định Như vậy, cạnh tranh
là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần
Trang 17kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bấthợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh.
Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường, nếu sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra càng gay gắt thì người được hưởnglợi ích đầu tiên chính là người tiêu dùng Cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộngrãi hơn, bảo đảm cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặtgiá cả tùy tiện Khi đó, những lợi ích mà người tiêu dùng có thể nhận được từ
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường như chất lượng sản phẩmtốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn
Vai trò của cạnh tranh đối với các doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị
trường, cạnh tranh là điều tất yếu đối với các doanh nghiệp Cạnh tranh đòihỏi các doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng Cạnhtranh trở thành động lực khuyến khích các doanh nghiệp phải áp dụng cáccông nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng cóhiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng dịch
vụ, cải tiến mẫu mã để tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranhcao trên thị trường
Vai trò của cạnh tranh trên bình diện quốc tế: chính cạnh tranh đã thúc
đẩy các doanh nghiệp mở rộng tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu thụ, đầu
tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản lý trênthị trường quốc tế Thông qua cạnh tranh quốc tế các doanh nghiệp thấy đượclợi thế so sánh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựngcác chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế Như vậy, cạnhtranh góp phần thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra khu vực và thếgiới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham giasâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưuvốn lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới
Trang 18Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại tấtyếu khách quan của cạnh tranh và coi cạnh tranh là động lực của sự phát triểnkinh tế - xã hội Cạnh tranh lành mạnh được các nước ủng hộ và khuyến khíchphát triển bằng cách pháp lý hóa chúng trong các đạo luật về chống độc quyền
và bảo vệ cạnh tranh
1.2 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanhhàng ngày, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn cónguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra Chính sự tồn tại của các loại rủi
ro chính là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự trữ, bảo hiểm ngày nay Bảohiểm là một hoạt động dịch vụ nhằm xây dựng Quỹ bồi thường chung từ sựđóng góp của những người tham gia bảo hiểm có những rủi ro và nhu cầu bảohiểm giống nhau để được Quỹ bồi thường chi trả khi xảy ra những sự kiện, rủi
ro, thiên tai, tai nạn bất ngờ kém may mắn gây thiệt hại cho những ngườitham gia bảo hiểm Bảo hiểm chính là biện pháp chia sẻ rủi ro của một ngườihay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi rocùng loại bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vàomột quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộngđồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra Bảo hiểm được xem như làmột cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thểsang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm
Bảo hiểm đã ra đời rất lâu trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay, bảohiểm là một lĩnh vực đang ngày một phát triển với tốc độ tăng trưởng trungbình hàng năm khá cao, tăng trưởng trong giai đoạn 2005-2009 là 16,99%,giai đoạn 2010 - 2012 vào khoảng gần 12% [35] Tuy nhiên, do tính đặc thùcủa dịch vụ này, hiện nay chưa có bất cứ một định nghĩa nào được coi và đượccông nhận là định nghĩa chính thức về bảo hiểm
Trang 19Theo Dennis Kessler thì "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sựbất hạnh của số ít" [10] hay theo quan điểm khác thì:
Bảo hiểm là hình thức mà người được bảo hiểm cam kết gópmột khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn chomình hoặc một bên thứ 3 nhận được đền bù được chi trả bởi ngườibảo hiểm (đơn vị đứng ra nhận trách nhiệm với toàn bộ rủi ro vàđứng ra đền bù các thiệt hại mà mình cam kết với người được bảohiểm) khi xảy ra các tổn thất, thiệt hại [10]
Theo định nghĩa của Tập đoàn AIG của Mỹ thì:
Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, mộtdoanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công tybảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm cáctổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữatất cả những người được bảo hiểm [10]
Có thể nói các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặcthiên về góc độ kinh tế - kỹ thuật, chưa phải là một khái niệm bao quát vàhoàn chỉnh nhất về bảo hiểm Dưới góc độ pháp lý, có thể tìm thấy định nghĩacủa Monique Gaullier như sau:
Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người đượcbảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiệnmong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợpxảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trảbởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận tráchnhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phươngpháp của thống kê [39]
Theo quy định tại Điều 3 Luật KDBH năm 2000 của Việt Nam thì:
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảohiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp
Trang 20nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểmđóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm chongười thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm [45]
Theo các nhà kinh tế bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợpnhất về bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảohiểm), sự hoán chuyển rủi ro, và thêm nữa phải bao gồm sự kết hợp số đôngcác đơn vị đối tượng riêng lẻ và độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau thànhmột nhóm tương tác
Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, có thể hiểu
như sau: Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm cho
người được bảo hiểm hoặc người thứ ba khi xảy ra các rủi ro, mất mát đối với đối tượng được bảo hiểm theo các điều kiện đã thỏa thuận trước trên cơ
sở người được bảo hiểm đóng phí bảo hiểm và việc bồi thường thiệt hại này
sẽ được xác định theo phương pháp của thống kê".
1.2.2 Vai trò của bảo hiểm
Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh rất phát triển
và dần trở thành một khái niệm quen thuộc trong đời sống xã hội Xem xétmối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quan chungvới sự phát triển ổn định của xã hội và của toàn nền kinh tế ở nhiều nước,nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò khôngthể thiếu của bảo hiểm đối với sự phát triển và ổn định của nền kinh tế Vai tròcủa bảo hiểm có thể được xem xét ở các khía cạnh sau:
* Thông qua việc giải quyết bồi thường, bù đắp thiệt hại và khắc phục tổn thất, bảo hiểm có tác dụng to lớn trong việc ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và ổn định xã hội
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất chính là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng chính xuất phát từ mục đích này dẫn đến sự ra đời của
Trang 21ngành bảo hiểm Khi nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi cótổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch
vụ tài chính đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trướckhi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảohiểm con người Với việc mua bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân đã chuyển rủi
ro của mình sang các Công ty Bảo hiểm Thông qua việc nhận phí bảo hiểm,rủi ro của các đối tượng được bảo hiểm sẽ được chuyển giao sang các Công tybảo hiểm hay nói các khác, hoạt động KDBH chính là kinh doanh các rủi rocủa DNBH Do thực hiện nguyên tắc lấy số đông bù số ít nên hoạt động bảohiểm tập trung được một lượng tiền khá lớn dùng để bù đắp những thiệt hại,mất mát về người và tài sản do các rủi ro, tai nạn bất ngờ xảy ra Thông quaviệc bồi thường tổn thất của DNBH, các cá nhân khắc phục được khó khăn vềtài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toànvốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất - kinh doanh không bị gián đoạn dẫn đếnphá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề
* Tạo tâm lý an toàn cho cuộc sống và cho sản xuất kinh doanh của con người
Vai trò tạo tâm lý án toàn cho cuộc sống và cho sản xuất kinh doanhcủa con người chính là xuất phát từ bản chất, tác dụng bù đắp thiệt hại, khắcphục tổn thất của bảo hiểm như đã đề cập nêu trên Xã hội ngày càng pháttriển thì nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai của con người ngày càngcao Hiện nay, xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng đang dần xuất hiệnnhững rủi ro mới mà con người không thể lường trước hết được, ngoài nhữngrủi ro thiên nhiên là những rủi ro liên quan đến chính trị, xã hội, kinh tế hếtsức phức tạp Với mục đích chình là bù đắp tổn thất, bảo hiểm chính là mộtgiải pháp hữu hiệu tạo tâm lý an tâm cho sản xuất kinh doanh và cho cuộcsống của con người
Trang 22* Góp phần kiểm soát rủi ro, tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Việc kiểm soát rủi ro, tăng cường công tác đề phòng để hạn chế tổnthất của các DNBH được thực hiện song song với quá trình hoạt động của cáccông ty bảo hiểm và được thể hiện qua một số nội dung sau:
Về phía các DNBH: Dựa trên cơ sở các rủi ro hàng năm, các tổ chức
KDBH sẽ tiến hành thống kê, nghiên cứu và đánh giá các rủi ro, từ đó xácđịnh nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tổn thất Trên cơ sở đó,các tổ chức bảo hiểm sẽ đề xuất biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất nhằmgiảm đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Việc các công ty bảohiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảmbớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọnghơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinhthần khi xảy ra tổn thất
Về phía người tham gia bảo hiểm: Song song với việc đánh giá rủi ro đối
với đối tượng được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các cánhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sảncủa chính mình Người tham gia bảo hiểm muốn được hưởng quyền lợi bồithường khi có tổn thất xảy ra, bên cạnh trách nhiệm đóng phí, họ còn phải thựchiện trách nhiệm đề phòng và hạn chế tổn thất Nếu người tham gia bảo hiểmthực hiện không tốt công tác bảo vệ và phòng tránh tổn thất do đối tượng bảohiểm thì khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm có thể không bồi thường cho tổnthất hoặc giảm mức bồi thường Điều này phù hợp với nguyên tắc hoạt động củabảo hiểm: bảo hiểm không có nghĩa là trút hết trách nhiệm cho người bảo hiểm
* Là kênh huy động và sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo nguồn vốn lớn để đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực khác
Như đã phân tích nêu trên, bảo hiểm chính là một hoạt động nhằm xâydựng quỹ bồi thường chung thông qua việc thu phí bảo hiểm từ những người
Trang 23tham gia bảo hiểm có những rủi ro và nhu cầu giống nhau để được chi trả khi
có những tổn thất, rủi ro bất ngờ xảy ra cho người tham gia bảo hiểm Tuynhiên, số tiền này không phải sẽ chỉ được dùng và sử dụng cho mục đích chitrả các rủi ro xảy ra đối với người được bảo hiểm mà sẽ được các DNBH sửdụng để tái đầu tư trở lại nền kinh tế Các công ty bảo hiểm chính là định chếtài chính không thể thiếu trong nền kinh tế Thông qua các hợp đồng bảo hiểm
và việc thu phí bảo hiểm, các Công ty bảo hiểm đã tập trung được lượng tiềnphân tán rải rác thành các quỹ tiền tệ lớn Quỹ bảo hiểm này đã trở thành mộtđịnh chế tài chính trung gian trên thị trường vốn
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật cũng đã quy định khá rõ về các lĩnhvực các DNBH được đầu tư trở lại nền kinh tế cũng như hạn mức đầu tư.Theo các quy định hiện hành của luật thì DNBH được sử dụng vốn nhàn rỗi
để đầu tư trong các lính vực như: kinh doanh bất động sản, đầu tư trái phiếuChính phủ, góp vốn vào các doanh nghiệp khác
1.3 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
Để quản lý việc cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và trong lĩnhvực KDBH nói riêng, nhà nước sẽ dùng nhiều cách thức, biện pháp, trong đópháp luật sẽ được sử dụng như một công cụ đầu tiên để tạo ra hành lang pháp
lý cho các doanh nghiệp hoạt động và cạnh tranh trên thị trường Như vậy,
pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH có thể được định nghĩa là khung
pháp luật quy định và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm được cạnh tranh một cách tự
do, công bằng bằng cách quy định và xử lý nghiêm các hành vi có tính chất phản cạnh tranh.
Đối với các chủ thể kinh doanh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, tronghoạt động có liên quan đến tính cạnh tranh của mình sẽ phải tuân thủ các quyđịnh của pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực hoạt động của mình, đồng
Trang 24thời với đó, phải tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan đến cạnh tranh.Hiện nay tại Việt Nam, các quy định liên quan đến vấn đề cạnh tranh tronglĩnh vực KDBH được quy định trong Luật cạnh tranh số 27/2004/QH11 vàLuật KDBH số 24/2000/QH10 và Luật sửa đổi Luật KDBH số 61/2010/QH12cùng với các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành.
* Về quy định của Luật Cạnh tranh
Pháp luật về cạnh tranh nói chung và CTKLM nói riêng là lĩnh vựcpháp luật đang còn khá mới mẻ ở Việt Nam cả về mặt pháp luật thực định vàtrong khoa học pháp lý Trong khi đó pháp luật về cạnh tranh trong quan hệkinh doanh, thương mại quốc tế đã có lịch sử hình thành từ lâu đời, do đó việcViệt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO đãđặt ra nhiệm vụ mới là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nóichung và pháp luật về cạnh tranh nói riêng
Năm 1997 lần đầu tiên Luật Thương mại ra đời, đây là đạo luật đầutiên quy định về quyền cạnh tranh của thương nhân mặc dù phạm vi điềuchỉnh chủ yếu của luật này là điều chỉnh các hành vi thương mại của cácthương nhân Tại Điều 8 Luật Thương mại 1997 quy định: "Thương nhânđược cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động thương mại, nghiêm cấm các hành
vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và các hành vi sau đây " Điều
9 liệt kế các hành vi CTKLM trong hoạt động thương mại Sau đó các văn bảndưới luật khác được ban hành để hướng dẫn luật thương mại trong một số lĩnhvực về quảng cáo, khuyến mại, sở hữu trí tuệ…cũng có quy định điều chỉnhcác hành vi CTKLM Đến 03/12/2004 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI đãthông qua Luật Cạnh tranh và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 Đây là bướcđánh dấu về việc cạnh tranh trở thành một chế định quan trọng trong hệ thốngpháp luật Việt Nam
Cùng với sự ra đời của Luật Cạnh tranh, hệ thống các văn bản dưới luật cũng ra đời để hướng dẫn cụ thể, chi tiết các nội dung của luật, bao gồm:
Trang 25- Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh;
- Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
Để tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật cạnh tranhđược nhấn mạnh như một công cụ quan trọng hàng đầu Chính sách cạnhtranh là bộ phận không thể thiếu của nền tảng pháp lý đảm bảo cho một nềnkinh tế thị trường vận hành trôi chảy Pháp luật cạnh tranh có nhiệm vụ ngănngừa và xử lý những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức và tậpquán kinh doanh của các doanh nghiệp Những nội dung điều chỉnh chínhtrong pháp luật cạnh tranh của Việt Nam bao gồm:
+ Pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh: Hạn chế cạnh
tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trênthị trường Đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật quy định vềcác hành vi như thế nào là hạn chế cạnh tranh, những hành vi nào bị cấm tuyệtđối và những hành vi bị cấm nhưng có những trường hợp được miễn trừ (cóthời hạn và không có thời hạn) khi đạt những điều kiện nhất định và các hìnhthức xử lý của pháp luật đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh
+ Pháp luật chống CTKLM: quy định về những hành vi cạnh tranh của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường
về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêudùng và cách thức xử lý đối với những hành vi này Mọi hành vi CTKLM đều
bị cấm tuyệt đối, không có sự miễn trừ và chống lại sự CTKLM là một quyềnpháp lý của người kinh doanh
+ Pháp luật về tố tụng cạnh tranh: Đây là nhóm các quy phạm pháp
luật quy định về hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tụcgiải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật
Trang 26* Về các quy định của luật KDBH
Luật KDBH ra đời trước Luật Cạnh tranh và ngay khi chưa có sự rađời của Luật Cạnh tranh, các quy định để bảo đảm cho một thị trường bảohiểm phát triển bình đẳng, lành mạnh đã được ghi nhận trong Luật KDBH vàđược củng cố, bổ sung trong các văn bản sửa đổi, hướng dẫn thi hành luật saunày Các quy định chuyên ngành hiện hành trong lĩnh vực KDBH hiện naygồm:
- Luật sửa đổi Luật KDBH số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2000;
- Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KDBH;
- Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ về việc quy định chế độ tài chính đối với DNBH và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
- Nghị định 123/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật KDBH và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CPngày 27/03/2007;
- Nghị định 98/2013/NĐ-CP ngày 28/08/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh xổ số
- Thông tư 124/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thihành một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chínhphủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBH và Nghị định123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH;
- Thông tư 125/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫnchế độ tài chính đối với DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môigiới bảo hiểm và chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài;
Trang 27- Các văn bản pháp luật có liên quan khác.
Như vậy, có thể nói các quy định của pháp luật liên quan đến KDBHtrên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay tương đối đầy đủ, trong đó baogồm cả các quy định về cạnh tranh trong hoạt động KDBH Hoạt động KDBHchịu sự giám sát chặt chẽ của nhà nước do bảo hiểm là một cấu phần của bộphận tài chính và có tính nhạy cảm cao DNBH chịu sự quản lý và giám sátchặt chẽ của nhà nước từ khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động Hiệnnay, các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực KDBH của Việt Nam có thể chiathành 4 nhóm, trong đó có những quy phạm gián tiếp góp phần đảm bảo khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp, có những nhóm quy phạm quy định trựctiếp tác động đến hoạt động cạnh tranh của danh nghiệp trên thị trường, cụ thểnhư sau:
+ Nhóm quy phạm quy định về tiêu chuẩn , điều kiêṇ hoaṭ đôngg̣ kinh doanh bảo hiểm
Mục đích của việc kiểm tra các tiêu chuẩn , điều kiêṇ hoaṭđôngg̣ kinh doanh bảo hiểm làlưạ choṇ những doanh nghiêpg̣ cóđủkhảnăng moịmăṭcho hoạt động kinh doanh và điều tiết sự phát triển của thị trường bảo hiểm theo mục tiêu nhất định Lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm có những yêu cầu rất cao vềnăng lưcg̣ tài chinh́ , trình đô g̣của người điều hành , bô g̣máy quản lýkinhdoanh, Những yêu cầu đócàng khắt khe trong điều kiêṇ hôịnhâpg̣ quốc tếvà toàn cầu hoá Quản lý, giám sát của Nhà nước sẽ cụ thể hoá các yêu cầu đó thông qua các quy điṇ h vềtiêu chuẩn , điều kiêṇ hoaṭđôngg̣ kinh doanh bảo hiểm trong luâṭpháp
Kiểm tra trước khi cấp giấy phép thành lâpg̣ vàhoaṭđôngg̣ kinh doanh bảo hiểm thực chất là xem xét việc đảm bảo các điều kiện tham gia thị trường theo luâṭđinḥ trên cơ sởthẩm đinḥ hồsơ xin cấp giấy phép thành lâpg̣ vàhoaṭ đôngg̣ Thông qua các tài liêụ , thông tin trong hồsơ xin cấp giấy phép , như danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực , trình độ chuyên môn ,
Trang 28nghiêpg̣ vu g̣của người quản tri ,g̣người điều hành doanh nghiêpg̣; phương án hoaṭđôngg̣ 5 năm đầu , trong đócóphương thức trich́ lâpg̣ dư g̣phòng nghiêpg̣ vu g̣ ,chương trinh̀ tái bảo hiểm , đầu tư vốn , hiêụ quảkinh doanh , khả năng thanhtoán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanhnghiêpg̣; mưc vốn gop va phương thưc gop vốn , danh sach nhưng tổchưc , cá
+ Nhóm quy phạm về quản lý, giám sát trong quá trình hoạt động
Trên cơ sở thẩm định các điều kiện cần thiết , doanh nghiệp sẽ được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động Mọi sự sửa đổi, bổsung như là: đổi tên doanh nghiêpg̣; tăng giảm mức vốn điều lê g̣; mởhoăcg̣ chấm dứt hoaṭđôngg̣ của chi nhánh ; thay đổi điạ điểm đăṭtru g̣sở ; thay đổi nôịdung vàthời haṇ hoaṭ đôngg̣; chuyển nhươngg̣ cổphần , phần vốn góp ; thay đổi người lanhh̃ đaọ , điều
hành; chia tách , sáp nhập , hơpg̣ nhất , giải thể , chuyển đổi hinh̀ thức doanh nghiêpg̣ đều phải đươcg̣ sư g̣chấp thuâṇ của cơ quan quản lýnhànước vềbảo hiểm thông qua viêcg̣ cấp giấy phép điều chỉ nh Bên canḥ viêcg̣ quản lý, giám sát việc chấp hành các quy định trong giấy phép kinh doanh ; các quy tắc, điều
khoản, biểu phíbảo hiểm đa h̃đăng ký, phê chuẩn; các quy định của pháp luật vềkhai thác bảo hiểm , trả hoa hồng bảo hiểm , bảo hiểm bắt buộc , tái bảo hiểm, chuyển giao hơpg̣ đồng bảo hiểm , , vấn đềphức tapg̣ vàquan trongg̣ bâcg̣ nhất trong quản lý, giám sát của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm làgiám sát tài chinh́ đối với doanh nghiêpg̣ bảo hiểm
Giám sát tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm phải được thực hiệntrên nhiều măṭ Trong quátrinh̀ hoaṭđôngg̣ , doanh nghiêpg̣ bảo hiểm phải löônduy trìkhảnăng thanh toán trước các trách nhiê g̣ m đa h̃vàcóthểphát sinh từ
Trang 29những hơpg̣ đồng bảo hiểm đa h̃kýkết Kỹ thuâṭbảo hiểm đòi hỏi các doanhnghiêpg̣ phai trich lâpg̣ nhiều loaịdư g̣phong nghiêpg̣ vu g̣ Thưcg̣ tế, mưc trich lâpg̣
và pháp luật Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Đảm bảo an toàn tài chínhtrong hoạt động kinh doanh cũng chính là góp phần đảm bảo cho khả năngcạnh tranh của các DNBH
+ Nhóm quy phạm pháp luật liên quan đến giám sát viêcg̣ chia tách , hơpg̣ nhất, sáp nhập, giải thể và phá sản doanh nghiệp bảo hiểm
Chia tách , hơpg̣ nhất , sáp nhập , giải thể và phá sản doanh nghiệp lànhững hiêṇ tươngg̣ rất dê h̃phát sinh trong kinh tếthi trượ̀ng Pháp luật KDBH
đã có những quy định cụ thể đam bao viêcg̣ tach, nhâpg̣, giải thể, phá sản đó tiến
́̉
hành đúng theo quy định của pháp luật
hiểm phai đi đôi vơi viêcg̣ phân đinḥ ro rang tai san , quyền lơị và nghĩa vụ của
́̉
các doanh nghiệp bảo hiểm mới
nhâpg̣ doanh nghiêpg̣ bao hiểm phai diêñ ra đồng thơi vơi viêcg̣ hơpg̣ nhất
nhâpg̣ vềtài sản vàcác quyền lơị, nghĩa vụ của các doanh nghiêpg̣ bảo hiểm có liên quan, để kiểm soát các hành vi cạnh tranh của DNBH
+ Nhóm quy phạm pháp luật liên quan đến xửlývi phaṃ pháp luâṭ kinh doanh bảo hiểm
Sư g̣phức tapg̣ của các mối quan hê g̣trong hoaṭdôngg̣ kinh doanh bảo hiểm vàpháp luật kinh doanh bảo hiểm khiến lĩnh vực này tiềm ẩn nhiều khảnăng phat sinh cac hiêṇ tươngg̣ vi pham
́́
Trang 30pháp luật trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm rất đa dạng , như: kinh doanhhoăcg̣ hoaṭ đôngg̣ không đúng nôịdung ghi trong giấy phép thành lâpg̣ vàhoaṭđôngg̣; vi pham quy đinḥ vềchuyển giao hơpg̣ đồng bảo hiểm ; cạnh tranh bấthơpg̣ pháp ; ép buộc giao kết hợp đồng bảo hiểm trái pháp luật ; vi pham quyđinḥ vềbảo hiểm bắt buôcg̣ , tái bảo hiểm bắt buộc , hoa hồng bảo hiểm , dư g̣phòng nghiệp vụ, đầu tư vốn,
Tính phức tạp của ng uyên nhân vàhâụ quảvi pham buôcg̣ quản lýnhà
nước phải cóbiêṇ pháp vàhinh̀ thức xử lýthich́ ứng Và pháp luật KDBH cũng
đã có các quy định cụ thể về vấn đề này để xử lý các hành vi phản cạnh tranh,đảm bảo cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra một cách bình đẳng vàlành mạnh
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã chỉ rõ khái niệm và vai trò quan trọng củabảo hiểm đối với sự ổn định của đời sống xã hội Bên cạnh đó cũng làm rõkhái niệm cạnh tranh cũng như vai trò của cạnh tranh đối với sự phát triển củanền kinh tế nói chung và khái quát pháp luật điều chỉnh về cạnh tranh tronglĩnh vực KDBH Những nôịdung trên đây là cơ sở đầu tiên cho viêcg̣ nhinnhâṇ, đánh giáthưcg̣ tế pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH và thựctiễn áp dụng pháp luật trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, đươcg̣ trinh̀ bày trongchương 2 và các giải pháp đưa ra ởchương 3 dưới đây
Trang 31Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM
Nếu như Luật Cạnh tranh quy định các vấn đề chung liên quan đếncạnh tranh của các chủ thể trong nền kinh tế thì Luật KDBH với tư cách làluật chuyên ngành có các quy định liên quan đến cạnh tranh trong chính lĩnhvực thuộc phạm vi điều chỉnh Do vậy, nghiên cứu về thực trạng Luật Cạnhtranh trong KDBH cần phải nghiên cứu đồng thời cả các quy định của LuậtCạnh tranh và Luật KDBH có ảnh hưởng đến lĩnh vực KDBH tại Việt Nam
2.1.1 Pháp luật về các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm 2004
* Pháp luật về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004
- Khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Khoản 3, Điều 3 Luật Cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về hành vi hạnchế cạnh tranh: "là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnhtranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinhtế" [46] Như vậy, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được xác định là mộttrong ba nhóm hành vi cơ bản của hành vi hạn chế cạnh tranh
Mặc dù không có một khái niệm chung, thống nhất giữa các quốc gia
về - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tuy nhiên, từ thực tiễn thực thi pháp luật,
có thể thấy cách hiểu, cách tiếp cận đối với - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở
Trang 32các quốc gia có nhiều điểm tương đối đồng nhất Ở Châu Âu, thỏa thuận hạnchế cạnh tranh được quy định tại Điều 101 (Điều 81 cũ) của Hiệp ước thànhlập liên minh Châu Âu như sau:
Mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, quyết định của hiệp hộicác doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh hưởng đếnthương mại giữa các nước thành viên và có mục đích hoặc hệ quả ngăncản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy Luật Cạnh tranh trên thị trường củaliên minh, đều bị coi là đi ngược lại với mục đích thành lập thị trườngchung và bị cấm [2]
Tại Nhật Bản, khoản 6, Điều 2, Luật Chống độc quyền quy định:Hạn chế thương mại bất hợp lý là các hoạt động kinh doanh màthông qua đó bất kỳ doanh nghiệp nào bằng hợp đồng, thỏa thuận haybất kỳ các hoạt động thông đồng khác, không phụ thuộc tên gọi, cùnghạn chế hay tiến hành các hoạt động kinh doanh của họ theo cách thức
cố định giá, duy trì giá hay tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất, côngnghệ, sản phẩm, cơ sở sản xuất hay khách hàng hoặc giao dịch của cácđối tác, gây ra hạn chế đáng kể đối với cạnh tranh trong lĩnh vựcthương mại, đi ngược lại lợi ích chung [26]
Khác với Luật Cạnh tranh của Châu Âu và Nhật Bản, Luật Cạnh tranhcủa Việt Nam không đưa ra khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh màquy định cụ thể về 8 dạng thức (hành vi) thỏa thuận, bao gồm:
1 Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
2 Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
3 Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ;
Trang 334 Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
5 Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện kýkết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệpkhác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đốitượng của hợp đồng;
6 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
7 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
8 Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ [46]
Như vậy, Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng như của các quốc gianêu trên đều không phân biệt hình thức thỏa thuận (công khai hay ngầm) vàđều nhắm vào mục đích/hệ quả hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận Tuy nhiên,
từ các cách tiếp cận điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, có thểthấy rằng Luật Cạnh tranh Việt Nam hiện hành sử dụng cách tiếp cận đối vớithỏa thuận hạn chế cạnh tranh hẹp hơn so với tiếp cận của Châu Âu và NhậtBản, trên một số phương diện sau:
+ Ở Việt Nam, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bao hàm thỏa thuậngiữa các doanh nghiệp, không bao hàm các quyết định của Hiệp hội doanhnghiệp hay các hành vi liên kết khác như ở Châu Âu và Nhật Bản [7] Chínhbởi cách tiếp cận này, Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã không xem xét vai tròcủa các hiệp hội trong các vụ việc liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh
+ Xuất phát từ cách tiếp cận liệt kê hành vi, ở Việt Nam, ngoài 8 dạngthỏa thuận được luật hóa tại Điều 8 của Luật, các hạn chế thương mại
Trang 34bất hợp lý khác hay các hành vi liên kết, thông đồng khác mặc dù có mục đíchhoặc hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy Luật Cạnh tranh trên thịtrường nhưng nếu không thuộc 8 dạng thỏa thuận được liệt kê sẽ không bị coi
là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và không bị xem xét
- Về các quy định cấm
Các quy định cấm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được đề cậptại Điều 9 Luật Cạnh tranh Theo đó, các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnhtranh bị cấm đoán ở hai mức độ: cấm tuyệt đối (trong mọi trường hợp) và cấmkhi thị phần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quanchiếm từ 30% trở lên Mặc dù vậy, căn cứ các quy định hiện hành, có thể thấyrằng Luật Cạnh tranh của Việt Nam sử dụng nguyên tắc vi phạm mặc nhiênkhi đánh giá các hành vi thỏa thuận
+ Quy định cấm tuyệt đối (Khoản 1, Điều 9 Luật Cạnh tranh): được ápdụng đối với các thỏa thuận quy định tại khoản 6; 7; 8, Điều 8, Luật Cạnhtranh, bao gồm (1) thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệpkhác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; (2) thỏa thuận loại bỏkhỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; (3)thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cungcấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ Theo cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh ViệtNam, ba loại thỏa thuận bị cấm tuyệt đối và không được miễn trừ luôn hàmchứa tính chất hạn chế cạnh tranh mà không có bất cứ một cơ sở nào để có thểbiện hộ về hiệu quả của chúng đối với thị trường Do đó, việc xác định hành
vi thỏa thuận bị cấm trong các trường hợp này không đòi hỏi phải chứng minh
về sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
+ Quy định cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợptrên thị trường liên quan từ 30% trở lên (Khoản 2, Điều 9 Luật Cạnh tranh)được áp dụng đối với các thỏa thuận quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, Điều 8Luật Cạnh tranh, bao gồm (1) thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ
Trang 35một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (2) thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ,nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; (3) thỏa thuận hạn chế hoặckiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; (4) thỏathuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; (5) thỏa thuận ápđặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa,dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liênquan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng [46].
Các thỏa thuận không thuộc ba trường hợp bị cấm tuyệt đối chỉ có thể
bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trên thịtrường liên quan từ 30% trở lên Việc xác định cấu thành hành vi thỏa thuận bịcấm trong những trường hợp này yêu cầu phải chứng minh hai yếu tố:
+ Nội dung của thỏa thuận thuộc các hình thức thỏa thuận được quy định tại khoản 1; 2; 3; 4 hoặc 5, Điều 8 Luật Cạnh tranh;
+ Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan phải chiếm từ 30% trở lên
Điều kiện khác biệt giữa hai mức độ cấm đoán là yêu cầu về mức thịphần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận Theo cách tiếp cận của các nhàlàm luật Việt Nam, thị phần là cơ sở để xác định khả năng chi phối của doanhnghiệp đối với thị trường Theo Luật Cạnh tranh, mức thị phần trên thị trườngliên quan từ 30% trở lên đã có thể trao cho doanh nghiệp sức mạnh thị trường,
là khả năng tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ
mà họ bán hoặc mua
- Về các quy định miễn trừ
Ngoài các quy định cấm và cấm có điều kiện, Luật Cạnh tranh cũng đã
có thêm các quy định miễn trừ liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.Phạm vi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ theo Luật Cạnhtranh bao gồm 5 dạng hành vi được xem xét cấm theo nguyên tắc hợp lý,nghĩa là bị cấm khi thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các bên
Trang 36tham gia từ 30% trở lên Cụ thể, theo Điều 10, Luật Cạnh tranh, chỉ những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 2, Điều 9 mới thuộc phạm
vi các thỏa thuận được xem xét miễn trừ có thời hạn Các thỏa thuận nêu trênđược miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng được một trong các điều kiện saunhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng:
a) Hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng caohiệu quả kinh doanh;
b) Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ;
c) Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm;
d) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá;
đ) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa;e) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế [46]
Để được hưởng miễn trừ, các bên tham gia thỏa thuận phải thực hiệnthủ tục đề xuất hưởng miễn trừ quy định tại Điều 25-38 Luật Cạnh tranh Trên
cơ sở hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ xem xét,
đề xuất ý kiến để Bộ Công thương quyết định
- Về hình thức và thẩm quyền xử lý vi phạm
Về hình thức xử lý vi phạm: Tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân kinh
doanh (doanh nghiệp) vi phạm các quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
bị cấm sẽ bị xử lý theo các hình thức được quy định tại Điều 117, 118 LuậtCạnh tranh và được quy định chi tiết tại Điều 10-17, Nghị định 120/2005/NĐ-
CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, bao gồm:
Trang 37+ Phạt tiền;
+ Phạt bổ sung;
+ Biện pháp khắc phục hậu quả
Bảng 2.1: Các hình thức xử lý vi phạm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
STT
1
2
3
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Luật Cạnh tranh năm 2004.
Như vậy, nếu so sánh về chế tài xử lý vi phạm vì phạm thì đối tượng
bị xử lý về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật Việt Namhạn chế hơn so với pháp luật của một số quốc gia khác Pháp luật về cạnhtranh của nhiều quốc gia quy định thêm đối tượng bị xử lý có thể là cá nhânhoặc tổ chức nghề nghiệp
Cá nhân vi phạm b ị x ử l ý có thể là giám đốc, nhà quản lý, người đạidiện doanh nghiệp, chủ tịch hoặc thành viên ban chấp hành hiệp hội đã thựchiện hành vi thỏa thuận, ép buộc, lôi kéo, xúi giục hoặc tổ chức, tạo điều kiệnthuận lợi để các bên dễ dàng tham gia thỏa thuận Các hình thức xử lý viphạm có thể áp dụng đối với các cá nhân vi phạm bao gồm: a) chế tài phạt tù
Trang 38và/hoặc b) chế tài phạt tiền Chế tài xử lý vi phạm đối với cá nhân thườngđược áp dụng trong các trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc nhómnghiêm trọng như thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sảnlượng hoặc thông đồng đấu thầu Việc quy định các chế tài xử lý hình sự đốivới các cá nhân tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thể hiện sự nghiêmkhắc của pháp luật đối với các hành vi thỏa thuận nguy hại, đồng thời mangtính răn đe, ngăn ngừa.
Tại một số quốc gia, chẳng hạn như Canada, cơ quan cạnh tranh chịutrách nhiệm điều tra vụ việc, nhưng việc truy tố hình sự lại thuộc thẩm quyềncủa Viện công tố [9] Trong khi đó, ở các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Israel,
Cơ quan chống độc quyền có đồng thời hai thẩm quyền điều tra và truy tốhình sự đối với hành vi thỏa thuận nghiêm trọng
Về thời hạn phạt tù tối đa, một số quốc gia quy định cá nhân vi phạm cóthể bị phạt tù tối đa lên tới 5 năm, như Nhật Bản, Ireland, Vương quốc Anh Trong khi đó, Hoa Kỳ có cách tiếp cận nghiêm khắc hơn đối với hành vi cạnhtranh nghiêm trọng, với quy định về thời hạn phạt tù tối đa lên tới 10 năm Mứcphạt tiền tối đa đối với cá nhân vi phạm về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
có thể là 5 triệu yen (tại Nhật Bản), 4 triệu euro (tại Ireland), 500.000 đô laNewZealand (tại New Zealand) hoặc 1 triệu đô la Mỹ (tại Hoa Kỳ) [28]
Ngoài ra, các tổ chức nghề nghiệp, chẳng hạn như hiệp hội các doanhnghiệp trong cùng một ngành không phải là đối tượng trực tiếp tham gia thỏathuận Tuy nhiên, hiệp hội vẫn có thể là đối tượng bị truy cứu trách nhiệm liênquan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh do đã ép buộc, lôi kéo, xúigiục các doanh nghiệp thành viên tham gia thỏa thuận, thực hiện các quyếtđịnh của hiệp hội liên quan đến giá, sản lượng sản xuất, thị trường hay đóngvai trò tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thành viên gặp gỡ,trao đổi các thông tin kinh doanh nhạy cảm và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.Các hình thức xử lý vi phạm áp dụng đối với hiệp hội ngành nghề
Trang 39có thể là phạt tiền hoặc buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả NhậtBản và Đài Loan là hai quốc gia có những quy định rõ ràng về xử lý vi phạmcủa hiệp hội thương mại, hiệp hội nghề nghiệp liên quan đến hành vi thỏathuận hạn chế cạnh tranh [28].
Về thẩm quyền xử lý vi phạm: Liên quan đến việc xử lý vi phạm các
quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, sau khi kết thúc quá trình điều tra,Cục Quản lý cạnh tranh có quyền đề xuất, kiến nghị các hình thức và mức độ
xử phạt dựa trên kết quả điều tra và mức độ vi phạm của các doanh nghiệp.Thẩm quyền xử lý vi phạm đối với hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, vàthỏa thuận hạn chế cạnh tranh nói riêng thuộc về Hội đồng cạnh tranh và Hộiđồng xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại Điều 43, Nghị định120/2005/NĐ-CP Quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnhtranh
* Pháp luật về CTKLM theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004
CTKLM là một trong những cấu phần quan trọng của Luật Cạnhtranh Mặc dù không bao quát hết tất cả các hành vi CTKLM, tuy nhiênKhoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh trái với với các chuẩn mực thôngthường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệthại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanhnghiệp khác hoặc người tiêu dùng [46]
Bên cạnh đó, Luật Cạnh tranh cũng đã liệt kê ra các hành vi được xem làCTKLM, tại Điều 39 Luật Cạnh tranh quy định các hành vi CTKLM bao gồm:
1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
2 Xâm phạm bí mật kinh doanh
3 Ép buộc trong kinh doanh
Trang 404 Gièm pha doanh nghiệp khác.
5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Theo quy định nói trên, các hành vi CTKLM có những đặc điểm cơbản như sau:
+ Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh
Đây là đặc điểm thể hiện về đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh.Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là các doanh nghiệp tham giahoạt động kinh doanh trên thị trường Ở đây, khái niệm doanh nghiệp đượchiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt độngtìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụngkhái niệm của pháp luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường.Hành vi CTKLM được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế.Nói cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnhvực hoặc hoạt động kinh doanh nào của nền kinh tế
+ Hành vi cạnh tranh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh
Đây là đặc điểm này thể hiện bản chất không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, đó là tính chất đối lập, đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên