1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 07

102 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 79,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay 62Tiểu kết Chương 2...73Chư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG VŨ HUÂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêngtôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳcông trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận vănđảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theoquy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đểtôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Ánh

Trang 4

1.1.1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 6

1.1.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 7

1.2 NHU CẦU KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ

THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KINH

1.2.1 Một số đặc điểm của thị trường kinh doanh xăng dầu 111.2.2 Sự cần thiết phải kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu 141.3 CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ

THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KINH

Tiểu kết Chương 1 22Chương 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ

Trang 5

2.1.1 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường 232.1.2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm theo

pháp luật cạnh tranh 312.1.3 Các quy định về thủ tục điều tra xử lí hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường 462.1.4 Chế tài đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 522.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT

HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG

TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY 542.2.1 Khái quát về thị trường kinh doanh xăng dầu của Việt Nam 542.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kiểm soát hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh

xăng dầu ở Việt Nam hiện nay 62Tiểu kết Chương 2 73Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ

THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KINH

DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM 743.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT

VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC

3.1.1 Đảm bảo tính phù hợp của các quy định đối với thực tiễn thị

trường kinh doanh xăng dầu 743.1.2 Đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần đảm bảo sự

ổn định và hiệu quả của thị trường kinh doanh xăng dầu 753.1.3 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước 773.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM

SOÁT VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh về kiểm soát

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp

kinh doanh xăng dầu 783.2.2 Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước 833.2.3 Tăng cường sự minh bạch của thị trường 853.2.4 Đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thị trường kinh

doanh xăng dầu 86Tiểu kết Chương 3 89KẾT LUẬN 90DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cạnh tranh là hệ quả tất yếu của nền kinh tế thị trường và là nhân tốquan trọng tác động đến sự phát triển của nền kinh tế Đây là nhân tố có ảnhhưởng lớn đến sự thành công hay thất bại trong quá trình kinh doanh của doanhnghiệp Pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã có những quy định cụ thể điều chỉnhcác hoạt động cạnh tranh trên thị trường, trong đó có các quy định kiểm soát vịtrí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp Các quy định này phần nào đã đápứng được nhu cầu bảo đảm pháp lý về môi trường kinh doanh lành mạnh bìnhđẳng của một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường

Thị trường kinh doanh xăng dầu là một trong những thị trường có ảnhhưởng lớn đến các hoạt động của nền kinh tế cũng như đời sống của người dân.Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trên thị trường kinh doanh xăng dầu ởViệt Nam đã diễn ra tình trạng giá xăng dầu trong nước tăng giảm không phùhợp với sự tăng giảm giá xăng dầu thế giới, cụ thể là khi giá xăng dầu thế giớităng thì giá xăng dầu trong nước cũng lập tức tăng, nhưng khi giá xăng dầu thếgiới giảm thì giá xăng dầu trong nước lại không giảm theo Sự bất hợp lý này

có liên quan mật thiết đến một số doanh nghiệp lớn, giữ vị trí thống lĩnh trênthị trường Vì vậy, thực tế của thị trường kinh doanh xăng dầu đặt ra nhu cầuphải nghiên cứu vấn đề kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngcủa doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu nhằm đảm bảo thịtrường có sự cạnh tranh lành mạnh, các hoạt động kinh doanh xăng dầu tuânthủ đúng nguyên tắc của nền kinh tế thị trường, tạo sự phát triển bền vững củathị trường kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong bối cảnhNghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 thay thế Nghị định số84/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về kinh doanh xăng dầu được ban hành và

có hiệu lực từ tháng 11/2014

Trang 8

Từ các phân tích ở trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn sẽ góp một phần

nhỏ tìm ra những nguyên nhân của bất cập trong các quy định của pháp luậtcạnh tranh nói chung, pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnhthị trường nói riêng, qua đó, đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện phápluật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vựckinh doanh xăng dầu ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được hìnhthành từ khá sớm trong lịch sử và dần trở thành nội dung quan trọng trong hệthống pháp luật cạnh tranh của mỗi quốc gia Ở nước ta, sau khi Luật Cạnhtranh ra đời năm 2004, đã có nhiều công trình nghiên cứu về doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo pháp luật cạnh tranh Có thể

kể đến một số công trình nghiên cứu đã công bố như: Phan Thị Vân Hồng

(2005), Độc quyền và pháp luật về kiểm soát độc quyền ở Việt Nam hiện nay; Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam; Đào Ngọc Báu (2004), Vấn đề độc quyền ở Việt Nam; Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh; Nguyễn Thị Bảo Nga (2012), Kiểm soát hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo pháp luật Cạnh tranh Việt Nam hiện nay; Nguyễn Như Sơn (2013), Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh điện; Nguyễn Thế Cường (2013), Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay; Đỗ Tuấn Lâm (2014), Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt

Trang 9

Nam hiện nay; Cục Quản lý cạnh tranh (2010), Báo cáo đánh giá cạnh tranh trên thị trường xăng dầu Việt Nam

Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cáchchi tiết về việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trên thịtrường kinh doanh xăng dầu mặc dù đây là một thị trường nhiều biến động, tồntại một số doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh có vai trò quyết định đối với giáxăng dầu trên thị trường Luận văn sẽ phân tích các quy định của pháp luậtcạnh tranh điều chỉnh vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanhxăng dầu, thực trạng áp dụng pháp luật và đưa ra một số giải pháp về vấn đềnày nhằm góp phần tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vựclĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu các quy định của pháp luậtcạnh tranh về vị trí thống lĩnh thị trường, chỉ ra những hạn chế, bất cập trongcác quy định của pháp luật cạnh tranh liên quan đến doanh nghiệp kinh doanhxăng dầu có vị trí thống lĩnh thị trường, làm rõ những đặc trưng của thị trườngkinh doanh xăng dầu, các chủ thể tham gia thị trường kinh doanh xăng dầu củaViệt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến vị trí thốnglĩnh thị trường, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và kiểm soát hành

Trang 10

- Đánh giá thực trạng kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, đặc biệt nêu và phân tích thực tiễn

áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trườngtrong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những vấn đềbất cập, hạn chế và nguyên nhân;

- Kiến nghị một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện phápluật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vựckinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn củapháp luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thịtrường kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để đáp ứng mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ tậptrung giải quyết các vấn đề pháp lý trong kiểm soát hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường theo pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăngdầu Các hoạt động kinh doanh xăng dầu bao gồm rất nhiều hoạt động cụ thể,tuy nhiên, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thường xảy ra tronghoạt động nhập khẩu và phân phối xăng dầu, Vì vậy, luận văn đi sâu nghiêncứu vị trí thống lĩnh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu

và phân phối xăng dầu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sửdụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩaMác – Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, luận văn

Trang 11

còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như: Phươngpháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh pháp luật để làm sáng tỏmục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài.

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn nếu được thực hiện và bảo vệ thành công sẽ đưa lại các đónggóp mới như sau:

- Góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận pháp luật về kiểm soát hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam;

- Góp phần đánh giá trung thực, khách quan về thực trạng pháp luật vàhiệu quả áp dụng pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay

- Góp phần hoàn thiện pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, từ đó, xây dựng vàhoàn thiện môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng ở Việt Nam trong tiếntrình hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí

thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

Chương 2: Thực trạng kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị

trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Namhiện nay

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vựckinh doanh xăng dầu ở Việt Nam

Trang 12

1.1.1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Bản chất của một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là mộtdoanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so vớicác doanh nghiệp khác Sự vượt trội này mang lại cho họ khả năng hành độngmột cách độc lập trong các hoạt động về giá, các hoạt động nhằm thực hiệnchiếc lược kinh doanh so với các đối thủ và so với khách hàng Sự xuất hiệncủa doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là hệ quả tất nhiên từ sự cạnhtranh trên thị trường nơi mà khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp là khácnhau Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất của thương nhân, khi một doanh nghiệpđược coi là có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp đó sẽ có xu hướng sửdụng các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của mình để thu được nhiều lợinhuận hơn và pháp luật sẽ có vai trò quan trọng để kiểm soát những hành vinày

Không phải mọi hệ thống pháp luật cạnh tranh của các nước đều đưa rakhái niệm cụ thể về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm hạn chếcạnh tranh Pháp luật một số nước như Việt Nam, Canada tiếp cận theo hướngliệt kê các hành vi bị coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trongkhi pháp luật của Pháp, EU, Bộ quy tắc về Cạnh tranh của Liên Hợp Quốcđược thông qua ngày 22/04/1980, Luật mẫu về Cạnh tranh của Diễn đànThương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Conference on

Trang 13

Trade and Development) lại đưa ra khái niệm hay chính xác hơn là mô tả dấuhiệu pháp lý của hành vi này Ví dụ, theo Bộ quy tắc về Cạnh tranh của LiênHợp Quốc và Luật mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD, thì hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trênthị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quámức cạnh tranh Còn Điều 82 Hiệp định Rome cũng đưa ra khái niệm theohướng hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là hành vi bị coi là đi ngược với thịtrường chung và bị cấm, trong chừng mực mà thương mại giữa các nước thànhviên có khả năng bị ảnh hưởng, hành vi của một hoặc nhiều doanh nghiệp khaithác một cách lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường chung hoặc trên mộtphần của thị trường chung.

Tuy nhiên, từ những hành vi được liệt kê trong các hệ thống pháp luậtcạnh tranh, có thể đưa ra một khái niệm chung về hành vi lạm dụng vị trí thốnglĩnh thị trường là: “Hành vi của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vịtrí thống lĩnh thị trường nhằm hạn chế sự cạnh tranh trên thị trường, củng cố vịtrí thống lĩnh, thu lợi nhuận thông qua các biện pháp loại bỏ đối thủ ra khỏi thịtrường, ngăn cản sự gia nhập của đối thủ cạnh tranh tiềm năng hoặc bóc lộtkhách hàng”

1.1.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Doanh nghiệp ở đây được hiểu theo

nghĩa rộng, bao gồm các công ty, cá nhân kinh doanh [27, tr.32] Vị trí thốnglĩnh của doanh nghiệp có thể được hình thành từ quá trình cạnh tranh hoặc từ

sự bảo hộ của nhà nước Con đường hình thành do quá trình cạnh tranh làdoanh nghiệp có được vị trí thống lĩnh sau một thời gian dài tồn tại trên thịtrường, sản phẩm của họ đã thu hút, tạo được uy tín với khách hàng và

Trang 14

doanh nghiệp đã phát triển vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh trên thịtrường liên quan bằng chính các hoạt động kinh doanh sản xuất của mình Cònđối với các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh dựa vào sự bảo hộ của quyền lựcnhà nước, chính sự ưu ái của các cơ quan quản lý nhà nước thông qua những

“ưu đãi đặc biệt” so với các doanh nghiệp khác trên thị trường, những quyềnlợi mà các doanh nghiệp này được hưởng trong khi các doanh nghiệp khác thìkhông đã giúp cho các doanh nghiệp được ưu ái đạt được vị trí thống lĩnh thịtrường chứ không hoàn toàn do họ có năng lực cạnh tranh hơn các đối thủ.Nhưng dù có hình thành bằng con đường nào, một khi đã có vị trí thống lĩnh làdoanh nghiệp đã có lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp và có khả năngchủ động trong mối quan hệ với khách hàng Những lợi thế này có thể là khảnăng kiểm soát các yếu tố của thị trường (nguyên liệu đầu vào, giá cả ) hoặc

có sức ảnh hưởng đến khách hàng, các doanh nghiệp khác trên thị trường Đôikhi doanh nghiệp đã lợi dụng những lợi thế này để áp đặt các điều kiện bất lợicho khách hàng và các doanh nghiệp khác nhằm củng cố vị trí thống lĩnh, tănglợi nhuận Nếu doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh thị trường thì sẽ khôngcấu thành hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vì khi đó các chủ thể đều bìnhđẳng trên thị trường và họ có thành công hay không phụ thuộc vào năng lựccạnh tranh của họ được thể hiện qua chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứngnhu cầu khách hàng Mặt khác, chủ thể thực hiện hành vi lạm dụng có thể làdoanh nghiệp đơn lẻ hoặc nhóm doanh nghiệp, và việc xác định cũng như chếtài áp dụng đối với hai loại doanh nghiệp này cũng có sự khác nhau bởi đối vớinhóm doanh nghiệp còn có sự đồng thời và thống nhất khi thực hiện hành vilạm dụng Các chủ thể khác đứng ngoài thị trường dù có quyền lực tác độngđến thị trường sẽ không được coi là chủ thể của hành vi này

Trang 15

Thứ hai, hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh đã hoặc đang thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định hoặc mô tả trong pháp luật cạnh tranh Các hành vi hạn chế cạnh tranh mà các doanh nghiệp

thường thực hiện là các hành vi bóc lột khách hàng, chèn ép đối thủ, ngăn cản

sự gia nhập thị trường của các đối thủ tiềm năng nhằm thu được nhiều lợinhuận, giữ vị trí thống lĩnh trên thị trường Đó là những hành vi cản trở cạnhtranh lành mạnh, không để cho cạnh tranh phát huy vai trò tích cực của nó trênthị trường Những hành vi này dần dần sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến kháchhàng, các doanh nghiệp và xa hơn nữa là làm cho thị trường mất cân bằng, mấtcạnh tranh bình đẳng và không phát triển được

Thông thường, pháp luật cạnh tranh sẽ liệt kê các hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh nhằm hạn chế cạnh tranh để tạo điều kiện cho các cơ quan quản líxác định hành vi lạm dụng của doanh nghiệp Ngoài những hành vi đã đượcliệt kê, do sự phát triển đa dạng, nhanh chóng của thị trường và để điều chỉnhcác hành vi mang bản chất lạm dụng vị trí thống lĩnh mà pháp luật chưa kịpquy định, pháp luật một số nước và khu vực như Pháp, Canada, EU đã cóquy định các hành vi có thể bị xem xét về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường nếu thỏa mãn các đặc điểm hoặc các điều kiện đã được mô tả trong luậtnhằm hạn chế tối đa tình trạng lách luật của các doanh nghiệp

Các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường luôn được thực hiện trên mộtthị trường liên quan và việc xác định thị trường liên quan là một trong nhữngbước quan trọng đầu tiên khi các cơ quan có thẩm quyền xác định vị trí thốnglĩnh và hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp

Các hành vi của doanh nghiệp do chính doanh nghiệp thực hiện mộtcách độc lập, dù trong trường hợp hành vi lạm dụng do nhóm doanh nghiệpthực hiện thì các doanh nghiệp trong nhóm cũng không có sự thỏa thuận trướcvới nhau về việc cùng thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc áp dụngcác chính sách giống nhau đối với khách hàng

Trang 16

Thứ ba, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp cạnh tranh và khách hàng của họ, có thể xa hơn nữa là gây nguy hại đến sự cạnh tranh trên thị trường, ảnh hưởng đến lợi ích công cộng Những mối nguy hại này chính là nguyên nhân khiến

Nhà nước cần can thiệp vào hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Khácvới các vụ việc dân sự, kinh tế thông thường luôn yêu cầu phải có một bên đưa

ra thì các cơ quan đại diện Nhà nước mới can thiệp vào mối quan hệ giữa cácbên, vụ việc liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh có thể được cơquan nhà nước can thiệp bất kì lúc nào nếu phát hiện ra có dấu hiệu của hành

vi Việc phát hiện này có thể xuất phát từ phản ánh của khách hàng, người dân,các doanh nghiệp khác, các phương tiện truyền thông, hoặc chính từ cơ quanquản lý cạnh tranh Tùy thuộc vào cách nhìn nhận, sự điều chỉnh và các chínhsách đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia, khu vực mà pháp luật cạnh tranh sẽđiều chỉnh hành vi lạm dụng ở các mức độ khác nhau Quốc gia khu vực nàoxem trọng tính hiệu quả kinh tế thì hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh sẽ đượcđánh giá bằng nguyên tắc hợp lý (rule of season), tức hành

vi lạm dụng của doanh nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế lớn hơn so với thiệthại mà nó gây ra thì cùng với việc xem xét lợi ích của khách hàng, của cácdoanh nghiệp khác thì hành vi này có thể được xem xét chấp nhận Ngược lại,những quốc gia khu vực muốn đảm bảo tuyệt đối sự cạnh tranh lành mạnh chonền kinh tế, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, cá nhân thì họ cóthể áp dụng các biện pháp điều tra, xử lý đối với hành vi này ngay khi nó xuấthiện, dù nó có mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn thiệt hại mà nó gây ra cho cácchủ thể khác trên thị trường Đây được gọi là nguyên tắc xử lý coi hành vi lạmdụng có sự nguy hại tất yếu (rule of perse)

Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế(Organization for Economic Cooperation and Development) cũng đưa hậu

Trang 17

quả là điều kiện bắt buộc để xác định hành vi thống lĩnh thị trường Trong

khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng của tổ chức này đã nêu rõ “chỉ

có thể chống lại có kết quả sự lạm dụng quyền lực thị trường, khi pháp luật và người thi hành nó xác định được những hành vi cụ thể có thể gây hại cho cạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thị trường có liên quan” [18] Pháp luật các nước như Canada, Pháp cũng có những quy định

tương tự Như vậy, theo pháp luật các nước trên thì hậu quả của hành vi là mộttrong những nội dung để xác định hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Đối với pháp luật một số nước khác, ví dụ như Việt Nam thì lại khôngxác định theo hướng này, mà hậu quả của hành vi đã được đưa luôn vào trongcác quy phạm pháp luật quy định các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường [27, tr.38] Ví dụ trong khoản 2 Điều 13 Luật Cạnh tranh năm 2004 về

các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm “Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng” [28], hậu quả của hành vi “gây thiệt hại cho khách hàng”

cũng đã nằm trong quy định về các hành vi bị cấm Như vậy, việc điều tra hành

vi lạm dụng các cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ xác định hành vi dựa trên haidấu hiệu: (i) Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan và (ii)Hành vi mà doanh nghiệp thực hiện thuộc một trong số các hành vi bị cấm theoLuật Cạnh tranh

1.2 NHU CẦU KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNGLĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU

1.2.1 Một số đặc điểm của thị trường kinh doanh xăng dầu

Thị trường kinh doanh xăng dầu được hình thành từ việc giao dịch, muabán các sản phẩm từ dầu mỏ Thị trường này có một số đặc điểm ảnh hưởngđến sự hình thành các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Trang 18

đồng thời là cơ sở để xác định thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanhxăng dầu, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối tượng kinh doanh: Đây là nền tảng để xác định thị trường

sản phẩm liên quan bao gồm tất cả các sản phẩm, dịch vụ được người tiêu dùngxem như nhau hoặc thay thế được lẫn nhau, căn cứ vào đặc điểm, giá cả và mụcđích sử dụng dự kiến Xăng dầu là tên gọi chung dùng để chỉ các sản phẩm từdầu mỏ, dùng làm nhiên liệu, thường được phân loại theo mục đích sử dụngbao gồm xăng ô tô (dùng cho ô tô và xe máy chạy bằng động cơ xăng), xăngmáy bay (sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ máy bay, là sản phẩm đặc dụngcho ngành hàng không), dầu diesel (làm nhiên liệu cho các phương tiện giaothông đường bộ, đường thủy, đường sắt sử dụng động cơ diesel, nhiên liệu đốt,nhiên liệu chạy máy phát điện), dầu hỏa (sử dụng làm nhiên liệu thắp sáng,nhiên liệu đốt), dầu mazut (chủ yếu dùng làm nhiên liệu đốt lò cho một số cơ

sở sản xuất) Xăng dầu là mặt hàng có các đặc điểm lý hóa đặc thù như dễ haohụt, dễ bắt lửa, khó khai thác, khó vận chuyển, việc khai thác, chế biến các sảnphẩm xăng dầu đòi hỏi máy móc hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật cao

Thứ hai, hoạt động kinh doanh xăng dầu là hoạt động mang tính quốc tế: Việc xác định phạm vi, khu vực kinh doanh mà ở đó các sản phẩm có khả

năng thay thế cho nhau dù được bán, phân phối ở những địa điểm khác nhau là

cơ sở để các định thị trường địa lý liên quan theo pháp luật cạnh tranh Đối vớimặt hàng xăng dầu, quốc gia nào cũng cần đến xăng dầu nhưng không phảiquốc gia nào cũng có sẵn nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc có đủ khả năngkhoa học kỹ thuật để sản xuất các sản phẩm từ dầu mỏ Do đó, hoạt động kinhdoanh xăng dầu không chỉ giới hạn ở một khu vực, một quốc gia nhất định màluôn gắn với sự trao đổi, giao lưu kinh tế và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nướctrên thế giới Bởi vậy, để có thể xác định được vị trí thống lĩnh thị trường cũngnhư hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh

Trang 19

vực kinh doanh xăng dầu thì việc xác định thị trường địa lý liên quan là mộttrong những bước đầu tiên cần thực hiện.

Thị trường kinh doanh xăng dầu của một nước không chỉ chịu tác độngcủa nền kinh tế trong nước mà còn chịu tác động từ thị trường xăng dầu thếgiới thông qua các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia trong lĩnh vực này Sự thamgia của các tập đoàn, các công ty quốc tế luôn tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớnđối với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khi họ có những lợi thế vềnguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống vận chuyển… để đạt được đến vịtrí thống lĩnh trên thị trường

Thứ ba, về chủ thể tham gia thị trường: Do các đặc tính lý hóa của xăng

dầu, các chủ thể tham gia kinh doanh mặt hàng này phải đáp ứng các yêu cầunghiêm ngặt để đảm bảo sự an toàn trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêudùng Để gia nhập thị trường này, doanh nghiệp phải đáp ứng được các yêu cầu

về khoa học kỹ thuật để khai thác, xử lý, vận chuyển, sang chiết xăng dầu vàcác yêu cầu khác tùy thuộc vào quy định cụ thể của pháp luật mỗi quốc gia.Chính những yêu cầu này là rào cản gia nhập thị trường đối với các doanhnghiệp Pháp luật các nước đều có những quy định cụ thể về điều kiện cần đápứng để gia nhập thị trường kinh doanh xăng dầu và thường được chia thành banhóm chính: điều kiện về cơ sở vật chất, năng lực tài chính và các yêu cầu vềđảm bảo an toàn trong sản xuất, xuất nhập khẩu và phân phối xăng dầu

Thứ tư, vai trò của Nhà nước đối với thị trường kinh doanh xăng dầu:

Xăng dầu đóng vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia Từ khi conngười biết đến các ứng dụng của xăng dầu, đặc biệt trong ngành cung cấp nănglượng, nhiên liệu, xăng dầu và các sản phẩm chế biến từ dầu mỏ đã phát triểnnhanh chóng và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người Khinền kinh tế càng phát triển, nhu cầu của con người đối với mặt hàng này cànggia tăng một cách nhanh chóng Vì vậy, đây luôn là mặt hàng hấp dẫn

Trang 20

với các thương nhân Doanh nghiệp nào giành được quyền kinh doanh mặthàng này, doanh nghiệp đó sẽ có khả năng giành được lợi thế trong nền kinh tế.Bên cạnh vai trò đối với nền kinh tế, mặt hàng xăng dầu còn hết sức cần thiếtđối với các hoạt động an ninh – quốc phòng của mỗi quốc gia Thực tế chothấy, quan hệ ngoại giao song phương, chính sách phong tỏa và cấm vận củacác nước lớn luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất, nhập khẩu xăng dầu[41] Chính vì vai trò về mặt kinh tế cũng như an ninh – quốc phòng của xăngdầu, thị trường kinh doanh xăng dầu của các nước trên thế giới đều có sự canthiệp của nhà nước Mỗi quốc gia đều có một chiến lược riêng về khai thác,chế biến, xuất nhập khẩu, dự trữ và kinh doanh xăng dầu Nhà nước có thể canthiệp vào thị trường này thông quá các biện pháp trực tiếp (áp đặt giá trần, traoquyền kinh doanh cho doanh nghiệp cụ thể…) hoặc gián tiếp (xây dựng cácvăn bản quy phạm pháp luật để quản lý thị trường kinh doanh xăng dầu…).Mặc dù ở một số nước như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, giá cả xăng dầu đượcđiều chỉnh theo quy luật của thị trường, nhưng điều đó không có nghĩa làChính phủ của các nước này để giá xăng dầu được vận hành hoàn toàn theo cơchế của thị trường Ví dụ, khi giá xăng dầu trên thị trường có biến động lớn,Chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường này thông qua quỹ dự trữ chiến lược,hoặc có các biện pháp khẩn cấp để điều chỉnh thị trường kinh doanh xăng dầutrong nước Sự can thiệp của Nhà nước chủ yếu nhằm mục đích ổn định nềnkinh tế, đảm bảo sự bền vững trong hoạt động kinh doanh xăng dầu và trongquá trình vận hành nền kinh tế, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa cácdoanh nghiệp trên thị trường.

1.2.2 Sự cần thiết phải kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu

Bản thân doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường không phải là đốitượng kiểm soát của pháp luật cạnh tranh Pháp luật chỉ can thiệp khi các

Trang 21

doanh nghiệp này thực hiện các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh của mình.

Sự can thiệp này xuất phát từ những tác động tiêu cực, hậu quả nặng nề củahành vi đối với các chủ thể trong nền kinh tế, thậm chí là cả nền kinh tế.Những đối tượng chủ yếu chịu tác động của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnhthị trường bao gồm: Khách hàng, các doanh nghiệp khác trên thị trường, chínhbản thân doanh nghiệp và nền kinh tế

Thứ nhất, khách hàng là đối tượng của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được hiểu là những chủ thể đang mua, đang sử dụng sản phẩm

của doanh nghiệp và mang lại nguồn thu cho doanh nghiệp hoặc đang có sựquan tâm, tìm hiểu về sản phẩm của doanh nghiệp để mua các sản phẩm đó.Khách hàng là yếu tố có tác động đến sự sống còn của doanh nghiệp bởi đâychính là đối tượng sẽ tiêu thụ sản phẩm, mang lại nguồn thu, lợi nhuận chodoanh nghiệp Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp mới thành lập, có nhiều đối thủcạnh tranh, đang nỗ lực giành lấy thị phần, thì địa vị của khách hàng có thểđược xem như là cao hơn so với doanh nghiệp và các yêu cầu của khách hàng

sẽ đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng Mối quan hệ này sẽ theo hướng ngượclại nếu doanh nghiệp đã có vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan Kháchhàng có thể vẫn chấp nhận sử dụng sản phẩm hàng hóa dịch vụ của doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh dù giá cả có cao hơn các sản phẩm cùng loại trên thịtrường liên quan do thói quen, hoặc do mức độ phổ biến của sản phẩm trên thịtrường, Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đã cónhững hành vi lợi dụng những ưu thế trên để thu lợi nhuận tối đa từ kháchhàng mà những hành vi này đã xâm hại đến lợi ích của khách hàng ví dụ nhưhạn chế phân phối hàng hóa khiến khách hàng không mua được sản phẩm Trong thị trường kinh doanh xăng dầu, do tính thiết yếu của mặt hàng này đốivới các ngành nghề kinh tế cũng như đối với cuộc sống người dân, khách hàngkhông thể không mua và lượng khách hàng của các doanh nghiệp

Trang 22

kinh doanh xăng dầu là vô cùng lớn Để bảo vệ quyền lợi của khách hàng, phápluật cần phải có các quy định để hạn chế sự lạm dụng của doanh nghiệp thốnglĩnh Hầu hết các hệ thống pháp luật cạnh tranh cơ bản trên thế giới đều có quyđịnh về vấn đề này để đảm bảo được rằng doanh nghiệp dù có vị trí thống lĩnhcũng phải tuân thủ nguyên tắc chung của thị trường, nâng cao chất lượng sảnphẩm dịch vụ để làm hài lòng khách hàng.

Thứ hai, đối với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Phần lớn các

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là nhằm vào các đối thủ cạnhtranh của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh Các đối thủ cạnh tranh ở đây là cácdoanh nghiệp cung cấp sản phẩm xăng dầu khác trên thị trường liên quan Dù

có đạt được vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan rồi thì doanh nghiệp vẫnđứng trước nguy cơ bị các doanh nghiệp khác chiếm mất vị trí đó để trở thànhdoanh nghiệp có vị trí thống lĩnh mới - đó là quy luật tất yếu và chính là độnglực thúc đẩy sự phát triển của thị trường Vì vậy, các doanh nghiệp thống lĩnhthị trường luôn phải đau đầu nghĩ cách loại bỏ đối thủ cạnh tranh để duy trì lợithế của mình Các hành vi lạm dụng thường được áp dụng là các biện pháp vềgiá, ví dụ bán hàng hóa dịch vụ dưới giá thành, khiến các doanh nghiệp kháckhông tiêu thụ được sản phẩm và bị loại bỏ khỏi thị trường, hoặc sử dụng cácbiện pháp ngăn cản không cho các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường bằngcách kêu gọi khách hàng không sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp khác Các hành vi này khiến cho các doanh nghiệp nhỏ hơn dù chất lượng sản phẩm

có tốt, giá thành có rẻ cũng khó tiếp cận được với khách hàng trên thị trường.Điều này gây ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp mà đối tượng chịuthiệt sẽ là các doanh nghiệp nhỏ hơn

Thứ ba, đối với bản thân doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường:

Những tưởng hành vi lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trườngluôn mang lại lợi nhuận khổng lồ cho họ thông qua các hành vi lạm

Trang 23

dụng gây hại đến người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh, nhưng thực chất về lâudài, hành vi này sẽ gây hại đến chính bản thân các doanh nghiệp có vị trí thốnglĩnh Doanh nghiệp thống lĩnh thị trường có thể sẽ không đầu tư đổi mới côngnghệ, mở rộng sản xuất vì ỷ lại vào vị trí thống lĩnh của mình hoặc do quá tậptrung vào các hành vi loại bỏ các đối thủ khác Một khi xuất hiện một doanhnghiệp lớn gia nhập thị trường hoặc thị trường có sự thay đổi về nhu cầu thìdoanh nghiệp sẽ không thích ứng được, không chống chọi được và sẽ rơi vàotình trạng trì trệ, thậm chí dẫn tới phá sản Mặt khác, hành vi lạm dụng khiếndoanh nghiệp mất uy tín với khách hàng và các đối tác Thêm nữa, doanhnghiệp sẽ là đối tượng bị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng chế tàikhi phát hiện doanh nghiệp thống lĩnh có hành vi lạm dụng Nếu các chứng cứchứng minh được đúng là doanh nghiệp thống lĩnh đã thực hiện hành vi lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt nặng bằng cách ápdụng các chế tài như phạt 5% - 10% doanh thu của năm kinh doanh gần nhất,

Mà đối với các doanh nghiệp thống lĩnh, giá trị tài sản lớn thì chỉ cần 5% củadoanh thu một năm cũng có tác động tiêu cực mạnh mẽ đến khả năng kinh tếcủa doanh nghiệp

Thứ tư, đối với nền kinh tế, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

gây mất cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, tác động tiêu cực đến các quyluật của thị trường vì các nguồn lực kinh tế không thật sự tập trung vào cácdoanh nghiệp có khả năng Điều này đã làm sai lệch sự vận động của thịtrường, gây ra sự hỗn loạn và làm thị trường mất đi sự ổn định, nhịp nhàng vốn

có Ngoài ra, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh gây hao phí nguồn lực kinh tế

vì doanh nghiệp không sử dụng các nguồn lực kinh tế vào đầu tư kĩ thuật, mởrộng sản xuất, việc dồn các nguồn lực tài chính vào các hoạt động nhằm hạnchế cạnh tranh, chèn ép đối thủ và khách hàng khiến cho nguồn lực bị phân bổmột cách sai lầm, gây tổn hại đến các hoạt động khác

Trang 24

Như vậy, từ những tác động tiêu cực và các nguy cơ mà hành vi lạmdụng vị trí thống lĩnh thị trường mang lại, pháp luật hầu hết các nước đều đưa

ra các văn bản pháp luật hoặc các quy định cụ thể nằm trong các ngành luậtkhác nhau để có thể kiểm soát hiệu quả hành vi này, nhằm duy trì sự ổn định,tính cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên thị trường Đối vớinhững thị trường xăng dầu đã vận hành theo đúng nguyên lý của một nền kinh

tế thị trường thì bản thân các hoạt động của các chủ thể tham gia thị trườngcũng đã tạo cơ sở cho việc phòng trừ và hạn chế các hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường Tuy nhiên, để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh của thịtrường và có biện pháp chế tài áp dụng khi có hành vi vi phạm xảy ra, Nhànước sẽ là chủ thể đặt ra các biện pháp nhằm kiểm soát hành vi lạm dụng nàythông qua hệ thống các cơ quan lập pháp, cơ quan hành chính, cơ quan quản lý

về cạnh tranh và các cơ quan quản lý trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.1.3 CÁC BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNGLĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Cácbiện pháp kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường kinhdoanh xăng dầu rất đa dạng tùy thuộc vào chính sách quản lý và pháp luật cạnhtranh của mỗi quốc gia Ngay cả việc có chấp nhận hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường của doanh nghiệp hay không cũng có hai luồng quanđiểm Theo đó, pháp luật các nước như Canada, Luật mẫu về cạnh tranh của

Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (United NationsConference on Trade and Development) có đưa ra các trường hợp miễn trừ

cho hành vi này khi “doanh nghiệp thông báo với cơ quan có thẩm quyền trước khi thực hiện và cơ quan này thấy hành vi phù hợp với mục tiêu của Luật

đã đề ra” [46] Ngược lại, pháp luật một số nước khác, trong đó có Việt Nam

thì cấm tuyệt đối hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, theo đó, khihành vi của doanh nghiệp đã có đủ các đặc điểm hoặc thực hiện các hành vi bịcấm trong luật thì doanh nghiệp đó sẽ bị điều tra và xử lý

Trang 25

Về các biện pháp cụ thể để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnhthị trường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu được các nước áp dụng có thểchia làm ba nhóm chính gồm:

Thứ nhất, bằng các quy định của pháp luật cạnh tranh

Đây là biện pháp hữu hiệu bậc nhất của Nhà nước để kiểm soát hành vilạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường vì đây là biện pháp có hiệu lực thi hànhcao nhất mà Nhà nước buộc các chủ thể phải tuân theo Mỹ có thể nói là mộttrong những nước ban hành pháp luật cạnh tranh sớm nhất trên thế giới (LuậtSherman năm 1890), đây là bộ luật chống độc quyền đầu tiên được thông quabởi các bang trước khi trở thành bộ luật Liên bang, trong đó đã có những quyđịnh về hành vi lạm dụng quyền lực thị trường (Misuse of market power).Ngoài ra các quy định này cũng được quan tâm trong hệ thống pháp luật củatừng bang Pháp luật của Mỹ không hạn chế việc tham gia thị trường bao gồm

cả việc nhập khẩu và phân phối, tuy nhiên yêu cầu phải có sự tách bạch giữahoạt động lọc dầu và hoạt động bán lẻ để ngăn ngừa hành vi lạm dụng vị tríthống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp dầu mỏ Nhu cầu tại Mỹ tương đối

ổn định ở mức cao và đủ độ lớn để tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệpnhập khẩu và phân phối [41] Mỹ không can thiệp trực tiếp đến thị trường màthông qua hoạt động của quỹ dự trữ chiến lược Mặc dù Nhà nước can thiệp ởmức tối thiểu đối với thị trường kinh doanh xăng dầu, các doanh nghiệp vẫnphải tuân thủ các quy định chung về bảo vệ người tiêu dùng và chống các hành

Trang 26

từ khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004, các nhà làm luật cũng đã đưa raquy định điều chỉnh hành vi này (Điều 13 – các hành vi lạm dụng vị trí thốnglĩnh thị trường bị cấm) Cho đến nay, đã có trên một trăm quốc gia, khu vựctrên thế giới ban hành pháp luật cạnh tranh, trong đó đưa ra các quy định nhằmhạn chế một số hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh thịtrường.

Bằng việc đưa ra các quy định liên quan đến vị trí thống lĩnh thị trường,pháp luật Cạnh tranh đã phát huy vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa, xử

lý các doanh nghiệp có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, từ đó đảmbảo sự minh bạch và vận hành hiệu quả cho thị trường, đảm bảo sự bình đẳnggiữa các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường xăng dầu

Thứ hai, các biện pháp hành chính - kinh tế

Để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nói chung vàcác hành vi hạn chế cạnh tranh, Nhà nước có thể áp dụng các biện pháp hànhchính - kinh tế Các biện pháp trong nhóm này bao gồm:

Xóa bỏ sự ưu đãi Nhà nước đối với một số doanh nghiệp: Vị trí thống

lĩnh của doanh nghiệp có thể từ chính khả năng của doanh nghiệp hoặc do sự

ưu đãi của các cơ quan quản lý nhà nước Trong trường hợp thứ hai, doanhnghiệp có thể lợi dụng sự ưu ái của cơ quan nhà nước để thực hiện các hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà khó bị phát hiện Chính vì vậy, các

cơ quan quản lý nhà nước cần tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanhnghiệp bằng việc xóa bỏ sự ưu đãi bất hợp lý với các doanh nghiệp, đặc biệt làcác doanh nghiệp nhà nước

Chính sách thuế: Thuế quan cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh

của hàng hóa và do đó làm giảm lượng hàng hóa được tiêu thụ Khi thuế caohơn thì cả doanh nghiệp và người tiêu dùng đều phải cân nhắc các hoạt độngcủa mình Đối với lĩnh vực kinh doanh có gắn bó chặt chẽ với nền kinh tế và

Trang 27

đời sống người dân như kinh doanh xăng dầu thì việc sử dụng các chính sáchthuế sẽ là biện pháp hiệu quả của nhà nước Thế nhưng trong thị trường mà códoanh nghiệp thống lĩnh, gánh nặng thuế nói chung sẽ dồn vào người tiêu dùngnhiều hơn và vì thế cần phải được áp dụng một cách hết sức thận trọng.

Các chính sách kiểm soát giá cả: Nhà nước có thể tiến hành ngăn cấm,

giảm bớt quyền định giá của các doanh nghiệp có quyền lực thị trường đểphòng trường hợp các doanh nghiệp thống lĩnh tự định giá quá cao và quá thấpgây thiệt hại cho khách hàng và người tiêu dùng Tuy nhiên, việc can thiệp vàoquyền định giá của doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình cụ thể của thịtrường, và đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp Ở khu vực châu Á, TháiLan là nước sử dụng chính sách kiểm soát giá cả như là một biện pháp hiệu quả

để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường trong lĩnh vực kinhdoanh xăng dầu thông qua việc quy định mức giá trần nhằm bảo vệ lợi ích chongười tiêu dùng khi mức giá của mặt hàng xăng dầu biến động cao, tránh hiệntượng người bán đẩy giá lên cao gây thiệt hại cho người tiêu dùng

Mặc dù phân định thành các biện pháp nêu trên, nhưng trên thực tế thìcác biện pháp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đặc biệt là các quy địnhcủa hệ thống pháp luật cạnh tranh luôn là công cụ hiệu quả và là hình thức thểhiện các chính sách, các biện pháp điều chỉnh của nhà nước đối với thị trườngkinh doanh xăng dầu

Trang 28

Tiểu kết Chương 1Các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

là một nội dung cơ bản trong hệ thống pháp luật cạnh tranh Đối với thị trườngkinh doanh xăng dầu là một lĩnh vực có ảnh hưởng rộng lớn đến nền kinh tếcũng như đời sống của mỗi người dân thì việc kiểm soát hành vi này càng trởnên cần thiết Nhà nước có thể kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu thông qua các biện pháp khác nhau,nhưng biện pháp hiệu quả nhất là thông qua hệ thống pháp luật cạnh tranh Hầuhết pháp luật các nước đều cho phép nhiều chủ thể tham gia các hoạt động kinhdoanh xăng dầu để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, đồng thời có sựđiều tiết ở một mức độ nhất định của Nhà nước đối với thị trường vốn nhạycảm như thị trường kinh doanh xăng dầu

Trang 29

Chương 2

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG

VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONG LĨNH VỰC

KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁTHÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG TRONGLĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU

2.1.1 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường

Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể vềdoanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, thay vào đó, Điều 11 Luật Cạnhtranh năm 2004 quy định:

Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu

có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả nănggây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể [28]; và Nhóm doanhnghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hànhđộng nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trườnghợp sau đây: (a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lêntrên thị trường liên quan; (b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ65% trở lên trên thị trường liên quan; (c) Bốn doanh nghiệp có tổngthị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan [28]

Như vậy, việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường trong thị trường kinh doanh xăng dầu theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam dựa trên các yếu tố sau:

2.1.1.1 Xác định thị trường liên quan

Luật Cạnh tranh của Việt Nam đưa ra khái niệm thị trường liên quan theo hướng liệt kê Theo Luật Cạnh tranh năm 2004:

Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan

Trang 30

và thị trường địa lý liên quan: (a) Thị trường sản phẩm liên quan làthị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau vềđặc tính, mục đích sử dụng và giá cả; (b) Thị trường địa lý liên quan

là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ cóthể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sựkhác biệt đáng kể với các khu vực lân cận [28, Điều 3, khoản 1].Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ quy địnhchi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh cũng đã quy định cách thức

cụ thể xác định thị trường liên quan Theo đó, việc xác định thị trường liênquan sẽ dựa vào các yếu tố:

Thứ nhất, thị trường sản phẩm liên quan (tính thay thế của sản phẩm)

Khi các sản phẩm có thể thay thế cho nhau thì có nghĩa là chúng cùngphục vụ cho một nhu cầu của thị trường Hai tiêu chí đánh giá khả năng thaythế cho nhau mà Luật Cạnh tranh Việt Nam sử dụng là (i) tính chất của sảnphẩm thể hiện thông qua đặc tính và mục đích của sản phẩm và (ii) phản ứngcủa người tiêu dùng khi có sự thay đổi giá cả của các sản phẩm có liên quan.Các loại sản phẩm trong thị trường xăng dầu ở Việt Nam hiện nay bao gồm:

+ Các sản phẩm xăng: Xăng hay nhiên liệu cho động cơ xăng là hồn hợpnhiều hợp chất khác nhau, gồm hai nhóm chính là hydrocacbon và phihydrocacbon Xăng động cơ là một sản phẩm hỗn hợp được lựa chọn cẩn thận

từ một số thành phần, kết hợp với một số phụ gia nhằm đảm bảo các yêu cầuhoạt động của động cơ trong những điều kiện vận hành thực tế Cùng với sựgia tăng số lượng các động cơ xăng, nhu cầu xăng nhiên liệu ngày càng tăngnhanh, đồng thời mang theo những nguy cơ gia tăng các chất thải độc hại, ảnhưởng đến sức khỏe con người và môi trường sống Vì vậy, các sản phẩm xăngkhông chỉ cần đáp ứng được các yêu cầu về hiệu suất cháy, hiệu suất nhiệt màcòn phải bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường Hiện nay, trên thị trường

Trang 31

Việt Nam chỉ có các loại xăng không chì, chủ yếu bao gồm các loại xăng RON

95, RON 92, ngoài ra nước ta đang triển khai bán xăng sinh học (loại xăngđược trộn theo tỉ lệ 5% cồn ethanol với 95% xăng RON 92 thông thường) tạimột số địa phương Xét về mục đích sử dụng, xăng động cơ được sử dụng chủyếu cho động cơ đốt trong, bao gồm động cơ 4 thì và 2 thì Các loại máy móc,thiết bị vận hành bằng động cơ đốt trong đều có thể sử dụng xăng RON 95,RON 92 và xăng sinh học làm nhiên liệu Xét về giá cả sản phẩm, giá cả của baloại xăng này thường xuyên ở mức chênh lệch khoảng 2.5-4% (ví dụ, tại thờiđiểm tháng 9/2014, giá của xăng RON 95 với hai loại sản phẩm còn lại thườngxuyên duy trì mức giá chênh lệch 2.5%) Ba loại xăng này có thể thay thế chonhau về giá cả Nhóm các sản phẩm xăng này có mục đích sử dụng và giá cảtương đối khác biệt với thị trường các sản phẩm xăng dầu khác, vì vậy, chúngđược nhóm vào một nhóm khi phân tích thị trường sản phẩm liên quan Cònviệc xác định thị trường sản phẩm liên quan cụ thể còn tuỳ thuộc vào từngtrường hợp [17, tr.337]

+ Dầu diesel: Đây là một loại nhiên liệu lỏng, nặng hơn dầu hoả vàxăng Dầu diesel là sản phẩm của quá trình chưng cất trực tiếp dầu mỏ, có đầy

đủ những tính chất lý hoá phù hợp cho động cơ diesel mà không cần phải ápdụng những quá trình biến đổi hoá học phức tạp Hiện nay, trên thị trường ViệtNam chủ yếu có hai loại dầu diesel: loại có hàm lượng lưu huỳnh 500mg/kg(DO 0.05S) và loại có hàm lượng lưu huỳnh 2500 mg/kg (DO 0.25S) Hai loạikhác nhau chủ yếu ở hàm lượng lưu huỳnh có trong nhiên liệu Đây cũng làđiều quan tâm nhất đối với động cơ diesel, vì lưu huỳnh qua quá trình bị đốtcháy, oxy hoá, nếu tiếp xúc với nước sẽ tạo thành axit ăn mòn động cơ, gâybiến chất dầu nhờn trong động cơ Về cơ bản, các loại nhiên liệu diesel có thểđược sử dụng thay thế cho nhau tuỳ vào cân nhắc của người dùng đối với độbền của thiết bị, động cơ và chi phí, giá cả nhiên liệu Các

Trang 32

thiết bị, máy móc, phương tiện giao thông vân tải vận hành bằng động cơdiesel đều có thể sử dụng các sản phầm dầu DO 0.05 và DO 0.25 làm nhiênliệu Về giá cả, mức chênh lệch giá của hai loại sản phẩm này là không lớn và

có thể thay thế cho nhau về giá cả (ví dụ, tại thời điểm tháng 9/2014, mức giácủa hai loại sản phẩm này chênh lệch chỉ khoảng 0,002%)

+ Dầu FO: Dầu nhiên liệu hay thường gọi là nhiên liệu đốt lò do loạinhiên liệu này thường được sử dụng cho việc cung cấp nhiệt ở các lò côngnghiệp Dầu đốt được chia làm hai loại dầu đốt nhẹ và dầu đốt nặng Dầu đốtnhẹ thường dùng để chạy các máy nông nghiệp, còn dầu đốt nặng thường được

sử dụng để cung cấp nhiệt trong các lò công nghiệp, các phương tiện giaothông có trọng tải lớn Ở nước ta, dầu FO chủ yếu được nhập khẩu và phânphối nhằm mục đích công nghiệp và giao thông vận tải

+ Nhiên liệu hàng không: Nhiên liệu hàng không sử dụng tại Việt Nam

là loại Jet A1 Loại nhiên liệu này được dùng cho các loại máy bay, tên lửa có

sử dụng động cơ phản lực kiểu tuabin khí nhằm cung cấp năng lượng cho máybay, kiểm soát các thông số khác nhau của động cơ [17, tr.340]

Thứ hai, xác định thị trường địa lý liên quan

Đây thực chất là việc xác định khu vực địa lý mà sản phẩm có thể thaythế cho nhau, tức tìm kiếm những căn cứ để đánh giá tâm lý của người tiêudùng có sẵn sàng chuyển thói quen mua sản phẩm ở một địa điểm nào đó sangmua sản phẩm tương tự ở địa điểm khác hay không Khi một mặt hàng ở địađiểm này tăng giá, nếu người tiêu dùng muốn chuyển sang khu vực khác muasản phẩm tương tự, họ sẽ phải suy nghĩ đến chi phí vận chuyển, chi phí đi lại Nếu họ chấp nhận khoản chi phí tăng này để mua sản phẩm tương tự ở khu vựckhác thì hai khu vực này được coi là cùng nằm trên thị trường địa lý liên quan,

và ngược lại Mức chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển giữa các địađiểm trong cùng một khu vực được suy đoán là người tiêu dụng chấp nhận nếu

Trang 33

nó không làm giá bán lẻ sản phẩm tăng quá 10% Hiện nay, hầu như các doanhnghiệp đầu mối nhập khẩu và phân phối xăng dầu, doanh nghiệp sản xuất cócác trụ sở chính và công ty trực thuộc, hệ thống kho/cảng, hệ thống phân phốitrên khắp các tỉnh từ miền Bắc vào miền Nam Về giá bán các loại xăng dầu,tính đến thời điểm tháng 9/2014, trên thị trường kinh doanh xăng dầu ở nước tamức giá bán các mặt hàng xăng dầu giữa các doanh nghiệp vẫn gần như đồngnhất, và có áp dụng mức giá tăng không quá 2% đối với các địa bàn xa cảngđầu nguồn, tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu, chi phí kinh doanh cao Vì vậy, cóthể coi toàn lãnh thổ Việt Nam là thị trường địa lý liên quan trong hoạt độngkinh doanh xăng dầu nói chung, có điều kiện cạnh tranh tương tự trong toàn thịtrường và khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý khác.

Thứ ba, xác định các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan

Để xác định thị trường liên quan, không chỉ xem xét khả năng thay thếcủa sản phẩm, sự thay thế về cầu mà còn phải xét đến khả năng thay thế vềcung Nghị định số 116/2005/NĐ-CP có quy định như sau:

Khả năng thay thế về cung được hiểu là khả năng của doanhnghiệp đang sản xuất, phân phối một hàng hóa, dịch vụ chuyển sangsản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ khác trong một khoảng thờigian ngắn và không có sự tăng lên đáng kể về chi phí trong bối cảnh

có sự tăng lên về giá của hàng hóa, dịch vụ khác đó [9, Điều 6].Quá trình xác định các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan cầntiến hành qua hai bước: (1) là xác định số lượng các doanh nghiệp đang cùngkinh doanh các sản phẩm nằm trong phạm vi có thể thay thế cho nhau; và (2) làxác định các doanh nghiệp có khả năng thay thế về cung, tức là các doanhnghiệp có thể chuyển sang sản xuất các sản phẩm khác nếu thị trường có sựtăng lên về giá

Ngoài ra, Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành còn yêu

Trang 34

cầu phải xem xét sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường khi xác định thịtrường liên quan Các rào cản gia nhập thị trường này thường là các rào cản vềcông nghệ, chi phí đầu tư, thuế do đây có thể trở thành nguyên nhân của việcdoanh nghiệp gia nhập thị trường hoặc việc khách hàng không thể chuyển sangkhu vực khác để mua sản phẩm tương tự.

2.1.1.2 Xác định thị phần

Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh, thị phần của doanhnghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữadoanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanhnghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỉ lệphần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh sốmua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trênthị trường liên quan theo tháng, quý, năm Trên thị trường Việt Nam, thị phầncủa các doanh nghiệp thường được xác định đối với thị trường nhập khẩu xăngdầu và phân phối xăng dầu

Theo định nghĩa về thị phần, cơ sở xác định thị phần của doanh nghiệpđối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định trên thị trường liên quan chính làdoanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào đối với loại hàng hoá, dịch vụ đó củadoanh nghiệp trên thị trường liên quan Doanh thu bán ra, doanh số mua vàođược xác định theo quy định của pháp luật về thuế, chuẩn mực kế toán ViệtNam và một số quy định đặc thù dành cho nhóm doanh nghiệp liên kết về tổchức và tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tín dụng [8]

Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, “doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” [28, Điều 11].

Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam chỉ dựa trên thị phần để xác định vị tríthống lĩnh thị trường chứ không căn cứ vào các yếu tố rào cản gia nhập thị

Trang 35

trường, tương quan giữa các doanh nghiệp như pháp luật các nước khác Điềunày khiến cho việc xác định vị trí thống lĩnh có thể không chính xác khi xảy ratrường hợp có những doanh nghiệp chiếm hơn 30% thị phần nhưng lại không

có vị trí thống lĩnh thị trường trên thực tế, do có doanh nghiệp khác chiếm thịphần nhiều hơn của họ trên thị trường liên quan, Nếu việc xác định khôngchính xác có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh thịtrường nhưng lại bị xử lý vì hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Đối với nhóm doanh nghiệp, pháp luật cạnh tranh cũng dựa trên thị phần

để xác định vị trí thống lĩnh của nhóm doanh nghiệp Theo Luật Cạnh tranhthì:

Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trườngnếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc mộttrong các trường hợp sau đây: (a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần

từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; (b) Ba doanh nghiệp cótổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; (c) Bốn doanhnghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan [28,Điều 11, Khoản 2]

Đối với vị trí thống lĩnh của nhóm doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh giớihạn số lượng doanh nghiệp là 4 (bốn) Điều này có thể được lý giải là khi thịtrường đã có từ 5 (năm) doanh nghiệp trở nên cùng tham gia sản xuất một loạihàng hóa, cung ứng một loại dịch vụ thì trên thị trường đã hình thành môitrường có tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Mặt khác, hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh thị trường của nhóm doanh nghiệp phải là do các doanh nghiệpkhông có thỏa thuận trước nhưng đã cùng hành động, cùng nhau thực hiện cáchành vi hạn chế cạnh tranh, nếu có thỏa thuận trước thì các doanh nghiệp sẽ bịxem xét xử lý về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Nếu có nhiều doanhnghiệp trên thị trường như vậy thì rất khó để các doanh nghiệp

Trang 36

đồng thời hành động mà không có thỏa thuận trước, vì vậy 4 (bốn) doanhnghiệp là con số tối đa trong nhóm doanh nghiệp bị xem xét hành vi lạm dụng

vị trí thống lĩnh

2.1.1.3 Khả năng gây hạn chế cạnh tranh

Đây được coi là ngoại lệ của việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường, đểxác định vị trí thống lĩnh của những doanh nghiệp chiếm chưa đến 30% thịphần nhưng có căn cứ cho rằng doanh nghiệp này có vị trí thống lĩnh và có khảnăng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Điều 22 Nghị định số116/2005/NĐ-CP đã đưa ra các căn cứ cụ thể để xác định khả năng gây hạn chếcạnh tranh một cách đáng kể bao gồm:

(1) Năng lực tài chính của doanh nghiệp; (2) Năng lực tàichính của tổ chức kinh tế, cá nhân thành lập doanh nghiệp; (3) Nănglực tài chính của tổ chức, cá nhân có quyền kiểm soát hoặc chi phốihoạt động của của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật hoặcđiều lệ của doanh nghiệp; (4) Năng lực tài chính của công ty mẹ; (5)Năng lực công nghệ; (6) Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sởhữu công nghiệp; (7) Quy mô của mạng lưới phân phối [9, Điều 22].Các căn cứ trên cho thấy khả năng chiếm lĩnh thị phần cao hơn trongtương lai, khả năng chi phối thị trường khiến cho doanh nghiệp có sức mạnhnhất định khi tham gia thị trường, và có sức mạnh chi phối các doanh nghiệpkhác, các khách hàng trong các mối quan hệ kinh doanh Các doanh nghiệp nàytuy không đủ thị phần để trở thành doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường,nhưng nếu đây là các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động bởi vốn củacông ty mẹ tại nước ngoài thì với sự hậu thuẫn của các công ty mẹ, các doanhnghiệp này có thể tiến hành các hoạt động hạn chế cạnh tranh tương tự nhưdoanh nghiệp đã đủ thị phần để trở thành doanh nghiệp thống lĩnh Các cơquan có thẩm quyền có thể dựa vào một hoặc một số các căn cứ

Trang 37

nói trên để xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay không Tuy nhiên,Nghị định số 116/2005/NĐ-CP mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các căn cứ này

mà chưa có các quy định cụ thể, đặc biệt là về mặt định lượng để xác định cáccăn cứ trên thực tế Điều này đòi hỏi các nhà làm luật cần nghiên cứu kỹ càng

để làm rõ các tiêu chuẩn, các yếu tố cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi cho việc

áp dụng luật để xác định khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể

2.1.2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm theo phápluật cạnh tranh

Pháp luật Cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm cụ thể về hành

vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà tiếp cận theo hướng liệt kê cáchành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh Theo đó, khi doanh nghiệp có vị trí thốnglĩnh thị trường thực hiện một hoặc một số các hành vi được liệt kê đó thì doanhnghiệp sẽ bị áp dụng chế tài cho hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.Các hành vi được liệt kê trong Luật Cạnh tranh bao gồm:

2.1.2.1 Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Đây là hành vi mà doanh nghiệp chấp nhận lỗ hoặc hi sinh lợi nhuận đểbán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủcạnh tranh Giá thành toàn bộ theo quy định của Nghị định số 116/2005/NĐ-

CP bao gồm chi phí cấu thành giá thành sản xuất hàng hóa, dịch vụ theo quyđịnh của pháp luật hoặc giá mua hàng hóa để bán lại và chi phí lưu thông hànghóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật [9] Doanh nghiệp đã dựa vào nguồnlực tài chính mạnh, hoặc nguồn hỗ trợ thu nhập từ các ngành nghề kinh doanhkhác để hạ giá thành hàng hóa, thu hút khách hàng của các doanh nghiệp đốithủ, khiến các doanh nghiệp đối thủ không bán được hàng và lâm vào tìnhtrạng phá sản Sau khi các đối thủ cạnh tranh bị loại bỏ, khách hàng sẽ phảiphụ thuộc vào nguồn hàng hóa do doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh

Trang 38

cung cấp và lúc này, doanh nghiệp có thể tăng vọt giá bán sản phẩm lên để thulợi nhuận nhiều hơn, bù lại những thiệt hại do việc giảm giá đem lại, củng cố vịtrí thống lĩnh thị trường, tiến đến trở thành doanh nghiệp độc quyền Để xácđịnh hành vi này cần dựa vào các yếu tố sau:

+ Xác định giá bán thực tế của sản phẩm: Trong trường hợp doanh

nghiệp không trực tiếp bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng thì giá bán thực tếđược xác định là giá bán mà doanh nghiệp đã áp dụng đối với nhà phân phối(khách hàng trực tiếp) của doanh nghiệp Còn đối với trường hợp doanh nghiệp

có thực hiện bán lẻ một cách trực tiếp thì giá bán thực tế được sử dụng là giábán lẻ doanh nghiệp áp dụng với khách hàng Trường hợp đặc biệt, nếu doanhnghiệp vừa phân phối sản phẩm, vừa bán lẻ sản phẩm thì cơ quan chức năng sẽxác định hai loại giá phân phối và bán lẻ một cách độc lập để xác định hành vi

vi phạm Một yêu cầu đặt ra khi xác định giá bán thực tế là cần phải điều tra vềgiá bán trên một vùng thị trường vừa đủ để xác định một chiến lược kinh doanhtrong một khoảng thời gian hợp lý Lý do là vì giá bán của hàng hóa dịch vụ bịđiều tra phải là mức giá nằm trong chiến lược bán sản phẩm dưới giá thànhtoàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ của doanh nghiệp, chứ không phải là mức giá tạimột thời điểm nhất định Trong trường hợp có sự thay đổi về giá, thay đổi vềkhu vực kinh doanh thì việc xác định giá của sản phẩm sẽ trở nên khó khănhơn Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có hướng dẫn cụ thể để xác định cáctiêu chí này

+ Xác định giá thành toàn bộ: Giá thành toàn bộ được hiểu là mức giá

cơ bản được cấu thành từ các chi phí cơ bản phát sinh trong quá trình sản xuất,lưu thông hàng hóa và được các doanh nghiệp sử dụng làm căn cứ xác địnhgiá bán hàng hóa, dịch vụ của mình Các yếu tố cấu thành giá thành toàn bộ cóthể được nhóm vào hai nhóm nhỏ gồm chi phí cấu thành giá thành sản xuấthàng hóa, dịch vụ hoặc mua giá mua sản phẩm để bán lại, và chi phí lưu thônghàng hóa, dịch vụ

Trang 39

+ So sánh giữa giá bán thực tế và giá thành toàn bộ của sản phẩm:

Công thức được áp dụng để xác định hành vi vi phạm, người ta tiến hành sosánh giữa giá thành toàn bộ với giá bán thực tế của sản phẩm để tìm mức chênhlệch theo công thức: Mức chênh lệch = Giá thành toàn bộ - giá sản phẩm Nếukết quả đạt được là con số dương (tức giá thành toàn bộ cao hơn giá bán thựctế) thì kết luận có vi phạm và ngược lại Theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam, ýđịnh và khả năng loại bỏ đối thủ của định giá hủy diệt được chứng minh từhiện thực là giá bán thấp hơn giá thành của sản phẩm trừ một số trường hợpđược quy định tại khoản 2 Điều 23 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP Theo

đó, cơ quan điều tra chỉ cần xác định và tính toán tất cả các chi phí đã đượcdoanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh sản phẩm (không sử dụng các khái niệm chiphí khả biến hay chi phí cố định làm căn cứ điều tra) và giá bán thực tế của sảnphẩm rồi so sánh chúng với nhau Do đó, hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ với mức giá gây lỗ mặc nhiên bị coi là định giá hủy diệt nếu doanh nghiệpthực hiện hành vi có quyền lực thị trường và hành vi đó không thuộc nhữngtrường hợp đặc biệt theo khoản 2 Điều 23 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP[9] Các trường hợp loại trừ được liệt kê khá cụ thể này có thể tạo thuận lợi choviệc áp dụng, song mặt khác lại làm cho pháp luật thiếu linh hoạt trong khi thịtrường luôn vận động

Quan niệm của các nhà làm luật Việt Nam về mục đích của hành vi này

là sự suy đoán và quy kết dựa vào hiện tượng giá bán bị hạ thấp một cách bấtthường [27, tr.97] Nói cách khác, khi cơ quan điều tra chỉ cần xác định giá bánthực tế, giá thành toàn bộ của sản phẩm và so sánh chúng với nhau, xem xétxem liệu chúng có thuộc các trường hợp được miễn trừ hay không mà khôngcần truy tìm bằng chứng về mục đích thực sự của người vi phạm Việc xem xétđến mục đích loại bỏ đối thủ chỉ có giá trị về mặt lý thuyết khi làm rõ bản chấtkinh tế và pháp lý của hành vi Cách tiếp cận này của các nhà làm luật ViệtNam khác với các nước trên thế giới như Canada, Ấn Độ,

Trang 40

Có những trường hợp mà doanh nghiệp phải tiến hành bán sản phẩmdưới giá thành toàn bộ do điều kiện khách quan, thì không phải là hành vinhằm hạn chế cạnh tranh Khoản 2 Điều 23 của Nghị định số 116/2005/NĐ-CP

đã liệt kê ra các hành vi bán sản phẩm dưới giá thành toàn bộ được miễn trừnhư hạ giá bán hàng hóa tươi sống, hạ giá bán hàng hoá tồn kho do chất lượnggiảm, lạc hậu về hình thức, không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.v.v [9]Việc giảm giá bán sản phẩm trong các trường hợp trên là nhằm giảm thiểu thiệthại đối với những hàng hóa sắp hư hỏng, lỗi thời nhằm xúc tiến việc tiêu thụhàng hóa hợp pháp bằng biện pháp khuyến mại; và nhằm thu hồi các khoảnđầu tư khi rút khỏi thị trường hoặc thay đổi kế hoạch kinh doanh Đây là cáchành động phục vụ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, phù hợp với điều kiệnkhách quan, và được pháp luật bảo vệ Để được hưởng sự miễn trừ, các doanhnghiệp thực hiện những hành vi trên phải niêm yết công khai, rõ ràng tại cửahàng, nơi giao dịch về việc hạ giá sản phẩm, về mức giá cũ, mức giá mới vàthời hạn hạ giá

2.1.2.2 Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

Đây là hành vi doanh nghiệp đã lợi dụng quyền lực của mình trong mốiquan hệ với khách hàng để làm lệch lạc giá cả nhằm thu lợi bất chính Các chủthể thực hiện hành vi vi phạm đã tác động đến giá của hàng hóa, dịch vụ, làmchúng bị sai lệch so với điều kiện bình thường của thị trường Khác với hành vibán sản phẩm dưới giá thành toàn bộ là khi doanh nghiệp hạ giá sản phẩmxuống, hành vi áp đặt giá này là khi doanh nghiệp tăng giá sản phẩm lên caohơn nhiều lần so với giá bán thực tế, nhằm thu nguồn lợi nhuận lớn dựa trênviệc bóc lột khách hàng Bởi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh nên khách hàngkhó có lựa chọn khác ngoài việc chấp nhận giá mà doanh nghiệp đưa ra Nhómhành vi này bao gồm hai loại hành vi chính sau:

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w