Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giao dịch có khả năng tư lợi và pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH LÝ
KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƢ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH LÝ
KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG
TƢ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Kinh tế:60380107
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Nguyên Khánh
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Lý
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 7
1.1 Tổng quan về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 7
1.1.1 Khái niệm giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 7
1.1.2 Đặc điểm của giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 11
1.1.3 Ảnh hưởng tiêu cực của giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần 15
1.1.4 Nhu cầu kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 20
1.2 Pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 24
1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 24
1.2.2 Căn cứ pháp lý xác định các giao dịch có khả năng tư lợi trong cổ ty cổ phần 26
1.2.3 Cấu trúc của pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 29
1.3 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về kiềm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần của một số quốc gia trên thế giới 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 46
2.1 Thực trạng điều chỉnh pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam 46
2.1.1 Những giao dịch trong công ty cổ phần được xác định là đối tượng bị kiểm soát theo pháp luật Việt Nam 46
2.1.2 Những quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước trong các công ty cổ phần có vốn đầu tư của nhà nước 51
Trang 52.1.3 Những quy định về điều kiện và tiêu chuẩn của người tham gia quản lýcông ty cổ phần 55
2.1.4 Những quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông và người quản lýnhằm kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi 60
2.1.5 Quy định về ranh giới được phép và không được phép tiến hành tronggiao dịch kinh doanh và cơ chế thông qua quyết định của công ty để tránh giaodịch có khả năng tư lợi 70
2.1.6 Quy định về chế độ công khai hóa thông tin 72
2.1.7 Quy định về kiểm soát nội bộ công ty 74
2.1.8 Cơ chế xử lý vi phạm trong giao kết và thực hiện giao dịch có khả năng
3.1 Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam 97
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát các giao dịch có khả năng
tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam 98
3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tưlợi trong công ty cổ phần 98
3.2.2 Các giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về kiểm soát cácgiao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần 105
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
: Hội đồng cổ đông: Hội đồng quản trị: Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hà Nội
: Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
: Luật Doanh nghiệp: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế: Tổng Giám đốc
: Trách nhiệm hữu hạn
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH, HỘP
Hình 1.1 Mô hình “song cấp” 45Hình 1.2 Mô hình “đơn cấp” 45Bảng 2.1 Đánh giá thực hiện các tiêu chí quản trị công ty 3 năm 89
(2009 – 2011)Hộp 2.1 Vi phạm của Tổng công ty Hàng Hải 78Hộp 2.2 Vụ việc vi phạm của Công ty cổ phần PJICO 81Hộp 2.3 Vi phạm tại Công ty cổ phần Dầu thực vật Tường An 83Hộp 2.4 Vụ việc Ban quản lý dự án PMU-18 85
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tếthị trường, mô hình kinh tế nhiều thành phần hình thành, phát triển đã mang đến chonền kinh tế Việt Nam những nét đặc thù rõ rệt so với các nền kinh tế ở các quốc giakhác trên thế giới Hệ thống công ty hiện nay của chúng ta là hệ quả tất yếu từ quátrình chuyển đổi và phát triển kinh tế trong hơn 20 năm qua Với cấu tạo đa dạng vàphức tạp, hoạt động của công ty nhà nước, công ty tư nhân, công ty có vốn đầu tưnước ngoài đều có những đặc điểm và mang lại những giá trị riêng, không thể phủnhận sức ảnh hưởng mạnh mẽ của công ty đối với sự phát triển của nền kinh tế.Ngược lại, nhiệm vụ của Nhà nước là tạo ra những cơ chế điều tiết hiệu quả đối vớicác công ty này trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng cho các đối tượng thamgia vào công ty và vì lợi ích chung của nền kinh tế - xã hội
Về bản chất công ty chính là một hợp đồng, khi góp vốn vào công ty các thànhviên đã tự nguyện cam kết vào một khế ước chung mà nền tảng là nguyên tắc tự dokinh doanh, tự do kết ước và tự do lập hội Một công ty hiệu quả, đạt được mục đíchchung mà các thành viên hướng tới đòi hỏi các thành viên trong công ty phải thiệnchí, thực hiện công việc của công ty như thực hiện công việc của chính bản thânmình [13] [8] Xét về mục tiêu thì pháp luật điều chỉnh chung, điều lệ công ty và cácvăn bản nội bộ của công ty luôn hướng tới việc làm sao để đạt được những hiệu quảtrên Tuy nhiên, trong quá trình vận hành của công ty, không phải lúc nào các thànhviên trong công ty cũng thực hiện đúng thỏa thuận chung và nghĩa vụ của mình
Thực tế, vấn đề lợi dụng công ty để tư lợi cho bản thân đã và đang diễn rangày càng phức tạp, đáng báo động ở Việt Nam Luận giải cho thực tế này cũng rất
dễ hiểu bởi kinh doanh vốn là hoạt động đa dạng và phức tạp trong khi nghĩa vụ trêncủa các thành viên xuất phát từ nền tảng đạo đức, những đòi hỏi về tính thiện
Trang 9chí, trung thực, cẩn trọng đều rất mơ hồ và khác nhau trong những tình huống khácnhau Vì vậy, các thành viên trong công ty rất có thể bỏ qua lợi ích của công ty, củacác chủ sở hữu khác để mưu lợi và thu lợi riêng cho bản thân thông qua các giaodịch của công ty.
Các giao dịch tư lợi nảy sinh sẽ gây thiệt hại về tài sản, uy tín của công ty, ảnhhưởng đến quyền lợi của các thành viên công ty, của các chủ thể có quyền lợi liênquan, kéo theo đó là ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ của công ty khi công
ty không còn đủ tài sản để thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ Ở phạm vi rộnghơn, các giao dịch tư lợi làm thất thoát tài sản của Nhà nước và xã hội, dẫn đếnnhiều hệ quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, đạo đức kinhdoanh và nền kinh tế của quốc gia Do đó, kiểm soát các giao dịch có khả năng tưlợi là vô cùng cần thiết và cấp bách nhằm bảo vệ lợi ích cho không chỉ bản thâncông ty và các thành viên công ty mà còn đảm bảo quyền lợi của tất cả các chủ thểtham gia giao dịch với công ty, vì lợi ích chung của quốc gia và toàn xã hội
Trên thế giới, kiểm soát giao dịch tư lợi không còn là mới mẻ, nhưng pháp luậtViệt Nam chưa có sự quan tâm thích đáng đến vấn đề này trên cả phương diện lýluận và thực tiễn Mặc dù, Luật Doanh nghiệp 1999 đã tạo bước khởi đầu cho việcxác lập cơ chế kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi và cơ chế này được cải thiệnhơn ở Luật Doanh nghiệp 2005 Pháp luật hiện tại về kiểm soát giao dịch có khảnăng tư lợi đã xác định hai loại giao dịch có khả năng tư lợi là đối tượng bị kiểmsoát gồm: giao dịch giữa công ty với những người có liên quan và giao dịch có giátrị tài sản lớn Tuy nhiên, trước diễn biến phức tạp của các hoạt động kinh doanhvốn đã đa dạng và tiềm ẩn nhiều nguy cơ tiêu cực thì việc hoàn thiện pháp luậtnhằm kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi là rất cần thiết và cấp bách Đặcbiệt là quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, việc hạn chế vàkiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ramột môi trường kinh doanh lành mạnh
Trang 10Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Kiểm soát các giao dịch có khả năng tư
lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề pháp lý liên quan đếnkiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi Cụ thể, luận văn nghiên cứu về các giaodịch có khả năng tư lợi là đối tượng bị kiểm soát và các biện pháp nhằm kiểm soátcác giao dịch có khả năng tư lợi
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các giao dịch có khả năng tưlợi trong mô hình công ty cổ phần Luận văn đi sâu nghiên cứu các quy định liênquan đến kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần trong luậtDoanh nghiệp, đồng thời có sự liên hệ với các quy định trong một số luật liên quannhư: Luật Phá sản, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán…
3 Tình hình nghiên cứu
Kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi đã được đề cập khá nhiều, đặc biệt
là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO Vấn đề này đã được các chuyên gia, các nhànghiên cứu kinh tế, luật học rất quan tâm, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu như: Luận văn thạc sỹ “Một số vấn đề pháp lý về giao dịch trục lợi” của tác giả
Vũ Thị Thanh Tâm; Luận văn thạc sỹ “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát
sinh tư lợi theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005” của tác giả Ngô Thị
Bích Phương; bài viết trên Tạp chí Luật học số 1/2004 “Kiểm soát các giao dịch tư
lợi trong công ty theo Luật Doanh nghiệp” của Ths Lê Đình Vinh; bài viết “Kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi theo Luật Doanh nghiệp 2005” của
Ths Trần Thị Bảo Ánh Ngoài ra, vấn đề kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợicũng đã được đề cập trong một số giáo trình và sách tham khảo của các trường đại
học như: Giáo trình Luật Thương mại – Phần chung và thương nhân của PGS.TS
Ngô Huy Cương, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Bên cạnh đó, kiểm soát
Trang 11giao dịch tư lợi cũng là chủ đề của một số diễn đàn chia sẻ nghiên cứu khoa học gầnđây.
Tuy nhiên, những công trình khoa học và những bài viết đã nghiên cứu đềutiếp cận vấn đề kiểm soát giao dịch tư lợi ở góc độ chung nhất hoặc chỉ nghiên cứutrong phạm vi hẹp là Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 chưa sửađổi, bổ sung Có thể khẳng định rằng, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứunào về các giao dịch có khả năng tư lợi trong phạm vi mô hình công ty cổ phần Cáccông trình nghiên cứu trên chưa có sự nghiên cứu sâu và kết nối giữa Luật Doanhnghiệp và các luật chuyên ngành khác như: Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, LuậtChứng khoán,… và một số quy định của quốc tế Từ khi Luật Doanh nghiệp 2005được sửa đổi bổ sung năm 2009 ra đời đến nay đã 8 năm và Luật Doanh nghiệp
2005 lại tiếp tục nằm trong đề án đưa ra sửa đổi, bổ sung lần thứ 2, cộng với quátrình hội nhập khu vực, hội phập quốc tế phát triển mạnh mẽ (đánh dấu bằng việctrở thành thành viên chính thức của ASEAN, ASEM, APEC và WTO), chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào về đề tài kiểm soát giao dịch tư lợi ở góc độ pháp lýchuyên sâu và phạm vi nghiên cứu như tác giả đề xuất
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về giao dịch có khả năng tư lợi và pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng
tư lợi trong công ty cổ phần; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn ápdụng pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
ở Việt Nam hiện nay; để từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện phápluật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Namtrong thời gian tới
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứusau đây:
Trang 12- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giao dịch có khả năng tư lợi
và pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần;
- Nghiên cứu so sánh về kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về kiểm soát cácgiao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở một số quốc gia trên thế giới;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật điều chỉnh các vấn đềliên quan đến giao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợitheo pháp luật Việt Nam;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát cácgiao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay;
- Nghiên cứu, đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểmsoát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần ở Việt Nam trong thời gian tới;
- Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật vềkiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi
5 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận văn vận dụngphương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác-Lênin.Đây là phương pháp khoa học vận dụng nghiên cứu trong toàn bô luận văn để đánhgiá khách quan sự thể hiện của các quy định pháp luật về giao dịch có khả năng tưlợi nói riêng và vấn đề về quản trị công ty nói chung
Về phương pháp nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: Phương pháp phân tích, phươngpháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử Ngoài ra, luận văn còn
sử dụng phương pháp so sánh để làm rõ các vấn đề liên quan đến kiểm soát các giaodịch có khả năng tư lợi giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, qua đó thấyđược sự tương đồng, khác biệt của Việt Nam và quốc tế làm luận cứ xác thực cho
Trang 13việc đưa ra các giải pháp khắc phục những bất cập của pháp luật hiện nay về kiểm soát giao dịch tư lợi.
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đếngiao dịch có khả năng tư lợi và kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi Về mặt lýluận, luận văn đưa ra cái nhìn tổng quan về giao dịch có khả năng tư lợi qua kháiniệm và đặc điểm của giao dịch tư lợi, tác động của giao dịch có khả năng tư lợi,đồng thời xác định cấu trúc của pháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi
Về mặt thực trạng, trên cơ sở phân tích, tổng hợp quy định pháp luật điều chỉnh vàthực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi, luận văn đưa ranhững nhận định, đánh giá Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiệnpháp luật về kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi và cơ chế nâng cao hiệu quảthực thi pháp luật
7 Kết cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao dịch có khả năng tư lợi và pháp luật
về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợitrong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam;
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát cácgiao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH TƯ LỢI VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CÁC GIAO DỊCH CÓ KHẢ NĂNG TƯ LỢI TRONG CÔNG
TY CỔ PHẦN 1.1 Tổng quan về kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công
ty cổ phần
1.1.1 Khái niệm giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
Xuất phát từ những bất lợi mà thương nhân hoạt động kinh doanh đơn lẻ phảigánh chịu, hình thức liên kết các nhà đầu tư đã ra đời Cùng với thời gian, sự thayđổi và phát triển của kinh tế - xã hội, các hình thức liên kết kinh doanh này ngàycàng phát triển đa dạng, phong phú và được thể hiện bằng rất nhiều các mô hìnhdoanh nghiệp khác nhau Có thể nói, do sự phức tạp của hoạt động kinh tế nênkhông thể khẳng định được mô hình doanh nghiệp nào ưu điểm hay hạn chế hơn các
mô hình khác mà ưu điểm và hạn chế này được xem xét tùy vào từng trường hợp.Tuy vậy, hình thức công ty cổ phần là một trong những mô hình doanh nghiệp được
sử dụng nhiều nhất hiện nay
So với quá trình phát triển của các hình thức công ty khác như công ty hợpdanh, công ty hợp vốn đơn giản, công ty TNHH thì công ty cổ phần ra đời muộnnhất và là loại hình điển hình của công ty đối vốn Đặc điểm pháp lý của công ty cổphần là: Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân; có cấu trúc vốn “mở”; cơ cấu quảntrị chặt chẽ, trong đó mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng; các thành viên (nhữngngười quản trị công ty) đều không có tư cách thương nhân mà bản thân công ty mới
là thương nhân; cổ đông không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản củacông ty ngoài phạm vi giá trị cổ phần mà cổ đông nắm giữ
Công ty cổ phần nói riêng, các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung đểtồn tại và phát triển được phải tham gia giao dịch với các chủ thể khác trong xã hội
Trang 15Tuy nhiên, công ty với tính chất là một tổ chức vì vậy công ty không thể tự mìnhthiết lập các giao dịch mà phải thông qua người đại diện Vì vậy mà giao dịch tư lợi
có khả năng phát sinh Có rất nhiều cách hiểu và quan niệm khác nhau về giao dịch
có khả năng tư lợi, trong đó hiểu thế nào là tư lợi cũng là vấn đề gây tranh cãi Cóquan điểm cho rằng tư lợi là lợi ích của cá nhân, cũng có quan điểm hiểu tư lợi là tưnhân về lợi ích Mặc dù, có nhiều cách hiểu khác nhau về tư lợi nhưng phạm vi
“giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần” thì tư lợi ở đây được hiểu làmột cá nhân thông qua thủ đoạn nào đó được che đậy bởi vỏ bọc của hành vi hợppháp để mang lại lợi ích nhất định cho mình Khái niệm giao dịch tư lợi là cách nóitắt để chỉ những giao dịch có sự tham gia của công ty mà những giao dịch này cónguy cơ bị trục lợi bởi người đại diện cho công ty Ở những giao dịch này, quyền lợicủa nhà nước, của tập thể, của chủ sở hữu có nguy cơ bị xâm hại do các chủ thể đạidiện cho tập thể thiết lập giao dịch với các chủ thể khác và mục đích của việc thiếtlập giao dịch này không xuất phát từ quyền lợi của tập thể mà xuất phát từ quyền vàlợi ích của cá nhân người đại diện
Hiểu thế nào là người đại diện trong các khái niệm về giao dịch có khả năng tưlợi trước hết cần phải hiểu người đại diện của công ty và người đại diện tham giagiao dịch là gì? Người đại diện là các cá nhân được trao quyền quản lý, điều hành,thay mặt công ty tham gia các giao dịch với các chủ thể khác Trong công ty cổphần, người đại diện có thể là người được lựa chọn ra trong số những nhà đầu tưgóp vốn vào công ty hoặc họ có thể là người được công ty thuê đảm nhiệm vị trínày Theo lẽ thường, người đại diện được các thành viên khác trong công ty giaocho làm một công việc hay nhân danh công ty thực hiện một giao dịch thì người đạidiện phải đảm bảo thực hiện công việc được giao phó vì lợi ích của công ty Điều cơbản là phải tách bạch được lợi ích của cá nhân người đại diện và lợi ích chung củacông ty, mục đích của giao dịch phải hướng vào quyền và lợi ích của công ty Đểthực hiện được điều này, người đại diện cần phải có những phẩm chất phù hợp,ngoài phẩm chất như thiện tâm, trung thực, mẫn cán, người đại diện còn bị dàngbuộc bởi trách nhiệm đối với công việc của mình và trách nhiệm giải trình một cách
Trang 16thuyết phục khi các thành viên khác yêu cầu Tuy nhiên, việc xa rời nền tảng đạođức này làm ảnh hưởng đến những quyết định của người đại diện, người đại diện cóthể lạm dụng công ty và quyền lực, địa vị của mình để mưu lợi riêng.
Người đại diện là người nhân danh và vì lợi ích của chủ thể được đại diện(người được đại diện) xác lập, thay đổi, chấm dứt các giao dịch trong phạm vi đạidiện Việc phát sinh quan hệ đại diện được xác lập theo hai hình thức: do pháp luậtquy định hoặc theo sự ủy quyền Đại diện theo pháp luật là sự đại diện do pháp luậtquy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định Chẳng hạn, người đạidiện theo pháp luật của công ty cổ phần là người mà công ty đăng ký với vị trí là
“người đại diện theo pháp luật”, thường thể hiện trong Điều lệ công ty hoặc Giấyđăng ký kinh doanh của công ty (thường là GĐ/TGĐ nếu Điều lệ không quy địnhChủ tịch HĐQT là người đại diện) Trường hợp nếu người đại diện theo pháp luậtcủa công ty cổ phần ủy quyền cho một người khác thực hiện công việc thuộc quyềnhạn của mình thì người được ủy quyền đó được gọi là người đại diện theo ủy quyền.Trong quá trình nghiên cứu về các giao dịch có khả năng tư lợi, người đại diện đượchiểu là bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền củacông ty
Qua thực tiễn hoạt động của các công ty cổ phần cho thấy nhóm các giao dịchthường có nguy cơ phát sinh tư lợi gồm: giao dịch giữa công ty và người quản lýcông ty; giao dịch giữa công ty và bố, mẹ anh chị em ruột của những người quản lýcông ty; giao dịch giữa công ty và cổ đông lớn của công ty; giao dịch giữa các công
ty con của cùng một công ty mẹ; giao dịch gữa công ty và các công ty khác, trong
đó người quản lý công ty là cổ đông hoặc người thân của họ là cổ đông lớn trongcông ty đó, hoặc có thể đơn giản là các quyết định từ bỏ các khoản nợ, quyền đòinợ,… Những giao dịch này thường núp dưới bỏ bọc hợp pháp Về mặt lý luận, nếunhư các giao dịch này được thực hiện một cách trung thực vì lợi ích công ty thì vẫnđược xem là hợp pháp Chúng chỉ bị coi là các giao dịch bất hợp pháp khi người xáclập giao dịch có ý đồ tước đi lợi ích của công ty làm lợi ích của riêng mình [39]
Trang 17Khoa học pháp lý gọi giao dịch tư lợi là các giao dịch mà trong đó có thể sẽchứa đựng khả năng xung đột về quyền lợi (xung đột giữa quyền lợi của công ty vàquyền lợi của cá nhân người đại diện) Thực chất, mục đích các giao dịch của công
ty là hướng tới quyền lợi của công ty, ý chí trong các giao dịch này là ý chí củacông ty Tuy nhiên, người đứng ra để bày tỏ ý chí đó lại là người đại diện của công
ty, nếu người đại diện công ty trung thành với quyền lợi của công ty hoặc quyền lợicủa họ tỷ lệ thuận với quyền lợi của công ty thì giao dịch đó có sẽ ít có khả năng bị
tư lợi Ngược lại, nếu người đại diện không có chung quyền lợi với doanh nghiệp thìgiao dịch đó rất dễ bị biến đổi về bản chất, các giao dịch này rất dễ xảy ra tiêu cực.Hay nói cách khác, khi đứng giữa một bên là lợi ích công ty và một bên là lợi ích cánhân thì người đại diện đáng nhẽ có trách nhiệm thực hiện quyền lợi cho công ty thì
họ lại lựa chọn lợi ích của bản thân Việc lựa chọn giao dịch để trục lợi cá nhân củangười đại diện làm ảnh hưởng hoặc gây thiệt hại về quyền lợi, tài sản cho công ty
mà họ làm đại diện
Theo Bộ quy tắc của OECD về Quản trị công ty, giao dịch có khả năng tư lợiđược hiểu thông qua những quy định về giao dịch nội gián (insider trading) và hành
vi lạm dụng kinh doanh để tư lợi (abusive self-dealing), hành vi này xảy ra khi các
cá nhân có quan hệ thân thiết với công ty, bao gồm cả cổ đông nắm quyền kiểm
soát, lợi dụng các quan hệ đó gây tổn hạn cho công ty và nhà đầu tư [46] Tuynhiên, theo tôi, chúng ta cần phân biệt khái niệm giao dịch có khả năng tư lợi vớigiao dịch nội gián – hành vi buôn bán nội gián (insider dealing) trong công ty Theo
đó, hành vi buôn bán nội gián cũng là một dạng của giao dịch tư lợi, hành vi nàythường được thực hiện bởi một người có khả năng tiếp cận các thông tin bí mật,chưa được công bố trong công ty Thực tế, giao dịch nội gián thường được dùng đểchỉ những hoạt động mua bán chứng khoán ngầm nhằm trục lợi bằng việc sử dụngcác thông tin bí mật mà chỉ những người trong nội bộ công ty (thường là người quản
lý, điều hành công ty) mới có, còn những người ngoài không thể biết được
Trang 18Như vậy, có nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về giao dịch có khả năng tư
lợi, nhưng tóm lại giao dịch có khả năng tư lợi (self-interest transactions) là những
giao dịch có khả năng sẽ gây thiệt hại về tài sản, quyền lợi cho công ty do người đại diện công ty tham gia giao dịch lạm dụng vị thế của mình để thực hiện các giao dịch nhằm thu lợi cho cá nhân.
Có thể nói, các “giao dịch có khả năng tƣ lợi” được gọi theo nhiều cách
khác nhau như: giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi, giao dịch trục lợi, hợp đồng
có nguy cơ phát sinh tư lợi, hợp đồng tư lợi,… và thường được gọi tắt là “giao dịch
tƣ lợi”, đây cũng là cách gọi được sử dụng nhiều nhất Tuy nhiên, nếu xem xét theo
nghĩa rộng thì “giao dịch có khả năng tư lợi” là cách gọi chính xác nhất Cách gọitắt “giao dịch tư lợi” thường cho người đọc hiểu là các giao dịch đã xảy ra sự tư lợicủa người đại diện Trong khi đó giao dịch có khả năng tư lợi có phạm vi bao quátrộng hơn, gồm cả những giao dịch có “khả năng” sẽ phát sinh tư lợi và cả nhữnggiao dịch chắc chắn đã có tư lợi trong đó - giao dịch tư lợi
1.1.2 Đặc điểm của giao dịch có khả năng tƣ lợi trong công ty cổ phần
Khác với các giao dịch thông thường, giao dịch có khả năng tư lợi có các đặcđiểm sau:
Thứ nhất, giao dịch có khả năng tƣ lợi chỉ diễn ra khi có sự trao quyền quản lý, điều hành trong kinh doanh.
Một cá nhân tự thực hiện giao dịch cho chính mình thì sẽ không bao giờ cógiao dịch tư lợi Hay trường hợp người đại diện cho cá nhân, hay người được cánhân ủy quyền thực hiện giao dịch thì cũng không được xem xét là pháp luật kiểmsoát các giao dịch có khả năng tư lợi Như vậy, giao dịch tư lợi chỉ có thể nảy sinh ởmột tổ chức, khi nó tồn tại ít nhất hai lợi ích xung đột nhau, một bên là lợi ích tậpthể và một bên là lợi ích của người đại diện Tuy nhiên, không phải tổ chức nàocũng tồn tại giao dịch có khả năng tư lợi Chẳng hạn như doanh nghiệp tư nhân và
hộ kinh doanh Những tổ chức này không có tư cách pháp nhân bởi nó không phải
Trang 19là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó Mọi tài sản trong các tổ chức
này đều là tài sản của cá nhân tạo lập nên nó (chủ sở hữu) Chủ sở hữu được hưởng
toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ [8] Vì vậy, khi chủ sở hữu của
các tổ chức này thực hiện các giao dịch với các chủ thể khác giống như một cá nhân
tự thực hiện giao dịch cho chính bản thân mình Ngay cả trường hợp người chủ sởhữu của tổ chức này ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch thì về bản chất
cũng có thể coi như cá nhân ủy quyền cho cá nhân khác thực hiện giao dịch Đối với
doanh nghiệp tư nhân bản chất pháp lý là thương nhân thể nhân [8], hay như hộkinh doanh cũng vậy với đặc điểm là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ, chủ sởhữu chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh và doanhnghiệp tư nhân, cả hai hình thức này đều không có tư cách pháp nhân Qua những lýgiải trên, giao dịch có khả năng tư lợi chỉ tồn tại trong các tổ chức có tư cách phápnhân Tức là, tổ chức đó phải thỏa mãn điều kiện tiên quyết là có tài sản độc lập với
cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó
Như chúng ta đã biết, trong xã hội tồn tại rất nhiều các hình thức liên kết kinhdoanh khác nhau của các nhà đầu tư Thông thường có hai thuật ngữ pháp lý được
sử dụng nhiều nhất để chỉ các hình thức liên kết kinh doanh đó là “công ty” và
“doanh nghiệp” [17] Nếu xét theo thời gian thì “công ty” là thuật ngữ được sử dụnglâu đời hơn “doanh nghiệp”, xét về bản chất thì “công ty” và “doanh nghiệp” đềugiống nhau chỉ khác nhau ở tên gọi mà thôi, tuy nhiên xét về phạm vi thì “doanhnghiệp” có phạm vi rộng hơn, “doanh nghiệp” là khái niệm chung nhất để chỉ cácloại hình kinh doanh (hay gọi là loại hình doanh nghiệp), còn công ty là một loạihình doanh nghiệp [28] Việc phân biệt giữa hai thuật ngữ trên để thống nhất phạm
vi chỉ các giao dịch tư lợi, các giao dịch có khả năng tư lợi được hiểu là các giaodịch của công ty: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợpdanh, Nói đến giao dịch có khả năng tư lợi được hiểu là nói đến các giao dịch củacông ty chứ không phải của các chủ thể khác Các công ty này tồn tại thông qua cáchợp đồng với chủ thể kinh doanh khác, khi tham gia giao dịch với các chủ thể kinh
Trang 20doanh khác công ty phải ủy quyền cho một cá nhân khác (người đại diện) Cá nhânnày sẽ đại diện và nhân danh công ty để thực hiện giao dịch vì lợi ích của công ty.Cũng chính vì vậy mà giao dịch tư lợi có thể nảy sinh khi người đại diện đắn đotrước lợi ích của công ty và lợi ích của bản thân họ.
Đối với các giao dịch trong công ty cổ phần cũng như những phân tích ở trên,nếu giao dịch của công ty cổ phần được thông qua ĐHĐCĐ, được mọi thành viêntrong hội đồng tự nguyện chấp thuận theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng thì khảnăng tư lợi của các giao dịch này gần như là không có Tuy nhiên, nếu những giaodịch của công ty mà chỉ do người đại diện của công ty thực hiện thì khả năng tư lợicủa các giao dịch này sẽ lớn hơn gấp nhiều lần
Thứ hai, giao dịch có khả năng tư lợi là những giao dịch có sự lạm dụng
vị thế của người đại diện.
Như đã phân tích ở trên người đại diện trong các giao dịch có khả năng tư lợi
có thể là bất kỳ ai nhân danh công ty tham gia giao dịch với các chủ thể khác Aicũng biết mục đích trong các giao dịch, hợp đồng của công ty là lợi ích của công ty,nhưng công ty lại không thể tự mình bày tỏ ý chí mà phải thông qua người đại diện
Ở đây có hai từ then chốt là “mục đích” và “ý chí” Mục đích là kết quả cuối cùngđược mong đợi đạt được, đó là lý do tại sao một giao dịch được thực hiện Ý chí là
những nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong, ý chí được thể hiện ra bênngoài dưới một hình thức nhất định Trong quá trình thực hiện giao dịch với các chủthể khác, người đại diện đáng nhẽ phải dùng ý chí, quyết của mình để đạt được mụcđích là thu lợi cho công ty, tức là người đại diện cùng chung ý chí với công ty vìmục đích lợi ích của công ty Thì trong giao dịch tư lợi người đại diện lại dùng ýchí, quyết định của mình để thu lợi cho cá nhân Về động cơ và mục đích của ngườiđại diện trong các giao dịch tư lợi là thu lợi cho cá nhân Cơ sở hay phương tiện đểthực hiện được mục đích này là vị thế của người đại diện Vị thế chính là quyềnhành bao gồm: quyền nhân danh, quyền điều hành, quyền quản lý
Trang 21Trong công ty cổ phần cơ sở để người đại diện lợi dụng thực hiện hành vi trụclợi thông qua các giao dịch bao gồm: cổ đông, người đại diện ủy quyền của cổ đôngnắm số lượng cổ phần cao (cổ đông lớn, nắm giữ trên 35% tổng số cổ phần phổthông của công ty); người được cử làm quản lý, đại diện cho cổ đông là tổ chức;thành viên HĐQT, GĐ, TGĐ công ty cổ phần…
Thứ ba, trong giao dịch tư lợi mục đích lợi ích của công ty bị thay thế bằng lợi ích của người đại diện.
Bản chất của giao dịch tư lợi là sự có thể lạm dụng quyền lực được trao củangười đại diện cho công ty trong các giao dịch để tư lợi cho bản thân Vấn đề tư lợi
cho “bản thân” ở đây được nhìn nhận ở phạm vi rộng, có thể là quyền lợi của chính
bản thân người đại diện (lợi ích về tài sản, lợi ích về tinh thần, quyền lợi về địavị, ); có thể là quyền lợi của những người quan hệ với người đại diện (quan hệ lợiích, quan hệ thân nhân, quan hệ quản lý ); có thể là trục lợi cho người thứ ba(người thứ ba có thể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào)
Người đại diện có thể lạm dụng quyền lực của mình để tư lợi bằng nhiềuphương thức, có thể thông qua các hợp đồng của công ty hoặc có thể thông quahành vi pháp lý đơn phương Những hợp đồng tư lợi có thể xảy ra trên tất cả cáclĩnh vực như dân sự, lao động, kinh tế Có hai loại hợp đồng được cho là có khảnăng tư lợi lớn nhất đó là hợp đồng giữa công ty với những người có liên quan; vàhợp đồng có giá trị tài sản lớn Trong công ty cổ phần các hợp đồng có khả năng tưlợi rất phổ biến với hình thức đa dạng như: cài giá vào hợp đồng mua bán hàng hóacho công ty cao hơn mức bình thường; bán hàng hóa của công ty thấp hơn thịtrường; thuê mướn nhân công với những người có liên quan với mức lương cao hơnnhững người khác ở cùng một vị trí, công việc, trình độ tương đương; đầu tư vàomột dự án để trục lợi cá nhân Ngoài ra, có những hành vi pháp lý đơn phương mà
khả năng tư lợi rất lớn như: từ bỏ một vật quyền, từ bỏ quyền đòi nợ, cho hoãn nợ,
giãn nợ [8, tr 270]
Trang 22Thứ tư, giao dịch có khả năng tư lợi khi nảy sinh sẽ gây thiệt hại về tài sản, quyền lợi cho công ty.
Công ty hoạt động kinh doanh trên thương trường không chỉ dựa vào tài sản(giá trị vật chất) mà còn bao gồm cả những giá trị phi vật chất như: uy tín, danh dự.Giao dịch tư lợi khi nảy sinh có thể sẽ gây thiệt hại cho công ty về mặt tài sản hoặclàm giảm sút uy tín của công ty hoặc có thể vừa thiệt hại về tài sản vừa giảm sút uytín Từ những thiệt hại của công ty do giao dịch tư lợi gây ra dẫn đến những hậu quảtiêu cực mà các cổ đông đầu tư vào công ty phải gánh chịu và cả những ảnh hưởngđến các đối tác của công ty (mất cơ hội có được hợp đồng kinh doanh, bị cạnh tranhkhông lành mạnh…) Rộng hơn, giao dịch tư lợi còn ảnh hưởng đến môi trườngkinh doanh tác động xấu về mặt kinh tế xã hội
1.1.3 Ảnh hưởng tiêu cực của giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần
Khi một giao dịch trong công ty cổ phần trở thành giao dịch tư lợi, tức làquyền và lợi ích của công ty đã bị xâm phạm Có thể thấy ngay những ảnh hưởngtiêu cực của giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần thông qua việc phân tích nhữngtác động của giao dịch qua các khía cạnh sau: nguy cơ xâm phạm đến lợi ích côngty; nguy cơ xâm phạm đến các cổ đông của công ty; nguy cơ ảnh hưởng đến nhữngngười có quyền và lợi ích liên quan; ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế
Thứ nhất, những nguy cơ xâm phạm đến lợi ích công ty
Một trong những đặc điểm của giao dịch tư lợi là khi diễn ra nó sẽ gây thiệthại về quyền và lợi ích của công ty Giao dịch tư lợi sẽ kéo theo việc chuyển dịchngầm lợi ích của công ty cho các cá nhân Có thể nói, công ty là đối tượng luôn bịảnh hưởng trực tiếp của giao dịch tư lợi Những giao dịch này gây ra thiệt hại vềmặt tài sản của công ty Tài sản của công ty là một thuật ngữ pháp lý bao gồm tất cảcác quyền, quyền lợi, lợi nhuận có liên quan đến quyền sở hữu của công ty Nếu căn
cứ theo tính chất vật chất của tài sản thì tài sản trong công ty được chia làm hai loại:tài sản hữu hình và tài sản vô hình Những ảnh hưởng tiêu cực của giao dịch tư lợi
Trang 23trong công ty cũng được thể hiện ở hai loại thiệt hại đó là thiệt hại về đối với tài sảnhữu hình (thiệt hại hữu hình) và thiệt hại về đối với tài sản vô hình (thiệt hại vôhình) của công ty.
- Những thiệt hại về mặt tài sản hữu hình, trong công ty tài sản hữu hình lànhững tài sản mang thuộc tính vật chất mà chúng ta có thể nhìn thấy, nhận biết vàxác định được giá trị của nó dễ dàng Ví dụ như: tiền, hàng hóa, nhà xưởng, máymóc, dụng cụ, nguyên vật liệu,… Vì vậy, khi giao dịch tư lợi làm thiệt hại về mặtvật chất của công ty, nó làm hạn chế thậm chí triệt tiêu nguồn vốn dùng để tái đầu
tư của công ty Những lợi ích mà các tài sản đó đem lại đáng nhẽ “chảy” vào quỹcủa công ty thì qua các giao dịch tư lợi nó “chảy” vào túi của cá nhân Hay nói cáchkhác những kẻ nhân danh công ty để trục lợi trong các giao dịch đã chia nhau tiềncủa, tài sản của công ty Vì vậy các giao dịch tư lợi rút ngắn sự tồn tại và ngăn cản
sự phát triển của công ty Nó làm nhiều công ty càng kinh doanh càng thua lỗ, cànghoạt động càng bị thiệt hại
- Những thiệt hại về mặt tài sản vô hình, tài sản vô hình là những tài sản không
có hình thái vật chất nhưng có thể tạo ra những lợi thế và quyền hạn để mang lại giátrị kinh tế cho công ty Các tài sản này có thể là: uy tín, thương hiệu, khách hàng,các mối quan hệ của công ty, bản quyền, chủ quyền, phần mềm, giấy phép đăng ký,bằng sáng chế hoặc các sản phẩm,… Những thiệt hại phi vật chất mà giao dịch tưlợi gây ra cho công ty có rất nhiều và khó có thể xác định được giá trị tổn hại của
nó Chẳng hạn, giao dịch tư lợi làm tài sản của công ty bị thất thoát, uy tín của công
ty cũng vì thế mà bị giảm sút, thương hiệu của công ty bị ảnh hưởng Giao dịch tưlợi “rút ruột” công ty dẫn đến tình trạng kinh doanh yếu kém, khiến nhiều nhà đầu
tư không muốn bỏ vốn đầu tư, khách hàng không ký hợp đồng, hàng hóa khó bán…những cơ hội kinh doanh của công ty bị mất đi
Khi các quyền lợi trong công ty cổ phần bị thu vén bởi một nhóm người thìnhững cổ đông nhỏ sẽ tìm cách rút lui khỏi công ty, còn những nhà đầu tư nhỏ bênngoài sẽ ngần ngại trước việc bỏ vốn để mua cổ phiếu Bản thân công ty sẽ bị thiệt
Trang 24hại vì tài sản của công ty sẽ chảy dần vào túi một nhóm cổ đông và mất đi cơ hộiphát triển vốn Hơn thế nữa nếu thực hiện giao dịch tư lợi được một lần thì khi có cơhội sẽ tái diễn và xu hướng là tìm đến chính đối tác ấy để thực hiện những phi vụlàm ăn, đây cũng chính là một nguyên nhân làm thu hẹp các kênh đầu tư của công
ty, và công ty bị cô lập bởi sự lạm dụng quyền lực của những người được ủy quyềnđại diện
Nguồn “sống” của công ty chính là vốn và điều kiện kinh doanh Nhưng nếugiao dịch tư lợi xảy ra thì cả hai nguồn cung cấp “sự sống” của công ty đều bị cạnkiện và mất dần ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty [14] Có thể nói những thiệthại hữu hình và thiệt hại vô hình mà giao dịch tư lợi gây ra cho công ty có sự tácđộng qua lại lẫn nhau, thiệt hại này ảnh hưởng (làm phát sinh) thiệt hại kia và ngượclại
Thứ hai, những nguy cơ xâm phạm đến các cổ đông của công ty
Với đặc điểm là hình thức công ty đối vốn điển hình, công ty cổ phần là mộtchơi công bằng và bình đẳng của những người tham gia (những cổ đông) Khi gópvốn vào công ty, các cổ đông đã tự nguyện cam kết vào một khế ước chung (hợpđồng thành lập hoặc điều lệ công ty) là cùng hưởng lợi và cùng chịu rủi ro theo tỷ lệvốn góp của mình trong công ty Đây cũng là nguyên tắc được ghi nhận trong luậtcông ty của hầu hết các nước trên thế giới Tính bình đẳng của “cuộc chơi” thể hiện
ở chỗ cổ đông góp vốn nhiều thì hưởng lợi nhiều, thành viên góp vốn ít thì hưởnglợi ít Mục đích của các cổ đông khi góp vốn để thành lập công ty là thông qua hoạtđộng kinh doanh của công ty họ sẽ sử dụng một cách hiệu quả nhất số vốn củamình Họ sở hữu và được hưởng lợi công ty tương ứng với phần vốn góp của mìnhtrong công ty, và được phân chia lợi nhuận cũng như chịu nghĩa vụ về tài sản tươngứng với phần vốn đó Thế nhưng, nếu xảy ra giao dịch tư lợi, tài sản của công ty bịchảy dần vào túi một hoặc một nhóm cổ đông có vốn góp chi phối, thậm chí chảyvào túi của người không góp vốn vào công ty thì những người góp vốn khác trong
Trang 25công ty không những bị giảm sút về mặt lợi tức mà còn bị chia sẻ về mặt quyền vàlợi ích, họ góp vốn đầu tư mà để người khác chiếm hưởng.
Khi niềm tin của các cổ đông đối với công ty giảm sút, các cổ đông tìm cáchrút khỏi công ty, các nhà đầu tư e ngại bỏ vốn vào công ty Chúng ta thường xemxét những thiệt hại của công ty, nhưng những thiệt hại này phần lớn được chuyểngiao cho các nhà đầu tư của công ty Khi tài sản của công ty bị giảm sút có nghĩa làtài sản của các cổ đông bị cũng xâm hại và giảm sút Đối với các công ty cổ phầnchào bán cổ phiếu ra công chúng, có thể dẫn đến sự sụt giảm giá cổ phiếu của công
ty đó trên thị trường chứng khoán, gây ra tình trạng lộn xộn trên thị trường chứngkhoán khi các nhà đầu tư bán tống, bán tháo cổ phiếu của công ty, từ đó dẫn đến sựtổn thất các khoản vốn đầu tư của các nhà đầu tư Đây là thực tế dễ bắt gặp nhấttrong các công ty cổ phần để minh chứng cho những ảnh hưởng tiêu cực của giaodịch tư lợi trong loại hình công ty này
Thứ ba, những nguy cơ ảnh hưởng xấu đến người có quyền và lợi ích liên quan
Những người có quyền và lợi ích liên quan đến công ty ngoài các cổ đông –chủ sở hữu của công ty còn có các nhân viên, khách hàng, đối tác, chủ nợ… củacông ty
Từ những thiệt hại về tài sản và lợi ích của công ty do những hợp đồng tư lợiđem lại kéo theo đó là những thiệt hại của các nhân viên, những người làm công ănlương của công ty Các hợp đồng tư lợi làm cho công ty làm ăn thua lỗ, lợi nhuậngiảm sút không thể đảm bảo tiền lương trả cho nhân viên Người lao động rất có thểrơi vào tình trạng thất nghiệp, mất việc làm Đó là chưa nói đến những chính sách
mà công ty có thể ưu đãi nhân viên khi làm ăn tốt như tăng lương, thưởng, hoahồng, cải thiện điều kiện làm việc… Ngoài nội bộ công ty, các khách hàng và đốitác của công ty cũng là những người phải chịu ảnh hưởng không nhỏ do các giaodịch tư lợi Khi công ty bị cuốn vào các giao dịch tư lợi, giả sử đối tượng của các
Trang 26giao dịch hướng tới là hàng hóa kém chất lượng, công trình xây dựng bị “rút ruột”cho các chủ thể xác lập, thực hiện giao dịch thì người bị tác động đến đầu tiên lànhững khách hàng tiêu dùng hàng hóa và sử dụng các công trình đó Không chỉ vậy,những đối tác làm ăn với công ty (trừ chủ thể tham giao giao dịch) bị mất hợp đồng,mất cơ hội kinh doanh… gây ra thiệt hại cho chính bản thân các đối tác của công ty.Ngoài ra, khi lợi ích của công ty bị thiệt hại đến một mức nào đó công ty không còn
đủ khả năng thanh toán và rơi vào tình trạng phá sản sẽ kéo theo đó là sự thiệt hại vềquyền lợi của các chủ nợ của công ty khi công ty không còn đủ tài sản để thanh toáncác khoản nợ cho các chủ nợ
Thứ tư, những nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội
Giao dịch tư lợi còn dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng đếnmôi trường kinh doanh và nền kinh tế-xã hội của quốc gia Thực tiễn gần đây đãxuất hiện hàng loạt các vụ việc làm thất thoát tài sản của Nhà nước, ảnh hưởng đếnlợi ích kinh tế của quốc gia khi các những người quản lý, điều hành doanh nghiệplạm dụng quyền lực nhằm tư lợi cho riêng mình Trong khi các doanh nghiệp chiếm
vị trí quan trong trọng trong nền kinh tế, những thành bại của nền kinh tế phụ thuộcphần lớn vào sự phát triển của các doanh nghiệp Chẳng hạn, các doanh nghiệp nhànước được coi là xương sống của nền kinh tế Để nâng cao hiệu quả hoạt động củacác doanh nghiệp nhà nước, chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đượcthực hiện Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện nay đang là nơi cómôi trường và điều kiện thuận lợi nhất làm nảy sinh các giao dịch tư lợi Mục đíchhoạt động của các doanh nghiệp nhà nước là làm giàu cho đất nước nhưng nhiềudoanh nghiệp nhà nước làm cho ngân sách thâm hụt nặng nề
Giao dịch tư lợi dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, đó là khi các nhà quản lý điềuhành doanh nghiệp tìm cách rút ruột doanh nghiệp để tìm kiếm lợi nhuận cho bảnthân, mục tiêu lợi nhuận của nhà đầu tư bị xâm phạm Trong khi đó bản chất củahoạt động đầu tư là tính rủi ro cao, thì đối với công ty khả năng quản lý, điều hànhyếu kém sẽ làm đồng vốn của nhà đầu tư tăng tính rủi ro cao gấp nhiều lần Đối với
Trang 27nhà đầu tư nước ngoài là những người có phân tích thị trường và môi trường đầu tư
kỹ lưỡng, họ là những nhà đầu tư tiềm năng, có vốn lớn và cũng là những nhà đầu
tư có yêu cầu, đòi hỏi cao về quản trị công ty Nếu như các công ty ở Việt Nam đểxảy ra tình trạng người điều hành, quản lý công ty trục lợi trong các giao dịch thì họ
sẽ ngần ngại khi đầu tư vào Việt Nam Do đó, thị trường đầu tư không thể pháttriển, nguồn vốn FDI giảm sút, mục tiêu công nghiệp hóa hiện, hiện đại hóa đấtnước sẽ mãi xa vời
Giao dịch tư lợi còn ảnh hưởng đến sự phân tầng xã hội, nó làm cho một lớpngười có địa vị giàu lên một cách nhanh chóng bằng những hợp đồng phi pháp.Không những thế những giao dịch này còn đi ngược lại với quy luật thị trường vàgiá cả, đó là những giao dịch ngầm, giao dịch phi pháp không có sự cạnh tranh chứđừng nói tới cạnh tranh công bằng, bình đẳng và lành mạnh Điều này không nhữngảnh hưởng về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến mặt xã hội, đạo đức kinh doanh bịthách thức Ảnh hưởng xấu đến văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp và nềnkinh tế nói chung
Như vậy, các giao dịch tư lợi không những làm thất thoát tài sản của doanhnghiệp, tài sản Nhà nước, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, những người có quyềnlợi liên quan mà còn ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh,tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế, đe dọa môi trường kinh doanhlành mạnh của quốc gia Nội lực không thể phát huy, ngoại lực cũng không thể thuhút, nền kinh tế bị suy yếu Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng nhưhiện nay, những giao dịch tư lợi được ví như “con sâu làm rầu nồi canh”, nó khôngchỉ gây thiệt hại về mặt tài sản của quốc gia mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến môitrường kinh doanh và triệt tiêu các nguồn lực trong nền kinh tế
1.1.4 Nhu cầu kiểm soát giao dịch có khả năng tƣ lợi trong công ty cổ phần
Trang 28Kiểm soát là kiểm tra, giám sát, quản lý các giao dịch có liên quan đến công
ty Trong nguyên tắc quản trị cổ điển, “control” mang ý nghĩa kiểm soát, “kiểmsoát” là kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định Chữkiểm soát bao hàm ý nghĩa “bạo lực” trong đó [32] Trong nguyên tắc quản trị hiệnđại, cũng là chữ “control” nhưng ý nghĩa nhẹ nhàng hơn, kiểm soát ở đây bao gồm
cả kiểm tra, trong đó “kiểm tra” được định nghĩa là xem xét thực chất, thực tế Kiểmsoát hay kiểm tra như vậy, bao hàm sự hướng dẫn và huấn luyện nhiều hơn là trừngphạt Về mặt chủ thể thực hiện kiểm soát có thể là cơ quan nhà nước, có thể là chủthể hay bộ phận của công ty
Như vậy, Kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi là hoạt động nhằm kiểm
tra, giám sát, quản lý những giao dịch có khả năng sẽ gây thiệt hại về tài sản, quyền lợi cho công ty do người đại diện công ty lạm dụng vị thế của mình để thực hiện các giao dịch nhằm thu lợi cho cá nhân nhằm phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn, xử lý các giao dịch tư lợi trong công ty Xét theo công cụ thực hiện thì kiểm
soát giao dịch có khả năng tư lợi được hiểu theo nghĩa hẹp hơn đó là: kiểm soát các giao dịch tư lợi là thông qua các quy định của pháp luật để nhà nước và các công ty
thực hiện việc xem xét, ngăn chặn một hoặc một nhóm người dùng vị thế của mìnhtiến hành các giao dịch nhằm thu lợi cho cá nhân và gây thiệt hại cho công ty
Nhu cầu kiểm soát bằng pháp luật đối với các giao dịch có khả năng tư lợitrong công ty cổ phần được đặt ra từ những yếu tố sau:
Thứ nhất, xuất phát từ những ảnh hưởng tiêu cực của giao dịch tư lợi trong
công ty cổ phần như: nguy cơ gây thiệt hại về tài sản và quyền lợi của công ty; của
cổ đông – nhà đầu tư vào công ty; xâm phạm tiêu cực đến người có quyền và lợi íchliên quan và làm ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế - xã hội của quốc gia Như đãphân tích ở trên giao dịch tư lợi nếu không có sự kiểm soát sẽ gây ra hậu quả khôn
lường cho nhà nước, doanh nghiệp, các nhà đầu tư, và người dân.
Trang 29Thứ hai, kinh nghiệm cho thấy quyền lực nếu không được kiểm soát sẽ là
nguyên nhân dẫn đến lạm quyền Giao dịch tư lợi có điều kiện phát sinh từ nhiềunguyên nhân, nhưng chủ yếu và trước hết là do vấn đề trao quyền trong kinh doanh
và khả năng lạm dụng quyền lực được giao Lý thuyết về đại diện cho rằng, nếu cảhai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người quản lý công ty) đều muốn tối đahóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luônluôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các cổ đông và công ty Nếumột người tự đứng ra thực hiện giao dịch cho chính mình thì sẽ không bao giờ cógiao dịch tư lợi Chính vì vậy mà giao dịch tư lợi phổ biến diễn ra ở khu vực doanhnghiệp có vốn đầu tư của nhà nước và công ty cổ phần, nơi mà chủ sở hữu khôngthể tự mình đứng ra thực hiện hay giám sát mọi hoạt động, việc ủy thác và traoquyền đại diện cho một cá nhân là điều tất yếu Người đại diện thực hiện các giaodịch xét cho cùng cũng chỉ là một con người, việc đi chệch lợi ích doanh nghiệp làđiều không thể tránh khỏi Tuy nhiên, các giao dịch tư lợi thường được dưới vỏ bọccác hợp đồng hợp pháp Các giao dịch này thường được thực hiện rất tinh vi, khó bịphát hiện do đó việc kiểm soát chúng không phải là vấn đề đơn giản
Thứ ba, do những đặc điểm phức tạp về cơ cấu vốn và cơ cấu cổ đông, cơ chế
tổ chức quản lý của công ty cổ phần thường được quy định chặt chẽ hơn so với cácloại hình công ty khác Vốn đề tổ chức quản lý trong công ty cổ phần bao gồmnhững nội dung như: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý; thẩm quyền và thể thức hoạtđộng của các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lý công ty; nghĩa vụ của ngườiquản lý công ty cổ phần; và vấn đề kiểm soát các giao dịch tư lợi [31] Các nội dungnày có sự tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau
Công ty cổ phần có đặc điểm là công ty đối vốn, có những công ty có tới hàngtriệu cổ đông ở rải rác khắp nơi trên thế giới mà họ không hề quen biết nhau Thậmchí cổ đông trong công ty không quan tâm đến sinh hoạt nội bộ của công ty (trong
đó có các vị trí quản lý, điều hành, giám sát) bởi việc chuyển nhượng cổ phần rất dễdàng, do đó có sự tách biệt công việc quản trị của công ty Công ty cổ phần cũng có
Trang 30cơ cấu quản trị chặt chẽ mà trong đó mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng Như đãphân tích ở trên, công ty cổ phần đòi hỏi phải có một cơ cấu quản trị tách biệt, cơcấu này được thiết kế nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu công ty và thúcđẩy công ty hoạt động có hiệu quả, đồng thời ngăn cản sự tác động xấu của công tytới xã hội Mặc dù có cơ cấu quản trị chặt chẽ nhưng cơ cấu tổ chức của công ty cổ
phần cũng phức tạp hơn các công ty khác, các giao dịch trục lợi vì thế mà dễ phát
sinh nhiều trong các công ty cổ phần [8] Vì những lý do đó mà nhà làm luật thường
can thiệp sâu hơn vào việc quản trị công ty cổ phần so với các hình thức công tykhác
Thứ tư, tự do kinh doanh là điều kiện quan trọng để công ty tồn tại, hoạt động
và cạnh tranh trên thị trường Nhưng nếu thiếu những quy định rạch ròi của phápluật thì rất dễ có sự lẫn lộn giữa quyền tự do kinh doanh của công ty với quyền tự
do cá nhân của những người đại diện Trong các phương thức để kiểm soát thì phápluật được xem là công cụ hữu ích nhất để thực hiện hoạt động này Xuất phát từ vaitrò của pháp luật trong đời sống, là công cụ phục vụ hoạt động kiểm tra, kiểm soátđối với mọi chủ thể và phạm vi đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật rộng lớnnhất Thông qua hệ thống pháp luật của một quốc gia có thể đánh giá sự phát triểncủa quốc gia đó Trong giai đoạn hội nhập bùng nổ mạnh mẽ trong đó có cả hộinhập pháp luật, hội nhập kinh tế việc xây dựng được hệ thống pháp luật phù hợp vớiquốc tế thể hiện sự tiên tiến về lập pháp của đất nước Đó là lý do vì sao chúng takiểm soát các giao dịch tư lợi bằng pháp luật và pháp luật là công cụ mang tính hữuhiệu hơn hẳn những công cụ kiểm soát khác
Như vậy, vấn đề kiềm soát các giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần bằngpháp luật là rất cần thiết Việc kiểm soát các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợitrong doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi cho công ty, bảo vệ quyền lợi hợp phápcho các thành viên, cổ đông trong công ty và bảo vệ môi tường kinh doanh lànhmạnh, công bằng luôn được sự quan tâm của Nhà nước, của các doanh nghiệp vàcác thành viên, cổ đông trong công ty
Trang 311.2 Pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tƣ lợi trong công ty
Về mặt lý luận các giao dịch có khả năng tư lợi là những giao dịch hàm chứarủi ro cho công ty và khả năng chuyển giao lợi ích của công ty sang người đại diệncông ty thực hiện giao dịch Việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi nhằmhai mục đích: mục đích thứ nhất là bảo vệ quyền và lợi ích của công ty không bịtrục lợi bởi người đại diện (mục đích này thể hiện đặc thù của giao dịch có khả năng
tư lợi); mục đích thứ hai là đảm bảo lợi ích tốt nhất cho công ty (mục đích của mọi giao dịch trong công ty) Lợi ích tốt nhất ở đây được hiểu là khi lợi ích của các giao
dịch được quy đổi ra cùng một đơn vị hoặc được đưa về cùng một mặt bằng thìcông ty sẽ lựa chọn giao dịch nào mang lại lợi ích lớn nhất cho công ty Như vậygiữa giao dịch có khả năng tư lợi và các giao dịch thông thường khác, nếu như giaodịch có khả năng tư lợi mang lại lợi ích lớn hơn các giao dịch thông thường thì công
ty sẽ chọn giao dịch có khả năng tư lợi Và yêu cầu lúc này là làm sao để cho các cánhân không thể trục lợi được từ các giao dịch có nguy cơ trục lợi ấy
Theo tổng kết kinh nghiệm của thế giới, các giao dịch tư lợi có thể được kiểmsoát bằng một trong hai cách:
Cách thứ nhất, mang tính cấm đoán, tức là triệt tiêu mọi giao dịch có khả năng
làm phát sinh giao dịch tư lợi Theo đó pháp luật quy định cấm những người có liên
Trang 32quan của công ty thiết lập giao dịch với công ty đồng thời cấm công ty giao dịch vớinhững công ty khác mà ở đó người quản lý hoặc cổ đông công ty có lợi ích trực tiếphoặc gián tiếp Giải pháp này có thể loại trừ hoàn toàn khả năng phát sinh các giaodịch có mục đích tư lợi nhưng nó có nhược điểm là hạn chế quyền tài sản của các cổđông, thành viên là người đại diện, quản lí công ty Mặt khác, trên thực tế, khôngphải lúc nào các giao dịch giữa công ty với người đại diện quản lí công ty hay vớinhững người có liên quan của người đại diện, người quản lí công ty đều có mụcđích tư lợi Trong những trường hợp trên, các công ty còn bị mất đi cơ hội kinhdoanh, thậm chí là những khoản lợi nhuận hợp pháp vì những quy định cấm đoáncủa pháp luật.
Cách thứ hai, vẫn cho phép thiết lập và thực hiện các giao dịch có khả năng tư
lợi nhưng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ hơn các giao dịch thông thường Ởcách thứ hai pháp luật vẫn cho phép các chủ thể tiến hành các giao dịch đó nếu hợpđồng thành lập hoặc điều lệ công ty không cấm nhưng nó phải được công khai,minh bạch và có sự giám sát chặt chẽ Giải pháp thứ hai được đánh giá là loại bỏđược các giao dịch có nguy cơ phát sinh tư lợi vừa không ngăn cản những giao dịchgiữa công ty với thành viên, cổ đông quản lý công ty và những người có liên quancủa họ khi những giao dịch này đem lại lợi ích cho công ty
Về mặt khoa học, việc tiếp cận để xử lý các giao dịch tư lợi theo cách thứ hai
là hợp lý hơn Cách kiểm soát này không chỉ đảm bảo lợi ích của công ty khỏi bịxâm hại bởi các giao dịch tư lợi mà còn đảm bảo cho công ty khả năng có được lợitích từ giao dịch có khả năng tư lợi Hiển nhiên là những giao dịch tư lợi vẫn có thểmang lại lợi ích cho công ty nếu chúng được thực hiện một cách vô tư, khách quan
và đúng pháp luật
Vấn đề ở đây là xây dựng một cơ chế như thế nào cho hợp lý để giám sát vàngăn chặn hiệu quả các giao dịch tư lợi? Như vậy sẽ vừa loại trừ được yếu tố trụclợi vừa không ngăn cản những giao dịch giữa công ty với các thành viên quản lý,những người có liên quan đem lại lợi ích cho công ty Giao dịch có khả năng tư lợi
Trang 33phải được kiểm soát trên cả hai phương diện: pháp luật điều chỉnh chung và luật nội
a) Căn cứ vào chủ thể tham gia giao dịch
Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục tiêu nhất định,cho nên giao dịch là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, vớinhững mục đích và động cơ nhất định Do đó, xem xét yếu tố chủ thể tham gia giaodịch là một trong những căn cứ để xác định giao dịch có khả năng tư lợi Bởi nếunhư giữa các chủ thể này có mối quan hệ với chủ thể kia thì nguy cơ cao xảy ra giaodịch tư lợi để phục vụ lợi ích của một bên, một người hay một nhóm người Việcxác định giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần là những giao dịch giữacông ty và những người liên quan Những người liên quan ở đây bao gồm những cánhân, tổ chức có quan hệ lợi ích, quan hệ gia đình, quan hệ quản lý, quan hệ tìnhcảm cá nhân
Trên thực tế bao giờ những người nắm quyền sở hữu cũng đồng thời có quyềnchi phối quyết định, người sở hữu càng nhiều có quyền chi phối càng lớn, do có sự
lệ thuộc về mặt sở hữu nên dẫn đến lệ thuộc về mặt quản lý Vì không có sự táchbạch như vậy nên khi tham gia giao dịch với các chủ thể này công ty phải chịunhững sức ép nhất định về tài chính cũng như quản lý là nguyên nhân làm cho cácgiao dịch có nguy cơ không được xác lập một cách công bằng, bình đẳng Nhữngchủ thể đã liệt kê ở trên có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp Trongcác loại quan hệ (quan hệ lợi ích, quan hệ gia đình, quan hệ quản lý, quan hệ tình
Trang 34cảm cá nhân) thì pháp luật có thể lường trước được các quan hệ lợi ích, quan hệ giađình, quan hệ quản lý như đã phân tích ở trên Nhưng đối với quan hệ tình cảm cảnhân thì pháp luật không thể bao trùm được.
b) Căn cứ vào người đại diện tiến hành giao dịch
Công ty cổ phần là một tổ chức, khi tham gia giao dịch với các chủ thể kháccần có người đại diện, người này sẽ nhân danh công (thay mặt cho các thành viênkhác) bày tỏ ý chí, quan điểm của công ty Những người này thường được tín nhiệm
và được sự ủy thác của các cổ đông trong công ty do đó trách nhiệm của người đạidiện rất lớn, song song với trách nhiệm là quyền lực, vị thế của họ cũng rất lớn.Trong công ty cổ phần người đại diện của công ty thường là GĐ, TGĐ, nếu nhưĐiều lệ công ty không quy định khác Người đại diện công ty tham gia các giao dịch
có thể là GĐ, TGĐ, có thể là người được GĐ/TGĐ ủy quyền Việc xác định đâu làngười đại diện tham gia giao dịch ngoài quy định của pháp luật, phải căn cứ vàonhiều yếu tố khác như Giấy đăng ký kinh doanh, Điều lệ công ty, văn bản ủy quyền,
… và căn cứ vào từng giao dịch cụ thể Xác định giao dịch có khả năng tư lợi là căn
cứ vào người đại diện tiến hành giao dịch chứ không phải là người đại diện của
công ty Trong nhiều trường hợp người đại diện tiến hành giao dịch và người đạidiện của công ty là một
Nếu như mọi giao dịch của công ty đều được đưa ra lấy ý kiến và quyết địnhtheo đa số thì chắc chắn sẽ không có giao dịch tư lợi Thực tế, giao dịch của công ty
cổ phần là rất nhiều, không thể đưa mọi giao dịch ra để lấy ý kiến đa số Vì vậy,quyền lực của người đại diện công ty là rất lớn Thông thường các giao dịch kinhdoanh hàng ngày của công ty phải được thông qua người đại diện của công ty Đặcbiệt trong những giao dịch mà quyền quyết định của họ là tuyệt đối Pháp luậtkhông thể liệt kê các giao dịch chỉ cần quyết định của cá nhân người đại diện, màpháp luật sử dụng phương pháp loại trừ Tức là ấn định những giao dịch nào phảithông qua ĐHĐCĐ, HĐQT theo nguyên tắc đa số
Trang 35Như vậy, mặc dù về nguyên tắc các giao dịch trong công ty cổ phần phải đượcHĐQT hoặc ĐHĐCĐ chấp thuận thông qua Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanhGĐ/TGĐ (người đại diện của công ty cổ phần) quyết định những vấn đề liên quanđến công việc kinh doanh hàng ngày mà không cần phải có quyết định của HĐQThay ĐHĐCĐ Vì vậy mà giao dịch tư lợi có thể xảy ra nếu như GĐ/TGĐ nhân danhcông ty để trục lợi cá nhân.
c) Căn cứ vào giá trị tài sản tham gia giao dịch
Giá trị hợp đồng – giá trị giao dịch là một trong những nội dung cơ bản của một giao dịch Giá trị của giao dịch bao hàm trong đó lợi ích mà công ty có thể đạt được [14] Cũng theo đó giá trị của giao dịch là một trong những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến việc trục lợi Người thực hiện hành vi trục lợi sẽ chia chác nhau một sốphần giá trị của giao dịch làm thiệt hại đến tài sản của công ty
Pháp luật về các giao dịch có khả năng tư lợi quan tâm đến các giao dịch cógiá trị tài sản lớn Bởi các giao dịch có giá trị tài sản lớn có khả năng ảnh hưởng đến
cơ cấu tài chính và nền tảng chung của công ty, do đó quyết định này cần đượcgiành cho cơ quan quyền lực cao nhất của công ty là ĐHĐCĐ
Có các mốc để xác định thế nào là giao dịch có giá trị tài sản lớn, theo đó cóhai cách để xác định chủ yếu đó là: xác định giá trị tài sản của giao dịch so với tổnggiá trị tài sản của công ty, hoặc xác định giá trị tài sản của giao dịch so với giá cảcủa giao dịch tương đương trên thị trường Dựa vào việc xác định giá trị của giaodịch so với tổng giá trị tài sản của công ty là cách làm dễ áp dụng, dễ hiểu hơn.Nhưng cách này lại có nhược điểm là không thể bao quát được hết các giao dịch tưlợi nếu giá trị của nó nhỏ hơn mức quy định so với tổng giá trị tài sản công ty Thực
tế những giao dịch này tồn tại rất nhiều như: việc đẩy giá hàng hóa cao hơn thịtrường hay hạ thấp giá hàng hóa của công ty so với thị trường, hay các trường hợpcài giá trong đấu thầu… nếu những giao dịch này không vượt quá mức quy định(thường là 50%) so với tổng giá trị tài sản của công ty thì sẽ không thuộc phạm vi
Trang 36điều chỉnh của pháp luật giao dịch có khả năng tư lợi ở góc độ xem xét về giá trịgiao dịch.
Cách thứ hai là xác định giá trị tài sản của giao dịch so với giá cả của giao dịchtương đương trên thị trường, cách này có ưu điểm là khắc phục được các nhượcđiểm của cách thứ nhất, vì phạm vi căn cứ để xác định giao dịch có khả năng tư lợirộng hơn Tuy nhiên, nhược điểm của nó lại khó thực hiện vì nó phụ thuộc vào từnggiao dịch nhất trong từng trường hợp cụ thể
Một trong những căn cứ để xác định các giao dịch có khả năng tư lợi thường
bị các nhà làm luật bỏ quên hiện nay đó là căn cứ vào hành vi pháp lý đơn phương
(giao dịch đơn phương) của “công ty cổ phần như từ bỏ một vật quyền, từ bỏ quyền
đòi nợ, hay giãn nợ, miễn nợ” [8, tr 191]… Việc thực hiện những hành vi này mang
tới bất lợi cho công ty và làm lợi cho người thứ ba Người thứ ba có thể là người cóliên quan theo phần 1.2.2.1 Những hành vi đơn phương này trên thực tế thường núpdưới nhiều vỏ bọc như: Tẩu tán tài sản của công ty dưới danh nghĩa thanh lý tài sảnhoặc cố ý liệt kê món nợ của công ty trở thành nợ xấu để giãn nợ, xóa nợ hay là đơnphương chấm dứt hợp đồng…
1.2.3 Cấu trúc của pháp luật về kiểm soát các giao dịch có khả năng tƣ lợi trong công ty cổ phần
Để kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả mà không cứng nhắc, không ảnh hưởng đếnlợi ích của công ty, việc kiểm soát các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổphần phải có sự kết hợp đồng thời giữa kiểm soát nội bộ công ty (kiểm soát ở cấp
độ công ty) và kiểm soát bằng pháp luật của Nhà nước (kiểm soát vĩ mô ở cấp độNhà nước)
Kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
Trang 37Cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cần được coi trọng tức là nâng cao giámsát của các cá nhân và các cơ quan bên trong công ty Cơ chế này thường đem lạihiệu quả rất cao, vì người giám sát là người trong cuộc, họ có khả năng nắm bắt đầy
đủ nhất thông tin về doanh nghiệp, “bên cạnh đó họ có điều kiện giám sát một cáchtrực tiếp, thường xuyên, và quan trọng hơn là họ thực hiện sự giám sát để bảo vệ lơiích của chính mình” [36] Khi các cơ chế này được vận hành một cách hữu hiệu(thông qua việc thực hiện một cách nghiêm ngặt các quy chế quản lý) thì các rủi rocủa công ty cũng sẽ được ngăn chặn hoặc phát hiện một cách đầy đủ, chính xác vàkịp thời
Kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần được thực hiện qua một số cơ chế cănbản là: Cơ chế phê duyệt, cơ chế báo cáo bất thường, cơ chế bảo vệ tài sản, bất kiêmnhiệm, sử dụng chỉ tiêu, đối chiếu, kiểm tra và theo dõi Không thể xác định cơ chếkiểm soát nội bộ nào sử dụng hiệu quả hơn cơ chế nào mà công ty muốn hoạt độngtốt cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trên
- Cơ chế phê duyệt trong công ty cổ phần có nghĩa là ra quyết định cho phép
“ai” được làm một cái gì đó hay chấp nhận cho một cái gì đó xảy ra Phê duyệt phảituân thủ các quy định về cấp phê duyệt, cơ sở phê duyệt, cấp ủy quyền… đặc biệt là cấp phê duyệt và cấp ủy quyền phải có sự phân biệt một cách rõ ràng
- Cơ chế báo cáo bất thường là tất cả các cá nhân, tất cả các bộ phận trong
doanh nghiệp phải có trách nhiệm báo cáo các trường hợp bất thường về các vấn đềbất hợp lý mà họ phát hiện ra trong các giao dịch của công ty
- Cơ chế bảo vệ tài sản là tập hợp tất cả các hoạt động của doanh nghiệp nhằm
giảm thiểu tài sản bị mất mát, lãng phí, lạm dụng, hư hỏng, phá hoại… cơ chế này
tỏ ra hữu hiệu đối với những giao dịch đơn phương của công ty ẩn chưa khả năng tưlợi
- Cơ chế sử dụng các chỉ tiêu, các chỉ tiêu liên quan đến việc kiểm soát giao
dịch tư lợi có thể là chỉ tiêu liên quan đến điều kiện và tiêu chuẩn để nắm giữ vị trí
Trang 38quản lý trong công ty, đây là chỉ tiêu phi tài chính và rất phổ biến khi công ty tuyểndụng nhân viên Ngoài ra, các chỉ tiêu có thể được sử dụng chỉ tiêu tài chính, haycác chỉ tiêu phi tài chính khác như đánh giá hoạt động của công ty Lưu ý, các chỉtiêu này phải có tính khả thi, có người theo dõi các chỉ tiêu, người chịu trách nhiệmkhi không đạt các chỉ tiêu,… trong đó người theo dõi phải độc lập.
- Cơ chế bất kiêm nhiệm, đây là việc tách biệt giữa 4 chức năng: phê duyệt,
thực hiện, giữ tài sản (tồn kho, thủ quỹ, bảo vệ…), ghi nhận (kế toán…) nhằm mục
đích đảm bảo không ai có thể thực hiện và che dấu hành vi gian lận, bản thân việc phân chia trách nhiệm là một yếu tố tạo nên cơ chế kiểm soát rất hữu hiệu
- Cơ chế đối chiếu, tức là tổng hợp và đối chiếu giữa các cá nhân, các phòng
ban, bộ phận khác nhau về cùng một giao dịch của công ty Cơ chế này giúp ngăn ngừa các gian lận trong giao dịch, đồng thời nó có tính kiểm tra chéo
- Cơ chế kiểm tra và theo dõi, cơ chế này được xem là cơ chế “kiểm soát sự
kiểm soát”, nó giúp sàng lọc và phát hiện những sai sót có thể đã bị bỏ qua
Cũng liên quan đến vấn đề quản trị nội bộ của các công ty cổ phần, lý thuyết
về đại diện cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ đại diện này (gồm cổ đông
và người quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tinrằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất chongười chủ, tức các cổ đông và công ty “Với vị trí của mình, người quản lý công tyđược cho là luôn có xu hướng tư lợi và không đủ siêng năng, mẫn cán, và có thể tìmkiếm các lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba của mình chứ không phải chocông ty” [13] Các đặc tính tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các
cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảmbảo lợi ích của mình Học thuyết về đại diện nhấn mạnh rằng, các cổ đông cần phải
sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và
người quản lý công ty, bằng cách: (1) thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation
mechanisms) thích hợp cho các nhà quản trị; (2) thiết lập cơ chế giám sát
Trang 39(supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường,
tư lợi của người quản lý công ty
Như vậy, các cơ chế kiểm soát nội bộ nếu được ghi nhận đầy đủ thì nó sẽ làmột công cụ rất linh hoạt và chặt chẽ, vừa cho phép kiểm soát các giao dịch tư lợinhưng vẫn không cản trở các hoạt động của công ty Những công cụ kiểm soát nàytrong công ty cổ phần thường được ghi nhận trong trong các văn bản nội bộ củacông ty như: Điều lệ công ty, quy chế nội bộ, nội quy làm việc, thỏa ước lao độngtập thể, cơ chế kiểm soát của doanh nghiệp… Những văn bản nội bộ này có vai trònhư văn bản pháp luật của doanh nghiệp Chính vì vậy mà việc nâng cao quy chếkiểm soát nội bộ luôn được các doanh nghiệp đề cao, đặc biệt là trong loại hìnhcông ty đối vốn như công ty cổ phần
Kiểm soát bằng pháp luật các giao dịch có khả năng tư lợi trong công ty cổ phần
Bên cạnh việc kiểm soát nội bộ, sự kiểm soát của Nhà nước là không thể thiếuđược, vì Nhà nước nắm trong tay công cụ kiểm soát hữu hiệu nhất là pháp luật vàquyền lực cưỡng chế Các cơ chế kiểm soát giao dịch có khả năng tư lợi bằng phápluật được Nhà nước xây dựng thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, những quy định về kiểm soát các giao dịch có nguy cơ gây thiệt
hại về tài sản của Nhà nước trong các công ty cổ phần có vốn đầu tư của nhà nước
Quản lý, bảo toàn và phát triển tài sản của Nhà nước trong các doanh nghiệp
có vốn nhà nước luôn là mục tiêu trọng yếu trong các chính sách của Nhà nước vàpháp luật doanh nghiệp DNNN được định nghĩa là doanh nghiệp trong đó Nhànước sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Khoản 22, Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005).Thực tế, các DNNN do đặc thù về vấn đề sở hữu và cơ chế quản lý nên là khuvực có nguy cơ bị tư lợi lớn nhất Các cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm “quản lý”
Trang 40các doanh nghiệp nhà nước phải giám sát những người quản lý ngăn chặn những lỗhổng hoặc lạm dụng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước Tuy vậy, nếu can thiệp vàkiểm soát quá mức sẽ hạn chế tính năng động sáng tạo của đội ngũ quản lý, làm mất
cơ hội và giảm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, một vấn đề kháccũng thường gặp là khó có thể phân biệt được một cách rạch ròi giữa những canthiệp đúng thẩm quyền của cơ quan nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và nhữngcan thiệp hành chính của họ với vai trò là cơ quan quản lý hành chính nhà nước
Để kiểm soát được các giao dịch tư lợi làm thiệt hại vốn Nhà nước, pháp luậtdoanh nghiệp về kiểm soát các giao dịch tư lợi đã đưa ra một số quy định về tiêuchuẩn, trách nhiệm của người đại diện đại diện phần vốn góp của Nhà nước; xâydựng mô hình quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp; vấn đề tách bạch quản lýnhà nước và quản lý chủ sở hữu đối với vốn nhà nước trong doanh nghiệp; cơ chếphân chia lợi ích kinh tế; cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động củadoanh nghiệp có vốn nhà nước… Ngoài ra, việc đầu tư kinh doanh của các doanhnghiệp sử dụng vốn Nhà nước cũng được điều chỉnh, vấn đề này chủ yếu thể hiệnqua hoạt động đấu thầu các dự án sử dụng vốn Nhà nước
Thứ hai, những quy định về điều kiện và tiêu chuẩn của người tham gia
quản lý công ty cổ phần
Quản lý, điều hành trong CTCP là tập hợp các cơ chế nhằm điều khiển vàkiểm soát hoạt động của công ty Hệ thống quản lý, điều hành phân định rõ quyềnhạn và nghĩa vụ giữa các thành viên, cơ quan trong công ty như các Cổ đông,HĐQT, Ban GĐ và các bên khác có quyền và lợi ích liên quan Theo luật về công ty
ở khắp nơi trên thế giới, các cổ đông sẽ có quyền chọn lựa để bầu, bổ nhiệm các vịtrí quản lý quan trọng của công ty Những người được bầu, bổ nhiệm như HĐQT
hay TGĐ (GĐ điều hành), sẽ được trao thẩm quyền ra các quyết định nhất định(theo qui định trong điều lệ công ty) để hành động cho và vì công ty, cũng như địnhđoạt tài sản của công ty [13]