1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự việt nam

94 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 80,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu một số vấn đề có liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG ĐẠI TÌNH

NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN

ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN THEO PHÁP

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ

Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Thu Hà

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trongbất kỳ công trình nào khác, các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luậnvăn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoànthành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tàichính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy, tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa luật xem xét đểtôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

ĐẶNG ĐẠI TÌNH

Trang 3

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Bảng viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đề tài 4

4 Tính mới và những đóng góp của luận văn 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

7 Kết cấu của luận văn 5

NỘI DUNG 7

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 7 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 7

1.1.1 Khái niệm Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 7

1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 11

1.2 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong thi hành án dân sự 14

1.2.1 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết

định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi

Trang 4

1.2.2 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết

định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án

1.2.3 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết

định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại

trong thi hành án dân sự 181.2.4 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết

định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ

quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp

hành viên trong thi hành án dân sự 20

1.3 Vai trò của Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc thực thi

nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án 22

1.4 Vị trí của đương sự trong quá trình thực thi nguyên tắc bảo đảm

hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án 24

Kết luận chương 1 25

Chương 2: NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU

LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN 27

2.1 Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ

quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng 27

2.2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án,

quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành 33

2.3 Cá nhân, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết

định phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước

pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó 37

2.4 Vai trò, trách nhiệm của Tòa án trong thực hiện nguyên tắc

bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án 51

Kết luận chương 2 55

Trang 5

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM

HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

VÀ KIẾN NGHỊ 57

3.1 Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,

quyết định của Tòa án 57

3.1.1 Khái quát chung về việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực

của bản án, quyết định của Tòa án 573.1.2 Những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện nguyên tắc bảo

đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 58

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên

tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án 69

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 703.2.2 Các giải pháp về thực hiện pháp luật 753.2.3 Giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 783.2.4 Giải pháp về tăng cường ý thức pháp luật và sự tuân thủ pháp

luật trong nhân dân 79

Kết luận chương 3 81

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

Thành phố

Ủy ban nhân dânViện kiểm sát nhân dân tối cao

Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xét xử và thi hành án là hai mặt của một quá trình thống nhất, thể hiệnquyền lực Nhà nước Việc xét xử chỉ có ý nghĩa khi bản án, quyết định củaTòa án được thi hành đúng trên thực tế Vì vậy, đảm bảo hiệu lực bản án,quyết định của Tòa án được pháp luật quy định là một nguyên tắc cơ bản củaLuật Tố tụng Dân sự Thực hiện đúng nguyên tắc này không những đảm bảocho bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực sự trên thực tế mà còn bảođảm cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện, bảo vệ đượcquyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, tập thể và nhân dân, tác động trựctiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Bảo đảm hiệu lực bản án,quyết định của Tòa án là làm cho những phán quyết của Tòa án được thi hànhtrên thực tế lúc đó quyền lực Nhà nước mới thực sự được đảm bảo thực hiệnnghiêm túc, triệt để Thời gian qua, cùng với những thành tựu đạt được trongcông cuộc cải cách tư pháp thì việc tổ chức thi hành các bản án, quyết địnhcủa Tòa án ở nước ta cũng đã có nhiều tiến bộ Hầu hết các bản án, quyết địnhcủa Tòa án đã được các tổ chức, cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.Tuy nhiên, bên cạnh đó do nhiều nguyên nhân khác nhau mà vẫn còn nhiềubản án, quyết định dân sự của Tòa án mặc dù đã có hiệu lực pháp luật nhưngvẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để gây thiệt hại chođương sự và bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự

an toàn xã hội và niềm tin của nhân dân đối với pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thực tiễn thi hành các bản án, quyết định dân sự thời gian qua cho thấy

có nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng khi thihành án lại gặp những khó khăn, vướng mắc, vẫn còn tình trạng các bản án,quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được nghiêm

Trang 8

chỉnh thi hành, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan bảo vệ

pháp luật Tồn tại lớn nhất là tình trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng

lớn ngày càng tăng, song chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết Đây làvấn đề rất bức xúc đặt ra trong công tác thi hành các bản án, quyết định dân

sự hiện nay Thực trạng này, một phần xuất phát từ ý thức tuân thủ pháp luậtcủa một số bộ phận nhân dân nói chung và một số cơ quan, tổ chức và cánhân, đặc biệt là các đối tượng thuộc diện phải thi hành án còn chưa cao; chưa

có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như

cơ quan hữu quan trong quá trình thi hành án; cơ sở pháp lý về tổ chức vàhoạt động thi hành án dân sự chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn bảnpháp lý về thi hành án dân sự còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, chậm được bổsung, sửa đổi kịp thời; cơ chế quản lý và việc tổ chức thực hiện pháp luật thihành án hiện nay có mặt còn chưa hợp lý gây cản trở và làm giảm hiệu quảcông tác thi hành án nói chung và thi hành bản án, quyết định dân sự nóiriêng Vì vậy, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, đặc biệttrong điều kiện chúng ta đang xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủnghĩa của dân, do dân và vì dân là điều hết sức quan trọng Hiến pháp 1992

khẳng định: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn

vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp hành" [28].

Vậy, làm sao để mọi quyết định, bản án của Tòa án đều được thực hiệnmột cách nghiêm túc, kịp thời, đúng pháp luật Thực hiện đúng nguyên tắc

“Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án” ? Đó là lý do tôi chọn

đề tài “Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” làm Luận văn thạc sĩ Luật học,

chuyên ngành Luật Dân sự

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án là một lĩnh vực bứcxúc nhạy cảm thu hút nhiều chuyên gia, học giả, các nhà khoa học nghiêncứu Những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu một số vấn

đề có liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự như: Đề tài "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì đã đề cập đến thực trạng của công tác thi

hành án dân sự của nước ta, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao

hiệu quả thi hành án dân sự; Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thanh Thủy đã làm rõ cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, đề xuất

các quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong điềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa; Luận văn thạc sĩ Luật học "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quang Thái

trên cơ sở phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của thi hành án dân sự,tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hoạt động thi hành

án dân sự ở nước ta; Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp phốihợp với Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh đã có đề tài nghiên cứu khoa

học cấp bộ: "Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát lại", mã

số 95-98-114/ĐT; Cục Quản lý Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực

hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số: 96-98-027/ĐT; Bộ Tư pháp chủ trì đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới"… Ngoài ra giáo trình

“Luật tố tụng dân sự” của trường Đại học luật Hà Nội, công trình nghiên cứu

Trang 10

“Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam” của Tiến

sĩ Lê Thu Hà; Giáo trình “Luật Thi hành án dân sự Việt Nam” của Trường Đại

học Luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật và nhiều bài viếtliên quan đến thi hành án dân sự được đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật,Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học, Bản tin Thi hành án dân sự…

ở những góc độ, khía cạnh khác nhau các tác giả đã đề cập đến những vấn đề liên

quan đến việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

3 Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của nghiên cứu đề tài

3.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra các luận cứkhoa học và thực tiễn từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện tốt nguyên

tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án Để đạt được mục

tiêu lớn đó cần phải thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản

án, quyết định của Tòa án như khái niệm, ý nghĩa của nguyên tắc và mối quan hệ

của nguyên tắc này với các nguyên tắc của Luật Thi hành án dân sự

- Làm rõ những nội dung các quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Toà án và thực tiễn thực hiện

- Tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.

4 Tính mới và những đóng góp của luận văn

- Xây dựng khái niệm, làm rõ ý nghĩa của nguyên tắc đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.

- Đánh giá đúng được thực trạng các quy định của pháp luật về nguyên tắc đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án và thực tiễn thực hiện

Trang 11

- Đưa ra được những giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm nâng cao

hiệu quả nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, các quy định của pháp luật

về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án và thực

tiễn thực hiện nguyên tắc này trong việc tổ chức thi hành án dân sự

Việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định đặt ra đối với cả thi hành

án hình sự, dân sự và hành chính nên đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng.Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài làm luận văn thạc sĩ Luật học, việcnghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản của nguyên tắc trong bảođảm thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án như khái niệm, ý nghĩacủa nguyên tắc, mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án,quyết định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong Luật Thi hành án dân sự

và các nội dung cơ bản của nguyên tắc; nội dung các quy định của pháp luậthiện hành về nguyên tắc và thực tiễn thi hành trong thời gian qua, từ đó đề

xuất những kiến nghị để thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản

án, quyết định của Tòa án.

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩaMác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về Nhà nước và pháp luật

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương phápnghiên cứu khoa học như phân tích, so sánh, tổng hợp v.v

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Trang 12

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.

Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật về nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản

án, quyết định của Tòa án và kiến nghị.

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU LỰC CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản

án, quyết định của Tòa án

1.1.1 Khái niệm Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

Theo Từ điển Tiếng Việt thì nguyên tắc được hiểu theo nghĩa chung là

“điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [39].

Do vậy bất kỳ hoạt động có mục đích nào muốn đạt được kết quả đòi hỏinhững người tham gia hoạt động phải xác định được các nguyên tắc hoạt động

và tuân thủ triệt để theo những nguyên tắc đó Nguyên tắc là phạm trù vừa

mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là những tư tưởng, quan điểm cơ bản đóng vai trò chỉ đạo định hướng cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các bản án quyết định của Tòa án Nguyên tắc bảo đảm hiệu

lực của bản án, quyết định của Tòa án là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức thựchiện quyền lực của Nhà nước nên đã được quy định trong nhiều văn bản pháp

luật Nhà nước Hiến pháp năm 1980, Điều 137 quy định “Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng, những người

và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Sau đó được cụ thể hóa tại Điều 13 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 “Những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, các tổ chức

xã hội và mọi công dân tôn trọng Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ

Trang 14

quan Công an, các trại giam, các Chấp hành viên và các cơ quan hữu quan khác phải nghiêm chỉnh chấp hành những bản án, những quyết định của Toà

án nhân dân, và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ đó”; Điều 10 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế “Bản án, quyết định về vụ án kinh tế của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người tôn trọng; cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản

án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành”; Điều 9 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động “Bản án, quyết định về vụ án lao động của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; người lao động, tập thể lao động, người

sử dụng lao động và các cơ quan, tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ chấp hành bản

án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành” Hiện nay nguyên tắc này được quy định tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992 “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân

và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” và tại Điều 19 Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định những đề

cơ bản của nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý cho việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà

án phải nghiêm chỉnh chấp hành Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”.

Trang 15

Việc thi hành nghiêm chỉnh và triệt để các bản án, quyết định có hiệulực pháp luật của Tòa án là một tất yếu khách quan trong hoạt động tư phápcủa bất kì Nhà nước nào Bản án, quyết định của Tòa án là sự phán xét nhândanh Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước và phải được đảm bảo thựchiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Nguyên tắc bảo đảm hiệu lựccủa bản án, quyết định biểu hiện tính pháp chế xã hội chủ nghĩa Thực hiệnnguyên tắc này không những làm cho bản án, quyết định của Tòa án có hiệulực được thi hành trên thực tế mà còn bảo đảm cho nguyên tắc pháp chế xã

hội chủ nghĩa được thực hiện Điều 4 Luật Thi hành án dân sự quy định “Bản

án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức

và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án”

Nội dung của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định yêu cầu:

- Khi giải quyết vụ việc dân sự Toà án phải quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo đảm cho việc thi hành án, phải tuyên bản án, quyết định đầy đủ, rõ ràng, chính xác tạo thuận lợi cho việc thi hành án.

- Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được đưa ra thi hành.Trong trường hợp người có nghĩa vụ chấp hành hành bản án, quyết định mà không

tự nguyện thi hành thì phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết buộc họthực hiện

- Tòa án, cơ quan, tổ chức, được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyếtđịnh phải thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình vàphải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó

- Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tôn trọng bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật Các cơ quan, tổ chức và cá nhân không được can thiệp tráipháp luật vào quá trình thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; không

Trang 16

được cản trở, gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viêntrong việc tổ chức thi hành án dân sự.

- Đối với những người có hành vi trái pháp luật như cố tình không chấphành án, cản trở, can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án dân sự v.v thìtuỳ theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lí theo quy định của pháp luật Hình thức

xử lí có thể là kỉ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Nguyên tắc “Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án”

yêu cầu: Nội dung của các bản án, quyết định phải được thi hành một cáchnghiêm túc, đầy đủ, kịp thời Khi phát hiện thấy những sai sót hoặc chưa rõràng trong bản án, quyết định của Tòa án, những chủ thể tham gia hoạt độngthi hành án chỉ có quyền khiếu nại, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét,quyết định Mặt khác, khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đượcđưa ra thi hành thì cơ quan Tòa án, Thi hành án hoặc bất cứ một cơ quan nàokhác cũng đều phải tôn trọng và chấp hành nghiêm túc các nội dung Tòa ántuyên, không có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung của vụ án, quyết định đó.Tòa án nơi đã đưa ra bản án, quyết định được đưa ra thi hành chỉ có quyềngiải thích những điều mà cơ quan thi hành án và Chấp hành viên yêu cầu,không được sửa đổi, bổ sung những nội dung đã tuyên, nếu có sai sót thì phảiđược xét xử lại theo trình tự khác do pháp luật quy định Khi bản án, quyếtđịnh của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành thì tất cả cácđương sự, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội hữu quan phải nghiêmchỉnh chấp hành không cho phép bất kì một sự cản trở, chống đối, can thiệptrái pháp luật nào đối với việc thi hành các bản án, quyết định đó nếu không

sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật

Việc đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa ánđược đưa ra thi hành là đảm bảo sự tôn trọng pháp luật, hiệu lực của Nhà

Trang 17

nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, giữ gìn anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Từ những phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm: Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án là nguyên tắc cơ bản trong

tổ chức thực hiện quyền lực của Nhà nước, yêu cầu các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được mọi công dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và chấp hành nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời Cá nhân, cơ quan,

tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Toà án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật

về việc thực hiện nhiệm vụ đó.

1.1.2 Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án

Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án nhằm làm cho cácbản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế

Trang 18

định mà không tự nguyện thi hành thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chếnhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ đối với người được thi hành án; các cơquan, tổ chức, được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định phải thực hiệnnghiêm túc, đầy đủ, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình và phải chịu tráchnhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó Việc thực hiện tốtnhững nội dung trên đây sẽ bảo đảm cho quyền, lợi ích chính đáng của Nhànước và công dân được thi hành trên thực tế Vì vậy việc thực hiện tốt nguyên

tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án có ý nghĩa hết sức

quan trọng trong việc bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp phápcủa tổ chức, công dân

Thứ hai, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị

xã hội, yêu cầu cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa là: Triệt để tôn trọnghiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp; pháp luật được nhận thức và thựchiện thống nhất trên phạm vi cả nước; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân đều tôn trọng vàthực hiện pháp luật một cách tự giác, đầy đủ, nghiêm chỉnh, thống nhất; mọihành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo quy địnhcủa pháp luật; các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được bảo vệ.Việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án

sẽ đưa những phán quyết của Tòa án - thể hiện ý chí của Nhà nước được trởthành hiện thực, tính nghiêm minh của pháp luật được bảo đảm, công lý xãhội được thực thi, kỷ cương xã hội được giữ vững, quyền và lợi ích hợp phápcủa Nhà nước, tổ chức và công dân được bảo vệ và như vậy pháp chế xã hộichủ nghĩa được thực hiện

Thứ ba, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an

Trang 19

toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hộinhập quốc tế

Khi nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án khôngđược thực hiện tốt thì không những thể hiện pháp luật không nghiêm, mà còn

có tác động tiêu cực đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, quyền lựcNhà nước không được thực thi, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổchức và cá nhân có liên quan không được bảo vệ, có trường hợp bản án, quyếtđịnh của Tòa án không được thực thi nghiêm túc đương sự sẽ khiếu nại, tố cáogay gắt, bức xúc kéo dài, dẫn đến những điểm nóng mà các thế lực thù địch

dễ lợi dụng, xuyên tạc, chống phá cách mạng gây mất ổn định tình hình Tráilại nếu thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa

án sẽ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa, quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân đượcbảo vệ, tạo được sự đồng thuận của nhân dân, góp phần giữ gìn trật tự an toàn

xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đặcbiệt thực hiện nghiêm túc những bản án, quyết định dân sự có yếu tố nướcngoài sẽ tạo được niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với pháp chế xã hội chủnghĩa Việt Nam, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước

Thứ tư, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức và

mọi công dân

Khi ý thức pháp luật của các cơ quan, tổ chức và mọi công dân, nhất lànhững tổ chức và cá nhân có liên quan trực tiếp đến việc thi hành bản án,quyết định của Tòa án cao thì họ sẽ nghiêm túc tuân thủ pháp luật và tự giácthực hiện Đồng thời, thông qua việc thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệulực bản án, quyết định của Tòa án sẽ tạo niềm tin của nhân dân vào tínhnghiêm minh của pháp luật và sức mạnh của Nhà nước trong việc bảo đảmcho pháp luật được thực thi nghiêm túc, nhất là đối với những vụ án đương sự

Trang 20

cố ý chây ỳ, không tự giác thi hành án cơ quan thi hành án áp dụng biện phápcưỡng chế thi hành án thành công hoặc những trường hợp vi phạm pháp luậthình sự trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án bị xử lý theoquy định của pháp luật đã đó có tác dụng lớn trong việc giáo dục, nâng cao ýthức chấp hành pháp luật của mọi cơ quan, tổ chức và công dân.

1.2 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án với các nguyên tắc khác trong thi hành án dân sự

1.2.1 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án dân sự

Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được Nhà nước bảo hộ Việcxét xử và thi hành án cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể

Vì vậy, việc thi hành án dân sự không những phải bảo đảm quyền, lợi ích hợppháp của các đương sự mà phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp của nhữngngười có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự, không được xâmphạm, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ Nguyên tắc bảo đảmquyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và người liên quan trước đây được quy

định tại Điều 7 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 “Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào việc thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình” Điều 8 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 “Người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào việc thi hành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”

và Điều 9 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 “Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án được tham gia vào việc thi hành án và có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình” Hiện nay, nguyên tắc này được quy định tại điều 5 Luật thi hành án dân sự “Trong quá trình thi hành

Trang 21

án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”.

Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người có quyền, nghĩa vụ liên quan yêu cầu:

- Trong thi hành án dân sự phải tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan

- Việc tổ chức thi hành án dân sự phải đúng pháp luật và đúng nội dungbản án, quyết định được thi hành để bảo đảm quyền, lợi ích của người được thihành án, người phải thi hành án và không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp phápcủa những người liên quan đến việc thi hành án dân sự

- Bảo đảm cho người được thi hành án, người phải thi hành án vànhững người liên quan đến việc thi hành án dân sự được tham gia vào quá trình thihành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ và bảo đảm quyền khiếu nại của

họ đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án

Ngoài ra, trong những trường hợp bán tài sản kê biên của người phải thihành án thuộc sở hữu chung với người thứ ba thì họ phải được ưu tiên muatrước Nếu người sở hữu tài sản chung với người phải thi hành án không muathì việc bán tài sản đó cho người khác cũng phải theo đúng quy định của phápluật thi hành án để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Việc thực hiện đúng nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương

sự sẽ bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện tốt

1.2.2 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án với nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án dân sự

Quyền yêu cầu thi hành án là một trong các quyền thi hành án cơ bảncủa đương sự và là một trong những nội dung quan trọng của quyền bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Sau khi bản án, quyết định được thihành, các đương sự chỉ được bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Trang 22

nếu thực hiện được quyền này trên thực tế, nhất là đối với người được thihành án Vì vậy, bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự trongthi hành án dân sự được quy định là nguyên tắc của luật thi hành án dân sự.Nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự trước đâyđược quy định tại Điều 5 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Hiện nay,nguyên tắc này được quy định tại Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 7Luật Thi hành án dân sự.

Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của các đương

sự xác định:

- Người được thi hành án, người phải thi hành án được căn cứ vào bản

án, quyết định dân sự có quyền yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án hoặctrực tiếp đến cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án

- Để bảo đảm yêu cầu thi hành án của các đương sự Toà án, cơ quan và

tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phải cấp cho các đương sự bản án,quyết định trong thời hạn pháp luật quy định Khi cấp cho đương sự bản án, quyếtđịnh các cơ quan, tổ chức này phải giải thích cho các đương sự quyền yêu cầu thihành án dân sự của họ và thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự Trong trường hợpngười được thi hành án, người phải thi hành án có đơn hoặc trực tiếp đến cơ quanthi hành án dân sự yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự có thẩmquyền phải tiếp nhận xem xét Nếu việc yêu cầu thi hành án của đương sự đúngpháp luật thì cơ quan thi hành án dân sự phải thụ lí, ra quyết định thi hành án và tổchức thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật

Bản án, quyết định thuộc diện được đưa ra thi hành có nhiều nội dungkhác nhau về quyền, nghĩa vụ của các bên đương sự (cá nhân, pháp nhân) đốivới nhau, đối với người khác hoặc đối với Nhà nước, và cách thức xử lý đốivới các tài sản, vật chứng có liên quan đến từng vụ việc cụ thể như tịch thu,

Trang 23

tiêu hủy, trả lại cho đương sự hoặc chủ sở hữu hợp pháp…Trong số nhữngnội dung của bản án, quyết định thuộc diện trên, Luật Thi hành án dân sựphân biệt những loại việc thuộc trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sựphải chủ động ra quyết định thi hành án để tổ chức thi hành và những loạiviệc cơ quan thi hành án dân sự chỉ được đưa ra thi hành khi có đơn yêu cầuthi hành án của đương sự.

Theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự thì những loại việc

do cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án đó là: Hìnhphạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí; trả lại tiền, tài sản chođương sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản;thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ Nhà nước;quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Ngoài các khoản trên đây, thì trong một bản án, quyết định của Tòa áncác khoản người được thi hành án hoặc người phải thi hành án muốn được tựnguyện thi hành nghĩa vụ thông qua cơ quan thi hành án thì phải có đơn yêu

cầu thi hành án Điều 7 Luật Thi hành án dân sự quy định “Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án” Các khoản đó rất đa

dạng, từ việc thanh toán tiền, trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại tính mạng,sức khoẻ, tiền cấp dưỡng, đến buộc người sử dụng lao động nhận người laođộng trở lại làm việc, buộc thực hiện hành vi nhất định…quy định này xuấtphát từ nhận thức rằng, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án là hai giaiđoạn, mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ riêng Việc Tòa án, cơ quan có thẩmquyền công nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành

án được thể hiện bằng phán quyết thông qua hình thức bàn án, quyết định.Tuy nhiên, có trong tay bản án, quyết định, người thắng kiện hoặc người đượchưởng quyền và lợi ích hợp pháp theo bản án, quyết định hoàn toàn có quyền

Trang 24

quyết định việc có làm đơn yêu cầu thi hành án hay không, yêu cầu thi hànhvào thời điểm nào, yêu cầu thi hành những gì, đã có những thoả thuận gì vớibên phải thi hành án, đã thi hành với nhau được những gì… Do đó, pháp luậtdành quyền quyết định cho người được thi hành án thể hiện ý chí của mìnhbằng việc yêu cầu thi hành án Việc thực hiện đúng nguyên tắc bảo đảm yêucầu thi hành án dân sự sẽ đảm bảo cho hiệu lực bản án, quyết định của Tòa ánđược thực thi trên thực tế.

1.2.3 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự

Kết quả thi hành án dân sự phụ thuộc rất lớn vào việc cơ quan thi hành

án dân sự, các cá nhân, cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân

sự có thực hiện đúng, đầy đủ các quyền hạn và nhiệm vụ của họ hay không

Vì vậy, việc đề cao trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự, các cá nhân,

cơ quan và tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự là cần thiết Từ đó,vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự được quyđịnh là nguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự Điều 10 Luật Thi hành

án dân sự quy định “Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Nội dung của nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thihành án dân sự yêu cầu:

Cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên, các đương sự và các cánhân, cơ quan, tổ chức khác liên quan đến việc thi hành án dân sự phải đề caotrách nhiệm trong việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình theo quy địnhcủa pháp luật về thi hành án dân sự, không được thực hiện các hành vi trái vớiquy định của pháp luật về thi hành án dân sự

- Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án

Trang 25

dân sự thì phải chịu trách nhiệm về hành vi đó Trong trường hợp cơ quan, tổchức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án dân sự gây thiệt hạithì phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

- Nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sựlần đầu tiên được quy định tại Điều 10 Luật Thi hành án dân sự Về nguyên tắc,mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật Thi hành án dân sự màgây thiệt hại thì phải bồi thường Theo đó, toàn bộ các quyết định, hành vi của Thủtrưởng cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành ánđều có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Điều 140 Luật Thi hành

án dân sự quy định: Trong quá trình tổ chức thi hành án, đương sự, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với mọi quyết định, hành vi của Thủtrưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyếtđịnh, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người đó.Người khiếu nại được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm và đượcbồi thường nếu có thiệt hại

(Điểm đ Điều 143 của Luật Thi hành án dân sự) Trong quyết định giải quyết

khiếu nại của người có thẩm quyền phải xác định rõ việc bồi thường thiệt hại,

khắc phục hậu quả (Điều 151, Điều 153 của Luật Thi hành án dân sự) Ngoài ra,

trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự,Chấp hành viên và công chức khác của cơ quan Thi hành án dân sự còn có thểphát sinh trong trường hợp người đó bị tố cáo Theo điểm c, khoản 2, Điều 156của Luật Thi hành án dân sự, thì người bị tố cáo phải bồi thường thiệt hại, khắcphục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của phápluật Đồng thời, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo mà không giải quyết,thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp luật cũng có trách

nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại (Điều 158 của Luật Thi hành án dân sự).

Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự

Trang 26

trong trường hợp cụ thể được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệmbồi thường Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự là “sản phẩm”tất yếu của xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc

cơ bản của Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự Quy định trách nhiệm bồithường trong thi hành án dân sự sẽ nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm củacác cơ quan, tổ chức và cá nhân trong công tác thi hành án góp phần thực hiệntốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bán án, quyết định của Tòa án

1.2.4 Mối quan hệ của nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án với nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan,

tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trong thi hành án dân sự

Mục đích của thi hành án dân sự là thực hiện được các quyết định trongbản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước Thi hành ándân sự là hoạt động phức tạp, hiệu quả của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Tuy cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên được thực hiện quyền lựccủa Nhà nước để tổ chức thi hành án, giữ vai trò chủ đạo tổ chức thi hành ánnhưng trong trường hợp đương sự chây ỳ, chống đối nếu không có sự phốihợp, giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác thì việc thi hành ánvẫn khó có thể thực hiện có hiệu quả Trong các mối quan hệ phối hợp thihành án thì mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với toà án đã ra bản

án, quyết định, với lực lượng cảnh sát nhân dân, với chính quyền địa phươngnơi người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản liên quan đến việc thi hành

án và mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức nơiphải thi hành án làm việc, nhận thu nhập là quan trọng nhất Nếu các mốiquan hệ phối hợp này tiến hành tốt sẽ có tác dụng rất lớn đối với hoạt động thi

Trang 27

hành án dân sự và nếu không thì kết quả sẽ ngược lại Việc bảo đảm được sựphối hợp giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thi hành án dân sự sẽ tạođược sức mạnh tổng hợp trong việc giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành

án và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự nên có tác dụng nâng cao hiệu quảthi hành án dân sự Do vậy, trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cánhân với cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên được quy định lànguyên tắc cơ bản của luật thi hành án dân sự Nguyên tắc trách nhiệm phốihợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hànhviên trước đây đã được quy định tại Điều 6 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm

1989, Điều 7 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 và Điều 8 Pháp lệnhThi hành án dân sự năm 2004 Hiện nay nguyên tắc này được quy định tạiĐiều 378 Bộ Luật Tố tụng dân sự và Điều 11 Luật Thi hành án dân sự, theo

đó “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức

và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật này Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật”.

Nội dung của nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cánhân với cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên yêu cầu:

- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổchức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Thi hành án dân sự trongviệc thi hành án

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện cácyêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của LuậtThi hành án dân sự

Trang 28

- Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Thực tiễn cho thấy công tác thi hành án dân sự đạt hiệu quả cao haykhông, vụ việc có giải quyết dứt điểm hay không một phần quan trọng là do

sự phối kết hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác thi hành án

Do vậy, thực hiện tốt sự phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quanthi hành án dân sự, Chấp hành viên trong thi hành án dân sự sẽ góp phần quantrọng trong việc đảm bảo hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án

1.3 Vai trò của Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc thực thi nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án

Việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa ántrải qua một chuỗi các hoạt động với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và

cá nhân Trong đó với chức năng là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam, Tòa án có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là cơ quan banhành các bản án, quyết định làm phát sinh và xác định rõ quyền và nghĩa vụ củacác đương sự Chính những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa

án là căn cứ để các cơ quan Nhà nước, người phải thi hành án, người được thihành án, người có quyền và lợi ích liên quan thực hiện các quyền và nghĩa vụtheo đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án Yêu cầu đặt ra đầu tiên đểthực hiện được nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là khigiải quyết vụ việc dân sự Toà án phải phải tuyên bản án, quyết định đầy đủ, rõràng, chính xác và phải áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của phápluật để bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án khi đã có hiệulực pháp luật Trong quá trình thi hành các bản án, quyết định của Tòa án cónhững vấn đề cần phải có sự tham gia của Tòa án thì bản án mới thi hành đượcnhư: Việc cấp, giao bản án; giải thích những nội dung mà bản án, quyết địnhtuyên chưa rõ; trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét

Trang 29

lại bản án, quyết định của Tòa án; thụ lí và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơquan thi hành án dân sự đối với một số nội dung có liên quan theo quy địnhcủa pháp luật…Thông qua những hoạt động đó của Tòa án sẽ góp phần bảođảm cho hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án được thực thi.

Hiện nay, theo quy định của pháp luật nước ta, hệ thống tổ chức củaTòa án bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao; các Tòa án nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương; các Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành

phố thuộc tỉnh; các Tòa án quân sự (bao gồm Tòa án quân sự trung ương; các Tòa án quân sự quân khu và tương đương; các Tòa án quân sự khu vực) và

các Toà án khác do luật định

Khi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật thìquyền và nghĩa vụ của các đương sự phát sinh Tuy nhiên, đây là giai đoạnđầu của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, giai đoạnnày Tòa án mới chỉ giải quyết nội dung vụ án, xác định được quyền và nghĩa

vụ của các đương sự, còn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có trởthành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào quá trình thực thi nó trong cuộcsống thông qua công tác thi hành án dân sự Cơ quan có thẩm quyền tổ chứcthi hành các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án là

cơ quan thi hành án dân sự Thông qua công tác thi hành án những phán quyếtcủa Tòa án nhân danh Nhà nước về mặt dân sự sẽ được thi hành trên thực tế,bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân và như vậynguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án được thực thi

Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự gồm có: Cơ quan thi hành

án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và cơ quan thi hành

án cấp quân khu Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành ándân sự cấp huyện được gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự địa phương.Các cơ quan thi hành án dân sự địa phương được thành lập ở hai cấp, trên cơ

Trang 30

sở địa giới hành chính nên số lượng các cơ quan thi hành án dân sự địaphương phụ thuộc vào số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và huyện.

Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (được gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu) Hiện nay cả nước có 9 thi hành án cấp quân khu (cơ quan thi hành án thuộc 7 quân khu, cơ quan thi hành án Quân chủng hải quân và cơ quan thi hành án Quân khu thủ đô).

Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành cácbản án, quyết định dân sự được đưa ra thi hành Chấp hành viên được Bộtrưởng tư pháp bổ nhiệm suốt đời theo 3 ngạch là Chấp hành viên sơ cấp,

Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.

1.4 Vị trí của đương sự trong quá trình thực thi nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án

Để thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của

Tòa án thì đương trong thi hành án dân sự (người được thi hành án và người phải thi hành án) đóng vai trò quan trọng, là thành phần chủ yếu tham gia vào

toàn bộ các giai đoạn của quá trình xét xử và thi hành án dân sự, chính nhữngyêu cầu của họ đã làm phát sinh quá trình xét xử và thi hành án dân sự Khitham gia vào quá trình xét xử và thi hành án, các đương sự có quyền tự địnhđoạt quyền lợi của mình, hoạt động của họ có thể làm phát sinh, thay đổi,hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử và thi hành án Người được thi hành ánmuốn bảo vệ được quyền lợi của mình thì phải tiến hành các thủ tục theo quyđịnh của pháp luật, người phải thi hành án có nghĩa vụ phải thi hành đúng nộidung bản án, quyết định của Tòa án Mục tiêu quan trọng của nguyên tắc bảođảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là bảo vệ quyền, lợi ích hợp phápcủa các đương sự Trong quá trình xét xử và thi hành các bản án, quyết địnhcủa Tòa án nếu các đương sự chấp hành nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời cácquyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật và nội dung

Trang 31

bản án, quyết định của Tòa án thì quá trình xét xử và thi hành án được thuậnlợi, hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án được bảo đảm Ngược lại, quátrình thi hành các bản án, quyết định của Tòa án mà các đương sự thiếu sựhợp tác, chây ỳ, chống đối, không tự nguyên thực hiện nghĩa vụ của mìnhtheo đúng quy định của pháp luật và nội dung bản án, quyết định của Tòa ánthì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án, phần lớntrường hợp bản án, quyết định của Tòa án không thi hành được bởi nguyênnhân từ các đương sự.

Kết luận chương 1

Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án lànguyên tắc cơ bản trong tổ chức thực hiện quyền lực của Nhà nước, yêu cầucác bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được mọicông dân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và chấp hành nghiêm túc, đầy đủ, kịpthời Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định củaToà án phải nghiêm chỉnh chấp hành Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạncủa mình, Toà án nhân dân và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thihành bản án, quyết định của Toà án phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó

Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án nhằm làm cho cácbản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế

và có ý nghĩa hết sức quan trọng: Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền lợiích hợp pháp của tổ chức, công dân Bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật

và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảmtrật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội

và hội nhập quốc tế và góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các cơ quan,

tổ chức và mọi công dân

Trang 32

Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án có mốiquan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác trong thi hành án dân sự nhưnguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan; nguyên tắc bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án dânsự; nguyên tắc trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thi hành án dân sự vànguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quanthi hành án dân sự, Chấp hành viên trong thi hành án dân sự Việc thực hiệntốt các nguyên tắc trong thi hành án dân sự góp phần thực hiện tốt nguyên tắcbảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án.

Trong việc thực thi nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định củaTòa án thì Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự và các đương sự có vai trò, vịtrí quan trọng, có thể làm phát sinh, thay đổi, hoãn, tạm hoãn, chấm dứt quátrình xét xử và thi hành bản án, quyết định của Tòa án

Trang 33

Chương 2

NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM HIỆU LỰC

CỦA BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

2.1 Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,

tổ chức và mọi công dân tôn trọng

Khi nói tới Tòa án là nói tới biểu tượng điển hình của việc tuân thủHiến pháp và pháp luật, là nơi biểu hiện rõ nhất bản chất của pháp luật Cácbản án và quyết định xét xử của Tòa án không những nhân danh Nhà nước màcòn thể hiện quyền lực tối cao của Nhà nước có hiệu lực bắt buộc thi hành.Những bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục do Luật Thi hành án dân

sự quy định sẽ không chỉ là bản án, quyết định của Tòa án mà còn là quyếtđịnh xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành áncủa Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thươngmại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự quy định những bản án, quyết định đượcthi hành theo Luật này bao gồm:

- Bản án, quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:

+ Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

+ Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm

+ Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án

+ Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định củaTrọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tạiViệt Nam

+ Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tựnguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án

Trang 34

+ Quyết định của Trọng tài thương mại.

- Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:

+ Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợcấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thườngthiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao độngtrở lại làm việc

+ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án là nơi biểu hiện quyền lực Nhà nước mạnh mẽ nhất, sâu sắcnhất, bản án, quyết định của Tòa án được tuyên nhân danh Nhà nước, vì vậyđược tôn trọng và bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

và có giá trị bắt buộc thực hiện đối với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức Thihành bản án, quyết định của Tòa án không chỉ là việc người dân thi hànhquyền lợi của nhau mà còn thể hiện quyền uy, sức mạnh của Nhà nước trongđời sống xã hội, thông qua việc bản án nhân danh Nhà nước của Tòa án đượcthi hành trong thực tế, thể hiện quyền uy, sức mạnh của Nhà nước được tôntrọng và thực hiện

Việc thực hiện nghiêm túc bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật củaTòa án nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án vào thực tiễn đời sống bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân, giữ gìn trật tự antoàn xã hội, kỷ cương phép nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Về nguyên tắc tất cả những bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực phápluật hoặc chưa có hiệu lực nhưng được thi hành ngay đều được đưa ra thihành đầy đủ, nghiêm túc và triệt để đúng theo nội dung bản án, quyết định của

Tòa án Điều 2 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 quy định “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các đương sự nghiêm chỉnh thi hành, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội

Trang 35

và mọi công dân tôn trọng”; Điều 2 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1993 quy định “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được các đương sự nghiêm chỉnh thi hành, các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân tôn trọng”; Điều 3 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 quy định “ Bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật phải được người phải thi hành án, người được thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án (gọi chung là đương sự) nghiêm chỉnh thi hành và được các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân tôn trọng” Hiện nay, Điều

4 Luật Thi hành án dân sự quy định “Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án” và tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992 quy đinḥ

“Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị

vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” Thực hiện bản án, quyết định của Tòa

án là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân phải tuân thủ những nguyêntắc, luật lệ chung, là quá trình bắt buộc con người phải thực hiện những xử sựchung của xã hội, của pháp luật, đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa thì yêu cầu đặt ra đối với mọi cơ quan, tổ chức,

cá nhân là phải tuân thủ và chấp hành nghiêm túc Hiến pháp và pháp luật.Nhà nước pháp quyền là Nhà nước luôn đề cao vai trò của pháp luật, quản lý

xã hội bằng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và có những công cụ hữu hiệuđảm bảo để pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh trong đời sống

Trang 36

xã hội; mọi tổ chức, cơ quan và mọi cá nhân con người trong xã hội đều phảitôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong đó có việc tôn trọng vànghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyết định của Tòa án Trên cơ sở của Hiếnpháp nhiều văn bản pháp luật đã quy định chi tiết trách nhiệm của toàn xã hội,của cơ quan, tổ chức và mọi công dân đối với việc thi hành án, nghĩa vụ thihành của những cá nhân, tổ chức liên quan nhằm bảo đảm cho bản án, quyếtđịnh của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên được mọi cơ quan, tổ chức, cánhân tôn trọng.

Khi bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành, cá nhân, cơ quan,

tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định phải tôn trọng và chấp hànhđúng, nghiêm túc, đầy đủ và kịp thời các phán quyết ghi trong các bản án quyếtđịnh, không có bất kì sự thay đổi nào về nội dung bản án, quyết định được đưa rathi hành trừ trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc thi hành án Trong quátrình thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, các cơ quan, tổ chức và cá nhân

có trách nhiệm thi hành đúng theo nội dung phán quyết của Tòa án, không đượcsuy diễn các phán quyết của Tòa án đã tuyên, nếu Chấp hành viên thấy trong bản

án, quyết định có những điểm chưa rõ ràng, có sai sót về số liệu do tính toánkhông đúng, thì Chấp hành viên đề nghị thủ trưởng cơ quan thi hành án yêu cầuTòa án đã ra bản án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõtrong bản án, quyết định đó để thi hành Tòa án đã ra bản án, quyết định phải cótrách nhiệm trả lời bằng văn bản cho cơ quan thi hành án Khi giải thích nhữngđiểm chưa rõ hoặc đính chính sai sót về số liệu, Tòa án phải tôn trọng bản án,quyết định đã được Tòa án tuyên, không được sửa đổi, bổ sung nội dung bản án,quyết định Trường hợp nếu phát hiện thấy có những sai lầm trong bản án, quyếtđịnh được thi hành thì Chấp hành viên đề nghị thủ trưởng cơ quan thi hành ánkiến nghị với người có thẩm quyền kháng nghị để xét xử lại vụ án có bản án,quyết định có sai

Trang 37

lầm đó theo quy định của pháp luật tố tụng Trong quá trình thi hành án không

cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, kể cả cơ quan quản lý thi hành án được canthiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ vào quá trình thi hành bản án, quyếtđịnh của Tòa án Các quyết định của cơ quan thi hành án có giá trị bắt buộccác chủ thể khác phải chấp hành Trong quá trình thi hành bản án, quyết địnhcủa Tòa án, các cơ quan, tổ chức và cá nhân mặc dù không có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan như Viện Kiểm sát, lực lượng cảnh sát nhân dân, chínhquyền địa phương, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân, Bảo Hiểm xã hội, cơquan đăng ký tài sản, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm, các tổ chức tíndụng và các tổ chức, cá nhân có liên khác phải có trách nhiệm phối hợp với cơquan Thi hành án dân sự, thực hiện các yêu cầu của cơ quan thi hành án dân

sự và chấp hành viên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án,quyết định của Tòa án

Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế thi hành pháp luật vẫn còn nhữngbiểu hiện thiếu tôn trọng và chấp hành nghiêm túc bản án, quyết định của Tòa

án như: Có những vụ án chính quyền địa phương không ủng hộ việc thi hành

án, hoặc gây khó khăn cho việc thi hành án mặc dù việc xét xử của Tòa án làđúng pháp luật, thậm chí còn có sự can thiệp không đúng pháp luật vào việcthi hành bản án, quyết định của Tòa án

Ví dụ: Năm 2007 Ông Nguyễn Thanh Long (Lệ Thủy – Quảng Bình) chết,

trước khi chết ông Nguyễn Thanh Long có để lại di chúc cho anh Nguyễn VănLuyện được thừa hưởng 500m2 đất và 01 căn nhà nằm trong khuôn viên 500m2đất đó Sau khi ông Nguyễn Thanh Long chết, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn

Thanh Hùng (là anh ruột của Nguyễn Văn Luyện) có làm một quán bán phở trên

khuôn viên 500m2 đất do ông Nguyễn Thanh Long để lại Năm 2009 do mâuthuẫn giữa 3 anh em nên anh Nguyễn Văn Luyện yêu cầu Nguyễn Thanh Bình

và Nguyễn Thanh Hùng tháo dỡ quán phở để trả

Trang 38

lại mặt bằng cho mình nhưng Nguyễn Thanh Bình và Nguyễn Thanh Hùngkhông chịu tháo dỡ, anh Nguyễn Văn luyện đã khởi kiện và Tòa án nhân dânHuyện Lệ Thủy xét xử vụ án tranh chấp giữa anh Nguyễn Văn Luyện với cácanh Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thanh Hùng Bản án tuyên anh NguyễnThanh Bình, Nguyễn Thanh Hùng có nghĩa vụ phải tháo dỡ quán phở để trảlại mặt bằng cho anh Nguyễn Thanh Luyện theo đúng di chúc do ông NguyễnThanh Long Trong quá trình thi hành án Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn ThanhHùng không tự nguyện thi hành, chính quyền cơ sở cũng không ủng hộ vì chorằng mặc dù bản án tuyên đúng nhưng Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn ThanhHùng quá thiệt thòi vì cùng anh em nhưng không hưởng được quyền lợi gì dovậy việc thi hành bản án gặp rất nhiều khó khăn.

Hơn nữa, do lợi ích cục bộ, vẫn còn tình trạng cơ quan, tổ chức, các nhàquản lý doanh nghiệp, cá nhân có thẩm quyền, kể cả chính quyền một số địaphương thiếu tôn trọng bản án, quyết định của Tòa án hoặc lợi dụng danhnghĩa cơ quan Nhà nước để chây ỳ, không chấp hành án, làm thiệt hại rất lớncho tài sản Nhà nước, tổ chức và công dân và gây bất bình trong dư luận nhưChỉ thị số 20/TTg ngày 11 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ đã

nêu “Nhiều cơ quan Nhà nước và cá nhân không chấp hành bản án, không tự nguyện thi hành án, thậm chí còn can thiệp không đúng pháp luật vào việc thi hành án, không thấy trách nhiệm của mình trong việc thực thi pháp luật, chưa nghiêm chỉnh chấp hành các qui định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật về thi hành án dân sự”.

Ví dụ: Năm 2002, dự án cải tạo, mở rộng và nâng cấp đường Rừng Sácđược khởi công Tháng 7.2007, Phó Chủ tịch UBND huyện Cần Giờ ban hànhquyết định 1085 thu hồi của gia đình ông Rô 2.100m2 đất với tổng số tiền bồi

thường hơn 706 triệu đồng (đất thổ cư bồi thường 800.000 đồng/m 2 , đất nông nghiệp 100.000 đồng/m 2 ) Qua tìm hiểu, ông Rô phát hiện UBND huyện Cần

Trang 39

Giờ đã áp giá sai Ông Rô đã kiện UBND huyện ra TAND huyện Cần Giờ Cấp

sơ thẩm, tuyên ông thua và bác đơn khởi kiện Tại phiên phúc thẩm tháng2.2010, TAND TP.HCM đã hủy Quyết định 1085 ngày 12.7.2007 của UBNDhuyện Cần Giờ về việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đấtcủa hộ gia đình ông Nguyễn Văn Rô để UBND huyện Cần Giờ ban hành quyếtđịnh khác Ngày 20.4.2010, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ ra quyếtđịnh buộc UBND huyện phải hủy Quyết định 1085 Nhưng UBND huyện CầnGiờ vẫn không chấp hành Đến nay, bản án vẫn chưa thi hành được

Các hoạt động thanh tra, kiểm sát thi hành bản án, quyết định của Tòa

án chưa thực sự phát huy được tác dụng nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời cácsai phạm trong hoạt động thi hành bản án, quyết định của Tòa án để tạo điềukiện nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về thi hành án dân sự của các cơquan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án dân sự Hoạt độngthanh tra, kiểm sát của cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm sát mới chủ yếu tậptrung vào việc chấp hành pháp luật của cơ quan thi hành án và Chấp hànhviên, mà chưa mở rộng ra đối với các đối tượng khác như người được thi hành

án, người phải thi hành án và các cơ quan hữu quan trong việc chấp hànhpháp luật về thi hành án dân sự nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nhữngtrường hợp không tôn trọng và chấp hành nghiêm túc bản án, quyết định củaTòa án, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thi hành các bán án, quyết địnhcủa Tòa án, bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án được tôn trọng vàthực hiện nghiêm túc

2.2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành

Tham gia vào quá trình thi hành án có nhiều chủ thể Những chủ thểtham gia vào quá trình thi hành án với mục đích để bảo vệ quyền, lợi ích củamình và thực hiện nghĩa vụ theo nội dung bản án, quyết định của Tòa án có

Trang 40

thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Những người này được gọi là đương sựtrong thi hành án.

Đương sự trong thi hành án dân sự là người có thẩm quyền và nghĩa

vụ liên quan trực tiếp đến việc thi hành án dân sự, tham gia vào quá trình thi hành án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Quá trình thi hành án dân sự phát sinh là do yêu cầu thi hành án củangười được thi hành án, người phải thi hành án nhằm bảo vệ quyền và lợi íchcủa các chủ thể đã được xác định trong bản án, quyết định Mặc dù, trongtrường hợp thi hành án chủ động thì người có nghĩa vụ thi hành các quyếtđịnh đó cũng chính là các đương sự

Đương sự trong thi hành án dân sự thông thường chính là đương sựtrong vụ việc dân sự Đương sự trong vụ việc dân sự là những người có quyền

và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự Quyền và nghĩa vụ

về nhân thân và tài sản của họ thường được xác định cụ thể trong bản án,quyết định cho nên họ chính là đương sự trong thi hành án dân sự Tuy nhiên,trong một số trường hợp, mặc dù được xác định là đương sự trong vụ việc dân

sự những bản án, quyết định của Toà án lại không xác định quyền và nghĩa vụ

về nhân thân và tài sản của họ nên họ không tham gia vào quá trình thi hành

án dân sự Vì vậy, khái niệm đương sự trong vụ việc dân sự và đương sựtrong thi hành án dân sự không đồng nhất Theo quy định tại khoản 1 Điều 3Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự trong thi hành án dân sự gồm:

Người được thi hành án và người phải thi hành án.

Để đảm bảo thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Tòa án,pháp luật quy định các đương sự phải thực hiện các nghĩa vụ theo đúng quyđịnh của pháp luật Đối với người được thi hành án phải thực hiện nhữngnghĩa vụ:

- Xuất trình bản án, quyết định và các giấy tờ cần thiết theo yêu cầu của

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w