1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự việt nam hiện nay

110 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 147,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, qua tìm hiểu, các côngtrình nghiên cứu điển hình có đề cập đến nghĩa vụ chứng minh như: Đề tài khoa học, tác giả Hà Thị Mai Hiên “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ ĐINH HƯƠNG

NGHÜA Vô CHøNG MINH TRONG PH¸P LUËT Tè TôNG D¢N Sù VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ ĐINH HƯƠNG

NGHÜA Vô CHøNG MINH TRONG PH¸P LUËT Tè TôNG D¢N Sù VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 8380101 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ HUY CƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trongbất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trongLuận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đểtôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Đinh Hương

Trang 4

1.1 Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố

tụng dân sự Việt Nam 9

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố

tụng dân sự 9

1.1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự .13

1.1.3 Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự 16

1.2.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến trước Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .39

1.2.5 Pháp luật Việt Nam hiện nay 41

Kết luận chương 1 43

Trang 5

CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN NAY VỀ NGHĨA VỤ

CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 44 2.1 Chủ thể và việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể 44

2.1.1 Đương sự 44

2.1.2 Người đại diện của đương sự 50

2.1.3 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự 54

2.1.4 Tòa án nhân dân 56

2.1.5 Viện kiểm sát nhân dân 57

2.1.6 Những người tham gia tố tụng khác 58

2.2 Hoạt động chứng minh của các chủ thể trong pháp luật tố tụng dân sự 60 2.2.1 Bản chất và khái niệm của hoạt động chứng minh 60

2.2.2 Đối tượng chứng minh 61

2.2.3 Những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh 61

2.2.4 Phạm vi chứng minh 61

2.3 Nội dung chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự 62

2.3.1 Cung cấp chứng cứ 62

2.3.2 Thu thập chứng cứ 63

2.3.3 Nghiên cứu chứng cứ 65

2.3.4 Đánh giá chứng cứ 65

2.4 Quá trình chứng minh của các chủ thể trong pháp luật tố tụng dân sự 66 2.4.1 Nội dung chứng minh 66

2.4.2 Phương pháp thực hiện nghĩa vụ chứng minh 66

2.5 Xu hướng dịch chuyển nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay 67

2.5.1 Khuynh hướng dịch chuyển nghĩa vụ chứng minh từ Tòa án sang

Trang 6

2.5.2 Đương sự phản đối yêu cầu có nghĩa vụ chứng minh cho sự phản

đối đó 68

2.5.3 Đảo nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự 69

Kết luận chương 2 74

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH TRONG PHÁP LUẬT TỐ DỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 75 3.1 Thực tiễn thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 75

3.1.1 Thực trạng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về nghĩa vụ chứng minh 75

3.1.2 Nghĩa vụ chứng minh từ thực tiễn hoạt động xét xử 77

3.1.3 Những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể 78

3.1.4 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự 80

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự 81

3.2.1 Kiến nghị liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật 81

3.2.2 Kiến nghị liên quan đến việc xác định nguồn chứng cứ để đương sự có căn cứ thực hiện nghĩa vụ chứng minh 83

3.2.3 Các kiến nghị liên quan khác 85

Kết luận chương 3 98

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiện nay, các vấn đề về chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong Bộluật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) được quy định tương đối rõràng, đầy đủ và khoa học Theo các quy định của BLTTDS 2015 và các vănbản hướng dẫn thi hành thì các phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào các tàiliệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét trong quá trình tố tụng Đồng thời,

từ kết quả của việc trình bày và hỏi tại phiên toà, Tòa án còn phải xem xét đầy

đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng và Kiểm sát viên nếu có tham giaphiên tòa

Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự trong những năm gầnđây cũng cho thấy tỷ lệ án bị hủy, bị sửa hay án phải giải quyết qua nhiều cấpxét xử vẫn còn khá cao Nguyên nhân của tình trạng này một phần cơ bản xuấtphát từ việc chưa có sự hiểu biết đúng đắn, chưa quan tâm toàn diện về vấn đềchứng minh cũng như nghĩa vụ chứng minh của các đương sự và của các cơquan tiến hành tố tụng cũng như còn tình trạng đánh giá và sử dụng chứng cứkhông có giá trị chứng minh

Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành trung ương khóaXII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng vàhiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập số 19/NQ/TW ngày

25/10/2017 đã đề ra mục tiêu “Giai đoạn đến năm 2025 và 2030 Hoàn thiện đầy đủ và đồng bộ hệ thống pháp luật để thể chế hóa các chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập”[1] Theo đó, tại Kết luận của Bộ chính trị số 92-

KL/TW ngày 12/3/2014 của Ban chấp hành Trung ương về việc tiếp tục thực

Trang 8

hiện Nghị quyết số 49-NQ-TW, ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX vềChiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu:

Việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến

tổ chức và hoạt động tư pháp có nhiều tiến bộ; đã sửa đổi, bổ sungnhiều quy định của pháp luật về hình sự, dân sự, tố tụng tư pháp, thihành án, luật sư, công chứng, giám định tư pháp theo đúng chủtrương, định hướng lớn nêu trong Chiến lược cải cách tư pháp Tổchức bộ máy các cơ quan tư pháp từng bước được kiện toàn và xácđịnh rõ hơn chức năng, nhiệm vụ việc tranh tụng tại phiên tòabước đầu đạt được một số kết quả tích cực… đã chuẩn hóa trình độđội ngũ cán bộ; quy định rõ hơn cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm cácchức danh tư pháp; chính sách đãi ngộ đối với cán bộ tư pháp từngbước được cải thiện [35, tr.770 - 771]

Có thể thấy rằng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng tớiviệc hoàn thiện hệ thống pháp luật Trong đó, việc hoàn thiện các văn bảnpháp luật về chứng minh và nghĩa vụ chứng minh để làm rõ bản chất của vụ

án trong tố tụng dân sự được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm cùng với

sự hoàn thiện hệ thống pháp luật chung

Từ đó, có thể thấy rằng, việc đánh giá đúng tầm quan trọng của việcchứng minh và nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể trong quá trình thụ lý,xét xử các vụ án dân sự là rất quan trọng Chính vì vậy, việc nghiên cứu vềnghĩa vụ chứng minh mang lại giá trị không những về mặt lý luận khoa học

mà còn cả về mặt thực tiễn xét xử Đây cũng chính là lý do tác giả luận văn

xin lựa chọn đề tài: “Nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghĩa vụ chứng minh là một vấn đề quan trọng trong tố tụng dân sự

Trang 9

Chính vì vậy, liên quan đến vấn đề này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu

đề cập nhưng ở những khía cạnh khác nhau Trong đó, qua tìm hiểu, các côngtrình nghiên cứu điển hình có đề cập đến nghĩa vụ chứng minh như:

Đề tài khoa học, tác giả Hà Thị Mai Hiên “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam hiện nay”, đề tài cấp Bộ của

Viện Nhà nước và pháp luật thực hiện năm 2008 - 2009;

Các công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ thì

tiêu biểu có luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Minh Hằng “Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007; luận văn thạc sĩ của Vũ Văn Đồng “Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong Bộ luật tố tụng dân sự” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007; luận văn thạc sĩ của Tăng Hoàng My “Nguyên tắc cung cấp chứng

cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Hương “Hoạt động thu thập chứng cứ của tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Liên “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện thành phố Hải Phòng” bảo vệ tại Trường Đại học Luật

Hà Nội năm 2014; luận văn thạc sĩ của Quàng Hồng Nết “Cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự - Thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La” bảo vệ tại

Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015; luận văn thạc sĩ của Đặng Minh

Chiến “Hoạt động thu thập chứng cứ của luật sư trong tố tụng dân sự” bảo

vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2016; luận văn thạc sĩ của Phạm Thị

Thanh Nga “Nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự” bảo vệ tại Trường

Đại học Luật Hà Nội năm 2016; luận văn thạc sĩ của Ngũ Thị Như Hoa

“Nguyên tắc trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng dân sự” bảo vệ tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà

Trang 10

Nội năm 2014; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Kim Lượng “Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm” bảo

vệ tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; luận văn

thạc sĩ của Nguyễn Quang Anh “Chứng cứ trong tố tụng theo pháp luật Việt Nam” bảo vệ tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015;

luận văn thạc sĩ của Đinh Ngọc Hoa với chủ đề “Nguồn chứng cứ theo phápluật tố tụng dân sự Việt Nam” bảo vệ tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốcgia Hà Nội năm 2019 v.v

Về giáo trình, sách tham khảo có một phần nội dung liên quan đến

nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự như: “Giáo trình Luật tố tụng dân sự” của Học viện Tư pháp do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2007; “Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam” của Khoa Luật trực thuộc

Đại học Quốc gia Hà Nội do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia xuất bản năm

2014; “Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật

Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2016; sách tham

khảo “Luật tố tụng dân sự Việt Nam nghiên cứu và so sánh” của tác giả Tống

Công Cường do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh xuất

bản năm 2007; sách tham khảo “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi” chủ biên Nguyễn Văn Cường, Trần Anh Tuấn và Đặng Thanh Hoa

do Nhà xuất bản Lao động –Xã hội xuất bản năm 2012; sách tham khảo

“Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” chủ biên tác giả Bùi

Thị Huyền do Nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 2016 v.v

Về các bài viết đăng tải trên các tạp chí có tác giả Duy Kiên “Đánh giá toàn bộ chứng cứ mới tìm ra bản chất sự việc”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,

số 1/2000 tr.21 - 22, 34; tác giả Nguyễn Thế Giai “Xác định địa vị tố tụng của đương sự và đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2000, tr.29 – 32; tác giả Bùi Thị Huyền “Thời hạn cung cấp

Trang 11

chứng cứ của đương sự”, Tạp chí Luật học, số 1/2002, tr.36 – 39; tác giả Hoàng Ngọc Thỉnh với bài viết: “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, số đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, tháng 4/2004, tr.65 - 69; tác giả Nguyễn Minh Hằng “Tập quán nguồn luật hay nguồn chứng cứ”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2004, tr.20 - 22; tác giả Tưởng Duy Lượng “Một vài suy nghĩ về vấn đề chứng cứ và chứng minh được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2004, tr.9 - 13; tác giả Dương Quốc Thành “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2004, tr 21 - 28; tác giả Tưởng Duy Lượng “Chứng cứ và chứng minh - Sự thay đổi nhận thức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Đặc san Nghề luật, số 10 tháng 01/2005; tác giả Phan Thanh Tùng “Bàn về Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự về định giá tài sản”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2012, tr.22 - 25; tác giả Đỗ văn Chỉnh “Chứng cứ và đánh giá chứng cứ”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 14/2015, tr.24 - 30; tác giả Nguyễn Vinh Hưng “Các tình tiết sự kiện không phải chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát

số 04/2016 và bài viết “Nghĩa vụ chứng minh trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát số 20/2018, tr.3 - 8, v.v

Về cơ bản, có thể thấy rằng, những công trình nghiên cứu trên tiếp cậnnhìn nhận ở những góc độ khác nhau đã đề cập đến một số vấn đề về chứngminh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Tuy vậy, các công trìnhnghiên cứu đó mới chỉ nhìn nhận ở những vấn đề chung tập trung hầu hết ởgóc độ chứng minh và chứng cứ trong tố tụng dân sự Từ đó, để góp phần xâydựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về nghĩa vụ chứng minh trong tốtụng dân sự thì cần thiết phải có những công nghiên cứu một cách chuyên sâu,toàn diện, đầy đủ và có tính hệ thống các vấn đề về nghĩa vụ chứng minhtrong tố tụng dân sự trong pháp luật Việt Nam Do vậy, tác giả luận văn tiếp

Trang 12

tục kế thừa và phát triển từ các kết quả của các công trình nghiên cứu trên để xây dựng, hoàn thiện đề tài “Nghĩa vụ chứng minh cứ trong tố tụng dân sự”.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về nghĩa vụchứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề trong pháp luật thực địnhbao gồm các quy định hiện hành của Việt Nam về nghĩa vụ chứng minh (Bộluật, nghị định, Nghị Quyết, Thông tư liên tịch, Thông tư…) trong tố tụng dân

sự và pháp luật có liên quan Trên cơ sở các quy định này được đưa vào thựctiễn để áp dụng đã làm nảy sinh những vấn đề hạn chế, bất cập gây ảnh hưởngđến việc áp dụng quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụngdân sự

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của đề tài là thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi được

đề ra ở trên, tác giả mong muốn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn vềnghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Phân tích,đánh giá những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam về nghĩa vụchứng minh Qua đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các quyđịnh về nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự để từ đó góp phầnnâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc dân sự

Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi luậnvăn phải giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về nghĩa vụ chứng

minh Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay

về nghĩa vụ chứng minh

Trang 13

Thứ hai, đánh giá thực tiễn áp dụng những quy định của BLTTDS 2015

về nghĩa vụ chứng minh

Thứ ba, chỉ rõ những hạn chế trong những quy định của BLTTDS 2015

về nghĩa vụ chứng minh

Thứ tư, đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật

tố tụng dân sự về nghĩa vụ chứng minh và một số giải pháp để nâng cao hiệuquả của việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác

- Lênin

Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu đặc thù của ngành khoa học xãhội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng được tác giả luận văn kết hợp sửdụng như: phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp sosánh; phương pháp đánh giá các quy định pháp luật

6 Đóng góp của đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu giới hạn, luận văn tập trung vào những điểmchính sau:

Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu và phân tích có hệ thống các vấn

đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm của các quy định về nghĩa vụchứng minh trong tố tụng dân sự

Về mặt thực tiễn, từ thực trạng quy định của pháp luật về nghĩa vụ

chứng minh luận văn hệ thống và phân tích một cách cụ thể, chi tiết để từ đótìm ra các điểm bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật hiện nay về nghĩa

vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Về mặt định hướng hoàn thiện, luận văn đưa ra cơ sở hình thành những

định hướng và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hơn nữa các quy địnhpháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Trang 14

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương với kết cấu:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng

dân sự Việt Nam

Chương 2: Quy định pháp luật hiện nay về nghĩa vụ chứng minh trong

tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các

quy định pháp luật về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ CHỨNG MINH

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái quát chung về nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự

* Khái niệm nghĩa vụ chứng minh

Về bản chất, chứng minh trong tố tụng là một quá trình gồm thu thập,cung cấp, sử dụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ cơ sở pháp lý cũng như cơ sởthực tế các yêu cầu của các bên đương sự trong vụ án Mỗi một chủ thể thamgia vào quá trình này có những quyền và nghĩa vụ riêng biệt, tùy thuộc vào vịtrí tố tụng của từng chủ thể

Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) quy định nghĩa vụ cungcấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện thuộc về đương sự Toà

án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện phápnhưng vẫn không tự thu thập được và có yêu cầu Toà án tiến hành thu thập

Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộpchứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là cócăn cứ và hợp pháp Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền vànghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ

và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trườnghợp do Bộ luật này quy định [30, Điều 6]

Nguyên tắc này được cụ thể hoá tại Điều 91 BLTTDS 2015 như sau:

Trang 16

1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình phải thu thập; cung cấp; giao nộp cho Tòa án tàiliệu; chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợppháp; trừ các trường hợp sau đây:

a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minhlỗi của tổ chức; cá nhân kinh doanh hàng hóa; dịch vụ Tổ chức; cánhân kinh doanh hàng hóa; dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minhmình không có lỗi gây ra thiệt hại; theo quy định của Luật bảo vệquyền lợi người tiêu dùng;

b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động màkhông cung cấp; giao nộp được cho Tòa án tài liệu; chứng cứ vì lý

do tài liệu; chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý;lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp; giaonộp tài liệu; chứng cứ đó cho Tòa án

Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợpđồng lao động; thuộc trường hợp người sử dụng lao động khôngđược thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao độnghoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với ngườilao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụchứng minh thuộc về người sử dụng lao động;

c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh

2 Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mìnhphải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập; cung cấp; giao nộp choTòa án tài liệu; chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó

3 Cơ quan; tổ chức; cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích côngcộng; lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và

Trang 17

lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập; cung cấp; giao nộpcho Tòa án tài liệu; chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện;yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùngkhông có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức; cá nhân kinh doanhhàng hóa; dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng

4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh màkhông đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thìTòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thậpđược có trong hồ sơ vụ việc [30, Điều 91]

Ngoài ra, cần phân định ranh giới giữa nghĩa vụ chứng minh và tráchnhiệm chứng minh trong tố tụng dân sự Tại khoản 2 Điều 85 của Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS 2011) (có hiệu lực từ01/01/2012) đã ghi nhận: Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩmphán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp để thu thập tài liệu, chứng cứ.Như vậy, so với khoản 2 Điều 85 của BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của BLTTDS 2011 hoặc tại Điều 97 BLTTDS 2015 đã bỏ quy định:Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêucầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng

cứ Việc bỏ quy định đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và có yêucầu mới là điều kiện để Tòa án thu thập chứng cứ, đặt ra những vấn đề tranh cãicần thống nhất về cách hiểu khi áp dụng trong thực tiễn xét xử liên quan đếnquan niệm về nghĩa vụ chứng minh hay trách nhiệm chứng minh của Tòa án(TA), Viện kiểm sát (VKS) Theo đó nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

là của các đương sự; Tòa án và Viện kiểm sát không có nghĩa vụ chứng minh chỉ

có trách nhiệm chứng minh

Trang 18

Từ đó, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự có thể được hiểu:Thứ nhất, về nguyên tắc, “nghĩa vụ” là việc phải làm Đương sự cónghĩa vụ chứng minh có nghĩa là đương sự phải thực hiện hoạt động chứngminh Điều này không có nghĩa là tất cả các đương sự đều phải thực hiện hoạtđộng chứng minh Như khi cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ quyền, lợi íchcủa cá nhân khác thì tư cách đương sự thuộc về người được khởi kiện nhưng

họ không bắt buộc phải chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình

là có căn cứ mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan, tổ chức đã khởi kiện,

bị đơn cũng không bắt buộc phải chứng minh… nghĩa vụ chứng minh nói mộtcách tổng quát nhất là thuộc về phía đương sự đã đưa ra yêu cầu Thuật ngữ

“yêu cầu” ở đây đã được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm cả yêu cầu về sự

công nhận là đúng, là có lý và cả yêu cầu công nhận là không đúng, không có

lý hay nói cách khác yêu cầu ở đây chính là đề ra đối tượng chứng minh Nộidung đối tượng chứng minh thuộc về phía đương sự bao gồm thỉnh cầu vàkháng biện Trong thỉnh cầu có thỉnh cầu ban đầu (đơn khởi tố), thỉnh cầu bổsung (bổ sung yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ việc), thỉnh cầu phản tố(đòi hỏi công nhận lợi ích của bị đơn) và thỉnh cầu dự sự (đòi hỏi của ngườithứ ba về việc tham gia vụ án) Kháng biện bao gồm kháng biện về nội dung(là sự phủ nhận của bị đơn), khước biện (bị đơn cho rằng không đúng thủ tục)

và kháng chấp (bị đơn cho rằng nguyên đơn không có quyền kiện họ: ví dụnhư không có tư cách hoặc kiện ở tòa không có thẩm quyền)

Khi nguyên đơn đưa ra yêu cầu bằng cách khởi kiện thì họ có nghĩa vụchứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, bị đơn đưa ra yêucầu bác bỏ ý kiến của nguyên đơn thì họ có nghĩa vụ chứng minh cho việc bác

bỏ đó là có căn cứ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đưa ra yêu cầucũng phải chứng minh… nguyên tắc này thống nhất với nguyên tắc về quyền tựđịnh đoạt của đương sự, quyền và lợi ích của họ phải do chính họ quyết định

Trang 19

Thứ hai, đồng thời với việc phải làm thì nghĩa vụ còn mang lại một hậuquả pháp lý Hậu quả pháp lý này là việc được tòa án công nhận các quyền và lợiích hợp pháp khi đương sự thực hiện một cách đầy đủ và chính xác nghĩa vụchứng minh Ngược lại, khi đương sự không thực hiện hoặc thực hiện một cáchkhông đầy đủ nghĩa vụ chứng minh thì yêu cầu đưa ra sẽ không được chấp nhận

và sẽ phải chịu “hậu quả” Không loại trừ trường hợp người đưa ra yêu cầu

không thực hiện nghĩa vụ chứng minh nhưng hậu quả pháp lý mang lại khôngphải là một hậu quả bất lợi như khi bị đơn phản đối yêu cầu của nguyên đơn lạikhông thực hiện nghĩa vụ chứng minh mà chỉ “chối dài” nhưng phản đối đó vẫnđược chấp nhận, trường hợp này phải thấy được rằng hậu quả bất lợi ở đây đãthuộc về phía nguyên đơn vì họ đã không thực hiện được nghĩa vụ chứng minhcủa mình nên đã không được công nhận quyền và lợi ích

* Ý nghĩa của nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Có thể khẳng định, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự có tínhchất quyết định để làm rõ các vấn đề cần chứng minh trong việc giải quyết vụviệc dân sự Để đảm bảo giải quyết vụ việc dân sự diễn ra đúng đắn và hợppháp, pháp luật quy định nghĩa vụ chứng minh đối với các chủ thể trong vụ ándân sự Bởi lẽ, chỉ thông qua hoạt động chứng minh thì các chủ thể chứngminh mới có thể yêu cầu hoặc đưa ra sự phản bác của mình đúng quy định củapháp luật để làm sáng tỏ, giải quyết nhanh chóng, đúng đắn và chính xác vụ

án hơn đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đúng pháp luật

1.1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự

Chứng minh trong tố tụng là một quá trình gồm thu thập, cung cấp, sửdụng chứng cứ nhằm làm sáng tỏ cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế cácyêu cầu của các bên trong vụ án Mỗi một chủ thể tham gia vào quá trình này

có những quyền và nghĩa vụ riêng biệt, tùy thuộc vào vị trí tố tụng của họ.Khái niệm nghĩa vụ chứng minh (mà người ta thường gọi là Onus

Trang 20

probandi theo tiếng La tinh, Beweislast theo tiếng Đức, Burden of proof theotiếng Anh, hay La charge de la preuve theo tiếng Pháp) được hình hành nhằmxác định bổn phận phải gánh vác của một chủ thể trong việc chứng tỏ hoặcphản bác một vấn đề trong vụ án Thông thường, nói đến nghĩa vụ chứngminh, người ta nói đến nghĩa vụ chứng minh nội dung và nghĩa vụ chứngminh hình thức [2].

* Nghĩa vụ chứng minh về nội dung

Nghĩa vụ chứng minh về nội dung hay còn gọi là nghĩa vụ thuyết phục,nghĩa vụ khẳng định, nghĩa vụ nội dung, nghĩa vụ theo luật, nghĩa vụ kháchquan Đây là nghĩa vụ được ấn định dứt khoát cho bên yêu cầu (nguyên đơn,người phản tố) và không thể chuyển cho bên kia Chủ thể mang nghĩa vụchứng minh nội dung sẽ thua kiện nếu không thực hiện được việc chứng minhcủa mình Việc chứng minh, trong trường hợp này là ngoài việc xuất trình cácchứng cứ cần thiết để khẳng định sự thật, người đặt ra yêu cầu (giả thuyếtphải chứng minh) còn phải lập luận viện dẫn các cơ sở thực tiễn, logic vàpháp lý cho các yêu cầu đó

Ngay từ thời La Mã cổ đại, một cáo buộc được đệ trình lên tòa cũng cónghĩa là bên cáo buộc đã đặt phía bên kia vào một trạng thái bất lợi và cũngđồng thời tự đặt mình vào một nghi vấn về một sự lạm dụng quyền đi kiện.Bởi vậy, người đi kiện có bổn phận chứng minh cho giả thuyết của mình đãđưa ra là có cơ sở và không có một sự lạm dụng nào được thực hiện, nguyêntắc này còn được áp dụng đối với cả những phản tố của các đương sự kháckhông phải là nguyên cáo, khi đó, nó được hiểu là “nghĩa vụ chứng minhthuộc về người khẳng định, chứ không phải bên từ chối” Sự từ chối ở đâyđược hiểu là bên bị không thừa nhận cáo buộc của bên nguyên Anh ta sẽ xuấttrình chứng cứ cho sự từ chối hay bác bỏ này theo yêu cầu của tòa án nhưngviệc chứng minh cho sự không đúng sự thật của cáo buộc chỉ là quyền chứ

Trang 21

không phải là nghĩa vụ của anh ta Trường hợp bên nguyên không thuyết phụcđược tòa án về tính có căn cứ của cáo buộc, cáo buộc sẽ bị bác bỏ và việcphản đối hay từ chối cáo buộc không cần thiết phải chứng minh.

Trong các vụ án dân sự, nguyên đơn thường phải gánh chịu nghĩa vụchứng minh để khẳng định các yêu cầu của mình là có cơ sở, có thật và hợppháp Bị đơn chỉ có nghĩa vụ chứng minh khi anh ta đặt ra một yêu cầu phản

tố, độc lập với yêu cầu của nguyên đơn Tuy vậy, trong mô hình tố tụng thẩmvấn, nguyên đơn dân sự cũng chỉ phải chứng minh mình bị tranh chấp, xâmhại, việc quyết định đúng sai và trách nhiệm dân sự tương ứng phụ thuộc vàoviệc xác minh sự thật vụ án của tòa án

đã đáp ứng được các tiêu chí luật định và cáo buộc được thừa nhận là có thật

Có thể thấy bên có nghĩa vụ chứng minh nội dung sẽ đương nhiên phải

có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ Tuy vậy, phía bên kia không có nghĩa vụchứng minh nội dung nhưng vẫn có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ Trong một

vụ kiện, khi một bên đã xuất trình đủ các chứng cứ cần thiết cho các cáo buộc

Trang 22

của mình thì bên kia sẽ được đặt trong trạng thái phải chống đỡ Một khi bên

bị bác bỏ cáo buộc của bên nguyên phải đưa ra các chứng cứ để bác bỏ nó tức là nghĩa vụ xuất trình chứng cứ bảo vệ (hoặc chứng cứ bác bỏ) đã đượcchuyển sang bên bị Nếu anh ta không đưa ra được chứng cứ cần thiết, cácchứng cứ do bên kia đưa ra sẽ được thừa nhận là xác thực (hay hiển nhiênđúng) cáo buộc của họ sẽ được chấp nhận Điều này xuất phát từ nguyên tắc

-"một giả thuyết được coi là chân thực cho tới khi nó bị chứng minh là sai"[2].Những hoài nghi có tính chất cá nhân của bên bị không thể coi là một sự phảnchứng nếu anh ta không đưa ra được chứng cứ

Theo thông lệ, bên nguyên đơn chứng minh trước nếu bên bị đơn lạiphản bác và đã chứng minh cho những phản bác, nghĩa vụ xuất trình chứng cứlại được chuyển lại cho nguyên đơn để thực hiện việc bảo vệ cho mình.Chứng minh tại tòa án là một quá trình gồm hàng loạt các việc "chuyển" nghĩa

vụ chứng minh cho đến khi không bên nào còn có thể bác bỏ hay đề xuất gìthêm Kết thúc việc "chuyển" đó, tòa án sẽ ra phán quyết về vụ án

1.1.3 Nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Khác với các bên trong vụ án, tòa án là chủ thể trung lập, họ nhận định

sự việc và đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ án Những đòi hỏi của pháp chếbuộc tòa án phải có trách nhiệm đưa ra bản án phù hợp với thực tế khách quan

và đúng pháp luật Để bản án của mình phù hợp với thực tế khách quan, tòa

án luôn bị đặt lên vai một nghĩa vụ là xác định sự thật hay theo cách gọi của khoản 1, Điều 225 LTTDS 2015 là "xác định các tình tiết của vụ án" Tuy thế,

cách thức xác định sự thật của tòa án như thế nào lại phát sinh nhiều quanđiểm khác nhau mà lịch sử đã chứng kiến sự tồn tại của hai trường phái chính:

Tố tụng tranh tụng và Tố tụng thẩm vấn (hay xét hỏi)

Những nước theo truyền thống thông luật thì cho rằng, sự nhận địnhcủa tòa án chỉ thuần túy dựa trên những gì mà đương sự, người truy tố chứng

Trang 23

minh Tòa án là một cơ quan thuần túy phân xử và độc lập với các bên cũngnhư những ràng buộc chính trị, do đó, tòa án sẽ nhận định và phán quyết chobên nào chứng minh có lý hơn, đầy đủ hơn Tòa sẽ xác định sự thật vụ án trên

cơ sở của kết quả chứng minh Đây là hệ thống tố tụng tranh tụng.

Những nước theo truyền thống dân luật thì lại cho rằng, ngoài tư cách

là một cơ quan độc lập, tòa vẫn còn nhiệm vụ bảo vệ trật tự pháp luật chung

Và do đó, khi các bên trong vụ kiện tuy đã chứng minh cho các yêu cầu kiệncáo của mình, tòa vẫn còn nguyên vẹn nghĩa vụ xác minh sự thật khách quan.Theo đó, tòa án sẽ phải điều tra, làm rõ những tình tiết của vụ án trước khiđưa ra phán quyết, những kết quả chứng minh của đương sự chỉ có ý nghĩatham khảo Đây là hệ thống tố tụng thẩm vấn Mỗi một hệ thống đều có những

ưu điểm và nhược điểm cố hữu của nó Hơn nữa, cũng đã khá lâu, trên thếgiới người ta không còn so sánh hệ thống tố tụng nào ưu việt hơn trong việcbảo vệ quyền của dân chúng cũng như bảo vệ trật tự pháp luật Vấn đề đặt rađối với giới học giả cũng như những người làm luật là tìm những ưu điểm củamỗi hệ thống tố tụng để kết hợp lại trong luật tố tụng của quốc gia mình Hiệntại, đã có sự giao thoa của cả hai hệ thống tố tụng Các đương sự, người đikiện có bổn phận cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu, khẳng địnhhay những phản bác của mình, nguyên tắc tranh tụng được coi là chủ đạotrong tố tụng Bên cạnh đó, nguyên tắc thẩm vấn cũng vẫn còn được áp dụng

ở mức độ hạn chế [2] Người ta đã tìm thấy trong tố tụng của các nước theo hệthống thông luật có nhiều hơn các quy định về chứng cứ viết, các tài liệu giámđịnh Tòa án common law cũng đã tiến hành lấy lời khai nhân chứng màkhông cần đến một đề nghị nào của các bên khi có mâu thuẫn hoặc tòa nhậnđịnh thấy chưa thể đủ căn cứ để phán quyết Vài thay đổi theo hướng đó cũng

đã xuất hiện trong tố tụng của các nước theo hệ thống dân luật, không cònthấy hình ảnh của các quan tòa lắm lời mà thay vào đó là sự

Trang 24

tranh luận miệng của các bên Tự định đoạt và tranh tụng đã là một trongnhững nguyên tắc tố tụng cơ bản của người châu Âu lục địa và những câuchuyện liên quan đến nghĩa vụ điều tra của tòa án chỉ dành cho những vụ ánđặc biệt như bảo vệ quyền trẻ em Ngoài ra, việc điều tra bổ sung của tòa án

đã chỉ còn là những ngoại lệ được áp dụng với những điều kiện chặt chẽ [2]

Thực tế, việc phân định nghĩa vụ chứng minh giữa đương sự và tòa ánkhông là một nội dung của một lý thuyết nào về nghĩa vụ chứng minh đã tồntại trên thế giới Người ta chỉ đặt vấn đề nghĩa vụ xác định sự thật vụ án giữatòa án với đương sự Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh mà chỉ có nghĩa

vụ xác định sự thật vụ án và ra phán quyết Ở đâu đó, trong những trường hợpnhất định, tòa án thực hiện việc thu thập chứng cứ nhằm làm rõ hơn sự thậttrong nhận định của họ thì cũng không phải là hành vi chứng minh, đó chỉ

được coi là ngoại lệ của nghĩa vụ xuất trình chứng cứ - một phần của nghĩa vụ

chứng minh Ngoại lệ này nhằm giúp đỡ đương sự gặp bất lợi trong việc tiếpcận các nguồn chứng cứ và hình thành nên hoạt động điều tra của cơ quan giảiquyết khiếu nại, kiện cáo

1.1.4 Các cấp độ chứng minh

Các chủ thể chứng minh trong quá trình áp dụng pháp luật sẽ xoayquanh các giả thuyết về một sự thật đã xảy ra trong quá khứ Một đối tượngđược đánh giá là đúng, là khách quan ở thời điểm này cũng có thể là sai lầm ởmột thời điểm khác khi xuất hiện những tình huống, điều kiện mới Quanniệm về cái “thật" với tính cách là một thực tại khách quan sẽ bị thách thứcbởi những trường hợp người ta phát hiện có những chứng cứ phủ định nhữngphép chứng minh đã hoàn tất Theo đó, cái thật ở đây là sự đúng đắn trongnhận thức với những điều kiện xác định và được kiểm tra bằng các luật logic

Một khi không thể chứng minh một đối tượng là không thật, thì nó phải là thật Do đó, cái “sự thật" của các cáo buộc là cái “thật trong tư duy" chứ

không phải là cái thật của thực tại khách quan

Trang 25

Phép chứng minh sẽ hoàn tất chỉ đến khi người ta thuyết phục được cơquan áp dụng pháp luật tin tưởng rằng giả thuyết đó là đúng Chủ thể chứngminh sẽ thuyết phục bằng những bằng chứng cụ thể, những lập luận phù hợpvới các quy luật logic được thừa nhận chung và những viện dẫn các quy địnhcủa pháp luật một cách rõ ràng Thông thường, nghĩa vụ chứng minh có cáccấp độ sau đây:

* Không còn nghi ngờ hợp lý

Đây được xem là cấp độ cao nhất của chứng minh và được áp dụngtrong những trường hợp kết quả chứng minh có ảnh hưởng đến sinh mạng,thân phận chính trị, tự do của con người như tố tụng hình sự Một lẽ hiểnnhiên là bất kỳ nhà làm luật nào cũng đều mong muốn khi kết tội một người,

anh ta chắc chắn đã thực hiện một tội phạm Thế nhưng xét về tổng thể, đây

lại là điều không tưởng và không cần thiết bởi sự thật trong chứng minh chỉ là

sự thật trong nhận thức như đã trình bày ở trên Như vậy, một khi không thểđặt một giả thuyết (hay nghi ngờ) logic nào khác ngoài việc cho rằng bị cáo

đã thực hiện một tội phạm thì có nghĩa là trong giới hạn nhận thức của conngười, anh ta đã phạm tội Nghĩa vụ chứng minh anh ta có tội của công tố đãhoàn tất Trong chừng mực vẫn có thể đặt ra được những khả năng hợp lýkhác ngoài việc phạm tội của bị cáo, về nguyên tắc, tòa phải tuyên anh takhông có tội Nếu nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có phánquyết chính thức có hiệu lực của tòa án về việc phạm tội của anh ta được gọi

là nguyên tắc "suy đoán vô tội" thì việc tòa án nhận định không tồn tại mộtnghi ngờ hợp lý về việc có tội của anh ta có thể được coi là nguyên tắc "suyđoán có tội" trong luật hình sự các nước áp dụng hệ thống tranh tụng có từthời trung cổ [2]

* Chứng cứ rõ ràng và thuyết phục

Đây là cấp độ thấp hơn của việc không còn nghi ngờ hợp lý Các chứng

Trang 26

cứ và lập luận đưa ra có thể sắp xếp thành những suy luận có tính logic về sự

thật vụ án Tuy nhiên, chứng cứ rõ ràng và thuyết phục không loại trừ khả

năng vẫn còn có thể đặt ra một giả thuyết khác với giả thuyết mà chủ thể cónghĩa vụ chứng minh đã đưa ra Cấp độ chứng minh này được sử dụng phổbiến trên thế giới, kể cả trong tố tụng hình sự, đặc biệt là các nước theo truyềnthống luật dân sự Chẳng hạn ở Đức, tòa án sẽ quyết định một cách độc lập vềkết quả chứng minh trên cơ sở những tranh luận cụ thể tại phiên tòa NgườiPháp cũng có quy định tương tự tại Điều 304 trong Bộ luật Tố tụng hình sự.Đây cũng là cấp độ chứng minh được thể hiện trong luật tố tụng ở Việt Nam,căn cứ vào các chứng cứ thu thập được trong hồ sơ và kết quả tranh tụng, tòa

án nhận định về vụ án và ra phán quyết

* Cân đối khả năng hay xử thắng cho bên chiếm lợi thế về chứng cứ

Đây là mức thấp nhất của nghĩa vụ chứng minh Thông thường, khi kếtthúc tranh tụng, tòa sẽ xử cho bên có chứng cứ mạnh hơn bất luận sự thật nhưthế nào Nó thường được áp dụng trong các vụ việc về gia đình, chẳng hạntrong vụ tranh chấp quyền nuôi con, bên nào chứng minh mình có điều kiệntốt hơn bên kia trong việc chăm sóc đứa trẻ sẽ giành chiến thắng, kể cả trongtrường hợp người thắng kiện có điều kiện cũng rất thiếu thốn về vật chất, dù

là tốt hơn bên kia Trong những vụ kiện như thế này, người có nghĩa vụ chứngminh được giải phóng khỏi nghĩa vụ khi chứng minh được lợi thế của mình

Như vậy, tùy từng cấp độ chứng minh, yêu cầu của các bên đưa ra sẽđược Hội đồng xét xử cân nhắc và từ đó tìm ra phương hướng giải quyết vụviệc dân sự

1.1.5 Sự cần thiết của việc thực hiện hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự

Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liênquan), người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 27

của đương sự; các cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi íchcủa người khác, Tòa án và trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia tố tụngtheo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì Viện kiểm sát đều là chủ thểchứng minh Tùy thuộc vào vai trò, địa vị tố tụng của các chủ thể này và ởtừng giai đoạn tố tụng cụ thể, các chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụtham gia vào quá trình chứng minh các sự kiện, tình tiết của vụ việc ở nhữngphạm vi và mức độ khác nhau Cụ thể:

* Đối với đương sự

- Nguyên đơn

Về nguyên tắc, nguyên đơn đưa ra yêu cầu thì phải chứng minh cho yêucầu của mình đối với bị đơn, tức là phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, thamgia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận để chứng minh, bởi vì bịđơn được suy đoán là không có bất cứ trách nhiệm gì với nguyên đơn cho đếnkhi trách nhiệm của bị đơn chưa được chứng minh Cung cấp chứng cứ chỉ làmột trong các biện pháp chứng minh của đương sự Bên cạnh đó, trong tiếntrình phát triển của hoạt động chứng minh, quyền và nghĩa vụ chứng minh củacác chủ thể chứng minh không bất biến mà trong điều kiện nhất định, nó cóthể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác; từnguyên đơn sang bị đơn khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyênđơn, hoặc khi bị đơn muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết nhằm bác bỏ yêucầu của nguyên đơn

Nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về bên đương sự nào muốn viện dẫnnhững sự kiện, tình tiết để làm cơ sở cho những yêu cầu hoặc phản đối củamình Kể từ khi làm đơn khởi kiện, việc chứng minh yêu cầu đối với nguyênđơn là nghĩa vụ Nếu nguyên đơn đưa ra yêu cầu mà không chứng minh đượcyêu cầu của mình là có căn cứ, có trong thực tế hoặc đưa ra những chứng cứkhông có giá trị chứng minh, trong khi đó bị đơn lại đưa ra được chứng cứ có

Trang 28

tính thuyết phục để phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu của nguyênđơn sẽ bị Tòa án bác bỏ.

Ngoài các trường hợp trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 còn dựliệu trường hợp, nếu một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối cáctình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bênđương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh Qua đó, cóthể thấy rằng, sự thừa nhận của một bên đương sự sẽ có giá trị miễn nghĩa vụchứng minh cho đương sự phía bên kia Tuy nhiên, cũng có trường hợp đương

sự có thể thừa nhận một cách giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ pháp luật, xâmphạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể thể khác Chính vì thế,tùy thuộc từng trường hợp cụ thể, Tòa án vẫn có thể cho tiến hành chứngminh các tình tiết, sự kiện mà các đương sự thừa nhận Ngoài ra, so với Bộluật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung BLTTDS 2011) chỉ quy định

về các tình tiết, sự kiện mà đương sự đưa ra thì Bộ luật Tố tụng Dân sự năm

2015 mở rộng thêm các yếu tố như tài liệu, văn bản hay kết luận của cơ quanchuyên môn đều có thể được đương sự đưa ra, để đương sự phía bên kia thừanhận hoặc không thừa nhận Trên cơ sở đó, Tòa án sẽ quyết định có haykhông việc phải tiến hành chứng minh đối với các tài liệu, văn bản hay kếtluận của cơ quan chuyên môn

Trong trường hợp đương sự vắng mặt hoặc có mặt nhưng nếu có ngườiđại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện cũng sẽ được coi

là sự thừa nhận của đương sự Điều này đồng nghĩa, sự thừa nhận hoặc khôngphản đối của người đại diện đối với các tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản haykết luận của cơ quan chuyên môn mà đương sự phía bên kia đưa ra, sẽ có thể

là cơ sở để đương sự phía bên kia, không cần phải chứng minh tính hợp pháp

và tính có căn cứ của chúng Tuy vậy, cơ sở của điều này còn tùy thuộc vàophạm vi đại diện của đương sự với người đại diện của họ [17]

Trang 29

- Bị đơn

Là người bị kiện nên họ có quyền chứng minh để tự bảo vệ quyền lợicủa mình trước Tòa án Tuy nhiên, việc chứng minh sẽ trở thành nghĩa vụ đốivới bị đơn nếu:

Bị đơn có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơnđưa ra yêu cầu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn Trường hợp bị đơn đưa

ra yêu cầu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải cung cấpchứng cứ để chỉ ra yêu cầu đó có cơ sở thực tế, cơ sở pháp lý hay không, cóđúng đắn không? Khi đó nguyên đơn cũng có quyền phản đối lại yêu cầu đócủa bị đơn, đồng thời phải chứng minh cho việc phản đối yêu cầu của mình;

Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (có thể bị đơn chỉchấp nhận phần yêu cầu và phản đối phần còn lại của yêu cầu đó hoặc khôngchấp nhận hoàn toàn) hoặc thậm chí chỉ trong trường hợp bị đơn đang nắmgiữ chứng cứ liên quan đến nguyên đơn

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, họ

có nghĩa vụ, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Chẳng hạn,người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia vào vụkiện giữa nguyên đơn và bị đơn, họ cho rằng đối tượng đang tranh chấp làthuộc sở hữu của họ chứ không phải thuộc sở hữu nguyên đơn hay bị đơn.Trong trường này, nghĩa vụ chứng minh (nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, thamgia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận ) của họ cũng giống nhưnghĩa vụ của nguyên đơn khi chứng minh cho yêu cầu của mình

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độclập, dù đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn, họ đều có nghĩa cung cấp chứng

cứ chứng minh cùng nguyên đơn hay bị đơn vì lợi ích của họ liên quan đến vụkiện Việc cung cấp chứng cứ của họ để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết,

Trang 30

sự kiện của vụ kiện để bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà họ đứng về phíađương sự đó, hoặc có thể làm căn cứ cho yêu cầu của họ đối với một trong cácbên đương sự; hoặc chứng cứ do họ cung cấp làm căn cứ để họ phản đối vềviệc kiện đòi hoàn lại mà một bên đương sự đặt ra cho họ [33].

* Đối với các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh

khác - Người đại diện của đương sự

Về bản chất, người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là ngườithay mặt cho đương sự trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tốtụng nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đương sự Chính

vì vậy, người đại diện của đương sự thường được ví von như diễn viên đóngthế thay cho đương sự để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự trongsuốt quá trình tham gia tố tụng Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồmngười đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền (Điều 85-BLTTDS 2015) Ngoài hai loại đại diện trên còn Đại diện do tòa án chỉ định(Điều 88- BLTTDS 2015) cụ thể:

1. Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là ngườichưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạnchế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diệntheo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tạikhoản 1 Điều 87 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đạidiện để tham gia tố tụng

2. Đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trườnghợp quy định tại khoản 1 Điều này hoặc người lao động là ngườichưa thành niên mà không có người đại diện và Tòa án cũng khôngchỉ định được người đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thìTòa án chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện chongười lao động đó [30]

Trang 31

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì người đại diện theo phápluật bao gồm có cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối vớingười được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chếnăng lực hành vi dân sự, người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệhoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ hộ gia đìnhđối với gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác (Điều 142 BLDS2015), ngoài ra cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của người khác cũng

là người đại diện theo pháp luật cho người được khởi kiện (Điều 85 BLTTDS2015), người được tòa án chỉ định để đại diện cho đương sự tham gia tố tụng(Điều 88 BLTTDS 2015)

Người đại diện theo ủy quyền cũng là người thay mặt cho đương sựthực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng thông qua một giấy ủyquyền thể hiện ý chí của người đại diện và người được đại diện, phạm vi đạidiện được ghi nhận một cách cụ thể trong giấy ủy quyền đó Có thể đại diệnmột phần hay toàn bộ nhưng trong vụ án ly hôn, đương sự không thể ủyquyền cho người khác tham gia thay mình

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân

sự và trong hoạt động chứng minh được thực hiện theo nguyên tắc quy địnhtại BLTTDS 2015:

1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thựchiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mìnhđại diện

2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thựchiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủyquyền [30, Điều 86]

Khi tham gia vào hoạt động chứng minh, người đại diện có toàn quyền trong việc đề ra các yêu cầu, phản yêu cầu và chứng minh cho những ý kiến

Trang 32

đó Nhưng dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền của đương

sự thì vai trò chứng minh của họ cũng phát sinh sau khi phát sinh vai tròchứng minh của đương sự Đương sự không thể hoặc có hạn chế nhất địnhkhông thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của phápluật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện hoặc tòa án sẽ chỉ định

người đại diện cho họ Hoạt động chứng minh của người đại diện là “thay mặt” đương sự, hành vi chứng minh của họ cũng chính là hành vi của đương

sự và hướng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự Khi tư cáchđương sự chấm dứt thì tư cách đại diện của họ cũng chấm dứt

Như vậy, so với đương sự, hoạt động chứng minh của người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp gặp nhiều khó khăn hơn nên hiệu quả chứng minhhạn chế hơn Còn đương sự là chủ thể của quan hệ tranh chấp, lợi ích của họgắn với đó, họ là người hiểu nhất về quyền và nghĩa vụ của mình, về nguyênnhân phát sinh tranh chấp, về thực trạng quan hệ pháp luật của mình… nênhoạt động chứng minh sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn

- Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người thamgia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (khoản 1 Điều

87 BLTTDS 2015) Những người này có thể là luật sư hoặc bất cứ chủ thể nào

đủ điều kiện mà đương sự tin tưởng Đây cũng là một chủ thể của hoạt độngchứng minh, họ có thể tham gia vào vụ án ở bất cứ giai đoạn nào, được thamgia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Liên quan đếnhoạt động chứng minh, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

có quyền và nghĩa vụ (Điều 76 BLTTDS 2015)

Trong trường hợp này, vai trò chứng minh của người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của đương sự chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ đương sự khi được

“nhờ”, đương sự vẫn là người đề ra việc chứng minh, yêu cầu hoặc phản

Trang 33

yêu cầu nhưng do có hạn chế về mặt pháp lý cũng như kinh nghiệm tố tụngnên họ phải cầu cứu đến sự hỗ trợ, những người này chỉ có quyền chứ không

có nghĩa vụ chứng minh, việc chứng minh được hay không không ảnh hưởngđến quyền và lợi ích của họ Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự cóthể không có mặt tại phiên tòa (điểm đ khoản 2 Điều 227 BLTTDS 2015)

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, vị trí pháp lý củangười bảo vệ quyền lợi của đương sự không có gì khác so với đương sự vì họcùng thuộc nhóm người tham gia tố tụng Họ không có quyền thay mặt đương

sự mà chỉ có thể giúp đỡ đương sự Suy cho cùng, trong hoạt động chứngminh đương sự vẫn tự mình quyết định, tự mình thực hiện các quyền và nghĩa

vụ Điều này cũng là một minh chứng cụ thể cho vai trò nổi bật của đương sự

Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà “đối với những vụ án do Toà

án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩmquyền giải quyết của Toà án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát kháng nghịbản án, quyết định của Toà án” (Khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015) cụ thể lànhững vụ án do tòa án thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97BLTTDS 2015 hoặc những vụ án mà tòa án tự mình tiến hành một hoặc một

số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 98, khoản 2Điều 100, điểm c khoản 3 Điều 104 BLTTDS 2015 Khi đó, tòa án nhân dânphải chuyển hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát nghiên cứu (trừ trường

Trang 34

hợp Viện kiểm sát cùng cấp với tòa án cấp phúc thẩm đã kháng nghị phúcthẩm và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm, táithẩm đã kháng nghị theo theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc theo thủ tục táithẩm) trong một thời gian luật định để tiến hành xem xét.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm khi xétthấy có căn cứ, khi đó viện kiểm sát phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quyđịnh tại điểm b khoản 1 Điều 279, khoản 5 Điều 333 BLTTDS 2015, có nhiệm

vụ tham gia phiên tòa (khoản 1 Điều 232 BLTTDS 2015), có quyền phát biểu ýkiến (điểm b khoản 1 Điều 248, khoản 1 Điều 341, Điều 357 BLTTDS 2015)…

Như vậy, với hành vi kháng nghị Viện kiểm sát cũng tham gia hoạtđộng chứng minh một cách hết sức tích cực Tuy nhiên, đây là nghĩa vụ củaViện kiểm sát do luật định, sau khi đương sự thực hiện hoàn tất quyền vànghĩa vụ của mình thì trong nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Việnkiểm sát xét thấy việc xét xử của tòa án là chưa công bằng nên thực hiệnquyền kháng nghị của mình Cũng tương tự, khi đương sự có yêu cầu, khiếunại đối với việc tòa án thu thập chứng cứ thì để đảm bảo khách quan, Việnkiểm sát phải tham gia để bảo vệ quyền lợi của các bên cũng như pháp chếcủa nhà nước - đây là một nghĩa vụ phái sinh vì nếu đương sự không thựchiện hoạt động chứng minh thì viện kiểm sát cũng không thể thực hiện hoạtđộng chứng minh của mình [31]

- Tòa án

Để nghiên cứu vai trò chứng minh của tòa án cần nhận thức rõ thái độ

cụ thể của tòa án khi tiến hành tố tụng dân sự Tòa án - thể hiện cụ thể trongmột vụ án dân sự là thẩm phán tiến hành giải quyết vụ án đó giữ thái độ trung

lập (bởi đây là những tranh chấp mang tính chất “tư”), đề ra đối tượng chứng

minh và đốc thúc, hỗ trợ hoạt động chứng minh của các bên đương sự Hoạtđộng chứng minh của tòa án chủ yếu dựa trên sự chứng minh của

Trang 35

đương sự Khi đương sự trình bày sự kiện, xuất nạp giấy tờ, yêu cầu của mình

và liên hệ trực tiếp đến yêu cầu đó bằng những chứng cứ, kết quả sẽ tùy thuộcvào việc có hay không những bằng cớ cụ thể Như vậy, mục đích của việcchứng minh là khác nhau Trong khi tòa án phải chứng minh tính khách quantrong vụ án, phán quyết đưa ra phải công bằng với cả hai bên trong phạm vihoạt động chứng minh của họ thì đương sự lại chứng minh cho yêu cầu củamình cũng như hoàn toàn có thể phủ nhận yêu cầu hay phản yêu cầu củađương sự bên kia

Vai trò chứng minh của tòa án thể hiện ở một số quyền và nghĩa vụnhư: tự mình tiến hành thu thập chứng cứ trong một số trường hợp quy địnhtại mục 1.2 phần IV nghị quyết số 04/2005/NQ – HĐTP ngày 19/9/2005 củaHĐTPTANDTC về chứng cứ và chứng minh “Trường hợp tài liêu, chứng cứ

đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì thẩm phányêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ (khoản 1 Điều 96BLTTDS 2015)” để giải quyết Theo yêu cầu của đương sự tòa án sẽ quyếtđịnh các biện pháp thu thập chứng cứ như định giá tài sản, lấy lời khai củangười làm chứng, quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung, đốichất… có quyền nghiên cứu, đánh giá chứng cứ theo điều 100, 101, 102BLTTDS 2015, đây là điều hiển nhiên vì tòa án là người tiến hành hoạt độnglập hồ sơ vụ án cũng như căn cứ vào đó để giải quyết Tại phiên tòa, Hội đồngxét xử (HĐXX) có quyền hỏi những người tham gia phiên tòa như đương sự,người làm chứng…

Hoạt động chứng minh của tòa án chủ yếu trong giai đoạn nghiên cứu,đánh giá chứng cứ mà những chứng cứ này là do đương sự cung cấp Như đãlàm rõ, không có giai đoạn thu thập, cung cấp chứng cứ thì cũng sẽ không cógiai đoạn nghiên cứu đánh giá chứng cứ Tuy nhiên cũng không thể nào nóirằng hoạt động chứng minh do tòa án và đương sự thực hiện mỗi người một

Trang 36

nửa vì đương sự cũng thực hiện việc nghiên cứu đáng giá chứng cứ tại phiên tòacũng như được quyền biết, sao chép… tạo cơ sở cho việc tranh luận Tòa án cũngthu thập chứng cứ mặc dù có hạn chế nhưng việc hỗ trợ đương sự thu thập chứng

cứ được thể hiện rõ ràng Đây là những hoạt động xen kẽ nhau, bổ sung cho nhaunhưng vai trò của đương sự thể hiện rõ ràng hơn trong việc tự bảo vệ quyền lợicủa mình – bản chất của tố tụng dân sự Việc đương sự có chứng minh được hay

không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phán quyết của tòa án“lý luận và thực tiễn việc

giải quyết các vụ việc dân sự của tòa án đã cho thấy, việc không chứng minh được một sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự có thể kéo theo việc ra một quyết định không có cơ sở làm xâm phạm đến quyền lợi của các bên đương sự không hoàn thành được nghĩa vụ chứng minh của họ” [31].

Tóm lại, vai trò chứng minh của đương sự rõ nét hơn tòa án Hoạt độngchứng minh của đương sự là cơ sở cho hoạt động chứng minh của tòa án vàbản án là một sự ghi nhận lại kết quả quá trình chứng minh của đương sự

1.1.6 Cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Bản chất của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là làm sáng tỏ

sự thật khách quan của vụ việc dân sự: có hay không không có, tồn tại haykhông tồn tại các sự kiện, tình tiết mà các bên nêu ra làm cơ sở cho yêu cầucủa mình trước Tòa án Chỉ trên cơ sở các tình tiết sự kiện của vụ việc dân sự

đã được làm rõ, Tòa án mới có thể áp dụng pháp luật phù hợp để giải quyết vụ

Trang 37

việc: chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của các bên Tòa án làm sáng tỏ sự thậtkhách quan của việc dân sự bằng các chứng cứ do các bên thu thập, đề xuất

và được kiểm tra đánh giá theo trình tự do luật định

Hoạt động thu thập, đề xuất, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nhằm làmsáng tỏ các tình tiết sự kiện cụ thể để làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn

vụ việc dân sự của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác được gọi làhoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự

Chứng minh là hoạt động tố tụng do Tòa án và các chủ thể tham gia tốtụng tiến hành, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và yêu cầu, phản bácyêu cầu của các bên tham gia tố tụng Hoạt động chứng minh trong tố tụngdân sự một dạng của hoạt động nhận thức thế giới khách quan Hoạt độngchứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức đi từ thấp đếncao, là sự thống nhất biện chứng của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm hoạt động tư duy vàhoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng, đương sự và người thamgia tố tụng khác đại diện hợp pháp của họ Hoạt động chứng minh là một quátrình bao gồm các giai đoạn: thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánhgiá chứng cứ [39]

* Cơ sở thực tiễn

Dưới góc độ thực tiễn thì chứng minh là một quá trình nhận thức kéodài xuyên suốt vụ án với bốn giai đoạn kế tiếp nhau liên tục là thu thập, cungcấp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạnsau, giai đoạn sau củng cố và đánh giá giai đoạn trước [31] chứng minh trong

Tố tụng dân sự chính là hoạt động mang tính chất pháp lý được điều chỉnh bởiluật tố tụng dân sự và pháp luật liên quan, được thực hiện bởi chủ thể cóquyền và nghĩa vụ cụ thể và kết quả của hoạt động này chính là Bản án hoặcquyết định của Tòa án mang tính chất bắt buộc áp dụng, là công cụ để tòa án

Trang 38

có thể xác định chính xác sự việc đã sảy ra trên thực tế làm cơ sở để đưa raphán quyết giải quyết các tranh chấp phát sinh một cách nhanh chóng, chínhxác và khách quan.

Đối với các đương sự, chứng minh là phương tiện duy nhất để họ cóthể bảo vệ được các quyền và lợi ích của mình Khi vụ việc dân sự được tòa

án thụ lý và giải quyết cũng đồng nghĩa với việc bên nguyên đơn cho rằngquyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, bên bị đơn không thừa nhận cácquyền và lợi ích đó của nguyên đơn nên yêu cầu tòa án phân xử

Trong quá trình tố tụng có thể phát sinh nhiều chủ thể khác, khi họ đưa

ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu thì họ cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêucầu hoặc phản đối yêu cầu của mình là đúng, là có thật Toàn bộ quá trình giảiquyết vụ việc dân sự là chứng minh giả thuyết do các bên đưa ra Cho dù giảthuyết đó có được công nhận là đúng, là có thật hay không thì toàn bộ quátrình đó vẫn được coi là hoạt động chứng minh

Tóm lại, hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trìnhgồm hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và những người tham gia tố tụngtrong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ làm cơ sở choyêu cầu, phản đối yêu cầu của mình và phán quyết của tòa án trên cơ sở quyđịnh của pháp luật

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự được hình thành và pháttriển từ rất lâu tại Việt Nam Trong đó, tùy theo từng giai đoạn lịch sử, quanniệm và quy định về nghĩa vụ chứng minh lại có sự khác nhau

1.2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Năm 1858 thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta, chấm dứt thời

kỳ xã hội Việt Nam “thuần” phong kiến chuyển sang chế độ thực dân nửa

Trang 39

phong kiến Chế độ phong kiến qua đi nhưng vẫn để lại những dấu vết đậmnét về hoạt động lập pháp với nhiều bộ luật khác nhau nhưng có quy mô vàhoàn thiện nhất vào lúc bấy giờ phải kể đến ba bộ luật lớn là Quốc Triều HìnhLuật (nhà Lê thế kỷ XV), Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ (thế kỷ XV –XVIII), Hoàng Việt Luật Lệ (luật Gia Long) Do mang ảnh hưởng nặng nề của

tư tưởng phong kiến nên các bộ luật này mang tính chất hà khắc, vai trò củacon người, của công dân, của đương sự không được đề cao, thủ tục xét hỏi,thẩm vấn được quy định phổ biến, các chế tài áp dụng mang tính chất hình sự.Vai trò chứng minh của đương sự trong vụ kiện dân sự được quy định mộtcách tản mạn và không rõ ràng Tuy vậy, đây cũng là những viên gạch đầutiên đặt nền móng cho việc quy định vai trò chứng minh của đương sự saunày Lần đầu tiên trong bộ “Quốc Triều Khám Tụng Điều Lệ” quy định nhữngngười kiện tụng có đơn cáo trạng khiếu nại về: ruộng đất không xuất trình vănkhế, cưới xin không sính lễ, treo hỏi, tài sản không có trúc thư, tiền nợ không

có văn tự, đánh nhau không có biên bản thương tích, án mạng không cónghiệm án, trộm cướp không có tang vật, cờ bạc không có tang chứng, ứchiếp không phải là người hiền quý danh vọng thì các nha môn không đượckhám tụng Nếu nhận bừa thì gom xét sự việc trước sau luận bác đi Vai trò củađương sự lần đầu tiên được nhắc đến một cách rõ ràng trong việc chứng minhyêu cầu của mình bằng cách cung cấp chứng cứ trong những vụ việc cụ thể,nếu khi yêu cầu giải quyết mà đương sự không đưa ra được bằng chứng thìquan xét xử sẽ bác bỏ đơn kiện [40] Đây là quy định được áp dụng phổ biếnkhi có việc thưa kiện Nó được áp dụng rộng rãi khi giải quyết các vấn đề kiệntụng thuộc cả luật hình sự, dân sự và hôn nhân gia đình

Bằng hai bản thỏa ước ngày 5/6/1882 cắt đứt miền nam bao gồm 6 tỉnh

để sát nhập vào lãnh thổ pháp gọi là Nam Kỳ, thỏa ước ngày 6/6/1884 biếnmiền Bắc và miền Trung thành lãnh thổ bảo hộ của Pháp và đạo dụ năm 1898

Trang 40

của Hoàng đế Đồng Khánh nhượng 3 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và

Đà Nẵng thành đất nhượng địa cho Pháp, Việt Nam chính thức bị thực dânPháp đô hộ Khi đến nước ta chúng thiết lập một chế độ đô hộ hà khắc nhằmbóc lộ và vơ vét của cải đặc biệt thông qua hai cuộc khai thác thuộc địa trênquy mô lớn Nhằm phục vụ cho mưu đồ của mình chúng thay đổi nước tathành một nước thực dân nửa phong kiến Việc đầu tiên là ban hành các bộluật nhằm ổn định tình hình trong nước, thiết lập sự đô hộ Liên quan đến hoạtđộng tố tụng dân sự, trong giai đoạn này chúng ban hành một số bộ luật khácnhau như Bộ dân sự tố tụng Nam Kỳ năm 1910, Bộ dân sự tố tụng Bắc kỳnăm 1917, Bắc kỳ pháp viện biên chế năm 1921, Bộ luật dân sự, thương sự tốtụng bắc kỳ năm 1921, và Bộ Hộ sự và thương sự Trung Kỳ năm 1942… Các

bộ luật này mang tư tưởng phong kiến và dựa trên khuôn mẫu của Bộ luật dân

sự Pháp 1807 Trong giai đoạn này, quyền con người, quyền công dân khôngđược để ý đến các quy định tố tụng chủ yếu là tạo điều kiện cho hoạt độngbóc lột của thực dân nên vai trò chứng minh của đương sự không được quan

tâm nhằm duy trì sự bất bình đẳng chỉ tồn tại vài quy định nhỏ như “Về phương diện dẫn chứng… buộc bên đương sự nào nại ra phải có nghĩa vụ dẫn chứng, chứng minh” và “Các đương sự trong một vụ kiện phải dẫn chứng Mỗi người muốn viện dẫn một sự kiện hay một hành vi pháp lý phải chứng minh sự kiện, hành vi đó” [7] Đây là một quy định hiếm hoi có thể

tiếp cận được bởi các văn bản thời kỳ này được viết hoàn toàn bằng tiếngPháp, không dịch ra chữ Quốc Ngữ cũng như không có các công trình nghiêncứu chi tiết Mặt khác, giai đoạn này sử dụng một cách đồng loạt các án lệ nơi

tòa án nên các quy tắc thành văn “chủ yếu vạch sẵn tỷ mỉ những lề lối phải theo như một thông tư hành chính chứ ít có điều khoản chính xác định thức một nguyên tắc pháp lý tổng quát” – mang tính chất thủ tục [8].

Đồng thời với đó là việc duy trì hai hệ thống tòa án khác nhau với việc

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w