1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mặt chủ quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm

113 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 189,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc hành vithỏa mãn cấu thành tội phạm không thuộc trường hợp “có căn cứ hợp pháp”hay “có tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” cũng có nghĩa hành vi có tính trái pháp luật

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ

Hà Nội - 2010

Trang 3

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm1.2 Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ MẶT

CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về động cơ, mục đích phạm tội

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY

ĐỊNH VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

3.1 Phương hướng hoàn thiện các quy định về lỗi

3.2 Phương hướng hoàn thiện các quy định về động cơ, mục đíchphạm tội

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật hình sự là một trong những ngành luật ra đời sớm nhất trong hệthống pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng Ngay từkhi Nhà nước ta mới được thành lập cho đến nay, luật hình sự vẫn luôn nhậnđược sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân bởi pháp luật hình sự làmột trong những công cụ quan trọng và hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân,bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhànước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật

xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người

ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Để luậthình sự ngày càng thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình, việc hoàn thiện Bộluật hình sự là một đòi hỏi tất yếu khách quan

Bộ luật hình sự Việt Nam tuy đã có những bước phát triển cùng với sựthay đổi của kinh tế - xã hội, sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đòi hỏi gắt gaocủa cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền nên không tránh khỏinhững bất cập, hạn chế, thiếu sót cần sớm được hoàn thiện Một trong nhữngbất cập, hạn chế, thiếu sót đó chính là các quy định về mặt chủ quan của tộiphạm, mà cụ thể là còn thiếu quy định hoặc quy định chưa rõ về: khái niệmlỗi, động cơ, mục đích phạm tội; khái niệm lỗi cố ý, vô ý; dấu hiệu lỗi trong

Bộ luật hình sự Điều này dẫn đến hiểu sai, hiểu không thống nhất về lỗi,động cơ và mục đích phạm tội; áp dụng sai hoặc không thống nhất tội danh;

bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người vô tội v.v

Xuất phát từ những lý do như đã nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Mặt chủ quan của tội phạm với tƣ cách là một yếu tố cấu thành tội phạm” với

Trang 8

mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, nhằm đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của thực tiễn.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là mặt chủ quan của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm

- Phạm vi nghiên cứu là các quy định về mặt chủ quan của tội phạmtrong Bộ luật hình sự năm 1999 dưới góc độ luật hình sự, cả lý luận và thựctiễn áp dụng ở Việt Nam, giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra những điểm bất cập, chưahợp lý trong các quy định về mặt chủ quan của tội phạm, trên cơ sở đó đưa ranhững đề xuất thiết thực nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự vềmặt chủ quan của tội phạm

- Nhiệm vụ nghiên cứu: 1) Đưa ra được khái niệm cấu thành tội phạm

và mặt chủ quan của tội phạm; khái niệm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội;

vị trí, vai trò, ý nghĩa của mặt chủ quan trong 4 yếu tố cấu thành tội phạm,trong việc định tội danh cũng như trong việc phân biệt tội phạm với vi phạmpháp luật khác 2) Làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi, động cơ vàmục đích phạm tội; đặc biệt là chỉ ra được những bất cập, hạn chế, thiếu sóttrong các quy định về mặt chủ quan của tội phạm - nguyên nhân chủ yếu dẫnđến hiểu sai, hiểu không thống nhất về lỗi, động cơ và mục đích phạm tội; ápdụng sai hoặc không thống nhất tội danh; bỏ lọt tội phạm hoặc xử oan người

vô tội 3) Đưa ra được những giải pháp sát đúng, khả thi nhằm hoàn thiệncác quy định về mặt chủ quan của tội phạm, mà cụ thể là các quy định về lỗi,động cơ và mục đích phạm tội

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lí luận của Luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

Trang 9

tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam vềNhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của cácngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học…

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, Luận văn sử dụng các phương pháp hệ thống, lịch sử,phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn … qua đó rút ranhững kết luận, đề xuất phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định về mặt chủquan của tội phạm

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụlục và 3 chương:

Chương 1: Lý luận về mặt chủ quan của tội phạm

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về mặt chủ quan của tộiphạm

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định về mặt chủ quan củatội phạm

Trang 10

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

1.1 KHÁI NIỆM CẤU THÀNH TỘI PHẠM VÀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

1.1.1 Khái niệm cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm là khái niệm được xuất hiện đầu tiên vào thế kỷXVI ở Đức và sau này ngày càng được phát triển sâu rộng về cả mặt lý luận

và thực tiễn áp dụng vào pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Cấu thànhtội phạm được coi là khái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tảkhái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự Tuy vậy, hiện nay trongkhoa học luật hình sự vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này vàviệc vận dụng khái niệm này vào trong pháp luật hình sự của mỗi quốc giacũng khác nhau Trong quá trình hình thành và phát triển của quy phạm phápluật hình sự thực định của Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945đến nay đến trước pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ 2 năm 1999 trongluật về mặt thuật ngữ “cấu thành tội phạm” đã được ghi nhận tại khoản 2 Điều

89 Bộ luật TTHS năm 1988 và tại khoản 2 Điều 107 Bộ luật TTHS năm 2003được coi là một trong bảy căn cứ mà nếu thiếu nó thì không được khởi tố vụ

án hình sự Trong luật nội dung - luật hình sự thì thuật ngữ cấu thành tội phạmvới nội dung đầy đủ của nó chưa bao giờ được sử dụng trong pháp luật hình

sự đã và đang hiện hành của nước ta Trong BLHS năm 1999 hiện hành lầnđầu tiên thuật ngữ “cấu thành tội phạm” được quy định tại Điều 19 BLHS về

tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm “…nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủyếu tố cấu thành của một tội khác…”.[22,334]

Trang 11

Cấu thành tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng của luật hình

sự và là vấn đề lý luận có ý nghĩa trong lập pháp và áp dụng pháp luật hình

sự Về bản chất, tội phạm là hiện tượng xã hội có tính giai cấp, tính lịch sử,được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật của hành

vi. Về mặt cấu trúc, tội phạm được hợp thành bởi những yếu tố nhất định tồntại không tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy Những yếu

tố đó là mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm, khách thểcủa tội phạm và chủ thể của tội phạm Bất cứ hành vi phạm tội nào, khôngphụ thuộc vào mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội đều là một thể thốngnhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, giữa biểu hiện bên ngoài và biểuhiện tâm lý bên trong, tất cả đều là hoạt động của con người cụ thể xâm hạihoặc nhằm xâm hại quan hệ xã hội nhất định Sự thống nhất của bốn yếu tốnày là hình thức cấu trúc thể hiện nội dung chính trị, xã hội của tội phạm Nếu

về mặt nội dung chính trị - xã hội các hành vi phạm tội có tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về mặt hình thức cấu trúc bốn yếu tố cấuthành tội phạm có những nội dung thể hiện khác nhau Chính sự khác nhaunày quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Hành

vi phạm tội của một loại tội phạm cụ thể trong mỗi trường hợp thực tế tuy cónhững điểm khác nhau ở các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đều có nhữngnội dung biểu hiện gần giống nhau có tính đặc trưng và quyết định tính nguyhiểm của loại tội phạm đó Khái quát hóa những nội dung biểu hiện giốngnhau của bốn yếu tố của mỗi loại tội phạm qua các dấu hiệu đặc trưng để mô

tả tội phạm và sự mô tả này trong luật là phương thức quy định tội phạm trongluật hình sự Khái niệm cấu thành tội phạm trong luật hình sự được dùng đểchỉ sự mô tả này

Cấu thành tội phạm là bộ phận của quy phạm pháp luật hình sự, trong

đó xác định nghĩa vụ không được làm hoặc nghĩa vụ phải làm một công việc

Trang 12

của công dân để không gây ra thiệt hại cho xã hội nói chung cũng như công dânnói riêng Quy phạm pháp luật hình sự còn có bộ phận khác là chế tài, trong đóquy định khung hình phạt cho phép áp dụng đối với người thực hiện hành viđược mô tả trong cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm cũng không đồng nhấtvới phần quy định của điều luật về tội phạm trong Phần riêng của Bộ luật hình

sự Phần quy định của điều luật Phần riêng của BLHS chỉ là bộ phận chính củacấu thành tội phạm Bộ phận còn lại là nội dung được quy định chung trong cácđiều luật Phần chung của BLHS Ví dụ cấu thành tội phạm giết người không chỉbao gồm phần quy định của Điều 93 BLHS 1999 mà còn bao gồm cả các quyđịnh thuộc phần chung của BLHS về lỗi, về chủ thể, về độ tuổi, …Như vậy, có

sự khác nhau giữa điều luật với quy phạm pháp luật và cấu thành tội phạm Bakhái niệm này không đồng nhất với nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ và thốngnhất với nhau Với tính chất là khái niệm pháp lý về hình thức cấu trúc và phảnánh tính nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm, cấu thành tội phạm trongluật hình sự được coi là cơ sở pháp lý và sự thỏa mãn cấu thành tội phạm là điềukiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự

Việc xác định một người có tội hay không? và nếu phạm tội thì phạmtội gì? chính là quá trình xác định hành vi của họ có thỏa mãn các dấu hiệucủa một cấu thành tội phạm hay không Một hành vi khi đã thỏa mãn các dấuhiệu của một cấu thành tội phạm thì có nghĩa về mặt nội dung có tính nguyhiểm cho xã hội của loại tội phạm mà cấu thành tội phạm nó thỏa mãn phảnánh và về mặt hình thức có tính trái pháp luật hình sự Như vậy, có sự đồngnhất giữa tính trái pháp luật hình sự và sự thỏa mãn cấu thành tội phạm Cócách hiểu khác cho rằng sự thỏa mãn cấu thành tội phạm không đồng nhất vớitính trái pháp luật hình sự của hành vi Theo đó thỏa mãn các dấu hiệu của cấuthành tội phạm vẫn có thể không có tính trái pháp luật hình sự Ví dụ: Hành vithỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội giết người không có

Trang 13

tính trái pháp luật hình sự trong trường hợp thỏa mãn dấu hiệu của chế địnhphòng vệ chính đáng, tình thể cấp thiết……[45,10] Quy phạm pháp luật hình

sự là quy phạm cấm đoán, cấm công dân làm hoặc không làm một việc nhấtđịnh Ví dụ: Cấm giết người, cấm gây thương tích cho người khác, …; cấmkhông tố giác tội phạm tức yêu cầu phải tố giác tội phạm Về nguyên tắc côngdân không được phép có xử sự bị Pháp luật hình sự cấm, tuy nhiên trongtrường hợp nhất định họ vẫn có thể được luật hình sự cho phép thực hiện xử

sự bị cấm đó Những trường hợp này được quy định trong chế định “các tìnhtiết loại trừ tính trái pháp luật của hành vi” hay “các tình tiết loại trừ tính chấtphạm tội của hành vi”: Phòng vệ chính đáng, sự hiện bất ngờ, tình thế cấpthiết, gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự nhưng chưa đủ tuổi chịu TNHS, gâythiệt hại về mặt pháp lý hình sự trong tình trạng không có năng lực tráchnhiệm hình sự,…Khi thỏa mãn tình tiết này thì việc thực hiện hành vi bị cấmđược coi là hợp pháp Tình tiết này có thể được gọi ngắn gọn là “có căn cứhợp pháp” hay “tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” Việc hành vithỏa mãn cấu thành tội phạm không thuộc trường hợp “có căn cứ hợp pháp”hay “có tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi” cũng có nghĩa hành

vi có tính trái pháp luật hình sự, tức là trong cấu thành tội phạm có dấu hiệunày thì hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm vẫn không trái pháp luật hìnhsự.[45,11]

Từ phân tích trên đây, ta có thể đưa ra khái niệm về cấu thành tội phạm

như sau: Cấu thành tội phạm là tổng hợp các dấu hiệu pháp lý có tính chất

đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự[76,66].

1.1.2 Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì con người là

tổng hòa các quan hệ xã hội, các quan hệ xã hội của con người được biểu

Trang 14

hiện thông qua hành vi Hành vi của con người bao giờ cũng là sự thống nhấtgiữa những biểu hiện cụ thể bên ngoài thế giới khách quan và những nội dungtâm lý bên trong Tội phạm cũng được biểu hiện bởi hành vi, do đó nó cũng là

sự thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan là nhữngbiểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là những hoạt động tâm lýbên trong của người phạm tội Mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại mộtcách độc lập mà luôn luôn gắn liền với mặt khách quan của tội phạm Hoạtđộng tâm lý bên trong của tội phạm luôn gắn liền với các biểu hiện bên ngoàicủa tội phạm Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là tội phạm nếuhành vi đó được thực hiện trong một thái độ tâm lý nhất định của con ngườiđối với hành vi đó và hậu quả do hành vi đó gây ra hay đối với khả năng phátsinh hậu quả từ hành vi đó Do vậy, nếu thiếu mặt chủ quan của tội phạm hành

vi sẽ không cấu thành tội phạm Hành vi vi phạm pháp luật dù được thể hiệngây ra thiệt hại nhưng không có sự thống nhất với mặt chủ quan của ngườigây thiệt hại sẽ không phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nói chung và tráchnhiệm hình sự nói riêng

Con người tồn tại trong thế giới bị chi phối bởi những quy luật kháchquan và hoạt động của con người bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử xãhội cụ thể Tất cả những động cơ thúc đẩy con người hành động không phảibộc phát một cách ngẫu nhiên trong ý thức của con người mà được hình thànhmột cách có quy luật, đó chính là sự giao tiếp giữa con người với nhau, sựphát triển tâm lý của con người, sự phản ánh những sự vật hiện tượng tácđộng trực tiếp đến con người Thông qua hoạt động tâm lý, con người hoạtđộng có ý thức từ đó quyết định sự hình thành và phát triển xã hội Xử sự củacon người có tính quy luật nhưng không phải mang tính tuyệt đối Sống trongcùng một xã hội, cùng điều kiện nhưng có người vi phạm các chuẩn mực xãhội, có người thực hiện tốt trách nhiệm của mình đối với xã hội, có người

Trang 15

phạm tội, có người không phạm tội, có người phạm tội một lần, có ngườiphạm tội nhiều lần Hoạt động của con người bị chi phối bởi các quy luậtkhách quan nhưng nhờ hoạt động ý thức con người đã nhận thức và vận dụngcác quy luật đó vào việc thực hiện các mục đích của mình Đó chính là sự tự

do ý chí, tuy nhiên sự tự do ý chí của con người không phải là sự suy nghĩtuyệt đối độc lập mà nó bị chi phối bởi các quy luật, tự do ý chí là năng lực

quyết định của một người khi nhận thức được nó Hê-ghen nói “Tự do là

nhận thức được cái tất yếu, tất yếu sẽ mù quáng khi con người chưa nhận thức được nó” Hoạt động của con người không phải là kết quả tác động trực

tiếp của các điều kiện lịch sử mà chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động tâm

lý bên trong con người Con người có sự tự do của mình tức là có quyền lựachọn một xử sự phù hợp với các quy luật, đó là sự tự do thực sự Ngược lại,con người sẽ bị tước bỏ sự tự do tương đối trong khuôn khổ các điều kiện lịch

sử, xã hội cụ thể và phụ thuộc vào bản chất của chế độ xã hội Mỗi cá nhântrong xã hội dựa trên cơ sở sự tự do của mình phải đáp ứng những đòi hỏi cótính quy luật của xã hội đó là pháp luật và đạo đức xã hội, đó là trách nhiệmcủa cá nhân trong xã hội, phù hợp với sự tự do của cá nhân nhằm đảm bảo tôntrọng sự tự do của cá nhân khác Như vậy, con người có khả năng nhận thức

và vận dụng tốt các quy luật của xã hội để giành lấy tự do cá nhân Đôi khicon người nhận thức những quy luật đó nhưng không phải họ vận dụng nó đểthực hiện một hành vi phù hợp với tự do của người khác mà họ lại hành độngsai với quy luật Do đó, ý chí cá nhân muốn tước bỏ tự do của người khác vàhậu quả cũng tự tước bỏ tự do của mình (pháp luật buộc họ phải chịu tráchnhiệm về hành vi đó của họ)

Pháp luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan(truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ căn cứ vào những biểu hiện của hành vinguy hiểm cho xã hội không kể hành vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý

Trang 16

của người thực hiện hành vị đó ra sao) Hoạt động định tội phải là sự kết hợpgiữa mặt khách quan và chủ quan, giữa hành vi biểu hiện và thái độ bên trongcủa người thực hiện hành vi Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thôngqua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội Trong đó yếu tốlỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm và là dấu hiệu khôngthể thiếu của bất cứ cấu thành tội phạm nào Động cơ phạm tội và mục đíchphạm tội chỉ được phản ánh trong một số cấu thành tội phạm cơ bản là dấuhiệu bắt buộc và được quy định là tình tiết định khung ở một số cấu thành tộiphạm.

Từ các phân tích trên đây ta có thể đưa ra khái niệm mặt chủ quan của

tội phạm là mặt bên trong của sự xâm hại đáng kể đến khách thể được luật hình sự bảo vệ bằng PLHS.[22,344]

Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra và được thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý.[76,128]

Động cơ phạm tội là động lực (nhân tố) bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý.[76,144]

Mục đích phạm tội là cái mốc (kết quả cuối cùng) mà người phạm tội muốn đạt được khi thực hiện tội phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của cấu thành tội phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm giúp phân biệt hành vi phạm tội với hành vikhông phải là tội phạm Ví dụ một người thực hiện một hành vi nguy hiểmcho xã hội nhưng người thực hiện hành vi đó không có lỗi thì hành vi đó cũngkhông bị coi là tội phạm

Trang 17

Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu để phân biệt các cấu thành tộiphạm có mặt khách quan giống nhau Ví dụ: một người thực hiện hành vi tướcđoạt tính mạng của người khác một cách cố ý thì cấu thành tội phạm của tộigiết người (Điều 93 Bộ luật hình sự), nếu là vô ý thì có thể là tội vô ý làm chếtngười (Điều 98 Bộ luật hình sự) hoặc cố ý gây thương tích (Điều 104 Bộ luậthình sự) tùy thuộc vào biểu hiện cụ thể.

Nội dung của mặt chủ quan của tội phạm ở mức độ nào đó giúp xácđịnh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Điều đó sẽ ảnh hưởng đến tráchnhiệm hình sự và hình phạt của người phạm tội

1.2 CÁC DẤU HIỆU THUỘC MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

1.2.1 Dấu hiệu lỗi

a Khái niệm lỗi

Lỗi là một khái niệm được biết đến và được sử dụng rất nhiều trongkhoa học luật Hình sự Lý luận về lỗi được xác định trên những cơ sở lý luậnkhác nhau nên đã có các quản điểm khac nhau:

Theo khái niệm lỗi về mặt thần học trong khoa học luật hình sự Đứcngay từ năm 70 của thế kỷ XVII, thì người đã thực hiện tội phạm có dự mưuphải chịu trách nhiệm về tội ác của mình

Thế kỷ XVII ở Tây Âu mà tiêu biểu là nhà luật học nổi tiếng ngườiItalia Tr.Beccaria đã nêu lên quan điểm pháp lý hình sự có liên quan ở mộtmức độ nhất định đến cơ sở phương pháp luận của lỗi là:

- TNHS và hình phạt không thể gắn liền với sự khái niệm lỗi về mặt đạo đức và không thể thước đo duy nhất và đích thực của tội phạm là sự thiệt hại;

Trang 18

- Hình phạt cần được áp dụng chỉ khi nào có sự cần thiết tuyệt đối chứ

không phải là sự chịu trách nhiệm vì lỗi.[22,419]

Theo quan điểm triết học duy tâm chủ quan của nhà triết học ngườiĐức Kant I thì: Tự do ý chí là ở chỗ - trong tất cả các hành vi của chủ thểchính nó là pháp luật và sự buộc tội về hình sự là một dạng của trách nhiệmđạo đức, mà cơ sở của nó là coi chủ thể là nguyên nhân tự do của một hành vi

ý chí là điều kiện của sự bắt buộc tội do lỗi.[22,420]

Trường phái xã hội học trong khoa học luật hình sự đưa ra nguyên tắc

về sự hợp lý của việc áp dụng các biện pháp tự vệ xã hội để thay thế chonguyên tắc buộc tội chủ quan cho rằng: Lỗi của chủ thể được coi là tình trạngnguy hiểm của người đó và ba phạm trù: lỗi, tình trạng năng lực, và tình trạng

Trang 19

không có năng lực chính là các tiêu chí đánh giá tính nguy hiểm cho xã hộicủa một hành vi

Cho đến nay trong khoa học luật hình sự về cơ bản tồn tại ba trườngphái lý luận chủ yếu về lỗi sau đây:

Lý luận về tình trạng nguy hiểm - khi lỗi của người phạm tội được hiểu

là tính nguy hiểm của nhân thân người đó, còn hành vi thì lại được coi là sựbiểu hiện của chính tình trạng nguy hiểm ấy (các tác giả theo trường phái xãhội học).[22,421]

Lý luận về đánh giá lỗi - khi lỗi của chủ thể được xác định bằng sựphán xét có tính chất đánh giá của riêng Toà án mà không cần tính đến thái độtâm lý của người đó khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình

sự cấm (các nhà hình sự học nổi tiếng của Liên Xô cũ như: Đurmanôv N.Đ.,Gertxenzon A.A.,, v.v…)

Lý luận lỗi về mặt tâm lý - khi lỗi của một người được hiểu là thái độtâm lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó thực hiện và hậuquả do hành vi đó gây nên (đại đa số các nhà hình sự học của Liên Xô cũ như:Vlađimirôv V.A., Nhikiforov A.X, Kritrenko V.F., v.v…, cũng như của Liênbang Nga hiện nay).[22,419,420,421]

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam vẫn còn các quan điểm khácnhau coi lỗi là:

- Thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hộicủa mình và hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưói hình thức cố ýhoặc vô ý

Trang 20

- Dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể có đủđiều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội khiquyết định thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội.

Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm thì “Lỗi hình sự là mặt chủ

quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của TNHS, đồng thời là thái độ tâm lý của người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện

và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưói hình thức cố ý hoặc vô ý”.[22,422]

Bản chất xã hội - pháp lý của lỗi hình sự Việc phân tích khái niệmkhoa học của khái niệm lỗi hình sự đã được nêu trên và thực tiễn áp dụng cácquy phạm PLHS có liên quan đến chế định lỗi cho phép chỉ ra bản chất xã hội

- pháp lý của nó nêu trên các bình diện chủ yếu duới đây

- Đạo luật hình sự trong NNPQ không bao giờ ràng buộc TNHS với bất

kỳ thái độ tâm lý nào của con người đối với hành vi do người đó thực hiện vàđối với các hậu quả do hành vi ấy gây nên, mà chỉ với thái độ tâm lý nhất định

- dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

- Hai hình thức đã nêu của thái độ tâm lý phản ánh cách xử sự trái xãhội trong các tội cố ý hoặc thiếu thận trọng trong các tội do vô ý của chínhngười phạm tội đối với các giá trị xã hội - các lợi ích của con người, của xãhội và của Nhà nước được bảo vệ bằng PLHS

Xuất phát từ bản chất xã hội - pháp lý và nội dung của khái niệm lỗihình sự chúng ta có thể khẳng định rằng, một người bị coi là có lỗi trong tộiphạm (và phải chịu TNHS) chỉ khi nào có tổng hợp đầy đủ năm dấu hiệu củamột chủ thể của tội phạm (tương ứng với năm điều kiện của TNHS), tức làngười đó phải: Có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS, cố ý hoặc vô ý thực

Trang 21

hiện một hành vi, hành vi ấy phải nguy hiểm cho xã hội và phải bị luật hình

sự cấm - bị BLHS coi là tội phạm.[22,424]

Từ tất cả sự phân tích trên đây, có thể khẳng định: Chỉ người nào có lỗitrong tội phạm mới có thể bị Toà án coi là người có tội và phải chịu biện phápcưỡng chế của Nhà nước về mặt pháp lý hình sự do PLHS quy định

Từ phân tích trên đây ta có thể đưa ra khái niệm về lỗi như sau: Lỗi là

thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra và được thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý.

Trong luật hình sự Việt Nam nguyên tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản, mộtngười phải chịu trách nhiệm hình sự không chỉ đơn thuần vì họ có hành vikhách quan đã gây ra thiệt hại cho xã hội mà còn vì họ có lỗi trong việc thựchiện hành vi khách quan đó Một người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ

bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định củachủ thể trong khi chủ thể có điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọnhoặc quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Việc thừanhận nguyên tắc lỗi trong luật hình sự Việt Nam chính là sự thừa nhận và tôntrọng tự do ý chí của con người Đó là cơ sở đảm bảo cho trách nhiệm hình sựđược khách quan và thực hiện được mục đích của việc truy cứu trách nhiệmhình sự Chúng ta chỉ có thể đạt được mục đích cải tạo, giáo dục người phạmtội, giúp họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật,ngăn ngừa họ phạm tội mới nếu việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụnghình phạt đối với người phạm tội trên cơ sở lỗi của họ trong việc thực hiệnhành vi nguy hiểm cho xã hội

Theo quy định của pháp luật hình sự, một hành vi bị xem là có tính cólỗi khi có đủ hai điều kiện sau: Hành vi trái pháp luật hình sự và hành vi đó là

Trang 22

kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi trongkhi có khả năng và điều kiện để lựa chon và quyết định xử sự khác không tráipháp luật hình sự Ví dụ: A bị B ép phải uống hết chai rượu mạnh và khi uốnghết chai rượu đó A không còn kiểm soát được hành vi của mình nên đã thựchiện hành vi giao cấu với em C (12 tuổi), như vậy trong trường hợp này Akhông có lỗi vì đã bị B ép buộc và không có sự lựa chọn khác Nếu trongtrường hợp này A tự uống rượu say và thực hiện hành vi trên thì A là người cólỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị xem là có lỗi khi

họ có năng lực trách nhiệm hình sự khi họ thực hiện hành vi đó Tức là khithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người này không mắc bệnh tâm thầnhoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi và đạt độtuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sựhiện hành

b Các hình thức lỗi và các dạng lỗi trong luật hình sự

Nội dung cơ bản của lỗi được hợp thành bởi hai yếu tố cơ bản là lý trí

và ý chí Sự kết hợp giữa lý trí và ý chí tạo nên hình thức lỗi khác nhau Mộtngười phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự chống đối xã hội cao hơn trường hợplỗi vô ý và do đó hình phạt áp dụng đối với họ sẽ nghiêm khắc hơn Khôngthể buộc hai người cùng phạm một loại tội nhưng mức độ lỗi khác nhau phảichịu chung một hình phạt Điều này sẽ dẫn đến sự không công bằng và mụcđích của hình phạt sẽ không đạt được

Các hình thức lỗi được thừa nhận chung của luật hình sự Việt Nam baogồm hai hình thức lỗi - cố ý và vô ý Ngoài hai hình thức lỗi này ra không thể

có hình thức lỗi thứ ba nào khác, còn nếu có chăng thì đó chỉ có thể coi làtrường hợp lỗi hỗn hợp (Hai hình thức lỗi tồn tại trong một CTTP) , tức là khi

Trang 23

một tội phạm được chủ thể thực hiện với hai hình thức lỗi: 1) Lỗi cố ý đối vớihành vi (được quy định trong CTTP cơ bản) và; 2) Lỗi vô ý đối với hậu quảnghiêm trọng được quy định trong CTTP tăng nặng do hành vi đó gây ra.

* Căn cứ cơ sở 3 căn cứ dưới đây hình thức lỗi được phân chia thành sáu dạng như sau: [22,425]

- Căn cứ vào các yếu tố lý trí và ý chí của sự cố ý, hình thức lỗi nàyđược PLHS thực định phân chia thành hai dạng: Cố ý trực tiếp và cố ý giántiếp

Lỗi cố ý trực tiếp là dạng nguy hiểm hơn lỗi cố ý gián tiếp vì chủ thểthấy trước khả năng gây nên hoặc tính tất yếu gây nên (xảy ra) hậu quả củahành vi do mình thực hiện

Trong lỗi cố ý gián tiếp thì chủ thể tỏ ra bàng quan (thờ ơ) đối với hậuquả xảy ra

Mặc dù không ghi nhận rõ và riêng biệt các thuật ngữ “cố ý trực tiếp”

và “cố ý gián tiếp” trong BLHS tuy nhiên nội dung của hai dạng lỗi này cũng

đã được ghi nhận tại Điều 9 BLHS năm 1999 Trong hình thức lỗi cố ý dấuhiệu bắt buộc chung về mặt lý trí của cả hai dạng cố ý trực tiếp và cố ý giántiếp đó là đều thấy trước khả năng xảy ra hậu quả của hành vi Về mặt ý chí ởlỗi cố ý trực tiếp thì người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, ở lỗi cố ýgián tiếp người phạm tội có thái độ bàng quan (dửng dưng) đối với hậu quảphạm tội xảy ra

- Căn cứ vào thời điểm xuất hiện và hình thành sự cố ý, hình thức lỗinày được khoa học luật hình sự phân chia thành hai dạng: Cố ý có dự mưu và

cố ý đột xuất

Trang 24

Cố ý có dự mưu là trường hợp chủ thể có sự tính toán cụ thể, suy ngẫm

kỹ càng và cân nhắc thận trọng trước khi thực hiện hành vi phạm tội

Cố ý đột xuất thì ngược lại với dạng cố ý dự mưu, tức là khi ý địnhphạm tội vừa mới xuất hiện mà chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội (chứchưa hề có sự tính toán cụ thể, suy ngẫm kỹ càng và cân nhắc thận trọng trướckhi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội)

- Căn cứ vào mức độ cụ thể của sự nhận thức (hình dung) được hậu quảnguy hại do hành vi của chủ thể sẽ xảy ra, hình thức lỗi này được khoa họcluật hình sự chia thành hai dạng: Cố ý xác định và cố ý không xác định

Cố ý xác định là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi phạm tội màhình dung được một cách tương đối chắc chắn, rõ ràng và cụ thể hậu quảnguy hại sẽ xảy ra;

Cố ý không xác định là trường hợp chủ thể thực hiện hành vi phạm tộituy thấy trước (nhưng chưa hình dung được) một cách tương đối chắc chắn,

rõ ràng và cụ thể hậu quả nguy hại sẽ xảy ra

* Hình thức lỗi vô ý được phân chia thành hai dạng là: vô ý vì quá tự tin (chủ quan) và vô ý do cẩu thả

Đối với lỗi vô ý vì quá tự tin thì về mặt lý trí người phạm tội cũng nhậnthức được khả năng sẽ xảy ra hậu quả nhưng về mặt ý chí thì người phạm tộibao giờ cũng cho rằng ngăn ngừa được hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dùkhông có đủ cơ sở mà quá tự tin vào việc ngăn ngừa đó

Đối với lỗi vô ý do cẩu thả thì về mặt lý trí người phạm tội không thấytrước được khả năng sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, về mặt ý chí và

về mặt ý chí người phạm tội cũng không mong muốn hậu quả xảy ra tuy

Trang 25

nhiên pháp luật buộc họ trong trường hợp đó phải thấy trước hành vi củamình là nguy hiểm cho xã hội.

Mặc dù không ghi nhận rõ và riêng biệt các thuật ngữ “vô ý vì quá tựtin” và “vô ý do cẩu thả” trong BLHS tuy nhiên nội dung của hai dạng lỗi nàycũng đã được ghi nhận tại Điều 10 BLHS năm 1999

* Trường hợp lỗi phức tạp hay lỗi hỗn hợp (tức là trong cùng mộtCTTP có hai hình thức lỗi cùng tồn tại song song - lỗi cố ý đối với hành vi vàlỗi vô ý đối với hậu quả nghiệm trọng hơn do với hành vi đó gây nên) Tronglần pháp điển hoá thứ hai luật hình sự Việt Nam 1999, trường hợp lỗi phức tạp(cũng như trong BLHS năm 1985 trước đây) vẫn chưa được điều chỉnh chínhthức về mặt lập pháp bằng các quy phạm nào đó trong Phần chung BLHS năm

1999 Tuy nhiên, nếu như so sánh những trường hợp lỗi phức tạp do hậu quảxảy ra nghiêm trọng hơn so với hậu quả tại CTTP cơ bản, mà mặc dù hìnhthức lỗi đối với hậu quả nghiêm trọng ấy (dẫn đến cái chết của một hoặcnhiều người) rõ ràng là do vô ý, nhưng cũng như trong lần pháp điển hoá lầnthứ nhất trước đây - hình thức lỗi này vẫn chưa được nhà làm luật quy địnhvới tính chất là dấu hiệu bắt buộc của các CTTP tăng nặng (hoặc CTTP đặcbiệt tăng nặng tương ứng), mặc dù số lượng những trường hợp này trongPLHS sau lần pháp điển hoá thứ hai có sự tăng lên so với PLHS đã hiện hànhtrước đây - 12 trường hợp trong Phần các tội phạm BLHS năm 1985 so với 15trường hợp trong Phần các tội phạm BLHS năm 1999

Theo quan điểm của ThS Lô Văn Lý - Khoa luật hình sự trường Đạihọc Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì “không có sự tồn tại của hình thức hỗnhợp lỗi mà là trường hợp các hình thức lỗi cố ý và vô ý cùng tồn tại độc lậpvới nhau trong cùng một loại tội phạm Sự tồn tại độc lập của hai hình thức lỗitrong cùng một loại tội phạm chỉ có thể có ở những loại tội phạm có hình thức

Trang 26

lỗi cố ý và có cấu thành tăng nặng Trong những loại tội này thì cố ý là hìnhthức lỗi bắt buộc của cấu thành tội phạm cơ bản (cố ý với hành vi), còn vô ý

là lỗi của cấu thành tăng nặng (vô ý đối với hậu quả tăng nặng) Những loạitội này có thể được gọi bằng thuật ngữ chính xác hơn đó là “tội phạm có haihình thức lỗi” [53] Tính đặc thù của loại tội phạm này thể hiện ở chỗ, về mặtchủ quan dường như nó được ghép từ hai loại cấu thành với hai hình thức lỗihoàn toàn khác nhau, tồn tại độc lập với nhau (một cấu thành có lỗi cố ý vàmột cấu thành có lỗi vô ý) mặc dù trong cùng một loại tội phạm Trên nguyêntắc mỗi cấu thành tội phạm đều có thể tồn tại một cách độc lập, nhưng khiđược ghép lại với nhau chúng lại tạo thành một loại tội phạm khác với nhữngdấu hiệu pháp lý rất đặc thù Các cấu thành tội phạm với tính cách là những

bộ phận hợp thành của loại tội phạm được ghép này thường xâm phạm đếnnhững khách thể trực tiếp khác nhau (như sức khỏe và tính mạng của conngười trong tội cố ý gây thương tích Điều 104 BLHS), nhưng chúng cũng cóthể xâm hại đến cùng một khách thể trực tiếp (như trong tội bức cung Điều

229 BLHS) Cần nhấn mạnh rằng, nếu được tách riêng ra thì chúng vẫn thỏamãn được tính chất tội phạm của chúng Như vậy, tính đặc thù trong cấu trúcmặt chủ quan của loại tội phạm có hai hình thức lỗi này xuất phát từ sự đặcthù trong cấu trúc mặt khách quan của nó Sự tồn tại độc lập của hai hình thứclỗi khác nhau được quy định bởi sự tồn tại của hai đối tượng độc lập của thái

độ tâm lý của chủ thể: Cố ý đối với hành vi và loại hậu quả là dấu hiệu địnhtội (cấu thành cơ bản) và vô ý đối với hậu quả đóng vai trò là dấu hiệu địnhkhung tăng nặng (cấu thành tăng nặng) Bộ luật hình sự năm 1999 quy địnhloại tội phạm có hai hình thức lỗi được thiết kế theo những mô hình sau:

- Loại thứ nhất gồm những tội có cấu thành vật chất có hai loại hậu quảluật định với vai trò khác nhau của mỗi loại hậu quả Loại hậu quả thứ nhất có

ý nghĩa định tội, loại hậu quả thứ hai nghiêm trọng hơn sẽ đóng vai trò là dấu

Trang 27

hiệu định khung tăng nặng Ở những loại tội này thì về nguyên tắc hậu quảcủa cấu thành tăng nặng là những thiệt hại gây ra cho một khách thể phụ khácchứ không phải là khách thể trực tiếp của loại tội phạm này.

- Loại thứ hai là những tội có cấu thành hình thức trong đó hậu quảkhông có giá trị bắt buộc để định tội danh mà chỉ có ý nghĩa định khung tăngnặng Cấu thành tăng nặng của những loại tội này là những trường hợp phạmtội đã gây ra những hậu quả làm thiệt hại cho một khách thể phụ khác chứkhông phải là khách thể trực tiếp của loại tội này Những hậu quả định khungtăng nặng này có thể được nhà làm luật xác định rõ trong cấu thành tội phạmtăng nặng của các tội như gây hậu quả chết người trong tội cướp giật tài sản(khoản 4 Điều 136 BLHS), tội đua xe trái phép (khoản 2 Điều 207)…Bêncạnh đó hậu quả tăng nặng cũng có thể chỉ được nhà làm luật quy định bằngnhững khái niệm mang tính ước lượng như: gây hậu quả nghiêm trọng, hậuquả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như trong tội Bắt, giữhoặc giam người trái pháp luật (khoản 3 Điều 123 BLHS), Tội buôn lậu(khoản 2,3,4 Điều 153 BLHS) v.v

Như vậy, tội phạm có hai hình thức lỗi là loại tội phạm trong đó có sựkết hợp đồng thời chứ không pha trộn giữa hai hình thức lỗi Các hình thức lỗikhác nhau được kết hợp này là các thái độ tâm lý khác nhau của chủ thể vớinhững biểu hiện khác nhau có giá trị pháp lý khác nhau: cố ý với hành vi vàhậu quả định tội và vô ý với hậu quả tăng nặng Hai hình thức lỗi chỉ có thể cótrong cấu thành tăng nặng và trong các loại tội này thì lỗi vô ý chỉ có thể cóđối với hậu quả đóng vai trò là dấu hiệu định khung tăng nặng của các tội cố ýhoặc vô ý nhưng chỉ có một khung hình phạt hoặc chỉ có cấu thành cơ bản vàcấu thành giảm nhẹ thì không có hai hình thức lỗi Tôi đồng tình với quanđiểm với ThS Lô Văn Lý bởi lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện

Trang 28

dưói hình thức cố ý hoặc vô ý do vậy không thể có hình thức hỗn hợp lỗi màchỉ là hai hình thức lỗi cố ý và vô ý cùng tồn tại độc lập với nhau trong cùngmột loại tội phạm.

c Ý nghĩa của dấu hiệu lỗi

Lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam dovậy một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có lỗi mới bị coi

là tội phạm Lỗi là một nội dung cơ bản thể hiện mặt c hủ quan của cấu thànhtội phạm, là căn cứ để phân loại các cấu thành tội phạm Do vậy, lỗi có ýnghĩa to lớn trong việc xác định tội phạm Tính chất lỗi của hành vi nguyhiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm là đặc điểm bắt buộc của tội phạm đồngthời là điều kiện chủ quan không thể thiếu của trách nhiệm hình sự Xác địnhđúng lỗi sẽ giúp cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án phân biệt được hành vi

có tính chất tội phạm và hành vi không có tính chất tội phạm

Lỗi là yếu tố buộc phải chứng minh của các cơ quan tiến hành Tố tụnghình sự, các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án phải chứng minh được có haykhông có lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sựcấm và nếu có lỗi thì là lỗi gì?

Lỗi là một trong các yếu tố để xác định tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, vì vậy lỗi là một trong các căn cứ để quy định hình phạt đốivới từng loại tội phạm

Lỗi là cơ sở trực tiếp để Tòa án quyết định hình phạt trong từng trườnghợp cụ thể

Các hình thức lỗi là cơ sở pháp lý để định tội trong trường hợp việcphân hóa Trách nhiệm hình sự tối đa được dựa trên các hình thức lỗi (khi mộthình thức lỗi được nhà làm luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của cấu thànhtội phạm tương ứng trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự)

Trang 29

1.2.2 Dấu hiệu động cơ và mục đích phạm tội

a Dấu hiệu động cơ phạm tội

* Khái niệm động cơ phạm tội

Trong pháp luật hình sự thực định Việt Nam nhà làm luật không ghi

nhận khái niệm pháp lý động cơ phạm tội tuy nhiên ta có thể hiểu động cơ

phạm tội là động lực (nhân tố) bên trong thúc đẩy quyết tâm của người phạm tội thực hiện tội phạm [76,144].

Động cơ phạm tội ở mức độ nhất định nằm trong trạng thái tâm lý củachủ thể nên nó là một dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm được thựchiện với hình thức lỗi cố ý Như chúng ta được biết hành vi của con ngườitrong trạng thái tâm lý bình thường đều được thực hiện do sự thúc đẩy củamột hoặc một số động cơ nhất định Không những trong trường hợp phạm tội

cố ý mà ngay cả trong trường hợp phạm tội vô ý hành vi của người phạm tộicũng đều có động cơ nhất định thúc đẩy Chỉ trong trường hợp phạm tội vô ý

vì cẩu thả thì hành vi mới không có động cơ rõ rệt Nhưng ở các tội vô ý chỉ

có thể nói đến động cơ của xử sự mà không thể nói đến động cơ phạm tội vìngười phạm tội vô ý hoàn toàn không mong muốn thực hiện tội phạm, họhoặc không biết hành vi của mình là hành vi phạm tội hoặc tin hành vi củamình không trở thành hành vi phạm tội

Cơ sở tạo thành động cơ phạm tội là những nhu cầu về vật chất, tinhthần, các lợi ích và tư tưởng sai lệch của cá nhân, cũng có thể là những nhucầu bình thường nhưng chủ thể đã lựa chọn cách thỏa mãn những nhu cầu đóbằng việc thực hiện hành vi trái với lợi ích và chuẩn mực xã hội Thôngthường động cơ phạm tội được phản ánh dưới một số hình thức sau: Động cơ

vụ lợi gắn liền với những ham muốn vật chất hẹp hòi muốn có của quý, làmgiàu bất chính, v.v., động cơ gắn liền với những suy tính nâng cao thể diện cá

Trang 30

nhân như muốn hơn người, muốn có địa vị xã hội cao…; động cơ mang tínhchất hiếu chiến kết hợp với ý thức coi thường pháp luật, coi thường lợi ích củangười khác, cộng đồng và xã hội; động cơ đi ngược lại với lợi ích của xã hộigắn liền với tình trạng vô trách nhiệm và không hoàn thành nghĩa vụ đối vớinhà nước.v.v.

Động cơ phạm tội nói chung không có ý nghĩa quyết định đến tính chấtnguy hiểm của tội phạm, nó không làm thay đổi hẳn tính chất của hành vi dovậy động cơ phạm tội không phải là căn cứ để phân biệt giữa tội phạm vớikhông phải tội phạm, giữa tội phạm này với tội phạm khác Tuy nhiên, trongmột số trường hợp động cơ phạm tội có thể làm thay đổi mức độ nguy hiểmcho xã hội của hành vi phạm tội Trong luật hình sự Việt Nam, động cơ phạmtội nói chung không được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm tuynhiên trong một số trường hợp động cơ phạm tội lại được nhà làm luật ghinhận trong cấu thành tội phạm.[76,145]

* Phân loại động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tính chất

là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội phạm cơ bản ở Điều 95 (Tội giếtngười trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh); Điều 96 (Tội giết người

do vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng); Điều 105 (Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng tháitinh thần bị kích động mạnh); Điều 106 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chínhđáng); Điều 128 (Tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc tráipháp luật); khoản 1 Điều 142 (Tội sử dụng trái phép tài sản); khoản 1 Điều

167 (Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế); khoản 1 Điều 281 (Tội lợi dụngchức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); khoản 1

Trang 31

Điều 282 (Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); khoản 1 Điều 284 (Tộigiả mạo trong công tác).

Động cơ phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tính chất

là dấu hiệu định khung hình phạt của cấu thành tội phạm tăng nặng tại điểm qkhoản 1 Điều 93 (vì động cơ đê hèn); điểm b khoản 2 Điều 103 (vì lý do công

vụ của nạn nhân); điểm c khoản 2 Điều 120 (vì động cơ đê hèn); khoản 2 điều

132 (vì động cơ trả thù); điểm a khoản 2 Điều 165 (vì vụ lợi hoặc động cơ cánhân khác)

Động cơ phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tính chất

là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng chung khi luật không quy định là dấuhiệu định tội của cấu thành tội phạm cơ bản hoặc không quy định là dấu hiệuđịnh khung hình phạt của cấu thành tội phạm tương ứng - các điểm c (Phạmtội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng), d (Phạm tộitrong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết), đ (Phạm tội trongtrường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hạihay người khác gây ra) khoản 1 Điều 46 và điểm đ khoản 1 Điều 48 (Phạm tội

vì động cơ đê hèn)

* Ý nghĩa của động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tính chất

là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội phạm cơ bản thì dấu hiệu động cơ làdấu hiệu bắt buộc được quy định trong cấu thành tội phạm Nếu không cóđộng cơ này thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theotội danh đó Như vậy, động cơ phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc truycứu TNHS cũng như trong việc định tội danh

Động cơ phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tính chất

là dấu hiệu định khung hình phạt của cấu thành tội phạm tăng nặng, dấu hiệu

Trang 32

động cơ trong những trường hợp này thể hiện vai trò phân hóa TNHS giữanhững người có và không có động cơ phạm tội thep quy định của điều luậttương ứng Như vậy, động cơ phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xácđịnh đúng khung hình phạt.

Động cơ phạm tội được ghi nhận trong CTTP với tính chất là tình tiếtgiảm nhẹ hoặc tăng nặng chung khi luật không quy định là dấu hiệu định tộicủa cấu thành tội phạm cơ bản hoặc không quy định là dấu hiệu định khunghình phạt của cấu thành tội phạm tương ứng, đảm bảo cho việc cá thể hóa vàphân hóa TNHS một cách tối đa và chính xác, từ đó quyết định hình phạtđúng và chính xác nhất

b Dấu hiệu mục đích phạm tội

* Khái niệm mục đích phạm tội

Trong pháp luật hình sự thực định Việt Nam nhà làm luật không ghi

nhận khái niệm pháp lý mục đích phạm tội tuy nhiên ta có thể hiểu Mục đích

phạm tội là cái mốc (kết quả cuối cùng) mà người phạm tội muốn đạt được khi thực hiện tội phạm Mục đích phạm tội ở mức độ nhất định nằm trong

trạng thái tâm lý của chủ thể nên nó là một dấu hiệu thuộc mặt chủ quan củatội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý nhưng chỉ có thể là lỗi cố ýtrực tiếp bởi tất cả người thực hiện hành vi phạm tội đều nhằm tới những mụcđích nhất định tuy nhiên chỉ trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ýtrực tiếp thì người phạm tội mới mong muốn gây ra tội phạm để đạt đượcnhững mục đích nhất định Ở các trường hợp phạm tội khác người phạm tộicũng có mục đích nhưng chỉ là mục đích của hành vi vì người phạm tội hoàntoàn không mong muốn thực hiện tội phạm, họ hoặc không biết hành vi củamình có thể trở thành tội phạm hoặc biết nhưng không mong muốn trở thànhtội phạm

Trang 33

Cần phân biệt mục đích phạm tội với hậu quả phạm tội, hậu quả phạmtội là kết quả thực tế mà người phạm tội đạt được khi họ thực hiện hành vi đểđạt được mục đích Mục đích được đặt ra trước khi người đó bắt tay vào thựchiện tội phạm cho nên trong bất cứ trường hợp phạm tội cố ý trực tiếp nàocũng đều có mục đích phạm tội dù hậu quả có phát sinh hay không Hậu quảđạt được đến mức độ nào còn tùy thuộc vào khả năng chủ quan của ngườiphạm tội và những điều kiện bên ngoài Có khi hậu quả xảy ra trùng khít vớimục đích mong muốn, có khi hậu quả xảy ra lại không như mục đích mongmuốn của người phạm tội.

Trong luật hình sự Việt Nam mục đích phạm tội nói chung không đượcphản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Tuy nhiên trong một số cấuthành tội phạm cụ thể nhà làm luật đã ghi nhận mục đích phạm tội trong cấuthành tội phạm của các tội đó và mục đích phạm tội trở thành dấu hiệu bắtbuộc tức là hành vi chỉ cấu thành tội phạm mà cấu thành thành tội phạm phảnánh khi dấu hiệu mục đích phạm tội thỏa mãn

* Phân loại mục đích phạm tội

Mục đích phạm tội được quy định với tư cách là dấu hiệu định tội củacấu thành tội phạm cơ bản:

- Tất cả 14 tội được quy định tại chương XI “các tội xâm phạm an ninhquốc gia” thuộc phần các tội phạm từ Điều 78 đến Điều 91 Bộ luật hình sự thìmục đích “chống chính quyền nhân dân” được quy định là dấu hiệu định tội của các tội này

- Mục đích “xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác” được quy định tại Điều 122 BLHS

- Mục đích “làm sai lệch kết quả bầu cử” được quy định tại Điều 127BLHS

Trang 34

- Mục đích “chiếm đoạt tài sản” ở một số tội xâm phạm sở hữu đượcthực hiện với lỗi cố ý và có cấu thành tội phạm hình thức được quy định tạicác Điều 133, 134,135 Bộ luật hình sự hoặc cấu thành tội phạm vật chất đượcquy định từ Điều 136 đến Điều 140 Bộ luật hình sự.

- Mục đích “bán lại thu lời bất chính” là dấu hiệu định tội được quy định tại Điều 160 Bộ luật hình sự (Tội đầu cơ)

- Mục đích “kinh doanh” là dấu hiệu định tội được quy định tại Điều

171 Bộ luật hình sự năm 1999 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) tuynhiên Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã bỏ mục đích

“kinh doanh là dấu hiệu định tội trong CTTP của tội này

- Mục đích “chiếm đoạt tàu bay hoặc tàu thủy” quy định tại khoản 1 Điều 221 BLHS

- Mục đích “lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân” được quy định tạikhoản 1 Điều 267 BLHS

- Mục đích “trốn tránh nghĩa vụ” được quy định là dấu hiệu định tội tại Điều 325 (Tội đào ngũ) và Điều 326 (Tội trốn tránh nghĩa vụ)

- Mục đích “phá hoại hòa bình, chống loài người” là dấu hiệu định tội của

cả 4 tội thuộc chương XXIV Bộ luật hình hình sự (từ Điều 341 đến Điều 344)

Mục đích “gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng” quy định tạiĐiều 230a (Tội khủng bố) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình

sự năm 2009

Trang 36

đạo), h (để sử dụng vào mục đích mại dâm) khoản 2 Điều 120 (Tội mua bán,đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em) BLHS được sửa đổi bổ sung năm 2009;điểm e (Thu lợi bất chính) khoản 2 Điều 153; điểm g (thu lợi bất chính lớn)khoản 2, điểm b (thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn) khoản 3 Điều 156BLHS; điểm d (thu lợi bất chính lớn) khoản 2 Điều 159 (Tội Kinh doanh tráiphép); điểm đ (thu lợi bất chính rất lớn) khoản 2, điểm b (thu lợi bất chính đặcbiệt lớn) khoản 3 Điều 160 (Tội đầu cơ); khoản 2 (thu lợi bất chính lớn) Điều

162 (Tội lừa dối khách hàng); khoản 2 (thu lợi bất chính lớn) Điều 163 (Tộicho vay lãi nặng); điểm đ (thu lợi bất chính lớn) khoản 2 Điều 164a BLHSđược sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b(thu lợi bất chính lớn) khoản 2 Điều181a, điểm b (thu lợi bất chính lớn hoặc đặc biệt lớn) khoản 2 Điều 181b,điểm b (thu lời bất chính lớn) khoản 2 Điều 181c BLHS được sửa đổi bổ sungnăm 2009; điểm c khoản 2 Điều 226, điểm c khoản 2, 3 Điều 226a và điểm dkhoản 2, điểm a khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 226b BLHS được sửa đổi bổsung năm 2009; điểm g khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 251 BLHS được sửađổi bổ sung năm 2009

* Ý nghĩa của mục đích phạm tội

Mục đích phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tínhchất là dấu hiệu định tội trong cấu thành tội phạm cơ bản thì dấu hiệu mụcđích là dấu hiệu bắt buộc được quy định trong cấu thành tội phạm Nếu không

có mục đích này thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sựtheo tội danh đó Như vậy, mục đích phạm tội có ý nghĩa quan trọng trongviệc truy cứu TNHS cũng như trong việc định tội danh

Mục đích phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tínhchất là dấu hiệu định khung hình phạt của cấu thành tội phạm tăng nặng, dấuhiệu mục đích trong những trường hợp này thể hiện vai trò phân hóa TNHS

Trang 37

giữa những người có và không có mục đích phạm tội thep quy định của điềuluật tương ứng Như vậy, mục đích phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việcxác định đúng khung hình phạt.

Mục đích phạm tội được ghi nhận trong cấu thành tội phạm với tínhchất là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng chung khi luật không quy định là dấuhiệu định tội của cấu thành tội phạm cơ bản hoặc không quy định là dấu hiệuđịnh khung hình phạt của cấu thành tội phạm tương ứng, nhằm đảm bảo choviệc cá thể hóa và phân hóa TNHS một cách tối đa và chính xác, từ đó quyếtđịnh hình phạt đúng và chính xác nhất

Trong mặt chủ quan của tội phạm tuy động cơ phạm tội, mục đíchphạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc cho tất cả các cấu thành tội phạmnhưng khi dấu hiệu động cơ phạm tội hoặc mục đích phạm tội được quy định

là dấu hiệu bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm cụ thể thì việc xác địnhđúng động cơ phạm tội, mục đích phạm tội sẽ giúp định tội danh đúng, xácđịnh đúng khung hình phạt, phân hóa TNHS một cách tối đa và từ đó quyếtđịnh hình phạt đúng và chính xác nhất Ví dụ: Cùng là cố ý gây ra cái chết chongười khác nhưng nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân thì phải chịutrách nhiệm hình sự về tội khủng bố (Điều 84 Bộ luật hình sự), không có mụcđích nhằm chống chính quyền nhân dân thì phải chịu trách nhiệm hình sự vềtội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự)

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Mặt chủ quan của tội phạm với tư cách là một trong bốn yếu tố của cấuthành tội phạm Nếu thiếu mặt chủ quan của tội phạm sẽ không xác định đượcmột hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là tội phạm hay không? Người thựchiện hành vi ấy có phải chịu TNHS hay không? hay chỉ phải chịu các tráchnhiệm pháp lý phi hình sự khác Mặt khác, mặt chủ quan của tội phạm còn có

ý nghĩa là dấu hiệu quan trọng để phân biệt các cấu thành tội phạm có mặtkhách quan giống nhau từ đó sẽ các tội danh khác nhau Nội dung của mặtchủ quan của tội phạm còn giúp xác định tính nguy hiểm cho xã hội của tộiphạm từ đó sẽ giúp xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt của người phạmtội một cách chính xác nhất Các yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm:Lỗi, động cơ phạm tội, mục đích phạm tội sẽ giúp ta thấy được một

cách chính xác và rõ nét nhất biểu hiện của mặt chủ quan của tội phạm trongtừng tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự Từ đó sẽ giúp phân biệtmột cách rõ nét nhất tính chất và mức độ nguy hiểm của từng loại tội phạm và

từ đó đưa ra được những tiền đề để quyết định hình phạt một cách thích đáng

và đưa ra được các biện pháp để giáo dục và cải tạo người phạm tội, tìm hiểuđược tâm tư nguyện vọng nguồn gốc sâu xa của hành vi mà người phạm tội đãthực hiện để sớm đưa họ về với cộng đồng xã hội giúp họ trở thành người cóích, đồng thời qua đó cũng có phương hướng tuyên truyền và sửa đổi phápluật sao cho phù hợp với xu thế đang phát triển của xã hội hiện tại

Trang 39

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH

VỀ MẶT CHỦ QUAN CỦA TỘI PHẠM

2.1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ LỖI

2.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về lỗi trong việc định tội danh

Lỗi là dấu hiệu phải được mô tả trong tất cả các cấu thành tội phạm.Điều đó không phải chỉ xuất phát từ nguyên tắc có lỗi trong luật hình sự màcòn vì nhiều tội phạm khác nhau ở dấu hiệu lỗi trong khi các dấu khác có thểgiống nhau Theo nguyên tắc có lỗi trong luật hình sự bị coi là tội phạm trongtrường hợp chủ thể có lỗi khi thực hiện hành vi đó Tính chất của lỗi có ảnhhưởng quan trọng đến tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Cùnghành vi khách quan nhưng tính chất lỗi khác nhau (cố ý hoặc vô ý) thì hành vi

có tính chất nguy hiểm khác nhau và do vậy thuộc những tội danh khác nhau

Theo quy định của luật hình sự, lỗi có hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý.Trong đó, lỗi cố ý được phân thành lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp, lỗi

vô ý được phân thành lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả Nội dungcủa các trường hợp có lỗi này được quy định trong các điều luật thuộc Phầnchung Bộ luật hình sự Các điều luật đó mô tả cấu trúc tâm lý với hai yếu tố lítrí và ý chí của các trường hợp có lỗi Trong cấu thành tội phạm, sự mô tả dấuhiệu lỗi chỉ có nghĩa xác định loại lỗi (cố ý hoặc vô ý) và có thể cả hình thứclỗi ở một số trường hợp (cố ý gián tiếp hoặc cố ý trực tiếp cũng như vô ý vìquá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả) Việc xác định này phải tuân theo yêu cầu sauđây:

Trang 40

Trước hết đòi hỏi loại lỗi (cố ý hoặc vô ý) được xác định trong cấuthành tội phạm phải phù hợp với tội danh Tội danh có thể chưa thể hiện rõdấu hiệu hành vi nhưng đòi hỏi phải thể hiện rõ loại lỗi Có tội danh thể hiệntrực tiếp loại lỗi như tội danh cố ý gây thương tích, tội danh vô ý gây thiệt hạinghiêm trọng đến tài sản v.v Có tội danh không trực tiếp thể hiện loại lỗi nhưvậy những vẫn có thể làm cho chúng ta hiểu loại lỗi thuộc tội như vậy thuộctội danh đó là cố ý như: tội danh hiếp dâm, tội danh huỷ hoại tài sản v.v hoặc

là vô ý: như tội danh vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ, tội danh thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tàisản của Nhà nước v.v Đối với tội danh không trực tiếp thể hiện loại lỗi thìvấn đề bảo đảm sự thống nhất giữa tội danh và dấu hiệu lỗi trong cấu thànhtội phạm được đặc biệt chú ý Nếu nhà làm luật muốn giới hạn phạm vi phảichịu trách nhiệm hình sự chỉ đối với trường hợp cố ý trực tiếp hoặc chỉ đốivới trường hợp vô ý vì quá tự tin thì phải thể hiện rõ trong cấu thành tội phạm.Cách thể hiện cho hai trường hợp này có thể là thêm dấu hiệu “biết rõ” hoặc

là “biết” Ví dụ: “Nguời nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sựnguời mà mình biết rõ là không có tội…” hoặc “ Nguời nào chế biến, cungcấp hoặc bán thực phẩm mà biết rõ là thực phẩm không đảm bảo tiêu chuẩn

vệ sinh an toàn…” Khi đã xác định tội danh thuộc tội cố ý và thể hiện dấuhiệu lỗi trong cấu thành tội pham là cố ý thì có nghĩa dấu hiệu lỗi cố ý baotrùm toàn bộ cấu thành tội phạm mà không thể có dấu hiệu lỗi vô ý cho phầnnào đó của cấu thành tội phạm Trường hợp dấu hiệu lỗi không được nêutrong cấu thành tội phạm thì được hiểu đó là tội cố ý và dấu hiệu cố ý ngầmđịnh này cũng bao trùm toàn bộ cấu thành tội phạm Khi đã xác định tội danhthuộc tội phạm vô ý thì phải thể hiện rõ dấu hiệu lỗi vô ý trong cấu thành tộiphạm Về nguyên tắc, cấu thành tội phạm của các tội phạm vô ý đều được xâydựng với hình thức cấu trúc là cấu thành tội phạm

Ngày đăng: 04/11/2020, 15:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w