Nội dung, hình thức của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM MAI LINH
MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệCKHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCHHOặC GÂY TổN HạI CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM MAI LINH
MốI QUAN Hệ GIữA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
Và CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA TRONG VIệCKHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN Cố ý GÂY THƯƠNG TíCHHOặC GÂY TổN HạI CHO SứC KHỏE CủA NGƯờI KHáC(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và Tố tụng Hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THU HẠNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phạm Mai Linh
Trang 4VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC 8 1.1 Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra
các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác 8
1.1.1 Khái niệm các tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác 8
1.1.2 Khái niệm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ
quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 12
1.1.3 Đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan cảnh sát
điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 16
1.2 Cơ sở của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ
quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 22 1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố,
Trang 51.3.1 Viện kiểm sát nhân dân 23
1.3.2 Cơ quan cảnh sát điều tra 25
Kết luận chương 1 29 Chương 2: NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN
HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN
CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH NINH BÌNH
TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY
THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI TỚI SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC 30 2.1 Nội dung, hình thức của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân
dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 30
2.1.1 Hình thức của mối quan hệ 30
2.1.2 Nội dung của mối quan hệ 32
2.2 Thực tiễn mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ
quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình trong việc
khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 47 Kết luận chương 2 57 Chương 3: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA
NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 58 3.1 Một số kết quả, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn
chế trong mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ
quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác 58
Trang 63.1.1 Những kết quả đạt được 58
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế 61
3.1.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế 64
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 68 3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 69
3.2.2 Tiếp tục kiện toàn, đổi mới cơ cấu tổ chức hoạt động của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 71 3.2.3 Nâng cao năng lực của đội ngủ cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên làm công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về trật tự xã hội 73 3.2.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động của Điều tra viên, Kiểm sát viên 77
3.2.5 Xây dựng quy chế phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra 80 3.2.6 Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất 82
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụngtrong đó Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành cáchành vi tố tụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của luật
Tố tụng hình sự một cách độc lập, không phụ thuộc vào nhau Trong đó, Cơquan điều tra có chức năng, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động theo quy định
để phát hiện tội phạm và người phạm tội, tiến hành các hoạt động điều tra, lập
hồ sơ đề nghị truy tố; Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan có chức năng thựchành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự đểbảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện nhanh chóng, kịp thời, đầy
đủ và xử lý công minh, đúng pháp luật Tuy nhiên trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự các cơ quan vẫn có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ thể hiện
sự phối hợp và chế ước lẫn nhau nhằm thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong
vụ án hình sự của mình
Thực tế trong những năm qua, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình tình hình tộiphạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vẫnxảy ra nhiều, tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả có chiều hướng nghiêmtrọng Đã xuất hiện tình trạng một số nhóm thanh, thiếu niên đi chơi thườngmang theo hung khí nguy hiểm như: Dao, mã tấu, kiếm để sẵn sàng sử dụngkhi có mâu thuẫn xảy ra Tình trạng xung đột, mâu thuẫn, xô xát trong tầnglớp thanh thiếu niên ngày càng gia tăng, nảy sinh từ những mâu thuẫn rất đơngiản phát sinh trong giao tiếp xã hội hàng ngày dẫn đến hành vi gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, dẫn đến những hậu quảđau lòng cho cá nhân, gia đình và xã hội
Trang 9Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan cảnh sát điều tratrong giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án hình sự đã được pháp luật quy định, tuynhiên vẫn còn những thiếu sót Bên cạnh đó, thực tế thực hiện mối quan hệ phốihợp giữa VKSND với các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự nói chung, đặc biệt với Cơ quan cảnh sát điều tra nói riêng vẫn còn
có những tư tưởng ngại va chạm nên không sâu sát, kịp thời phát hiện ra các viphạm pháp luật của cơ quan điều tra hoặc còn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của cấptrên hoặc của liên ngành, làm cho mối quan hệ phối hợp chất lượng chưa cao,mang tính hình thức, chưa giải quyết được hết những vấn đề khó khăn, phức tạpnên ảnh hưởng một phần không nhỏ đến hoạt động đấu tranh phòng, chống cáctội phạm Nhiều vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác chưa khám phá được hoặc khám phá được nhưng khi xử lý lại cònnhiều bất cập làm cho việc giải quyết vụ án chưa kịp thời theo đúng quy định,làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật
Ngoài ra, nghiên cứu về mối quan hệ giữa VKSND và cơ quan CSĐTtrong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung là đề tài không còn mới
mẻ, việc nghiên cứu làm rõ vấn đề lý luận và trên thực tiễn trong mối quan hệgiữa VKSND và cơ quan CSĐT trong việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sựnói chung, vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác nói riêng đã đạt được một số thành tựu đáng kể tuy nhiên cầnđược nghiên cứu và hoàn thiện một cách tổng thể hơn nhằm hoàn thiện hệthống pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước tatrong thời gian tới
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ
án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)” có ý nghĩa hết sức quan
trọng và cần thiết cả về lý luận và thực tiễn trong tình hình hiện nay
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Về quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra trong tốtụng hình sự, đã có một số công trình khoa học và bài viết nghiên cứu đề cậpđến trên nhiều phạm vi và lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi lên một số đề tài
sau: “Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự”- Luận án tiến sỹ của Đào Hữu Dân; Luận văn Thạc sĩ
“Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Sơn, hoàn thành năm 2006 tại Học viện Cảnh sát nhân dân; “Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” - Đề tài
khoa học cấp Bộ của TS Lê Hữu Thể, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhândân tối cao; Bài phát biểu của đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh
đăng trên tạp chí kiểm sát số tháng 2/2003 “Tăng cường quan hệ phối hợp, hiệp đồng công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân và Công an nhân dân”; Các bài nghiên cứu đăng trên số chuyên đề: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố” -
Tạp chí kiểm sát số 12 (tháng 6/2009) v.v
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 có nhiều chế định quy định về chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tốtụng liên quan đến quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạtđộng TTHS Nhìn chung, các công trình khoa học, các bài viết nêu trên ởnhững góc độ, nhất định đã nghiên cứu tổng quát về mối quan hệ giữa Cơquan điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình khởi tố, điều tra các vụ án hình
sự nói chung và các vụ án về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác nói riêng
Trang 11Các tác giả đã phân tích cơ sở pháp lý và mối quan hệ giữa Cơ quan điềutra và Viện kiểm sát, cũng như mối quan hệ giữa CQĐT với các cơ quan, tổ chức
hỗ trợ tư pháp trong TTHS Mối quan hệ phối hợp được thể hiện thông qua việcđịnh kỳ thông báo cho nhau về tình hình tội phạm và công tác của hai bên baogồm các hoạt động khởi tố, điều tra, kiểm sát khởi tố, điều tra; trao đổi trước vớinhau về các quyết định khởi tố hay áp dụng biện pháp ngăn chặn; tham gia xâydựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung và phương pháp tiến hành bảo đảm kết quảđiều tra Tuy nhiên, chưa chỉ ra được quan hệ chế ước giữa VKS với CQĐTđược thể hiện cụ thể như thế nào, trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan đến đâutrong từng chế định cụ thể, cũng như những vấn đề nảy sinh trong việc áp dụngcác quy định của BLTTHS trong quan hệ phối hợp Hơn nữa, chưa thể hiện đượcmối quan hệ chế ước là mối quan hệ cơ bản và xuyên suốt trong quá trình giảiquyết vụ án, còn mối quan hệ phối hợp chỉ là cơ sở để đem lại hiệu quả của côngtác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
Ngoài ra, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứumột cách toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân
và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnhNinh Bình
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá quan hệ
phối hợp giữa VKSND với Cơ quan CSĐT trong hoạt động đấu tranh phòng,chống các tội về xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của conngười nói chung, tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác nói riêng, làm rõ những bất cập, vướng mắc làm hạn chế đếnhiệu quả hoạt động tố tụng hình sự, kiến nghị đề xuất các giải pháp
Trang 12nhằm nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa VKSND với Cơ quan CSĐT trongđấu tranh phòng, chống các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
Nhiệm vụ của đề tài:
- Làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiếnhành tố tụng thông qua các quy định về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành
- Phân tích, đánh giá một cách khoa học thực trạng quan hệ phối hợp vàchế ước giữa CQĐT và VKS trong việc khởi tố, điều tra các tội phạm cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnhNinh Bình; làm rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệuquả mối quan hệ giữa VKSND và Cơ quan CSĐT trong việc đấu tranh
phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác đang gia tăng như hiện nay Trên cơ sở đó đềxuất sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật cho phù hợp với chức năng,nhiệm vụ của mỗi ngành đáp ứng với tinh thần cải cách tư pháp và hội nhậpquốc tế
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan
hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong việc khởi tố, điều tra vụ án cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnhNinh Bình
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian: Nghiên cứu mối quan hệ giữa VKSND với CQCSĐT thuộc lực lượng Công an nhân dân trong lĩnh vực đấu tranh phòng,chống các tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Về thời gian: Nghiên cứu trong thời gian 05 năm gần đây (từ năm
2010 đến năm 2015)
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác
- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấutranh phòng chống tội phạm để phân tích, lý giải các vấn đề Ngoài phươngpháp luận trên, để phù hợp với tính chất của đề tài, tác giả còn sử dụng cácphương pháp nghiên cứu, cụ thể: phương pháp phân tích, tổng hợp; phươngpháp tổng kết kinh nghiệm; phương pháp thống kê, so sánh để đánh giá,khái quát thực trạng hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơquan tư pháp mà trọng tâm là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát Từ đó đánhgiá một cách khoa học và chính xác, khách quan về việc duy trì và củng cốmối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong hoạt động TTHS
6 Ý nghĩa và yếu tố mới của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất định trong việc làmsáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn, xác định rõ mối quan hệ giữahai cơ quan VKSND và Cơ quan CSĐT là mối quan hệ chế ước và mối quan
hệ phối hợp, trong đó mối quan hệ chế ước xuyên suốt trong quá trình giảiquyết vụ án Từ đó có sự nhận thức, vận dụng thống nhất đúng đắn các quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự, góp phần tăng cường hoạt động phối hợp
có hiệu quả giữa hai Cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói
Trang 14chung, các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng.
- Điểm mới của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo các côngtrình khoa học, bài viết nghiên cứu đề cập đến quan hệ phối hợp giữa VKSND
và Cơ quan CSĐT trong hoạt động TTHS Tác giả đi sâu vào tìm hiểu, nghiêncứu, phân tích, so sánh, đối chiếu làm rõ những chế định mới và thực tiễnthực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra và Viện kiểmsát, quan hệ phối hợp trong việc khởi tố, điều tra các tội cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quảmối quan hệ phối hợp giữa VKSND với CQCSĐT trong điều tra các tội cố ýgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàntỉnh Ninh Bình
7. Bố cục của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát
nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 2: Nội dung, hình thức và thực tiễn mối quan hệ giữa Viện
kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Chương 3: Một số hạn chế và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mối
quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi
tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI KHÁC
1.1 Khái niệm, đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1 Khái niệm các tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Như chúng ta đã biết, con người là vốn quý của xã hội, là đối tượnghàng đầu được pháp luật bảo vệ Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tínhmạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và tự do của họ Hiến pháp năm
2013 đã quy định một trong những quyền cơ bản của con người đó là quyềnbất khả xâm phạm về thân thể Thể chế hóa các quy định của Hiếp pháp, Bộluật hình sự Việt Nam đã đưa ra nhiều điều luật quy định về những hành viphạm tội và mức hình phạt khi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm của con người [9]
Nằm trong nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm,danh dự của con người, tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và
quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người Tội phạm “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” lần đầu tiên được quy
định tại Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976 Sắc luật quy định tội danh của 05
Trang 16tội thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự củacon người là tội giết người, tội vô ý làm chết người, tội cố ý gây thương tích,tội cố ý gây thương tích và tội hiếp dâm Còn các tội khác chỉ được nêu chung
là “các tội khác xâm phạm thân thể và nhân phẩm của người dân” Năm
1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời thì
tội phạm này được quy định tại Điều 109 BLHS với tội danh “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.
Đến năm 1999, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 1999 (có hiệu lực từngày 01/7/2000; sau đó đã được sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009) tội phạmnày được quy định thành 03 điều luật: Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 109của BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 104, BLHS năm 1999 (Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Khoản 4 Điều
109 BLHS năm 1985 chuyển thành Điều 105 BLHS năm 1999 (Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng tháitinh thần bị kích động mạnh) và Điều 106 BLHS năm 1999 (Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giớihạn phòng vệ chính đáng) Tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạicho sức khỏe của người khác thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sứckhoẻ, danh dự và nhân phẩm của con người được quy định trong Chương XII-BLHS năm 1999
Đến năm 2015, Quốc hội đã ban hành BLHS năm 2015 (có hiệu lực từ01/7/2016 Tuy nhiên, ngày 29 tháng 6 năm 2016 Quốc hội ban hành Nghịquyết số: 144/2016/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số100/2015/QH13, Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Luật Tổ chức cơquan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số94/2015/QH13 từ ngày 1 tháng 7 năm 2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành) tội
Trang 17phạm này được quy định thành 03 điều luật mới: Điều 134, BLHS 2015 (Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều
135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháctrong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh); Điều 136 (Tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạnphòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạmtội) Tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dựcủa con người được quy định trong Chương XIV - BLHS năm 2015
Một trong những điểm mới cơ bản của BLHS năm 2015 là bổ sung cáctrường hợp phạm tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ củangười khác; phân định mức độ gây tỷ lệ thương tích để quy định khung hìnhphạt thay vì gộp chung như trước; bổ sung trường hợp bị phạt tù từ 12 nămđến 20 năm, hoặc tù chung thân ngoài các trường hợp đã được quy định tạiBLHS 2015; bổ sung quy định đối với người chuẩn bị phạm tội Và một sốđiểm mới nữa góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, phục vụ đáp ứng kịpnhu cầu phát triển của xã hội, của tình hình tội phạm
Trong hoạt động điều tra tội phạm, để giải quyết vụ án một cách nhanhchóng, chính xác thì một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đó là phảihiểu rõ về bản chất của hành vi phạm tội cũng như những dấu hiệu pháp lýđặc trưng của loại tội phạm đó Chính vì vậy, để đấu tranh phòng chống tộiphạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cóhiệu quả, vấn đề đầu tiên đặt ra là phải xác định rõ khái niệm của loại tộiphạm này
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam cho thấytội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 18bao gồm một nhóm tội danh được quy định tại các Điều 134,135,136 củaBLHS 2015, cụ thể:
Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là:
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: làhành vi mà người phạm tội dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thểngười khác làm cho người đó có những thương tích nhất định (để lại dấu vết)như: đâm, chém, đấm đá, đốt cháy, đầu độc Việc dùng sức mạnh vật chất cóthể bằng chân tay hoặc các công cụ phương tiện hỗ trợ khác như: dao, súng,gậy gộc…làm cho nạn nhân mất đi một hay nhiều bộ phận trên thân thể [8]
- Do lỗi cố ý: nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành vi dùng sứcmạnh vật chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác là hành vi có thể hoặcnhất định gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác vàmong muốn gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của nạn nhân, đểmặc cho hậu quả đó xảy ra [8]
Điều đó chứng tỏ việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác là do ý thức chủ quan của người phạm tội và trái pháp luật
hình sự, Điều 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Đối với hành vi cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong cáctrường hợp khác nhau, người phạm tội thực hiện những hành vi mà luật hình
sự ngăn cấm cụ thể được quy định tại các Điều 134, Điều 135, Điều 136
BLHS 2015 [13]
Ngoài ra, phân tích dấu hiệu pháp lý của tội Cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định ở 3 tội danh cụ thểnhưng đều có đặc trưng chung là:
Trang 19Tội phạm đã xâm hại vào quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏecủa con người; đều có hành vi gây thương tích, do lỗi cố ý Tội phạm cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được thực hiện bởingười có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi nhất định Trong đó, dấu hiệu bắtbuộc về mặt hậu quả của loại tội phạm này là để lại thương tích cho nạn nhânvới tỷ lệ % thương tật theo luật định Cơ sở để xác nhận nạn nhân bị thươngtích là kết luận của Hội đồng giám định y khoa Việc xác định tỷ lệ thươngtích được căn cứ vào Bảng tiêu chuẩn thương tật được ban hành kèm theoThông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 27/9/2013 của Bộ
Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định tỷ lệ tổn thương cơthể do thương tích, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp, để xác định tỷ lệ thương tậtcủa người bị hại Xác định tỷ lệ thương tật một cách khách quan, chính xác,nhanh chóng sẽ là một trong những cơ sở quan trọng để khởi tố vụ án hình sự
và tiến hành các hoạt động điều tra tiếp theo
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về tội phạm Cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: Tội phạm
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tội phạm xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý dùng sức mạnh vật chất và thể chất tác động trực tiếp lên cơ thể người khác, nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ một cách trái pháp luật và bị xử lý theo quy định tại các Điều 134, 135, 136 BLHS 2015.
1.1.2 Khái niệm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà
Trang 20Nẵng năm 2002 do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì: “Quan hệ là sự gắn liền
về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thì có thể tác động đến sự vật kia” [34].
Theo “Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam” trên trang websitehttp://www.bachkhoatoanthu.gov.vn thì:
Quan hệ là phạm trù triết học nói lên sự phụ thuộc lẫn nhaucủa các yếu tố trong một hệ thống nhất định, một trong những hìnhthức của sự thống nhất của các đối tượng, các thuộc tính của chúng.Quan hệ mang tính chất khách quan và phổ biến Phạm trù quan hệliên hệ chặt chẽ với khái niệm quy luật, thể hiện mối liên hệ bảnchất của các sự vật, quy luật phát sinh và phát triển của chúng thôngqua quan hệ của chúng với các sự vật khác Khi vạch ra mối quan
hệ giữa hai hoặc nhiều đối tượng, nhận thức khoa học dựa vào đặctính khách quan của các đối tượng đó và vào thông số khách quancủa đặc tính từng đối tượng Nghiên cứu và phân loại những 11 vấn
đề quan hệ là đối tượng của logic quan hệ - một bộ phận của logichình thức hiện đại
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, NXB Đà Nẵng thì “mối quan hệ nghĩa là sự gắn liền chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật với nhau” [34].
Từ đó có thể hiểu mối quan hệ giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng thểhiện ở sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển.Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khẳng định rằng các sự vật hiện tượng tồntại trong thế giới khách quan không thể tồn tại độc lập mà luôn là một thể thốngnhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, không thể hiểu được bất kỳ sự vật,hiện tượng nào nếu không đặt chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với các
Trang 21sự vật hiện tượng khác Nói cách khác, các sự vật, hiện tượng trong thế giớikhách quan đều có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ này phản ánh tính toàndiện và tính phát triển, quan hệ qua lại tác động qua lại lẫn nhau phản ánh sựvận động và phát triển liên tục trong không gian và thời gian.
Xuất phát từ nguyên lý trên, trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước,
để đảm bảo sự vận hành và hoạt động có hiệu quả của toàn bộ hệ thống cơquan nhà nước thì mỗi cơ quan tuy được quy định chức năng, nhiệm vụ riêngsong không thể không có mối quan hệ với các cơ quan khác trong quá trìnhhoạt động Do đó, theo quy định của BLTTHS hoạt động TTHS là một quátrình nhiều giai đoạn kế tiếp nhau như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thihành án Mỗi giai đoạn đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạncủa các cơ quan tiến hành tố tụng nhất định Và trong từng giai đoạn, mốiquan hệ giữa các cơ quan có đặc điểm, cách thức biểu hiện khác nhau
Mối quan hệ giữa VKSND và CQĐT vừa thể hiện mối quan hệ biệnchứng, vừa thể hiện những nét riêng biệt của TTHS, đó là mối quan hệ đadạng, phong phú thể hiện ở tất cả các hành vi tố tụng của những người tiếnhành tố tụng của hai cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nóiriêng Tính riêng biệt của mối quan hệ này được thể hiện ở hai mặt của mộtvấn đề, đó là quan hệ phối hợp và quan hệ chế ước Hai mặt này vừa đan xenvới nhau, bổ sung cho nhau nhưng lại không loại trừ, hạn chế lẫn nhau vàcùng có chung một mục đích là giải quyết đúng đắn, chính xác, đúng phápluật các vụ án liên quan đến tính mạng, sức khỏe của con người trong đó cócác vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của người khác
Quan hệ phối hợp có nghĩa là các chủ thể (Điều tra viên, Kiểm sát viên)
tham gia vào mối quan hệ cùng hoạt động trong phạm vi chức năng nhiệm vụcủa mình theo quy định của pháp luật để hỗ trợ lẫn nhau trong giải quyết mộtcông việc cụ thể nhất định liên quan đến quá trình điều tra vụ án
Trang 22Quan hệ chế ước giữa CQĐT và VKSND trong quá trình điều tra vụ án
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại tới sức khỏe của người khác được hiểu
là sự hạn chế lẫn nhau giữa các chủ thể tiến hành tố tụng trong những điềukiện nhất định được quy định bởi pháp luật nhằm đảm bảo tính khách quan,chính xác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tôn trọng quyền, lợi íchhợp pháp của công dân, tránh oan sai và bỏ lọt tội phạm, người phạm tội
Chính vì vậy, BLTTHS đã có nhiều quy định mang tính chế ước giữahai CQĐT và VKS nhằm đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ mà pháp luật tốtụng hình sự đã đặt ra
Như vậy, quá trình giải quyết vụ án hình sự đã làm nảy sinh các mốiquan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, mối quan hệ trong nội bộ các cơquan tiến hành tố tụng; mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng vớinhững người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ tham giavào việc giải quyết vụ án hình sự Trong tổng thể các mối quan hệ đó thì mốiquan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là mối quan hệ xuyên suốt và cơbản nhất của hoạt động TTHS Đó là mối quan hệ phát sinh trong quá trìnhgiải quyết vụ án hình sự, trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa từng cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS
Từ những vấn đề trên cho thấy: Mối quan hệ giữa VKSND và CQĐT trong việc khởi tố, điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau, phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi
cơ quan theo quy định của pháp luật để hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau trong quá trình điều tra các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, bảo đảm mọi hành vi phạm tội được phát hiện và xử lý kịp thời, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phục vụ công tác điều tra, truy xét xử tội phạm.
Trang 231.1.3 Đặc điểm mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Mối quan hệ giữa VKSND và CQĐT được xác định cụ thể trongBLTTHS, trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Luật tổ chức
Cơ quan điều tra hình sự 2015 và những văn bản pháp lý tố tụng hình sự khác
có liên quan Qua nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễnhoạt động điều tra và kiểm sát điều tra thì mối quan hệ giữa VKSND vàCQĐT trong điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác nói riêng, tội phạm nói chung, vừa là quan hệ phối hợp(là cơ bản), vừa là quan hệ chế ước nhưng cùng chung một mục đích là giảiquyết tính đúng đắn của vụ án, bảo vệ pháp chế, góp phần ổn định trật tự antoàn xã hội mang lại cuộc sống bình yên cho mọi người Mối quan hệ đó đượcbiểu hiện ở những đặc điểm cơ bản sau
* Mối quan hệ phối hợp
+ Xuất phát từ nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tối phạm, CQĐT vàVKS phải chủ động phối hợp trong từng công việc cụ thể, sự phối hợp càng chặt chẽ thì càng phát huy được hiệu quả trong công việc
- Sự phối hợp CQĐT và VKS thể hiện trong hoạt động xây dựng một
số văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật Trong công tác xây dựng pháp
luật, VKS và CQĐT phải xuất phát từ đường lối, chính sách của Đảng để xâydựng những định hướng, sau đó cùng nhau bàn bạc thống nhất về quan điểm,đường lối
- Sự phối hợp giữa CQĐT và VKS xuất phát từ yêu cầu của thực tế, căn
cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, CQĐT và VKS phải thường xuyên họp liên ngành để cùng nhau xác định những vấn đề, những quy định pháp
Trang 24luật cần phải có văn bản hướng dẫn thi hành; từ đó đưa ra những vấn đề cầnthực hiện một cách thống nhất Trên cơ sở đó, mỗi cơ quan thực hiện phầnviệc được phân công để có được những quyết định đúng đắn, đảm bảo tuânthủ theo đúng quy định của pháp luật.
- Trong quá trình giải quyết từng vụ án cụ thể, CQĐT và VKS phảiluôn phối hợp để giải quyết ở từng khâu, mọi bước Đối với các vụ án đơngiản, rõ ràng thì cơ quan điều tra có thể tự mình quyết định việc ra quyết địnhkhởi tố vụ án; còn đối với những vụ án phức tạp, án trọng điểm, án được dưluận xã hội quan tâm thì trước khi khởi tố, CQĐT và VKS cần có sự họp bànthống nhất, để vừa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm,vừa phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị ở địa phương
- Sự phối hợp giữa CQĐT và VKS phải được tiến hành thường xuyên,liên tục và trong tất cả các khâu của quá trình điều tra đối với từng vụ án cụthể Từng cơ quan tiến hành tố tụng không thể hoàn thành nhiệm vụ do phápluật quy định nếu không có sự phối hợp chặt chẽ để làm sáng tỏ sự thật kháchquan của vụ án Sai sót của cơ quan tiến hành tố tụng này có thể dẫn đến mộtloạt sai sót khác của cơ quan tiến hành tố tụng khác
+ Phối hợp được hiểu là cùng hành động hoặc cùng hoạt động hỗ trợlẫn nhau để giải quyết một công việc nào đó Sự phối hợp giữa các cơ quantiến hành tố tụng để cùng giải quyết vụ án hình sự là một trong các đặc trưngđiển hình phản ánh sự phân công, phân nhiệm bộ máy tư pháp của Nhà nước
ta Sự phối hợp giữa hai cơ quan được thể hiện trên một số khía cạnh như sau
- Mối quan hệ này được xác lập từ khi nhận được tin báo, tố giác tộiphạm về tính mạng, sức khỏe cho đến khi tiến hành các hoạt động khám
nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khởi tố vụ án, khởi tố bị can cho đến khi kết thúc điều tra
Trang 25- VKS có trách nhiệm phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định,
đề nghị của CQĐT trong thời gian ngắn nhất để tạo điều kiện cho CQĐT tiếnhành các hoạt động điều tra đạt kết quả nhanh nhất, hiệu quả cao nhất Khôngđược gây khó khăn cho CQĐT trong các thủ tục TTHS một cách trái phápluật BLTTHS 2015 quy định những cơ quan và người tiến hành tố tụng (Điều
34) mới được tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự và phải thựchiện đúng những nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm luật định cho Điều traviên, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT (các Điều 36, 37); cho Kiểm sát viên,Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND (các Điều 41, 42)
- CQĐT có trách nhiệm cung cấp tài liệu thông báo kịp thời cho VKS
và tạo thuận lợi cho VKS trực tiếp tham gia thực hiện chức năng kiểm sát cáchoạt động điều tra tố tụng của CQĐT, đồng thời qua đó để VKS nắm chắc hơnnội dung vụ phạm tội giúp cho việc truy tố và thực hiện quyền công tố trướcToà án Ngoài ra, BLTTHS 2015 còn quy định mối quan hệ phối hợp trongnhững hoạt động điều tra cụ thể như: hỏi cung bị can (Điều 183), lấy lời khaingười làm chứng (Điều 186), khám nghiệm hiện trường (Điều 201)
theo đó Cơ quan điều tra chỉ được thực hiện các hoạt động đó, đồng thời quyđịnh nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra (Điều 166), quy địnhtrách nhiệm của CQĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định củaVKS (Điều 167)
+ Sự phối hợp này sẽ tạo điều kiện cho hai cơ quan thực hiện tốt hơnchức năng nhiệm vụ của mình trong khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm, đạt hiệu quả cao hơn, tránh được oan sai, bỏ lọt tội phạm Cụ thể:
- Trong hoạt động của cơ quan điều tra: CQĐT phải thông báo kịp thời
và đầy đủ về tình hình vi phạm, tội phạm cho VKS để bộ phận kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc phát hiện và giải quyết tin báo vi phạm, tội
Trang 26phạm của CQĐT; thông báo cho VKS về tiến độ điều tra, quá trình giải quyết
án, các vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án.VKS thực hiện chức năng kiểm sát và phối hợp giải quyết; CQĐT phải chấphành nghiêm chỉnh các yêu cầu, quyết định của VKS trong việc điều tra vụán; CQĐT đề nghị VKS xem xét giải quyết các yêu cầu của mình như chuyển
vụ án, gia hạn tạm giam,
- Sự phối hợp giữa VKS với CQĐT không phải là VKS làm cùng, làmthay CQĐT mà sự phối hợp này biểu hiện thông qua các hoạt động cụ thể củaVKS như: đề ra yêu cầu điều tra cho việc điều tra được thực hiện một cáchkhách quan, toàn diện và đầy đủ; Tham gia kiểm sát các thủ tục tố tụng hình
sự thông qua hoạt động trực tiếp kiểm sát hoặc gián tiếp thông qua hồ sơ, tàiliệu, phát hiện và yêu cầu CQĐT khắc phục những vi phạm, thiếu sót đảm bảocho việc điều tra được tiến hành một cách khách quan và hợp pháp; Trong quátrình kiểm sát điều tra, VKS có thể trực tiếp áp dụng những biện pháp TTHS(áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn) khi trực tiếp phát hiện tộiphạm hoặc CQĐT bỏ lọt tội phạm, hoặc những trường hợp khẩn cấp, kịp thời
và không cần thiết phải chuyển cho CQĐT thực hiện; VKS phải tuân thủnhững quy định của BLTTHS về thời hạn, căn cứ áp dụng các biện pháp ngănchặn trong quá trình điều tra, đồng thời kiểm sát điều tra cần phải cân nhắcmột cách toàn diện giữa yêu cầu của pháp luật, yêu cầu điều tra và yêu cầutrong tình hình chính trị cụ thể trong các trường hợp cụ thể để phối hợp vớiCQĐT đảm bảo cho việc điều tra có hiệu quả
* Mối quan hệ chế ước
Theo từ điển tiếng Việt, thì “chế ước” là động từ rất ít dùng với nghĩa là
hạn chế, quy định trong những điều kiện nhất định [34] Với nghĩa khác làmối quan hệ chế ước lẫn nhau giữa các hiện tượng
Trang 27Quan hệ chế ước trong tố tụng hình sự thể hiện sự đảm bảo về mặt pháp
lý, làm cho hoạt động tố tụng hình sự đạt được mục đích của mình, thực hiệnđược nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng Mặtkhác, quan hệ chế ước này giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng tránh đượcnhững vi phạm, sai lầm có thể xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án
Trong mối quan hệ giữa CQĐT và VKS, quan hệ chế ước thể hiệnquyền hạn của VKS đối với hoạt động điều tra của CQĐT bao gồm tổng hợpcác quyền năng pháp luật như giám sát, yêu cầu, hủy bỏ Tức là VKS thựchiện quyền giám sát các hoạt động điều tra của CQĐT, hủy bỏ các quyết địnhtrái pháp luật của CQĐT, bắt buộc CQĐT phải thực hiện các yêu cầu và quyếtđịnh của kiếm sát điều tra nhằm làm cho các hoạt động điều tra của CQĐTphải hợp pháp, đúng trình tự, đúng thủ tục theo luật định, ngăn chặn mọi xâmphạm quyền con người trong tố tụng hình sự Quyền chế ước của VKS đối vớihoạt động điều tra có thể hiểu được thực hiện theo nguyên tắc bất kỳ một cơchế hoạt động nào cũng phải có sự kiểm sát nếu không hoạt động đó sẽ khôngđược thực hiện một cách nghiêm chỉnh Bất kỳ quyền hạn nào cũng phải có sựgiám sát thực hiện nếu không dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền Cho nên hoạtđộng điều tra của CQĐT phải chịu sự chế ước của VKS là một tất yếu kháchquan Song tính ưu việt của hoạt động chế ước của VKS đối với hoạt động củaCQĐT là sự chế ước trong giới hạn, khuôn khổ theo quy định của pháp luậtchứ không phải do VKS tự đặt ra Quan hệ chế ước này được biểu hiện ởnhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng chế định TTHS
Quyền chế ước của VKS đối với CQĐT trong TTHS được thực hiệnbằng nhiều hình thức, trong đó có các hình thức cơ bản sau đây:
- Phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định của CQĐT, quyếtđịnh áp dụng hay không áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, hoạtđộng giám sát là cơ sở để VKS thực hiện quyền chế ước
Trang 28- Quyền yêu cầu thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên theo quy địnhcủa pháp luật Nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu của tội phạm thìkhởi tố về hình sự yêu cầu truy nã, trả hồ sơ điều tra bổ sung,
- Quyền hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật củaCQĐT Đây là quyền năng lớn nhất mà pháp luật quy định cho VKS thể hiện
sự nghiêm minh của pháp luật, là phương tiện đảm bảo cho việc điều tra phảituân thủ pháp luật TTHS một cách nghiêm chỉnh, tránh tùy tiện Thực tế VKSchỉ thực hiện quyền này khi đã yêu cầu những CQĐT không thực hiện hoặcCQĐT không thể hủy bỏ hoặc khắc phục được
Ba hình thức thể hiện trên trong quan hệ chế ước của VKS và CQĐTcũng là sự biểu hiện của sự chế ước ở ba mức độ khác nhau Mức độ chế ướccủa VKS phản ánh chất lượng hoạt động kiểm sát điều tra của VKS, nhưngđồng thời cũng phản ánh trình độ nghiệp vụ của CQĐT khi tiến hành điều tra
vụ án hình sự
Quan hệ chế ước ngược lại của CQĐT với VKSND không mạnh mẽ nhưquan hệ chế ước của VKSND đối với CQĐT Tuy nhiên, quyền chế ước của VKScũng có giới hạn nhất định, khi xác định các quyết định của VKS không đúngpháp luật ảnh hưởng đến hoạt động điều tra của mình thì CQĐT có quyền:
Thứ nhất: Đối với việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của
CQĐT liên quan đến việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn,hoặc những quyết định của CQĐT mà VKS cho là trái pháp luật, hoặc VKS racác quyết định khác trái với quyết định của CQĐT, CQĐT có quyền đề nghịViện trưởng VKS cấp trên trực tiếp xem xét và quyết định VKS cấp trên trựctiếp phải xét giải quyết theo đề nghị của CQĐT
Thứ hai: Trong quá trình giải quyết vụ án, CQĐT có quyền phát hiện
những việc làm không đúng pháp luật của KSV hoặc khi có căn cứ rõ ràng
Trang 29KSV không vô tư trong khi làm nhiệm vụ (vi phạm Điều 49, Điều 52 BLTTHS)thì CQĐT thông báo ngay cho VKS cùng cấp để xem xét giải quyết.
Quan hệ phối hợp và chế ước của VKS và CQĐT trong TTHS khôngphải là những quan hệ riêng rẽ, độc lập mà đặc điểm phối hợp và chế ướctrong mối quan hệ đó đan xen trong từng chế định TTHS Đặc biệt VKSkhông làm thay hoặc lấp chỗ trống cho CQĐT, mà là nhằm thực hiện mụcđích và nhiệm vụ chung của cơ quan tiến hành tố tụng [18]
1.2 Cơ sở của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Từ khi VKSND được thành lập theo Hiến pháp năm 1959 đã xuất hiệnmối quan hệ giữa VKSND và CQĐT Mối quan hệ này đã được thể hiện trongLuật Tổ chức Viện kiểm sát năm 1960, 1981, 2002 và 2014; Sắc luật số02/SL-76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ quy định về việc bắt,giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật một số Thông tư liên ngànhcũng quy định về mối quan hệ này
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về mối quan hệ phối hợpgiữa VKSND và CQĐT trong các giai đoạn tố tụng để giải quyết vụ án hình
sự là Thông tư liên bộ số 427/TT-LB ngày 28/6/1963 của Bộ Công an,VKSNDTC Quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ giữa VKSNDTC
và Bộ Công an trong công tác điều tra các vụ án hình sự [1]
Tiếp theo là Thông tư Liên bộ giữa VKSNDTC, Bộ Nội vụ (nay là BộCông an) số 01/TT-LB ngày 23/1/1984 về quan hệ giữa Công an và VKStrong công tác điều tra các vụ án hình sự Theo quy định tại điểm 2 của Thông
tư Liên bộ số 01 ngày 23/1/1984 thì ngay sau khi phát hiện có tội phạm hoặcdấu hiệu của tội phạm xảy ra, Cơ quan Công an và VKS cần phối hợp ngay
Trang 30trong các hoạt động điều tra và kiểm sát điều tra Trong suốt quá trình điều tra
vụ án, từ khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn, thu giữ tài sản, thu thậpchứng cứ… đến khi hoàn thành cáo trạng, chuyển hồ sơ sang Toà án để xét xửtheo thẩm quyền; sự phối hợp giữa hai cơ quan được thể hiện trong suốt quátrình đó Nếu quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS được thực hiện tốt sẽthuận lợi cho việc truy tố, xét xử Đối với các vụ án phức tạp có thể tổ chứchọp liên ngành Công an - VKS - Toà án để thống nhất xác định là án trọngđiểm từ đó đề ra kế hoạch điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo tính nghiêm minh,đúng pháp luật [33]
Để dần hoàn thiện mối quan hệ phối hợp trong giải quyết các vụ ánhình sự, ngày 07/9/2005 liên ngành đã ban hành Thông tư Liên tịch số05/TTLT - VKSTC-BCA-BQP ngày 07/09/2005 của VKSNDTC, Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thựchiện một số quy định của BLTTHS năm 2003, là cơ sở để xác lập mối quan hệ
cụ thể giữa Cơ quan CSĐT và VKS Thông tư đã hướng dẫn thực hiện nhữngvấn đề quan trọng trong BLTTHS hiện hành Đây là cơ sở pháp lý quan trọngquy định trình tự, thủ tục về mối quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS trongquá trình tố tụng đối với một vụ án hình sự nói chung, vụ án cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng [29]
1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ
án hình sự
1.3.1 Viện kiểm sát nhân dân
* Về chức năng: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [10].
Trang 31Khi phát hiện có vi phạm quy định về hoạt động tư pháp của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì VKSND thực hiện những biện phápđảm bảo cho những quy định đó được thực hành nghiêm chỉnh VKS cóquyền đặc biệt mà chỉ VKS mới có, đó là quyền thay mặt Nhà nước buộc tộingười phạm tội trước pháp luật, đề nghị Tòa án áp dụng hình phạt đối vớingười thực hiện hành vi phạm tội Tại Hiến pháp năm 2013 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sáthoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhândân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sátnhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người,quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gópphần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thốngnhất [9, Điều 107]
BLTTHS 2015 quy định Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự:
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, pháthiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, ngườiphạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được
Trang 32phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làmoan người vô tội [14, Điều 20]
Chức năng công tố của VKS là nét đặc trưng, nổi bật trong hoạt độngcủa VKSND Hoạt động thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi có tốgiác, tin báo tội phạm cho đến khi vụ án được giải quyết hoàn thành, cụ thể:VKS sau khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, nghiên cứu xem xét yêu cầucác cơ quan, tổ chức, cá nhân tố giác, tin báo tội phạm cung cấp tài liệu,chứng cứ liên quan đến tố giác, tin báo tội phạm, tùy theo tính chất vụ việc
mà VKS chuyển tố giác, tin báo tội phạm yêu cầu cơ quan điều tra xác minh
tố giác, tin báo tội phạm, nếu có dấu hiệu tội phạm thì yêu cầu khởi tố vụ án,khởi tố bị can điều tra làm rõ
Vai trò, vị trí của VKSND trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo các hoạtđộng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo đúng trình tự quy định củaBLHS, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợppháp của công dân
1.3.2 Cơ quan cảnh sát điều tra
* Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động điều tra các vụ
án hình sự
Theo quy định của Luật Tố tụng Hình sự thì quá trình tố tụng hình sự ởnước ta hiện nay được thực hiện qua ba giai đoạn chủ yếu: Điều tra, truy tố vàxét xử Trong đó, giai đoạn điều tra là giai đoạn hết sức quan trọng, là cơ sở
để thực hiện các giai đoạn tiếp theo Do đó, chức năng của Cơ quan CSĐT cóthể hiểu là nhiệm vụ chung nhất, bao quát nhất, đặc trưng nhất mà Cơ quanCSĐT phải thực hiện Dựa trên cơ sở chức năng của Cơ quan CSĐT có thể
Trang 33xác định những nhiệm vụ cụ thể của Cơ quan CSĐT, quyền hạn và các vấn đềkhác về tổ chức của Cơ quan CSĐT.
Cơ quan CSĐT trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự dựa trên cơ
sở quy định tại BLTTHS 2015 quy định tuân thủ pháp luật trong hoạt độngđiều tra:
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật khi tiến hành hoạtđộng điều tra theo quy định của Bộ luật này Mọi hoạt động điều traphải tôn trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn diện và đầy đủ;phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõchứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăngnặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân, điềukiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giảiquyết vụ án [14, Điều 19]
Để thực hiện đúng nguyên tắc cơ bản đó, Cơ quan CSĐT có các nhiệm
vụ và quyền hạn được quy định cụ thể tại các Điều 19, Điều 20, Điều 21 Luật
Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015 [15]
Thứ nhất: Tổ chức công tác trực ban hình sự, tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; phân loại và giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kiến nghị khởi tố thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc chuyểnngay đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết
Thứ hai: Tiến hành điều tra vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra
của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh về những tội phạm đặc biệtnghiêm trọng, phức tạp, xảy ra trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương hoặc tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nếu xét thấy cần trựctiếp điều tra; các vụ án đặc biệt nghiêm trọng thuộc thẩm quyền điều tra của
Trang 34Cơ quan Cảnh sát điều tra do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối caohủy để điều tra lại.
Thứ ba: Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ điều tra và kiểm tra việc chấp
hành pháp luật, nghiệp vụ trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tội phạm đối với các
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh, Công an cấp huyện; hướng dẫncác cơ quan của lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra thực hiện hoạt động điều tra
Thứ tư: Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp
khắc phục nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm
Thứ năm: Tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và công tác điều tra, xử lý tộiphạm thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan cảnh sát điều tra của Công annhân dân
Thứ sáu: Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự
Nhiệm vụ cơ bản và quan trọng nhất của giai đoạn điều tra là phảikhám phá nhanh chóng, toàn diện vụ án, thu thập đầy đủ chứng cứ để chứngminh sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm
Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện điều tra các vụ án hình sự thuộcthẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, có khung hình phạt từ 15năm tù trở xuống (trừ những tội phạm được quy định tại Khoản 1, Điều 268
Bộ Luật TTHS 2015)
Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩmquyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, bao gồm các vụ án quy định tại
Trang 35Khoản 2 Điều 268 Bộ luật TTHS 2015 hoặc các vụ án thuộc thẩm quyền điềutra của Cơ quan CSĐT cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Cơ quan CSĐT Bộ Công an điều tra các vụ án hình sự đặc biệt nghiêmtrọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấptỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra
Cơ quan CSĐT các cấp có thẩm quyền điều tra các vụ án hình sự trongphạm vi lãnh thổ mình trực tiếp quản lý Trong trường hợp không xác địnhđược địa điểm xảy ra tội phạm thì thẩm quyền điều tra thuộc về Cơ quanCSĐT ở nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt giữ Thực tế khiphát hiện một tội phạm bất kỳ nơi nào, Cơ quan CSĐT phải tiến hành các biệnpháp cấp bách để ngăn chặn tội phạm, thu thập, củng cố tài liệu chứng cứ sau
đó mới chuyển giao cho Cơ quan điều tra theo thẩm quyền
Cơ quan CSĐT giữ vị trí hết sức quan trọng trong thực hiện tiến trình tốtụng xử lý án hình sự Trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác, Cơ quan CSĐT có nhiệm vụ điều tra toàn bộ các vụ
án Kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT là cơ sở cho công tác truy tố, xét xửtội phạm đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trang 36Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã nghiên cứu, phân tích làm rõ khái niệm,đặc điểm, cơ sở mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan Cảnhsát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác; cũng như khái quát về chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điềutra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án hình sự nói chung
Những vấn đề về lý luận đã nghiên cứu trên là cơ sở định hướng choviệc nghiên cứu, đánh giá, thực trạng mối quan hệ giữa VKSND và Cơ quanCảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án Cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ
GIỮA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH NINH BÌNH TRONG VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI TỚI
SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
2.1 Nội dung, hình thức của mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong việc khởi tố, điều tra các vụ án
Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
2.1.1 Hình thức của mối quan hệ
Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “Hình thức” được hiểu là: Mặt bên
ngoài của sự vật, cái chứa đựng hoặc biểu hiện nội dung; hình thức còn cónghĩa thứ hai là cách thể hiện, cách tiến hành một hoạt động [34] Với quanniệm về nội dung của quan hệ giữa VKS với Cơ quan CSĐT như trên thì hìnhthức của mối quan hệ được hiểu là cách thức thực hiện, phương pháp tiếnhành để giải quyết nội dung quan hệ giữa VKS với Cơ quan CSĐT Hoạt độngđấu tranh phòng, chống các TPVTTXH diễn ra hết sức cam go, quyết liệt vàphức tạp, nên hình thức biểu hiện trong quan hệ giữa VKS và Cơ quan CSĐTtrong đấu tranh phòng, chống các tội phạm cũng hết sức đa dạng, tùy theotừng vụ án cụ thể để có những hình thức quan hệ khác nhau song chủ yếu lànhững hình thức sau:
Thứ nhất, thông qua hình thức ban hành các văn bản tố tụng: Cơ quan
CSĐT có các văn bản đề nghị phê chuẩn, các Lệnh đề nghị phê chuẩn, cáccông văn kiến nghị, yêu cầu VKS áp dụng các Quyết định phê chuẩn, các yêucầu điều tra, các văn bản trả lời kiến nghị, yêu cầu của CQĐT, các công văn
Trang 38yêu cầu CQĐT tiến hành thu thập thêm chứng cứ để làm rõ tính chất, mức độhành vi phạm tội, yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm phápluật của Điều tra viên.
Thứ hai, thông qua hình thức trao đổi, hội họp: Một số vụ án Cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác lớn, đặc biệtnghiêm trọng, phức tạp, công tác điều tra, xác minh gặp rất nhiều khó khăn,chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị can,người liên quan hoặc chứng cứ còn thiếu, yếu… Để đảm bảo hoạt động khởi
tố, điều tra, truy tố kịp thời, chính xác CQĐT và VKS phối hợp cùng nhautrao đổi, tổ chức các cuộc họp nhằm đánh giá chứng cứ một cách khách quan,toàn diện, thống nhất ý kiến trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án nhằmđảm bảo việc điều tra giải quyết đạt kết quả tốt
Thực chất họp liên ngành là hình thức tác nghiệp hành chính tư phápnhằm mục đích tăng cường phối hợp giữa CQĐT với VKSD trong việc giảiquyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình điều tra vụ án hình sự (vướngmắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật, trong việc đánh giá chứng
cứ, xác định tội danh, hướng xử lý vụ án ) Tuy nhiên, cần phải nhận thức đầy
đủ rằng mục đích của việc họp liên ngành không phải là quyết định cuối cùngtrong đường lối giải quyết vụ án mà nhằm bảo đảm thực hiện đúng đắn chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong giải quyết vụ án
Thứ ba, cùng phối hợp trong hoạt động điều tra: khám nghiệm hiện
trường, khám xét dấu vết, thân thể, khám nghiệm tử thi, cùng phối hợp hỏicung, lấy lời khai, đối chất, thực nghiệm điều tra…
Thứ tư, chuyển giao các văn bản, quyết định, tài liệu tố tụng nhằm bảo
đảm các yêu cầu điều tra, yêu cầu thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra theo quy định của BLTTHS
Trang 39Đặc điểm chung của các hình thức quan hệ trên là đều được quy định
cụ thể trong BLTTHS Mỗi hình thức đều gắn với yêu cầu giải quyết nội dung
và quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan trong việc giải quyết các nộidung đó
Ngoài các hình thức trên, trong thực tiễn quan hệ giữa VKSND vớiCQĐT còn có hình thức trao đổi trực tiếp giữa ĐTV và KSV, thông qua việctrao đổi trực tiếp này giúp cho ĐTV xác định rõ hơn hướng điều tra, khắcphục các khiếm khuyết trong điều tra và qua đó KSV nắm chắc hơn tình hình,diễn biến vụ án
2.1.2 Nội dung của mối quan hệ
Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm nhiều giai đoạn Nếu giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự là giai đoạn xác định có tội phạm xảy ra hay không, thì giaiđoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn CQĐT thu thập chứng cứ để chứngminh làm rõ tội phạm và người phạm tội Hoạt động của CQĐT trong giaiđoạn điều tra vụ án hình sự gồm hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn;hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu qua việc ghi thu lời khai của nhữngngười tham gia tố tụng, qua việc thu giữ vật chứng, khám nghiệm và nhữnghoạt động điều tra khác để chứng minh đối với vụ án Trong tất cả các hoạtđộng này giữa CQĐT và VKS hình thành một mối quan hệ tố tụng trên cơ sởquy định của BLTTHS Mối quan hệ giữa hai cơ quan thể hiện trong quá trìnhVKS thực hiện chức năng của mình, thể hiện trong việc CQĐT thực hiện cácyêu cầu của VKS, thể hiện trong việc VKS đáp ứng các đề nghị của CQĐT
+ Quan hệ trong giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Việc tiếp nhận giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố là hoạt động kiểm tra xác minh ban đầu của quá trình tố tụng Hoạt động
Trang 40này có ý nghĩa rất quan trọng và đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc mọitội phạm xảy ra đều phải bị phát hiện và xử lý nghiêm minh trước pháp luật,
như Lênin đã nói: “điều quan trọng không phải ở chỗ đã phạm tội thì phải trừng phạt nặng, mà là ở chỗ không tội phạm nào lại không bị phát hiện”[6].
Theo pháp luật TTHS thì phát hiện và tố giác tội phạm là trách nhiệm chungcủa mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức xã hội và mọi công dân Nhưng cơquan chuyên trách có chức năng, nhiệm vụ trực tiếp phát hiện và giải quyết tinbáo về tội phạm là CQĐT và cơ quan có quyền hạn kiểm sát việc phát hiện vàgiải quyết tin báo tội phạm của CQĐT là VKS
BLTTHS 2015 quy định:
1 Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phảiđược tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời Cơ quan, tổ chức cótrách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố
2 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm [14, Điều 145]
Theo quy định này, CQĐT có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác,tin báo về tội phạm nói chung và các tội về cố ý gây thương tích nói riêng vàkiến nghị khởi tố, tiến hành kiểm tra xác minh xác định có dấu hiệu tội phạmhay không phải tội phạm để xem xét đưa ra quyết định khởi tố hay không khởi
tố vụ án hình sự và thông báo kết quả xử lý tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố cho VKS, thông báo kết quả xử lý đến các cơ quan